1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

3 vùng kt trọng điểm vn

42 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Vùng kinh tế trọng điểm là vùng tập trung lớn về công nghiệp và thương mại, dịch vụ nhằm thu hút nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước, kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, đ

Trang 1

MỤC LỤC

I Vai trò ý nghĩa của ba vùng kinh tế trọng điểm 2

1 Khái niệm 2

2 Vai trò ý nghĩa của 3 vùng kinh tế trọng điểm ( Bắc, Trung, Nam) 3

2.1 Vai trò 3

2.1.1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc (Vùng KTTĐ miền Bắc) 3

2.1.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Vùng KTTĐ miền Trung) 4

2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam (Vùng KTTĐ miền Nam) 5

2.2 Ý nghĩa 6

II Sự phát triển của ba vùng kinh tế trọng điểm 6

1 Sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm từ giai đoạn trước năm 2000 6

2 Sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm từ giai đoạn trước năm 2000 (từ 2000-2009) 10

2.1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc 10

2.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 13

2.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam 16

III Nét chuyên môn hóa của ba vùng kinh tế trọng điểm 20

1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc 20

2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 25

3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam 31

IV Hướng chiến lược phát triển kinh tế của mỗi vùng 36

1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.) 36

2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) 37

3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam (TP Hồ Chí Minh , Bình Dương , Bà Rịa -Vũng Tàu , Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang) 40

V Tài liệu tham khảo 41

VI Phân công nhiệm vụ 42

Trang 2

I Vai trò ý nghĩa của ba vùng kinh tế trọng điểm

1 Khái niệm

Vùng kinh tế trọng điểm là vùng tập trung lớn về công nghiệp và thương mại, dịch vụ nhằm thu hút nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước, kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, đặc biệt là công nghiệp Nhà nước quyết định thành lập các vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam

Trang 3

2 Vai trò ý nghĩa của 3 vùng kinh tế trọng điểm ( Bắc, Trung, Nam)

2.1 Vai trò

2.1.1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc (Vùng KTTĐ miền Bắc)

- Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc với diện tích tự nhiên là 10.912 km², mức đóng góp GDP cho cả nước là 18,9%(2005),20,9%(2007), kim ngạch xuất khẩu chiếm 21% so với cả nước; tổng sản phẩm đạt 23,1%, giá trị sản xuất công nghiệp của vùng chiếm tới 21,2%, còn tỉ lệ sản xuất lương thực thực phẩm đứng ở vị trí thứ 2 so với cả nước

- Có nhiều trung tâm kinh tế tạo tiền đề cho sự phát triển, giao lưu kinh tế và hợp tác vùng miền:

+ Có 2 thành phố, trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Hải Phòng

+ Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh kết hợp tạo nên tam giác kinh tế có vai trò tạo xung lực và cơ hội phát triển cho các địa phương khác

+ Các tỉnh thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương ( Theo quyết định số 747/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/09/1997, ngày 14-15/07/2003 Thủ tướng Chính phủ quyết định mở rộng thêm 3 tỉnh: Hà Tây(đã sát nhập với Hà Nội),

Trang 4

Bắc Ninh, Vĩnh Phúc) 7 tỉnh này nằm trên trục kết nối giao thông đường bộ, đường biển, hàng không

- Hà Nội với vai trò là trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ của cả nước, là vùng hạt nhân phát triển, lãnh thổ động lực vùng đồng bằng sông Hồng

- Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là một trong những trung tâm năng lượng hàng đầu của cả nước về sản xuất, xuất khẩu: than đá (Quảng Ninh), nhiệt điện ( Uông Bí, Phả Lại-Quảng Ninh)

2.1.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Vùng KTTĐ miền

Trung)

- Với diện tích tự nhiên là 27.879 km², mức đóng góp GDP cho cả nước là 5,3% (2005), 5,6% (2007), kim ngạch xuất khẩu chiếm 2,2% so với cả nước

- Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa các vùng phía Bắc, phía Nam nước

ta, là cửa ngõ thông ra biển của Tây Nguyên và Nam Lào

- Sự phát triển king tế của vùng có vai trò thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác hợp lí hơn tiềm năng tự nhiên và lao động, góp phần giải

Trang 5

quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư của các vùng duyên hải nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Bắc trung Bộ

- Các tỉnh thuộc vùng king tế trọng điểm miền Trung: Thừa Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi (Theo quyết định số 1018/1997/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/11/1997) Cho đến nay quy mô vùng đã

Thiên-mở rộng thêm tỉnh Bình Định

- Thuộc hành lang kinh tế Đông-Tây có vai trò hỗ trợ các vùng địa phương sâu trong nội địa mở rộng ra biển, làm đầu mối cung cấp hàng hóa và nguyên vật liệu

- Đà Nẵng là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là điểm cuối của hành lang kinh tế Đông-Tây, cầu nối Trung Lào và Trung Trung

Bộ Việt Nam

- Thúc đẩy kinh tế thông qua đầu tư thương mại, du lịch văn hóa, lịch sử…thông qua đó thúc đẩy giao lưu của người, hàng hóa, nâng cao đời sống và thu nhập của người dân

2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam (Vùng KTTĐ miền Nam)

- Với diện tích tự nhiên là 12.661km², , mức đóng góp GDP cho cả nước là 42,7%(2002), kim ngạch xuất khẩu chiếm 35,3% so với cả nước

Trang 6

- Đóng vai trò là động lực phát triển mạnh nhất của nền kinh tế đất nước, chiếm gần 60% ngân sách quốc gia, trên 70% kim ngạch xuất khẩu và là khu vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI hàng đầu cả nước, sản xuất trên 42% GDP

- Vùng KTTĐ phía Nam bao gồm: Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương,

Bà Rịa-Vũng Tàu ( quyết định số 44/1998/QĐ-TTg của Thủ tương Chính phủ ngày 23/02/1998, ngày 20-21/06/2003 mở rộng thêm: Tây Ninh, Bình Phước, Long An, năm 2009 bổ xung thêm Tiền Giang)

- Là vùng kinh tế mở cửa năng động, có vai trò là cửa ngõ kinh tế, là cầu nối giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

- Là trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính hàng đầu cả nước

- Là đầu mối giao thông nối Đông Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long

- Tp Hồ Chí Minh với vai trò là trung tâm thương mại-công nghiệp,

là cửa ngõ tiền tiêu, “chìa khóa” để mở cửa đồng bằng sông Cửu Long trù phú, cầu nối Nam Bộ-Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

II Sự phát triển của ba vùng kinh tế trọng điểm

1 Sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm từ giai đoạn trước năm 2000

- Là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà

hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới

- Là một chương trình cải cách toàn diện bao gồm kinh tế và nhiều khía cạnh khác của đời sống

Trang 7

nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc

điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa

cộng sản Theo đó thì kinh tế tư nhân

dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh

tế do nhà nước chỉ huy Mặc dù kinh

tế chỉ huy đã tồn tại ở miền Bắc dưới

chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

từ trước năm 1975, song thời kỳ bao

cấp thường được dùng để chỉ sinh

hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai

đoạn từ đầu năm 1976 đến cuối năm

1986trên toàn quốc

- Trong nền kinh tế kế hoạch thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ,

hàng hóa được phân phối theo chế độ

tem phiếu do nhà nước nắm toàn

quyền điều hành, hạn chế đến thủ

tiêu việc mua bán trên thị trường

hoặc vận chuyển tự do hàng hoá từ

địa phương này sang địa phương

khác Nhà nước có độc quyền phân

phối hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng

tiền mặt Chế độ hộ khẩu được thiết

lập trong thời kỳ này để phân phối

lương thực, thực phẩm theo đầu

người, tiêu biểu nhất là sổ gạo ấn

định số lượng và mặt hàng được

phép mua

xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980 Chính sách Đổi Mới được chính thức thực hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm

1986

- Đổi mới về kinh tế được thực hiện song song với Đổi Mới trên các mặt khác như hành chính, chính trị, văn hóa, giáo dục Tuy nhiên chính trị không có những thay đổi lớn và nhanh chóng so với kinh

tế

- 1989 Việt Nam đã xuất khấu gạo đứng thứ 3 thế giới (sau Thái Lan và Hoa Kỳ)

- 1993: Bình thường hóa quan

hệ tài chính với các tổ chức tài chính quốc tế

- 1995: Gia nhập tổ chức kinh

tế Đông Nam Á (ASEAN)

- 2000: Luật Doanh nghiệp ra đời

Trang 8

2001-2005 GDP tăng bình quân 7,34%/năm; giai đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân

6,32%/năm Giai đoạn 2011-2015, GDP của Việt Nam tăng chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới

- Quy mô nền kinh tế tăng nhanh: GDP bình quân đầu người năm

1991 chỉ là 188 USD/năm Đến năm 2003, GDP bình quân đầu người đạt 471 USD/năm và đến năm 2015, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 204 tỷ USD, GDP đầu người đạt gần 2.200 USD/năm Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng

- Tỷ lệ nghèo đói giảm từ 58% năm 1992 xuống còn 7,6% cuối năm 2013[21]

- Cơ cấu kinh tế của Việt Nam bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại, giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp

- Kim ngạch ngoại thương năm 1991 là 5.156,4 triệu USD, trong đó xuất khẩu là 2.087,1 triệu USD, đến năm 2016 các con số tương ứng là 333 tỷ USD và 167,83 tỷ USD, tăng 60,4 lần và 80,4 lần so với năm 1991

- Kinh tế nhà nước dần phát huy tốt hơn; hệ thống doanh nghiệp nhà nước từng bước được cơ cấu lại, cổ phần hóa theo Luật Doanh nghiệp và đang giảm mạnh về số lượng Kinh tế tập thể bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiểu mới được hình thành phù hợp hơn với cơ chế thị trường Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh

- Trong 30 năm, Việt Nam thu hút được 310 tỷ USD của các nhà đầu

tư nước ngoài, nguồn vốn này đã góp phần lớn làm tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam

- Việt Nam đã ký kết 1 Hiệp định thương mại tự do khu vực

(ASEAN)

b Hạn chế

- Việc thực hiện kinh tế thị trường nhưng do chưa có kinh nghiệm quản lý nên phân hóa giàu nghèo,ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội đã diễn ra với tốc độ tăng nhanh Nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chưa bao giờ

Trang 9

đạt đến mức 10% (trong khi đó Trung Quốc có những năm tăng trưởng trên 10%), từ năm 2000 đến nay tăng trưởng chỉ dao động ở mức 5% - 7%], chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức thấp, lãng phí tài nguyên, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, năng suất lao động thấp và tăng chậm Nền kinh tế vẫn nằm ở nhóm nước kinh tế đang phát triển và sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình nếu không duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài Trong cơ cấu kinh tế, lao động nông nghiệp vẫn chiếm hơn 40% khiến tình trạng khiếm dụng lao động

(underemployment) phổ biến tại Việt Nam Nền kinh tế vẫn chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ít doanh nghiệp lớn và rất hiếm doanh nghiệp có khả năng hoạt động ở thị trường nước ngoài trong khi trong cùng một khoảng thời gian phát triển như vậy Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đã

có các tập đoàn đa quốc gia

- Vấn đề mất rừng và tài nguyên:

Sau ½ thế kỷ, mặc dù diện tích rừng trồng đã tăng dần từ năm 1976 và đạt 0,745 triệu ha 1992 nhưng rừng tự nhiên đã bị suy giảm mạnh, chủ yếu do chiến tranh, sức ép phát triển dân số và yêu cầu sản xuất lương thực Diện tích rừng tự nhiên thấp nhất vào năm 1992, chỉ 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng toàn quốc là 27,8% Kể từ 1992, nhờ Chương trình 327 (giai đoạn 1992-1997) và Chương trình 5 triệu hecta rừng-661, diện tích rừng Việt Nam đã tăng đáng kể, tuy nhiên rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy thoái

Trang 10

+ Tăng trưởng kinh tế: Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Vùng

KTTĐ Bắc Bộ gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao,

đạt khoảng 12,5% thời kỳ 2001-2009, trong đó tốc tộ tăng trưởng của ngành

công nghiệp- xây dựng đạt 15,5%, ngành thương mại - dịch vụ đạt 12,4% và

ngành nông nghiệp đạt 3,6%

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của Vùng chuyển dịch theo

hướng hiện đại và hiệu quả Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế

Vùng năm 2009 vào khoảng 10% (năm 2000 là 17,8%) Tỷ trọng của ngành

công nghiệp năm 2009 đạt khoảng 44,4% (năm 2000 là là37,1%) Tỷ trọng của

ngành dịch vụ đạt45,6%(năm 2000 là 45,1%)

+ Thu nhập bình quân đầu người của vùng liên tục tăng trong thời gian

qua GDP/người của vùng năm 2000 chỉ đạt khoảng 5,6 triệu thì đến năm 2005

đã lên đến 11,7 triệu đồng/người và đến năm 2009 đạt khoảng 25,1 triệu đồng

- Về thu chi ngân sách

Trang 11

+ Thu ngân sách: Tốc độ tăng thu ngân sách thời kỳ 2001-2009 đạt

khoảng 18,7%/năm Năm 2009, thu ngân sách của vùng đạt 118 nghìn tỷ đồng (cao gấp 4,7 lần so với năm 2000)

+ Chi ngân sách: Tốc độ tăng chi ngân sách thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 21,8%/năm Năm 2009, chi ngân sách của vùng đạt 51,1 nghìn tỷ đồng (cao gấp

5,9 lần so với năm 2000)

- Về xuất nhập khẩu

+ Xuất khẩu: Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu của vùng thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 21,8%/năm Năm 2009, xuất khẩu của vùng đạt khoảng 12,6 tỷ USD (cao gấp 5,9 lần so với năm 2000)

+ Nhập khẩu: Tốc độ tăng giá trị nhập khẩu của Vùng thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 24,0% Năm 2009, giá trị nhập khẩu của Vùng đạt khoang 30 tỷ USD

- Về thu hút vốn đầu tư

+ Vốn dầu tư: Trong những năm qua, vốn đầu tư phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng tiếp tục tăng nhanh, với tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 21.8%/năm Năm 2009, vốn đầu tư toàn xã hội của vùng đạt trên 200 nghìn tỷ đồng

+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: với môi trường thu hút đầu tư khá thuận lợi, Vốn FDI đổ vào vùng KTTĐ Bắc bộ trong những năm qua ngày một tăng Từ năm 1988 đến nay, Vùng KTTĐ Bắc bộ đã thu hút được 3106 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 36625,4 triệu USD Riêng năm 2009, Vùng đã thu hút được 368 dự án với tổng vốn đăng ký là 1178,3 triệu USD

- Về phát triển các ngành kinh tế

+ Giá trị sản xuất công nghiệp: Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng đạt 16,3%/ năm thời kỳ 2006-2009, trong đó công nghiệp nhàn nước tăng 5,1%/năm, công nghiệp ngoài nhà nước tăng 19,8%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,0%/năm Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) của vùng đạt trên 167,3 nghìn tỷ đồng(chiếm 24,0% giá trị công nghiệp cả nước), trong đó công nghiệp nhà nước chiếm 22,03%, công

Trang 12

nghiệp ngoài nhà nước chiếm 30,43% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 47,54%

+ Khu công nghiệp và khu kinh tế: Trong vùng có 2 khu kinh tế đang được triển khai xây dựng là Khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh) và khu kinh tế

Đình Vũ (Hải Phòng) Toàn vùng KTTĐ Bắc Bộ đến năm năm 2008 có41 khu

công nghiệp, trong đó có 21 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và 20 khu đã được thành lập và đang xây dựng cơ bản với tỷ lệ lấp đầy là 41,7%

+ Giá trị sản xuất nông nghiệp: Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của vùng năm 2009 đạt 21 nghìn tỷ đồng, trong đó nông nghiệp chiếm 86,5%, thủy sản chiếm 12,2% và lâm nghiệp chiếm 1,3% Tốc độ tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, thủy sản thời kỳ 2006-2009 đạt 3,5%/năm

+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa: tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng

hóa thời kỳ 2001-2009 đạt 21,1%/năm Năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hóa

của vùng đạt gần 225,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,3% so với cả nước

+ Y tế: Toàn vùng có 1907 cơ sở khám chữa bệnh (chưa tính đến các bệnh viện thuộc trung ương đóng trên địa bàn Vùng) với 31839 giường bệnh Toàn vùng có 7490 bác sỹ, 6572 y sỹ, 10406 y tá và 3110 nữ hộ sinh

+ Tỷ lệ hộ nghèo của vùng năm 2009 là 6,7%

- Về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội:

+ Về phát triển mạng lưới giao thông: Mạng đường bộ trong vùng phân

bố tương đối hợp lý, gồm các trục hướng tâm Hà Nội (QL 1A, 2, 3, 5, 6, Láng – Hoà Lạc) và các đường nối với các cảng biển quốc tế, đảm bảo kết nối giữa

Trang 13

vùng với các khu vực khác trong cả nước Tuy nhiên, tỷ lệ đường cao tốc quá thấp (mới chỉ cố đoạn Pháp Vân – Cầu Giẽ, Nội Bài – Bắc Ninh được xem là tiền cao tốc) chưa tương xứng với yêu cầu phát triển của vùng Mạng lưới đường sắt Vùng KTTĐ Bắc Bộ là tương đối hợp lý với tâm điểm là Hà Nội, cũng là điểm hội tụ của 7 tuyến đường sắt quốc gia, kết nối vùng với khu vực phía Nam, Đông Bắc, phía Bắc và kết nối Hà Nội với các đô thị lân cận Trong vùng có 2 cụm cảng lớn là Hải Phòng và Quảng Ninh với tổng số 28 cảng gồm 3 cảng tổng hợp quốc gia là Hải Phòng, Cái Lân và Đình Vũ cho tàu 10000-50000 DWT, 6 cảng tổng hợp địa phương và 19 cảng chuyên dùng và chuyển tải phục vụ toàn miền Bắc, tổng công suất hơn 20 triệu tấn/ năm Hiện đang khai thác dân dụng 2 cảng hàng không – sân bay là cảng hàng không quốc tế Nội Bài và sân bay Cát

Bi

+ Mạng lưới thoát nước: Trong tình trạng chung của cả nước,trong vùng hầu hết các đô thị lớn đã có hệ thống thoát nước song chưa hoàn chỉnh, các đô

thị nhỏ hầu hết chưa có hệ thống thoát nước Việc thoát nước ra sông hồ thiếu

xử lý và chưa kiểm soát tốt nên gây ô nhiễm đến nhiều vùng dận cư Các khu xử

lý chất thải chưa được xử lý tốt và tiếp cận với công nghệ mới Vị trí các khu xử

lý rác thải, nghĩa trang phân bố không hợp lý, hầu như không đảm bảo khoảng cách ly đối với các đô thị, khu dân cư Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, các khu vực nông nghiệp chưa được kiểm soát chặt chẽ

Mạng lưới điện:Trước đây lưới điện trung áp ở khu vực Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là 6KV và 10KV nên các trạm 110KV là quá dầy khi chuyển sang dùng điện áp 220KV Lưới điện trong vùng đa số xây dựng đã lâu nên đã

hư hỏng nhiều, chất lượng đường dây kém.Toàn bộ lưới điện từ 110KV đến 500KV trong vùng đi nổi gây khó khăn trong quản lý vận hành, không an toàn trong cung cấp điện Lưới 22KV mới “ngầm hoá” ở một vài khu vực Hà Nội Lưới điện phần lớn xây dựng đã lâu nên chất lượng thấp, không an toàn và chưa đạt yêu cầu mỹ quan đô thị

2.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

- Về phát triển kinh tế

Trang 14

+ Tăng trưởng kinh tế: Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Vùng KTTĐ miền Trung gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt khoảng 11,6% thời kỳ 2001-2009, trong đó tốc tộ tăng trưởng của ngành công nghiệp - xây dựng đạt 17,4%, ngành thương mại - dịch vụ đạt 11,5% và ngành nông nghiệp đạt 4,6%

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Vùng năm 2009 vào khoảng 20,41% (năm 2000 là 30,4%) Tỷ trọng của ngành công nghiệp năm 2009 đạt khoảng 39,93% (năm 2000 là 29,1%) Tỷ trọng của ngành dịch vụ đạt39,66%(năm 2000 là 40,5%)

- Về thu chi ngân sách

+ Thu nhập bình quân đầu người của vùng liên tục tăng trong thời gian qua GDP/người của vùng năm 2000 chỉ đạt khoảng 3,5 triệu thì đến năm 2005

đã lên đến 7,2 triệu đồng/người và đến năm 2009 đạt khoảng 16,5 triệu đồng

+ Thu ngân sách: Tốc độ tăng thu ngân sách thời kỳ 2001-2009 đạt

khoảng 14,7%/năm Năm 2009, thu ngân sách của vùng đạt trên 17 nghìn tỷ đồng

Chi ngân sách: Tốc độ tăng chi ngân sách thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 18,0%/năm Năm 2009, chi ngân sách của vùng đạt trên 20,4 nghìn tỷ đồng

- Về thu hút vốn đầu tư

+ Vốn dầu tư: Trong những năm qua, vốn đầu tư phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng tiếp tục tăng nhanh, với tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 24.3%/năm Năm 2009, vốn đầu tư toàn xã hội của vùng đạt trên 66,0 nghìn tỷ đồng

+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Từ năm 1988 đến nay, Vùng KTTĐ miền Trung đã thu hút được 416 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 15755,4

Trang 15

triệu USD Riêng năm 2009, Vùng đã thu hút được 44 dự án với tổng vốn đăng

ký là 4624,7 triệu USD

- Về phát triển các ngành kinh tế

+ Giá trị sản xuất công nghiệp: Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng đạt 14,2%/ năm thời kỳ 2006-2009, trong đó công nghiệp nhà nước giảm 5,5%/năm, công nghiệp ngoài nhà nước tăng 27%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 24,5%/năm Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) của vùng đạt gần 26,8 nghìn tỷ đồng, trong đó công nghiệp nhà nước chiếm 22,59%, công nghiệp ngoài nhà nước chiếm 55,96% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 21,45%

+ Khu công nghiệp: Toàn vùng KTTĐ miền Trung đến cuối năm 2008 có

11 khu công nghiệp, trong đó có 10 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và 1 khu đã được thành lập và đang xây dựng cơ bản với tỷ lệ lấp đầy là 70,6%

+ Giá trị sản xuất nông nghiệp: Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản của vùng năm 2009 đạt gần 11,2 nghìn tỷ đồng, trong đó nông nghiệp chiếm 60,1%, thủy sản chiếm 34,5% và lâm nghiệp chiếm 5,4% Tốc độ tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, thủy sản thời kỳ 2006-2009 đạt 4,2%/năm

+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa thời kỳ 2001-2009 đạt 18,8%/năm Năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hóa của vùng đạt trên 70 nghìn tỷ đồng

Trang 16

+ Y tế: Toàn vùng có 910 cơ sở khám chữa bệnh (chưa tính đến các bệnh viện thuộc trung ương đóng trên địa bàn Vùng) với 14401 giường bệnh Toàn vùng có 3451 bác sỹ, tỷ lệ bác sỹ/1 vạn dân là 5,4 bác sỹ

Tỷ lệ hộ nghèo của vùng năm 2009 là 14,9% (cao nhát so với 4 vùng kinh

tế trọng điểm)

- Về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội

+ Hạ tầng giao thông: Mạng lưới đường bộ của vùng được phân bố tương đối hợp lý với 2 trục dọc chính là QL1A và đường Hồ Chí Minh, năm trục

ngang chính là QL49, QL14B-14D-14E, QL24 và QL 19 Một số QL quan trọng vừa được mở rộng và nâng cấp Tỷ lệ đường rải mặt đạt 91,4% đối với các Quốc

lộ, 72,5% đối với tỉnh lộ và các tỷ lệ này đều đạt cao hơn mức bình quân của cả nước Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống đường bộ vẫn chưa hoàn chỉnh, tiêu

chuẩn kỹ thuật thấp, chưa có đường cao tốc, đường tiêu chuẩn kỹ thuật cao Trên địa bàn Vùng hiện có 17 cảng biển, trong đó có 2 cảng tổng hợp quốc gia, còn lại là các cảng phục vụ khu kinh tế, các cảng tổng hợp địa phương và các cảng chuyên dụng Vùng kinh tế trọng điểm miền trung hiện có 4 cảng hàng không, trong đó cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đạt cấp 4E theo tiêu chuẩn phân cấp của tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), với công suất hiện tại là 1 triệu hành khách/năm

+ Cấp điện: Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia của vùng đạt 90%, cao hơn mức bình quân của cả nước (86%) với tiêu chuẩn 300-500kwh/người/năm

+ Cấp thoát nước: Nhìn chung hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng được nhu cầu phát triển của các tỉnh trong vùng

2.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam

- Về phát triển kinh tế

+ Tăng trưởng kinh tế: Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Vùng KTTĐ Phía Nam gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt khoảng 12,3% thời kỳ 2001-2009, trong đó tốc tộ tăng trưởng của ngành công nghiệp - xây dựng đạt 13,3%, ngành thương mại - dịch vụ đạt 12,6% và ngành nông nghiệp đạt 6,1%

Trang 17

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của Vùng chuyển dịch theo hướng hiện đại và hiệu quả Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Vùng năm 2009 vào khoảng 7,06% (năm 2000 là 10,5%) Tỷ trọng của ngành công nghiệp năm 2009 đạt khoảng 55,84% (năm 2000 là 54,3%) Tỷ trọng của ngành dịch vụ đạt37,1%(năm 2000 là 35,2%)

Thu nhập bình quân đầu người của vùng liên tục tăng trong thời gian qua GDP/người của vùng năm 2000 chỉ đạt khoảng 11,6 triệu thì đến năm 2005 đã lên đến 25,1 triệu đồng/người và đến năm 2009 đạt khoảng 47,0 triệu đồng

- Về thu chi ngân sách

+ Thu ngân sách: Tốc độ tăng thu ngân sách thời kỳ 2001-2009 đạt

khoảng 12,9%/năm Năm 2009, thu ngân sách của vùng đạt trên 192 nghìn tỷ đồng (cao gấp 3 lần so với năm 2000)

+ Chi ngân sách: Tốc độ tăng chi ngân sách thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 16,3%/năm Năm 2009, chi ngân sách của vùng đạt trên 45,4 nghìn tỷ đồng (cao gấp 3,9 lần so với năm 2000)

- Về xuất nhập khẩu

+ Xuất khẩu: Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu của vùng thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 17,8%/năm Năm 2009, xuất khẩu của vùng đạt khoảng 58,1 tỷ USD (cao gấp 4,7 lần so với năm 2000)

+ Nhập khẩu: Tốc độ tăng giá trị nhập khẩu của Vùng thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 26,0% Năm 2009, giá trị nhập khẩu của Vùng đạt khoảng 52 tỷ USD

- Về thu hút vốn đầu tư

+ Vốn dầu tư: Trong những năm qua, vốn đầu tư phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng tiếp tục tăng nhanh, với tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001-2009 đạt khoảng 21.7%/năm Năm 2009, vốn đầu tư toàn xã hội của vùng đạt trên 275,7 nghìn tỷ đồng

+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Từ năm 1988 đến nay, Vùng KTTĐ miền Nam đã thu hút được 7694 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 93032,3

Trang 18

triệu USD Riêng năm 2009, Vùng đã thu hút được 646 dự án với tổng vốn đăng

ký là 14154,5 triệu USD

- Về phát triển các ngành kinh tế

+ Giá trị sản xuất công nghiệp: Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng đạt 12,2% năm thời kỳ 2006-2009, trong đó công nghiệp nhà nước tăng 2,9%/năm, công nghiệp ngoài nhà nước tăng 15,8%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,0%/năm Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) của vùng đạt trên 326,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 46,9% giá trị công nghiệp cả nước), trong đó công nghiệp nhà nước chiếm 16,72%, công nghiệp ngoài nhà nước chiếm 27,29% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55,99%

+ Khu công nghiệp và khu kinh tế: Toàn vùng KTTĐ Phía Nam đến năm năm 2008 có 94 khu công nghiệp, trong đó có 56 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và 38 khu đã được thành lập và đang xây dựng cơ bản với tỷ lệ lấp đầy là 53,4%

+ Giá trị sản xuất nông nghiệp: Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản của vùng năm 2009 đạt gần 34,2 nghìn tỷ đồng, trong đó nông nghiệp chiếm 81,7%, thủy sản chiếm 15,9% và lâm nghiệp chiếm 2,3% Tốc độ tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, thủy sản thời kỳ 2006-2009 đạt 5,2%/năm

+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa thời kỳ 2001-2009 đạt 21,5%/năm Năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hóa của vùng đạt trên 497,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,2% so với cả nước

120575 giáo viên và 2116277 học sinh Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học của vùng đạt bình quân hàng năm 86-89%

Trang 19

+ Y tế: Toàn vùng có 1441 cơ sở khám chữa bệnh (chưa tính đến các bệnh viện thuộc trung ương đóng trên địa bàn Vùng) với 41894 giường bệnh Toàn vùng có 9885 bác sỹ, 6212 y sỹ, 12836 y tá và 4847 nữ hộ sinh

Tỷ lệ hộ nghèo của vùng năm 2009 là 3,8%

- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:

+ Hạ tầng giao thông: Mạng lưới giao thông đường bộ vùng ĐNB và TĐPN có tổng chiều dài 8.600 km, mật độ bình quân gần 16 km/km2 và

0,6km/1.000 dân; gần 100% các xãcủa các tỉnh trong vùng có đường bộ đến trung tâm xã Hệ thống giao thông trục đã và đang được cải tạo, nâng cấp Từng tỉnh, thành phố trong vùng đang tập trung cải tạo, mở rộng thêm nhiều tuyến mới nối với đường quốc gia, các đô thị trung tâm và khu công nghiệp Hệ

thống Quốc lộ trong vùng có tổng chiều dài 1.028,55 km, có các tuyến 1, 13, 14,

20, 22, 22B, 30, 50, 51, 55, 56 và 62 với chất lượng đường tốt QL 1A là tuyến đường quan trọng nhất trong vùng và cả nước hiện nay Các tuyến tỉnh lộtrong vùng đã chú trọng đầu tư nâng cấp, mở rộng nên chất lượng đường được cải tạo, kết cấu mặt đường bê tông nhựa khoảng 15%, láng nhựa 45%, còn lại là đường cấp phối và đường đất Hệ thống đường sắt đi qua vùng với chiểu dài 143 km qua tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh có tổng chiều dài 56 km với diện tích chiếm đất của các nhà ga thành phố

là 238,4 ha; đường sắt thống nhất Bắc - Nam đi qua địa bàn tỉnh Đồng Nai 87,5

km Vùng có sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cách trung tâm TP.Hồ Chí Minh 5km, là sân bay lớn nhất của Việt Nam và cũng là một trong những sân bay lớn nhất của khu vực Đông Nam Á Ngoài ra, vùng cón có sân bay quân sự Biên Hòa, tương lai có khả năng nâng cấp thành sân bay dân dụng và sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho ngành dầu khí và các chuyên bay ngắn hạn đi

Singapore Với lợi thế bờ biển dài 171 km, vùng có hệ thống cảng biển phát triển, đã hình thành nhiều cụm cảng, đã cải tạo nâng cấp trang thiết bị bốc xếp,

mở thêm nhiều bến container gồm cảng Sài Gòn, cảng ViTai Co, cảng Sao Mai

- Cát Lái, cảng Đồng Nai, cảng Phước Thái (VEDAN), cảng Dầu S, cảng Long Thành, cảng dầu nhà máy điện Phú Mỹ, cảng Bà Rịa Vì vậy vùng ĐNB và

Trang 20

TĐPN có điều kiện để giao lưu bằng đường biển với các nước trên thế giới và các tỉnh ven biển ở nước ta

+ Mạng lưới thoát nước: hệ thống thoát nước chủ yếu là hệ thống cống chung, xây dựng chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ Do thiếu cống chưa tiêu thoát hết nước mưa gây ngập úng cục bộ, nước thải chưa có hệ thống thu và xử lý, xả trực tiếp ra sông rạch và môi trường xung quanh đang là tác nhân gây ô nhiễm ngày càng tăng ở các hệ thống sông trong Vùng quy hoạch

+ Mạng lưới điện:Các nhà máy điện của EVN đang vận hành trong hệ thống điện Việt Nam tính đến nay bao gồm: 10 nhà máy thuỷ điện (chưa kể các thuỷ điện nhỏ), 3 nhà máy nhiệt điện chạy than, 2 nhà máy nhiệt điện chạy dầu,

2 nhà máy tua bin khí và một số Diesel Còn lại là các nhà máy điện ngoài

ngành (BOT, IPP ) sản xuất và bán điện cho EVN Hệ thống điện quốc gia có tổng công suất nguồn là 11.286MW (khả dụng khoảng 11.060MW), trong đó nguồn thuộc EVN là 8.847MW (chiếm 78,4%) và các nguồn ngoài EVN là 2.439 MW (21,6%) Trong đó, tổng công suất đặt của các loại nguồn phát toàn miền Nam là 6860MW (khả dụng 6618MW) chiếm 60,78% lượng công suất đặt toàn quốc

III Nét chuyên môn hóa của ba vùng kinh tế trọng điểm

1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc

a Nông - lâm – ngư

Trang 21

chuyển đổi theo hướng tích cực, chăn nuôi - thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng cao, với hơn 54% trong nông nghiệp

+ Phát triển các loại cây trồng, vật nuôi địa phương tạo nên vùng chuyên canh

 Chè Thái Nguyên: diện tích chè của tỉnh có hơn 18.600 ha, trong đó

có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn Tạo nên các thương hiệu chè nổi tiếng như: Tân Cương, La Bằng, Trại Cài

 Mô hình trồng dưa chuột bao tử xuất khẩu tại Hải Phòng: trung bình đạt khoảng 1,5 tấn/ha Giá thu mua ổn định ở mức 7.000 đồng một kg, loại

to hơn có giá 4.500-5.000 đồng một kg Chi phí sản xuất gồm tiền giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tre, nứa bắc giàn chỉ từ 500.000 đến 700.000 đồng cho cả vụ Lợi nhuận thu về cao gấp 2 lần trồng lúa

 Hải Dương với trồng trọt một số cây ăn quả có thế mạnh như vải,

ổi, na,…

+ Nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có sự chuyển đổi mạnh về cơ cấu sản xuất cây trồng, mùa vụ, vật nuôi theo hướng hiệu quả tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

 Quảng Ninh, về trồng trọt, tổng diện tích gieo trồng trên 68,5 nghìn ha; sản lượng lương thực cả năm ước đạt 235.381 tấn; diện tích vùng SX tập trung tăng cao trên 700 ha

 Quảng Ninh, tổng đàn gia súc gia cầm đều tăng, trong đó đàn trâu tăng 0,7%; đàn bò tăng 3,8%; đàn lợn tăng 2,6%; đàn gia cầm tăng 8,5% Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2016 ước đạt 98.953 tấn, tăng 7.400 tấn, tương ứng tăng 8% Toàn tỉnh đã đưa vào hoạt động 4 cơ sở giết mổ loại I, đang chuẩn bị đầu tư 3 cơ sở khác

+ Thực hiện phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, hoa, cây cảnh, nuôi trồng thủy sản có bước tiến bộ đáng kể (khoảng 4 nghìn ha trồng lúa năng suất thấp đã chuyển sang trồng cây ăn quả và 6 nghìn ha lúa bấp bênh do ngập

Ngày đăng: 12/03/2018, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w