Với sự phát triểnnhanh chóng của TMĐT, việc đưa các mục tiêu ưu tiên ở nấc thang trên, trong đócác vấn đề liên quan đến quyền SHTT, vào hoạt động xây dựng chính sách TMĐT là yêu cầu tất
Trang 1Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Về mặt lý luận, quyền SHTT có vai trò quan trọng trong TMĐT trên nhiềugóc độ (i) các đối tượng của quyền SHTT là các đối tượng có giá trị của TMĐT, (ii)nhãn hiệu, với chức năng chỉ dẫn nguồn gốc đóng vai trò quan trọng trong việc lựachọn hàng hoá, dịch vụ của khách hàng trong không gian mạng và (iii) các yếu tốcấu thành nền tảng của hệ thống TMĐT có thể là đối tượng bảo hộ của quyềnSHTT Ngoài ra, sự xuất hiện của TMĐT tạo ra nhiều thách thức mới với quyềnSHTT và các vấn đề về quyền SHTT tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hoạt động TMĐT.Trong khi đó, một môi trường pháp lý SHTT phù hợp và có khả năng dự báo sẽ gópphần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của các hoạt động TMĐT Về mặt thực tiễn,quyền SHTT là nhân tố và mục tiêu ưu tiên ở nấc thang trên của các chiến lượccông nghệ thông tin (CNTT) quốc gia (UNCTAD 2003, tr 66-68) Với sự phát triểnnhanh chóng của TMĐT, việc đưa các mục tiêu ưu tiên ở nấc thang trên, trong đócác vấn đề liên quan đến quyền SHTT, vào hoạt động xây dựng chính sách TMĐT
là yêu cầu tất yếu tại các quốc gia đang phát triển Một trong những nội dung trongtâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội quốc gia trong những năm qua tại ViệtNam chính là thúc đẩy sự phát triển của CNTT và TMĐT Nhiệm vụ quan trọng
“Phát triển nhanh hạ tầng thương mại điện tử” đã được đề cập trong Nghị quyết số
13- NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng khóa XI Trong kế hoạch tổng thể vềphát triển CNTT và TMĐT giai đoạn 2005-2010 cũng như giai đoạn 2011-2015 vớitầm nhìn 2020 và gần đây nhất là Chương trình phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn2014-2020, nội dung sửa đổi các văn bản pháp luật về quyền SHTT cho phù hợpvới thông lệ quốc tế, tạo điều kiện và thúc đẩy CNTT cũng như các dịch vụ kinhdoanh trực tuyến được nêu ra như một phần của các giải pháp cần thiết
Là quốc gia đi sau trong lĩnh vực SHTT và TMĐT, Việt Nam cần tham khảocác quy định “tiên phong” đã được xây dựng và kinh nghiệm áp dụng chúng tại cácnước phát triển trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền SHTT trongTMĐT, đặc biệt khi các quy định này phần nào được phản ánh qua cam kết củaHiệp định TPP và FTA EU-Việt Nam Đồng thời, để tránh áp dụng một cách máymóc các quy định “mẫu”, chúng ta cần hiểu rõ bản chất các vấn đề liên quan đếnquyền SHTT trong TMĐT, ý nghĩa kinh tế của các quy định pháp lý và các cơ chếkhác nhau đã được xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề này Trong bối cảnh hoạtđộng TMĐT phát triển nhanh, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong giải quyếtcác vấn đề liên quan tới quyền SHTT trong TMĐT để từ đó xác định các vấn đềchưa được giải quyết thoả đáng tại Việt Nam, đưa ra các khuyến nghị về chính sách
và giải pháp quản lý để giải quyết các vấn đề đó ở cấp độ quốc gia cũng như doanhnghiệp là hết sức cần thiết Điều này, một mặt sẽ giúp làm giảm sự không chắc chắn
Trang 2của luật pháp, vốn được coi là một rào cản với TMĐT, mặt khác, sẽ thúc đẩy sựtham gia của các chủ thể vào hoạt động TMĐT Chính vì lý do này, tác giả đã chọn
đề tài “Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử” để nghiên cứu trong luận án
tiến sỹ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cho dù còn có quan điểm cho rằng quyền SHTT là hoàn toàn không phù hợpvới môi trường số, đa số các học giả và thực tiễn đã ủng hộ việc tiếp tục áp dụng hệthống quyền SHTT với những điều chỉnh hợp lý, đồng thời cho rằng vấn đề đặt ra làxác định những thách thức và cơ hội đối với hệ thống quyền SHTT và xây dựng cácgiải pháp điều chỉnh thích hợp Liên quan gần hơn tới đề tài luận án, đã có một sốcông trình nghiên cứu chuyên sâu về TMĐT, bên cạnh các phân tích mang tính kỹthuật và thương mại, đã đề cập tới một số khía cạnh của quyền SHTT liên quan đếnTMĐT Tuy nhiên, được đề cập như một khía cạnh đạo đức và xã hội của TMĐT,bản chất pháp lý của các vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong TMĐT thườngkhông được phân tích toàn diện trong các công trình này (Laudon và Traver, 2012).WIPO (1996) đã nỗ lực nhằm cung cấp cho các doanh nghiệp và các đối tượng sửdụng khác hướng dẫn sơ bộ về các vấn đề SHTT liên quan đến TMĐT WIPO(2000) đã xác định các vấn đề và phản ứng liên quan đến quyền SHTT trong giaiđoạn đầu phát triển TMĐT Theo WIPO (2000) sự phát triển của TMĐT diễn ratrong bối cảnh môi trường công nghệ và thương mại có những thay đổi nhanhchóng vì thế việc đánh giá TMĐT và mối quan hệ và tác động của nó tới SHTT làmột quá trình liên tục và chuyên sâu, đòi hỏi phải có sự giám sát kỹ lưỡng quá trìnhphát triển để đánh giá xem liệu một động thái có là cần thiết hay hợp lý trong việcbảo đảm và tăng cường tính hiệu quả của SHTT trong môi trường kỹ thuật số haykhông WIPO (2000) khẳng định việc xác định phạm vi quyền SHTT hợp lý trongmối quan hệ với các công nghệ và nội dung số đang tiến triển nhanh chóng cũngnhư điều chỉnh các phương tiện bảo hộ các quyền này trong bối cảnh quốc tế củaTMĐT là thách thức thực sự trong lĩnh vực SHTT không chỉ trong giai đoạn đầucủa TMĐT mà trong cả giai đoạn phát triển cao hơn của hoạt động này Tuy chưatoàn diện, Vivas-Eugui (2001) cũng bước đầu xây dựng khung khổ tiếp cận cácSHTT trong TMĐT Koelman (2000) đã phân tích sự phát triển của cơ chế tráchnhiệm trung gian trực tuyến trên thế giới và nền tảng để xây dựng cơ chế này tạiHoa Kỳ và EU Kế thừa bài viết của Koelman (2000), Edwards (2011) đã đi sâuphân tích các vấn đề liên quan đến cơ chế thông báo và dỡ bỏ (NTD), một trongnhững cơ chế để đảm bảo điều kiện miễn trách cũng như những tiến triển vượtngưỡng NTD nhằm đối phó với công nghệ chia sẻ đồng đẳng (P2P) ở nhiều quốcgia trên thế giới Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2011), sau khi phântích vai trò về mặt kinh tế và xã hội của các trung gian trực tuyến, các tác giả đã xây
Trang 3dựng khái niệm chung về trung gian internet với các chức năng và mô hình kinh tế,
sự phát triển và triển vọng của chúng của thị trường Tuy nhiên, do trọng tâm củacác nghiên cứu này là vai trò của các trung gian internet trong việc thúc đẩy cácmục tiêu chính sách công cũng như chi phí và lợi ích của việc tham gia này, ngoàiviệc phân tích các bài học kinh nghiệm tại Hoa Kỳ và châu Âu trong việc hướng cáctrung gian internet vào thực thi các mục tiêu chính sách công, các nghiên cứu nàykhông đưa ra các đề xuất với các quốc gia đang phát triển Abdalla (2005) đã xemxét lịch sử phát triển của luật SHTT, bản chất, mục đích và phạm vi của quyềnSHTT hiện đại, những thách thức của internet, việc điều chỉnh hoạt động củaTMĐT, những xung đột pháp lý liên quan đến luật về TMĐT và quyền SHTT, việcbảo vệ QTG, nhãn hiệu và bằng độc quyền sáng chế trên mạng kỹ thuật số, và tácđộng của các quyền SHTT hài hòa hóa quốc tế lên các nước đang phát triển Tác giảnày cũng đưa ra một số kết luận và gợi ý liên quan đến việc xây dựng một cơ chếbảo hộ sở hữu trí tuệ quốc tế hiệu quả dựa trên các thỏa thuận về các vấn đề tư phápquốc tế liên quan đến Internet và thương mại điện tử nói chung và SHTT nói riêng
Vì thể hiện nội dung của một luận án chuyên ngành luật, Abdalla (2005) đã không
đề cập tới vai trò của hệ thống quyền SHTT trừ góc độ kinh tế học và phân tích cácvấn đề của quyền SHTT trong các hoạt động cụ thể trong TMĐT
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về quyền SHTTtrong TMĐT Hoàng Việt (2012) mới phân tích được những vấn đề mang tính chấtnguyên tắc về mối quan hệ giữa quyền SHTT và TMĐT Lê Quang Vinh (2013a,b), cũng như nhiều bài viết tương tự đã phân tích được tổng quan ưu và nhược điểmcủa các phương thức giải quyết tranh chấp tên miền, tuy nhiên mới tập trung vàomột góc độ nhỏ của các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu trong TMĐT, chưa đặt vấn
đề trong bối cảnh chung của TMĐT Quản Tuấn Anh (2010) đã tổng hợp và làm rõcác quy định hiện hành trong Luật Công nghệ thông tin và Nghị định hướng dẫn thihành Luật CNTT liên quan đến QTG Phân tích được quy định đối với bản sao tạmthời, quy định đối với trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) trongkhuôn khổ của hai văn bản trên nhưng bài báo chưa phân tích cập nhật được nhữngthay đổi luật pháp sau đó cũng như chưa đánh gia được toàn diện vấn đề trong bốicảnh phát triển quốc tế Các báo cáo TMĐT Việt Nam do Cục TMĐT và CNTT(VECITA ) xuất bản hàng năm, mặc dù có đề cập tới các vấn đề liên quan đến hànhlang pháp lý nói chung và vấn đề tên miền nói riêng (VECITA, 2011), chưa hề phântích các khía cạnh của quyền SHTT trong TMĐT Báo cáo về bảo vệ và thực thiquyền tác giả tại Việt Nam của của Liên minh quốc tế về SHTT, Hoa Kỳ (IIPA,2010-2014) có lẽ là một trong số những báo cáo ít ỏi đánh giá về thực thi quyền tác
Trang 4giả trên internet tại Việt Nam Tuy nhiên, báo cáo mới dừng ở mức phân tích các vụviệc bề mặt, không có các số liệu thống kê tổng hợp đầy đủ
Đã có nhiều luận án phân tích quyền SHTT từ góc độ thương mại và nghiêncứu về TMĐT Phân tích về quyền SHTT từ góc độ thương mại, Hồ Thúy Ngọc(2009) tập trung vào vấn đề xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở ViệtNam phù hợp với Hiệp định TRIPS; Lê Thị Thu Hà (2010) nghiên cứu về bảo hộquyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của ViệtNam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,… Các công trình này chưa tiếp cậnvấn đề TMĐT Tập trung vào TMĐT, Lê Vinh Lương (2003), Đào Anh Tuấn(2013) không phân tích cơ sở hay đề xuất hướng thực hiện hoặc hướng nghiên cứuthêm cho vấn đề này Chưa có luận án tiến sỹ nào tại Việt Nam phân tích tổng quan
về các vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong TMĐT
Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu trên, có thể khẳng định, việc lựa chọn
đề tài “Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử” để nghiên cứu là cần thiết và
đề tài này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã thực hiện trước
đó Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện về lý luận vàthực tiễn về vấn đề này ở Việt Nam dưới cấp độ luận án tiến sỹ kinh tế
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học về quyền SHTT
và những vấn đề đặt ra đối với quyền SHTT trong TMĐT; phân tích và đánh giákinh nghiệm phát triển các quy định pháp lý và các sáng kiến trên thế giới và tạiViệt Nam cũng như việc áp dụng chúng để điều chỉnh các vấn đề liên quan đếnquyền SHTT trong các hoạt động TMĐT dựa trên khung lý thuyết về kinh tế, từ đóđưa ra những gợi ý chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam
và kiến nghị đối với các chủ thể kinh doanh TMĐT và dịch vụ TMĐT tại Việt Nam
Từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ cụ thể của luận án sẽ là:
- Làm rõ cơ sở khoa học của việc bảo hộ và bảo vệ quyền SHTT đối với hainhóm đối tượng chính là thành quả sáng tạo và chỉ dẫn thương mại;
- Hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các hoạt độngTMĐT cơ bản;
- Phân tích thực tiễn phát triển các phương thức giải quyết những vấn đề liênquan đến quyền SHTT trong các hoạt động TMĐT cơ bản ở cấp độ toàn cầu, khuvực và quốc gia (với trọng tâm là EU, Hoa Kỳ và Việt Nam) để từ đó chỉ ra ý nghĩakinh tế đối với TMĐT của các phương thức được áp dụng;
- Đưa ra các gợi ý chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các kiếnnghị về mặt quản lý đối với các chủ thể kinh doanh TMĐT và dịch vụ TMĐT tạiViệt Nam
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quantới quyền SHTT trong TMĐT
Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn các nghiên cứu ở hai lĩnh vực cơ bảncủa quyền SHTT là QTG và nhãn hiệu Đây là hai đại diện của hai nhánh cơ bảncủa quyền SHTT gồm các quyền đối với các đối tượng sáng tạo và quyền đối vớicác chỉ dẫn thương mại Về không gian, thực tiễn xây dựng và áp dụng phươngthức, cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến QTG và nhãn hiệu trong TMĐTđược phân tích trên cơ sở các quy định mang tính toàn cầu trong khuôn khổ củaWTO, WIPO và ICANN, tại nhóm quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này là EU vàHoa Kỳ, cũng như tại Việt Nam EU và Hoa Kỳ được lựa chọn nghiên cứu vì khuvực và quốc gia này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập khung khổ pháp lý
điều chỉnh quyền SHTT (IPR rule-setting) đồng thời rất tích cực trong việc “quốc tế
hoá” các quy định về quyền SHTT thông qua các thoả thuận song phương và đaphương Về thời gian, đối với kinh nghiệm thế giới, giai đoạn nghiên cứu bắt đầu từgiữa thập kỷ 1990 với sự bùng nổ của TMĐT Tại Việt Nam, giai đoạn nghiên cứubắt đầu từ năm 2005 khi luật SHTT được ban hành Các giải pháp đề xuất nhằmhướng tới việc thực hiện chiến lược phát triển TMĐT giai đoạn 2016-2020
5 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết: Để xây dựng những luận điểm làm nền tảng cho việc điều
chỉnh hệ thống quyền SHTT, tác giả chú trọng sự khác biệt trong các lý thuyết kinh
tế đối với hai đối tương nghiên cứu được lựa chọn Trên góc độ kinh tế học, hệthống quyền SHTT đối với các sáng tạo (QTG, bằng độc quyền sáng chế) được coinhư một giải pháp giúp giải quyết vấn đề trọng tâm nảy sinh từ đặc điểm hàng hóacông cộng của SHTT (thông tin/tri thức) đó là vừa khuyến khích sáng tạo vừa mởrộng khả năng tiếp cận thông tin để đảm bảo lợi ích xã hội Bản chất của giải phápquyền SHTT loại này là tạo ra khả năng kiểm soát theo luật định đối với việc phổbiến thông tin thông qua việc cấp các độc quyền pháp lý có giới hạn Tạo ra cácđộng lực từ các độc quyền pháp lý đối với SHTT, hệ thống quyền SHTT giúp khuvực tư nhân sáng tạo và cung cấp thông tin có giá trị Tuy nhiên, không thể xác định
chính xác điểm cân bằng của hệ thống này, vì thế đây chỉ là giải pháp tốt thứ nhì
đối với những bóp méo của thị trường Bảo vệ có thể quá yếu, dẫn đến làm giảmsáng tạo, hoặc quá mạnh, tạo ra việc chuyển giao thặng dư sang người sáng tạo và
hy sinh lợi ích của người tiêu dùng (Landes và Posner 1989, Posner 2002) Trongkhi đó, các quyền SHTT liên quan đến các chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu đượcphát triển với tư cách một giải pháp cho thất bại thị trường do thông tin bất cân
xứng, vì thế có thể đồng tồn tại cũng cạnh tranh lành mạnh và là giải pháp tốt nhất.
Trang 6Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau như phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, phương pháp so sánh luậthọc, phương pháp quan sát, điều tra, phương pháp nghiên cứu tình huống
Để có bức tranh chính xác hơn về việc tiếp cận và quản lý các vấn đề liênquan đến quyền SHTT trong TMĐT ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam, phươngpháp quan sát và tự khảo sát được thực hiện để tiếp cận và thu thập thông tin trêncác website TMĐT Các phương pháp nghiên cứu được thực hiện trên nền tảngphương pháp tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin
6 Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa, phân tích và hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về các vấn đề liênquan đến quyền SHTT trong TMĐT: (i) làm rõ cơ sở kinh tế học của việc bảo vệquyền SHTT đối với hai nhóm đối tượng chính là thành quả sáng tạo và chỉ dẫnthương mại với đại diện là QTG và nhãn hiệu; (ii) xác định những vấn đề cơ bảnliên quan tới quyền tác giả và nhãn hiệu gắn với các giai đoạn hoạt động cơ bản củaTMĐT: tạo lập website TMĐT, quảng bá website TMĐT, cung cấp và phân phốihàng hóa, dịch vụ qua website TMĐT và cung cấp môi trường cho hoạt độngTMĐT
- Phân tích, đánh giá kinh nghiệm thế giới trong việc xây dựng phương thức,cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các hoạt độngTMĐT, từ đó rút ra các kết luận về ý nghĩa kinh tế của chúng trên cơ sở áp dụng các
lý thuyết kinh tế, các đánh giá độc lập của chuyên gia và kết luận của các nghiêncứu thực nghiệm đã được công bố
- Trên cơ sở xác định những vấn đề đặt ra đối với quyền SHTT trong TMĐT
và phân tích thực trạng giải quyết các vấn đề này tại Việt Nam, luận án đã đưa racác khuyến nghị nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền SHTT theo hướngthúc đẩy sự phát triển của TMĐT tại Việt Nam với hai nhóm đối tượng cơ bản làcác cơ quan quản lý nhà nước, chủ sở hữu các website bán hàng và cung cấp môitrường cho hoạt động TMĐT
7 Bố cục của luận án gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tửChương 2: Thực tiễn quốc tế trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm điều chỉnh phương thức giải quyết cácvấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử tại Việt Nam
Trang 7Chương 1:
Cơ sở lý luận về quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử1.1 Quyền sở hữu trí tuệ
Các đối tượng của quyền SHTT là kết quả của hoạt động trí tuệ và uy tín
kinh doanh (Lê Nết 2006, tr 16-17) Những kết quả sáng tạo của trí tuệ (creations
of the mind) như sáng chế, tác phẩm văn học và nghệ thuật và những biểu tượng, tên gọi và hình ảnh được sử dụng trong thương mại (commercial signs) cũng được gọi
chung bằng thuật ngữ SHTT (WIPO 2004b, tr.1) Thuật ngữ quyền SHTT dùng đểchỉ các lĩnh vực hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc, đối tượng điều chỉnh, phươngthức vận hành như QTG, bằng độc quyền sáng chế, nhãn hiệu,… Vì vậy, để có cáchtiếp cận khái quát nhằm phản ánh đúng bản chất của thuật ngữ này, tác giả cho rằng
quyền SHTT là “quyền của các tổ chức, cá nhân đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo và đầu tư, được pháp luật quy định và bảo hộ”
Quyền SHTT thường được phân thành ba nhánh chính là quyền tác giả vàquyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp (bao gồm quyền đối với sáng chế, kiểudáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại,chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh) vàquyền đối với giống cây trồng (Điều 4, Luật SHTT Việt Nam) Tuy nhiên, căn cứvào tính chất của nhóm đối tượng bảo vệ, quyền SHTT cũng có thể được chia thànhhai nhánh là (i) quyền đối với các đối tượng sáng tạo hay quyền của người sáng tạo
(rights for creators) và (ii) quyền đối với các chỉ dẫn thương mại (rights upon commercial signs) với các đặc điểm và cơ sở kinh tế khác nhau (Bảng 1.1.)
Bảng 1.1 Hai nhánh của quyền sở hữu trí tuệ Quyền của người sáng tạo Quyền đối với các chỉ dẫn thương mại
Mục đích: khuyến khích sáng tạo Mục đích: bảo vệ kết quả đầu tư
Cơ sở kinh tế: Là giải pháp cho thất
bại thị trường gắn với đặc điểm hàng
hoá công cộng của thông tin, là giải
pháp tốt thứ nhì vì không duy trì
được môi trường cạnh tranh
Cơ sở kinh tế: Là giải pháp cho thất bạithị trường có thông tin bất đối xứng, làgiải pháp tốt nhất khi có thể đồng tồn tạivới môi trường cạnh tranh
Các lĩnh vực tiêu biểu: quyền tác giả,
quyền SHCN đối với sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp
Các lĩnh vực tiêu biểu: quyền SHCN đốivới nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thươngmại
Bảng 1.2 Khái quát về QTG và Nhãn hiệu
Trang 8QTG Nhãn hiệu Đối tượng
bảo hộ
Các tác phẩm (sản phẩmsáng tạo trong lĩnh vực vănhọc, nghệ thuật và khoa họcthể hiện bằng bất kỳ phươngtiện hay hình thức nào) – sựthể hiện sáng tạo các ý tưởng
Nhãn hiệu (dấu hiệu hoặc tổ hợp cácdấu hiệu nào có khả năng phân biệthàng hoá hoặc dịch vụ của mộtdoanh nghiệp với hàng hoá hoặcdịch vụ của các doanh nghiệp khác)– chỉ dẫn nguồn gốc
Cơ sở xác
lập quyền
Bảo hộ tự động Thông qua đăng ký
Nội dung Quyền kinh tế: quyền sao
chép, quyền phân phối,quyền cho thuê, quyền nhậpkhẩu bản sao tác phẩm,quyền biểu diễn tác phẩm ởnơi công cộng, quyền truyềnđạt tác phẩm tới công chúng,quyền tạo ra các tác phẩmphái sinh,
Quyền nhân thân: quyềnđược yêu cầu công nhận tưcách là tác giả, quyền phảnđối sự bóp méo, cắt xén hoặcsửa chữa tác phẩm,…có thểlàm phương hại tới danh dựhoặc uy tín của tác giả
Quyền ngăn cản các bên thứ ba sử
dụng trong thương mại các dấu hiệu
trùng hoặc tương tự cho các hànghóa hoặc dịch vụ trùng hoặc tương
tự với hàng hóa hoặc dịch vụ mànhãn hiệu đã đăng ký khi việc sửdụng này có khả năng gây nhầm lẫn
Sử dụng nhãn hiệu thường bao gồmcác hành vi: (i) gắn nhãn hiệu đó lênhàng hóa, bao bì hàng hóa, nhãnhàng; (ii) đưa hàng hóa mang nhãnhiệu ra thị trường; và (iii) sử dụngnhãn hiệu trong quảng cáo, trên giấy
tờ, tài liệu giao dịch kinh doanh,
Giới hạn
nội dung
(cơ bản)
Các ngoại lệ hợp lý, đáp ứngyêu cầu của “Bài kiểm tra babước” (Công ước Berne,Hiệp định TRIPS)
Nguyên tắc hết quyền (học thuyếtlần bán thứ nhất), theo đó chủ sở hữunhãn hiệu “hết” độc quyền ngăn cảnngười khác lưu thông và khai tháccông dụng của sản phẩm được đưa rathị trường một cách hợp pháp
Trong phạm vi của luận án, các phân tích sẽ tập trung vào hai đại diện củahai nhánh trên là QTG và nhãn hiệu, cũng là đối tượng nghiên cứu được lựa chọn.Bản chất của giải pháp quyền SHTT là tạo ra khả năng kiểm soát theo luật định đốivới việc phổ biến thông tin và sử dụng các dấu hiệu thông qua việc cấp các độcquyền pháp lý có giới hạn Tuy nhiên, đối tượng, nội dung, phạm vi của hai lĩnh vực
Trang 9này có nhiều khác biệt (Bảng 2.1) và được lý giải bởi các học thuyết kinh tế riêng.
Hệ thống quyền SHTT đối với các sáng tạo (trong đó có QTG) được sử dụng nhưmột phương tiện giúp cân bằng giữa một mặt là nhu cầu sáng chế và sáng tạo, mặtkhác là nhu cầu phổ biến và tiếp cận thông tin Việc cấp quyền sở hữu tư nhân đốivới thông tin mang lại cả lợi ích và chi phí nên chúng cần phải được thiết kế vớinhững cân nhắc về tới các hệ quả đối với xã hội Trên góc độ kinh tế học, hệ thốngnày được coi như một giải pháp giúp giải quyết vấn đề trọng tâm nảy sinh từ đặcđiểm hàng hóa công cộng của SHTT (thông tin/tri thức) đó là vừa khuyến khíchsáng tạo vừa mở rộng khả năng tiếp cận thông tin để đảm bảo lợi ích xã hội Tuynhiên, không thể xác định chính xác điểm cân bằng của hệ thống này, chúng chỉ là
giải pháp tốt thứ nhì đối với những bóp méo của thị trường (Posner, 2002) Trong
khi đó, các quyền SHTT liên quan đến các chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu đượcphát triển như một giải pháp cho thất bại thị trường do thông tin bất cân xứng giữangười mua và người bán Nhãn hiệu đảm bảo rằng người tiêu dùng sẽ mua đượcđúng hàng hóa/dịch vụ mà họ muốn và vì thế khuyến khích các công ty đầu tư vàodanh tiếng và chất lượng Đây là giải pháp tốt nhất vì nhãn hiệu có thể cùng tồn tạivới các thị trường cạnh tranh (Akerlof 1970, WIPO 2013, tr 82)
1.2 Thương mại điện tử
Luận án sử dụng cách tiếp cận khái quát, có khả năng phản ánh toàn bộ cácdạng thức của hoạt động TMĐT trong bối cảnh phát triển và thay đổi không ngừngkhi không chỉ giới hạn hoạt động thương mại trong mua bán hàng hoá mà mở rộngcho mọi khâu của quy trình hoạt động thương mại và để mở khái niệm về nền tảng,
cơ sở hạ tầng trên đó hoạt động thương mại diễn ra của Nghị định số
52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về TMĐT Theo đó, “hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” (Điều 3.1)
Thương mại điện tử có những đặc điểm quan trọng khác với thương mại
truyền thống Thứ nhất, các không gian quốc tế của các phương tiện điện tử phản
ánh đặc điểm xuyên quốc gia của TMĐT Việc áp dụng mạng toàn cầu đã tạo điềukiện cho sự tương tác giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp vàngười tiêu dùng, giúp giảm chi phí giao dịch tới mức tối thiểu, tăng hiệu quả kinhdoanh thương mại của doanh nghiệp và lợi ích của người tiêu dùng Bản chất “phibiên giới” của internet và việc tiếp cận internet dễ dàng với chi phí thấp đã cho phépcác doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào thương mại quốc tế Khi xét tới các nướcđang phát triển, công nghệ thông tin có thể hỗ trợ trong việc vượt qua các rào cản
đối với việc tiếp cận các thị trường quốc tế như “chi phí giao dịch cao, sự kém hiệu quả trong sản xuất, phân phối và cung cấp”, trong khi tạo thêm giá trị cho các sản
Trang 10phẩm và dịch vụ sẵn có và cũng như tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới (Okediji,
Ruth L 2003, tr 35) Thứ hai, bản chất đa lĩnh vực của TMĐT đã làm mờ đi các
ranh giới truyền thống giữa các lĩnh vực kinh doanh, vốn dựa trên các dạng vật chấtkhác nhau của hàng hóa và dịch vụ được chào bán và các phương tiện phân phối
hữu hình khác nhau của chúng (WIPO 2000, tr 4) Thứ ba, trong TMĐT, ngoài các
chủ thể tham gia giao dịch giống như trong thương mại truyền thống, đã xuất hiệnthêm các bên trung gian là các nhà cung cấp dịch vụ internet hay những người tạo ra
môi trường cho các hoạt động TMĐT Thứ tư, đối với thương mại truyền thống thì
mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu còn đối với TMĐT thìmạng lưới thông tin chính là thị trường Đối tượng của các giao dịch TMĐT có thể
là các hàng hóa vô hình hoặc các hàng hóa hữu hình Những ưu điểm của internetkhông chỉ thể hiện qua việc tạo điều kiện cho các giao dịch hàng hóa hữu hình màcòn trên khía cạnh cách mạng hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ vô hình Internetcho phép giao hàng trực tuyến với những hàng hóa vô hình, một cách gần như là tứcthì, đến đích nhận tại bất cứ nơi nào trên toàn cầu mà internet có thể chạm tới
Có thể phân loại các mô hình/loại hình TMĐT dựa trên nhiều tiêu chí Luận
án chọn cách tiếp cận theo hình thức tổ chức hoạt động của TMĐT (Hình 1.1.) đểphân tích các vấn đề liên quan tới quyền SHTT gắn với các giai đoạn hoạt độngTMĐT cơ bản
Hình 1.1 Các hình thức tổ chức hoạt động TMĐT
Nguồn: Nghị định 52/2013/NĐ-CP
1.3 Các vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong TMĐT
Trong môi trường TMĐT, cho dù bản chất và các nguyên lý của hệ thốngSHTT vẫn không thay đổi nhưng vẫn cần có những điều chỉnh hợp lý để hệ thốngnày tận dụng được những cơ hội và đối phó được những thách thức mới mà các tiến
bộ công nghệ, kinh tế đem lại Cho dù các dạng thức và các mô hình kinh doanhTMĐT rất đa dạng, có thể xác định các hoạt động cơ bản trong TMĐT gắn với hai
mô hình đại diện là website TMĐT bán hàng và website cung cấp dịch vụ sàn giao
Website TMĐT
Website TMĐT bán hàng
Website cung
c p d ch v ấp dịch vụ ịch vụ ụ TMĐT
Website sàn giao d chịch vụ
Website khuy n ến
m i tr c tuy nại trực tuyến ực tuyến ến Website đ u giá ấp dịch vụ
tr c tuy nực tuyến ến
Trang 11dịch TMĐT bao gồm: (i) tạo lập website TMĐT; (ii) quảng bá website TMĐT; (iii)cung cấp và phân phối hàng hóa, dịch vụ qua website TMĐT; và (iv) cung cấp môitrường cho hoạt động TMĐT Các vấn đề cụ thể liên quan đến QTG và nhãn hiệutrong các hoạt động này được tổng hợp trong Bảng 1.3
Bảng 1.3 Vấn đề liên quan đến QTG và nhãn hiệu trong các hoạt động TMĐT
1 Tạo lập website
TMĐT
quyết xung đột giữaquyền SHCN đối vơinhãn hiệu và quyền đốivới chỉ dẫn thương mạidưới dạng tên miền
1.2 Tạo nội dung
website
Xác định phạm vi QTGđối với các hành vi khaithác tác phẩm mới trongTMĐT (tải nội dung lênwebsite, trình duyệt vàxem trực tuyến, tạo liênkết)
Xác định phạm vi độcquyền nhãn hiệu đối vớicác hành vi sử dụng nhãnhiệu mới trong TMĐT(hiển thị trên website, sửdụng làm liên kết, mua từkhoá quảng cáo là nhãnhiệu)
Xác định nguyên tắc giảiquyết vấn đề đồng tồn tạicủa nhãn hiệu trongT2015MĐT
4 Cung cấp môi
trường cho hoạt
động TMĐT
Xác định cơ chế tráchnhiệm trung gian trựctuyến đối với hành vixâm phạm QTG củangười sử dụng trênwebsite TMĐT
Xác định cơ chế tráchnhiệm trung gian trựctuyến đối với hành vixâm phạm nhãn hiệu củangười sử dụng trênwebsite TMĐT
Trang 12quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử
2.1 Thực tiễn quốc tế trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền tác giả trong thương mại điện tử
Các nỗ lực nhằm xác định phạm vi độc quyền của QTG đối với các hành vikhai thác tác phẩm mới trong TMĐT (tải lên, tạo liên kết, trình duyệt/ xem trựctuyến) gắn với hoạt động tạo lập website và quảng cáo website:
- Đối với hành vi tạo liên kết: Svensson (ECJ, 2014);
Best Water và Micheal Mebe & Stephan Potsch (ECJ, 2014): diễn giải Điều
3(1) về quyền truyền đạt tácphẩm tới công chúng củaChỉ thị 2001/29/EC theohướng quyền truyền đạt tácphẩm tới công chúng chỉ bịxâm phạm khi tác phẩm
được đưa tới “một công chúng mới”.
- Đối với hành vi xem trực
tuyến: NLA và Meltwater (ECJ, 2014), diễn giải Điều
5(1) Chỉ thị InfoSoc vềngoại lệ tự động đối vớiquyền sao chép cho các “bảnsao tạm thời”, theo đó khôngcần phải xin phép cho việctrình duyêt và xem trựctuyến tác phẩm đã được tảilên website
Không có quy định về hành vi
“đưa tác phẩm tới công chúng”.Các toà án tại Hoa Kỳ diễn giảitheo nhiều cách khác nhau
- Đối với hành vi tải nội dung
lên website: Atlantic và Howell (2008), London-Sire Records
và Doe (2008): quyền “đưa tác
phẩm tới công chúng” khôngtồn tại trong luật pháp Hoa Kỳ;
Elektra và Barker (2008):
thuộc phạm vi của quyền phânphối
- Đối với hành vi liên kết:
Washington Post và Total News (1997), Ticketmaster và Microsoft (1997): liên kết ngoài
là sử dụng hợp lý với li-xăng
“ngầm hiểu”, chưa có câu trảlời chính xác đối với liên kếtsâu
- Đối với hành vi trình duyệt:
Mai và Peak (1993), Triad Systems và Southeastern Express (1995): bản sao tạm
thời lưu trữ trong RAM cấu
thành xâm phạm QTG; Network và CSC (2008): bản
sao tạm thời không đủ để “địnhhình”
Nguồn: NCS, 2016