1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯNƯỚC NGOÀI VÀ NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI KHU CN VÙNG KT TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC

84 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 585,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ như Trung Quốc và một số nước phương Tây quan niệm KCN như khu hànhchính kinh tế, ở đó có đầy đủ các phân khu chức năng: hành chính, dịch vụ, sản xuấtthương mại, khu vui chơi giải

Trang 1

MỤC LỤC Danh mục viết tắt

CHƯƠNG 1: QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG

NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1

1.1.Khái niệm và đặc điểm khu CN 1

1.1.1 Khái niệm khu CN và đặc điểm của khu công nghiệp 1

1.1.1.1 Quá trình hình thành KCN trên Thế giới và khái niệm KCN ở Việt Nam 1

1.1.2 Đặc điểm các KCN 3

1.1.2.Những tác động của các KCN trong quá trình phát triển 4

1.1.2.1.Những tác động tích cực 5

1.1.2.2.Những tác động tiêu cực 6

1.2 Vai trò của khu CN 7

1.2.1 Vai trò của các khu công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 7

1.2.2 Đóng góp của các khu CN vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của cả nước 10

1.2.3 Hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: 13

1.3 Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam 15

1.4 Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư tại khu công nghiệp ở Việt Nam đến hết năm 2009 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC 23

2.1 Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp cả nước 23

2.1.1.Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp ở Việt 23

Nam(tính theo vốn đăng kí) 23

2.1.2.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu CN phân theo từng thời kì 25

2.2.Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 27

Trang 2

2.2.1.Điều kiện tự nhiên ,kinh tế,xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và tại

vùng KT trọng điểm phía Bắc nói riêng 27

2.2.2.Thưc trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu CN tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 31

2.2.2.1.Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng khu công nghiệp của vùng giai đoạn 1993-2009 36

2.2.2.2.Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng khu CN phân theo địa phương 39

2.2.2.3 Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng khu CN phân theo đối tác 41

2.2.3.Thực trạng thu hút ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh trong khu CN của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 42

2.2.3.1.Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh ở khu CN vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 42

2.2.3.2.Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc phân theo ngành nghề 45

2.2.2.3 Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc phân theo đối tác 47

2.2.2.4 Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc phân theo địa phương: 50

2.3.Đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp kinh tế trọng điểm phía Bắc(bai cop o thu vien) 52

2.3.1.Kết quả đạt được 52

2.3.1.1 KCN với hạt nhân là doanh nghiệp FDI và tác động đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp trong nước 57

2.3.1.2.Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam 58

2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân tồn tại 59

2.3.2.1.Hạn chế 59

2.3.2.2.nguyên nhân 62

CHƯƠNG 3: SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU

TƯNƯỚC NGOÀI VÀ NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ

Trang 3

3.1.Quan điểm của Đảng và nhà nước về đầu tư nước ngoài tại khu công

nghiệp 64

3.1.1 Việt Nam với chiến lược phát triển các khu công nghiệp - khu chế xuất 64

3.1.2.Chiến lược phát triển các khu CN tại Việt Nam 66

3.2 Các nhân tố thiếu bền vững trong phát triển các KCN vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 68

3.2.1 Vị trí các KCN: 68

3.2.2 Quy mô diện tích các khu công nghiệp 68

3.2.3 Trình độ công nghệ của doanh nghiệp 70

3.3 Các khuyến nghị chính sách nhằm phát triển bền vững các KCN vùng KTTĐBB 71

3.3.1 Nâng cao chất lượng qui hoạch KCN của Vùng 71

3.3.2 Thúc đẩy liên kết, phối hợp phát triển các KCN vùng KTTĐBB 72

3.3.3 Tăng cường liên kết doanh nghiệp và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ 72

3.3.4 Cải thiện môi trường đầu tư trong các KCN 73

3.4.Một số giải pháp cụ thể nhằm khắc phục hạn chế còn tồn tại đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 74

3.5.Một số kiến nghị nhằm phát huy tác động tràn của ĐTTTNN tại khu CN vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 76

3.5.1 Khi đổi mới và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, cần chú trọng tạo thuận lợi để thu hút các công ty xuyên quốc gia và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ 77

3.5.2 Nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam 78 3.5.3 Tăng cường công tác thông tin và dự báo kinh tế hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh 78

Danh mục tài liệu tham khảo 80

Trang 4

ĐTTTNN Đầu tư trực tiếp nước ngoài

BQL Ban quản lý

CNH-HĐH Công nghiệp hóa-hiên đại hóa

Trang 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1.Khái niệm và đặc điểm khu CN

1.1.1 Khái niệm khu CN và đặc điểm của khu công nghiệp

1.1.1.1 Quá trình hình thành KCN trên Thế giới và khái niệm KCN ở Việt Nam

Khu công nghiệp( Industrial Zone ) là một kiểu tổ chức lãnh thổ công nghiệp

ra đời từ cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX ở một số nước tư bản phát triển như Mĩ,Đức, Anh , Ý

Các nước tư bản cho rằng để thực hiện được mục tiêu “ cực đại hoá lợi nhuận

và cực tiểu hoá chi phí” thì việc phân bố và hình thành KCN phải tập trung vào khuvực nhất định Họ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng (đường giao thông, đườngống dẫn nước, đường dây điện, đường dẫn khí và các đường dây liên lạc…) sau đóxây dựng các xí nghiệp để bán nhằm mục đích tập trung và đầu tư tích tụ tư bản.Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các KCN phát triển mạnh về số lượng, quy mô,loại hình và phạm vi hoạt động Các KCN không chỉ được xây dựng ở Châu Âu,Châu Mĩ mà còn được xây dựng ở các châu lục khác như Châu Á, Châu Phi, Châu

Úc Riêng khu vực châu Á hiện nay có khoảng trên 3200 KCN đang hoạt động vàxây dựng

Trong xu thế toàn cầu hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ, các nước đang pháttriển đã nhanh chóng nhận ra sự khó khăn Thực tế đó làm xuất phát nhu cầu thu hútnguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng lớn Tuy nhiên, ý tưởng nàygặp trở ngại là bản thân các nước phát triển ko đủ sức tạo ra một môi trưởng đầu tưthông thoáng, hấp dẫn trên toàn quốc để thu hút các nhà đầu tư Do đó, các nướcnày đã tập trung phát triển, liên kết vào một khu vực nhất định Đó là nguồn gốckhách quan cho ra đời các KCN tập trung Tại đây, ngoài các yếu tố tự nhiên thuậnlợi như gần các đầu mối giao thông, gần nguồn nguyên liệu…Chính phủ còn choxây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, áp dụng các thủ tục hànhchính đơn giản … làm tăng thêm tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các

Trang 6

nhà đầu tư nước ngoài Như vậy, KCN thực sự là nơi gặp gỡ và thoả mãn các nhucầu, lợi ích của các nhà đầu tư và nước nhận đầu tư.

Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, mô hình KCN cũng ngày càng

đa dạng và phong phú Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và yêu cầu của mỗi quốcgia, trong những giai đoạn nhất định mà có các quan niệm khác nhau vể KCN Ví

dụ như Trung Quốc và một số nước phương Tây quan niệm KCN như khu hànhchính kinh tế, ở đó có đầy đủ các phân khu chức năng: hành chính, dịch vụ, sản xuấtthương mại, khu vui chơi giải trí…hoặc như ở Thái Lan, Philippin quan niệm KCNnhư một thành phố công nghiệp vì ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi,tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lí nước thải, các KCN còn bao gồm khu thươngmại, trường học, bệnh viện, dịch vụ ngân hang, khu vui chơi giải trí, nhà ở cho côngnhân…Tuy vậy, các mô hình KCN đã hình thành có thể được khái quát thành hai

mô hình chính:

Thứ nhất, các KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trungcác doanh nghiệp công nghiệp và dich vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cưsinh sống như các khu công nghiệp ở Indonexia, Maylaxia và một số các nước khác.Thứ hai, KCN là khu vực lãnh thổ rộng va có nền tảng là sản xuất côngnghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dich vụ, kể cả dịch vụ sàn xuất công nghiệp,dich vụ sinh hoat, khu thương mại, khu vui chơi giải trí, văn phòng, nhà ở… Thựcchất, mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như các khu công nghiệpbatam ( Indonexia), các công viên công nghiệp ở Đài Loan và một số nước Tây Âu

Ở Việt Nam, vào thập niên 60, 70 của thế kỉ XX, được sự trợ giúp của TrungQuốc, Cộng hoà Dân chủ Đức, Liên Xô… Một số KCN đã được xây dựng ở cáctình phía Bắc như KCN Việt Trì, KCN Thái Nguyên, KCN Thượng Đình Hà Nội…

Ở phía Nam có các khu công nghiệp Biên Hoà, KCN Trà Nóc… đây là các KCNban đầu ban đầu hình thành theo mô hình cũ, có đặc điểm là chưa có tường baoriêng và hệ thống xử lí nước thải Chỉ từ năm 1991 trở lại đây, các KCN theo môhình mới được hình thành và phát triển Khởỉ đầu là KCN Tân Thuận tại thành phố

Hồ Chí Minh, đến nay đã trải qua 19 năm phát triển Các KCN đã góp phần thúcđẩy công nghiệp phát triển, tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công

Trang 7

theo hướng CNH – HDH, góp phần giải quết công ăn việc làm cho lao động địaphương, đào tạo cán bộ quản lí, công nhân lành nghể, tạo điểu kiện để xử lí các tácđộng tới môi trường một cách tập trung Các KCN thực sự đóng vai trò tích cựctrong công cuộc CNH – HDH.

Theo luật đầu tư năm 2005, định nghĩa về KCN, KCX như sau: “ Khu công

nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, được thành lập theo quy định của Chính Phủ”.

Như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp (mô hình 2), chỉ là nơitập trung các cơ sở sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp

Trong giai đoạn đầu, mô hình này là tương đối thích hơpj, nó phù hợp với khảnăng của công ty phát triển hạ tầng, tuy nhiên qua một quá trình phát triển mô hìnhnày đã bộc lộ khá nhiều bất cập: các KCN hoặc biệt lập với khu dân cư hoặc nằmquá gần các trục quốc lộ và thường không được phát triển đồng bộ với hệ thống kếtcấu hạ tầng ngoài hang rào KCN nên gặp rất nhiều khó khăn trong các vấn để cungứng lao động, cung cấp các tiện ích công nghiệp và phục vụ đời sống, bảo vệ môitrường và thu hút đầu tư Mô hình này chưa đáp ứng được yêu cầu công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vàcần được hoàn thiện trong thời gian tới

1.1.2 Đặc điểm các KCN.

Cho đến nay, các KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia, đặcbiệt là các nước đang phát triển Tuy có sự khác nhau về quy mô, địa điểm vaphương thức xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng các KCN vẫn có các đặc điểm chung.Các đặc điểm chủ yểu của các KCN ở VIệt Nam là:

- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mà không có dân cư, là nưoi xâydưng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các đơn vị kinhdoanh dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp Theo điều 6, quy chế KCN, KCXban hành kèm Nghị định 36Cp thì doanh nghiệp KCN có thể là các doanh nghiệpViệt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 8

hoặc các bên tham gia hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp này được quyền kinhdoanh các lĩnh vực:

+ Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêudung trong nước; phát triền và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quytrình công nghệ

+ Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng và tạosản phẩm mới

+ Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp

+ Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng

- Về tổ chức quản lí: mỗi KCN đều thành lập hệ thống ban quản lí KCN cấptỉnh tại các tỉnh, thành phố trực thuộc TW để trực tiếp thực hiện các chức năng quản

lí nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp KCN Ởtầm vĩ mô, quản lí các KCN còn gồm có nhiều Bộ như Bộ kế hoạch và đầu tư, BộThương mại Bộ công nghiệp, Bộ xây dựng

- Về cơ sở hạ tầng kĩ thuật: các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầngtạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường, hệ thống điện nước,điện thoại…Thông thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN do một công tyxây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm Ở Việt Nam, những công ty này làcác doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanhnghiệp trong nước thực hiện Các công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựngcác kết cấu hạ tầng sau đó cho phép cho các doanh nghiệp thuê lại

1.1.2.Những tác động của các KCN trong quá trình phát triển.

Quá trình phát triển các KCN đã và đang tạo ra các lợi ích to lớn không thểphủ nhận đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt là Việt Nam Tuy vậy, bên cạnhnhững lợi ích mang lại, quá trình phát triển các KCN cũng để lại không ít nhữngtiêu cực trong mỗi bước đi Do đó, để có một cái nhìn toàn diện khi xem xét quátrình phát triển các KCN, ta cần nhìn nhận những tác động trên cả hai phương diện:

Trang 9

1.1.2.1.Những tác động tích cực.

- KCN là nơi tiếp nhận và tập trung nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệmquản lí từ các nhà đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh.Với ưu điểm về vị trí địa lí, kết cấu hạ tầng, các ưu đãi về tài chính và thủ tục hànhchính là môi trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Đặcbiệt khi các nước phát triển luôn thiếu hụt các nguông lực để phát triển kinh tế thìviệc hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài chính là chìa khoá để bổ sung, tiếp thu hainguồn lực là vốn và công nghệ

- Các KCN được xây dựng và phát triển tạo ra nguồn hàng hoá dồi dào phục

vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ vào ngân sách, đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phẩn chuyển dich cơ cấu kinh tế và đẩynhanh tốc độ CNH-HDH, tạo điều kiện để phát triển ngành công nghiệp theo quyhoạch và có kế hoạch, sử dụng hiểu quả vốn đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất và đấtđai

- KCN phát triển thúc đẩy các vùng kinh tế mới của đất nước, tạo lập và thúcđẩy các quan hệ liên kết tích cực, trực tiếp và gián tiếp giữa các cơ sở kinh doanh vàngoài KCN để tạo ra những xung lực mới cho phát triển kinh tế toàn đất nước Sựliên kết này tạo cho các KCN khả năng tận dụng các nguồn lực trong nước, cácnguồn lực được sử dụng kém hiệu quả ở nơi khác KCN là nơi tập trung nhân tài,vật lực của quốc gia và được xây dựng tập trung thành những điểm nổi bật trong bộmặt kinh tế cả nước KCN là đẩu tầu tăng trưởng kéo theo sự phát triển của vùnglân cận và các vùng khác của đất nước Tác động lan toả của KCN với các vùng lâncận giúp tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

- Tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần chuyểnđổi cơ cấu lao động Các KCN ra đời kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp

và các ngành dịch vụ khác Điều đó giúp tạo thêm nhiều việc làm cho người laođộng Vì vậy, phát triển KCN tạo nhiều hơn chỗ làm cho người lao động là mộttrong những mục tiêu quan trọng của những nước đang phát triển

- KCN là môi trường tốt nhất để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sựnghiệp CNH – HDH đất nước KCN là nơi mà người lao động và các nhà quản lí cóđiều kiện học hỏi và nâng cao tay nghề, tiếp thu và nắm bắt công nghệ hiện đại,

Trang 10

kinh nghiệm quản lí tiên tiến, tính kỉ luật lao động và tác phong công nghiệp Ở đó,

họ phải biết tự giác tham gia vào quá trình đào tạo và tự đào tạo để luôn luôn thíchứng của yêu cầu phát triển mỗi doanh nghiệp Mặt khác, để đáp ứng được yêu cầucủa các doanh nghiệp trong KCN buộc các nhà quản lí phải nâng cấp khả năng đểluôn đáp ứng được các đòi hỏi của nhà đầu tư KCN còn là kênh lớn và trực tiếpnhất để thực hiện chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của nướcngoài để phát triển kinh tế

- KCN là nơi xử lí nước thải tập trung, phục vụ mục tiêu phát triển côngnghiệp bền vững, điển hình là các KCN Biên Hoà 2, KCN Bắc Thăng Long, KCNDung Quất

- KCN đóng vai trò rất quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoại củaquốc gia Có thể nói KCN là nơi đi đầu trong việc phát triển kinh tế đối ngoại vàthường thể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn nền kinh tế

1.1.2.2.Những tác động tiêu cực.

Mặt trái trong việc phát triển các KCN cũng luôn tồn tại song song vớinhững vai trò mà các KCN mang lại Những tác động tiêu cực cơ bản trong quátrình phát triển các KCN là:

- Sự tập trung các KCN ở những vùng lãnh thổ nhiều tiểm năng tạo ra sự mấtcân đối giữa các vùng miền trong cả nước Điều này làm gia tăng khoảng cách pháttriển giữa các vùng, mất đi tính bển vững của sự phát triển

- Sự tập trung nhiều đơn vị sản xuất làm tăng nguy cơ ôi nhiễm môi trườngnếu hệ thống xử lí nước thải ko tốt,

- Do sự tập trung hoá các cơ sở sản xuất vào khu vực nhất định tao ra sự di

cư tự nhiên lao động tử các vùng nông thôn ra các đô thị và KCN làm sức ép về nhà

ở, các công trình công cộng dẫn tới hiện tượng tắc nghẽn giao thông, mất trật tự xãhội và gia tăng tệ nạn xã hội nếu không có biện pháp quản lí tốt

- Sự phát triển các KCN làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước

Trang 11

- Các KCN nếu không được quản lí tốt và không có hiệu quả sẽ trở thànhgánh nặng nợ nần cho quốc gia.

- Phát triển KCN đồng nghĩa tăng các nhà đầu tư nước ngoài và nhân tố quốc

tế bên cạnh những tác động tích cực cũng mang theo những pha trộn văn hoá, sựxâm nhập các luồng tư tưởng chính trị khác nhau làm phức tạp thêm tình hình xãhội trong nước, gây khó khăn trong việc bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc

1.2 Vai trò của khu CN

1.2.1 Vai trò của các khu công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và gắn liện với nó là ngày càng

có nhiều nước hội nhập và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ởnước ta, tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế cũng được hình thành và phát triển tíchcực qua các kì Đại hội Đảng Quan điểm “sẵn sàng mở rộng quan hệ kinh tế với tất

cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và không có điềukiện chính trị ràng buộc, nhưng phải chủ động phòng ngừa, tránh bị lệ thuộc”(Đạihội Đảng khoá VI,1986) đã nâng cao thành “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệquốc tế” (Đại hội Đảng khoá VII, 1991), “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiệnnhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài; tích cực chủ độngthâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế” (Đại hội Đảng khoá IX, 2001), “lấy phục

vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo; đồng thời linhhoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế” (Đại hội Đảng khoá X, 2006) Nhưvậy, quan điểm chấp nhận hội nhập đã được nâng lên “chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế Đây là bước đột phá trong quan điểm của Đảng, đóng vai tròtích cực đối với phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong những năm qua

Để hội nhập và phát triển trong điều kiện nền tích luỹ nội bộ còn thấp thì thuhút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng Khu công nghiệp, khu chếxuất là một mô hình quản lý kinh tế hiện đại, tập trung, hiệu quả, là giải pháp hữuhiệu nhằm huy động vốn đầu tư nước ngoài, cũng là điểm giao thoa của nền kinh tếViệt Nam với nền kinh tế thế giới Từ đó chúng ta có thể từng bước học hỏi, nângcao nhận thức và chuẩn hoá luật pháp, các quy trình và thông lệ theo tiêu chuẩnquốc tế, đưa đất nước từng bước hội nhập, trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại vào năm 2020 Theo đường lối đổi mới đó của Đảng, khu công nghiệp(KCN), khu chế xuất (KCX) ở Việt Nam ra đời và phát triển mạnh mẽ

Trang 12

Từ khi khu công nghiệp đầu tiên (KCN Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh)được thành lập năm 1991, sau 19 năm, việc xây dựng và phát triển KCN đã đượcNhà nước đặc biệt quan tâm Tính đến hết năm 2009, cả nước có 172 KCN nằm ở

44 tỉnh, thành phố, với tổng diện tích đất tự nhiên trên 22256 ha (không kể các khukinh tế tổng hợp như Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội…) Trong đó, 90 KCN đã đivào hoạt động, các khu còn lại đang trong quá trình giải phóng mặt bằng, xây dựngkết cấu hạ tầng Trong quy hoạch từ nay đến năm 2010, cả nước sẽ thành lập và xâydựng mới gần 100 KCN, đồng thời mở rộng thêm gần 30 KCN khác, đưa tỷ trọnggiá trị sản xuất công nghiệp của các KCN (trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp

cả nước) từ 26,4% hiện nay lên 35% và tỷ lệ xuất khẩu (trong giá trị xuất khẩu cảnước) tăng 18,7% lên 32% vào 2010 Các KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc 3vùng kinh tế trọng điểm, là các mũi nhọn phát triển công nghiệp của địa phương vàcủa vùng Số lượng các KCN được phân bố như sau :

 Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có 50 khu, diện tích 4601 ha, laođộng Việt Nam 116.668 người

 Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ có 69 khu, diện tích 16.565 ha, laođộng Việt Nam 592.109 người

 Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ có 14 khu, diện tích 2.495 ha, laođộng Việt Nam 83.204 người

 Các khu vực khác có 39 khu, diện tích 5.731 ha, lao động Việt Nam126.273 người

Như vậy, riêng 3 vùng KTTĐ đã chiếm tới 77% số KCN, 81% diện tích đấtKCN và 86% lao động trong tổng số KCN trong cả nước Hơn nữa, 3 vùng KTTĐlại có điều kiện về cơ sở hạ tầng và kinh tế- xã hội thuận lợi hơn các vùng khác Dovậy, thu hút đầu tư vào các KCN tại 3 vùng KTTĐ đóng vai trò then chốt trong tiếntrình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tạo đà cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếcủa Việt Nam trong thời gian tới

Điển hình như tỉnh Đồng Nai tại vùng KTTĐ phía Nam, - địa phương nổi lên

là một trong những tỉnh có các KCN phát triển mạnh nhất - đặt mục tiêu: đến năm

2010, thu hút 30 tỉ USD vốn đầu tư vào các KCN, trong đó đầu tư mới là 20 tỉ USD

và đầu tư mở rộng 10 tỉ USD Đã có 26 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh

Trang 13

1.470 triệu USD Tính đến hết năm 2009, các KCN Đồng Nai đã thu hút được 928

dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 10,34 tỉ USD Trong đó, 210 doanh nghiệp trongnước với tổng vốn đầu tư khoảng 632 triệu USD, chiếm 7% tổng vốn đầu tư vào cácKCN, doanh nghiệp liên doanh có khoảng 58 dự án, tổng vốn đăng ký trên 900 triệuUSD, chiếm 11%, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trên 480 dự án, tổng vốnđăng ký hơn 7500 triệu USD, chiếm 83%

Theo các nhà quản lý kinh tế, nhờ tốc độ tăng trưởng và hiệu quả hoạt độngcủa các KCN trên toàn quốc tiếp tục được giữ vững nên dòng vốn đầu tư của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong nước đều tăng đều đặn, trong đó cónhiều dự án công nghiệp công nghệ cao Vì vậy, nhiều KCN đã được Chính phủ cấpphép thành lập mới hoặc mở rộng, như KCN Tân Trường (199,3 ha, thuộc tỉnh HảiDương); KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn (230 ha, tỉnh Bắc Ninh) KCN Ninh Phúc(Ninh Bình) giai đoạn 1 được mở rộng thêm 40,8 ha Chỉ tính riêng năm 2009, đã

có 12 KCN được cấp phép và bắt đầu xây dựng cơ sở hạ tầng trên cả nước với tổngdiện tích là 2500 ha bằng 7,9% so với tổng diện tích KCN trước 2009

Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006, triển vọngthu hút đầu tư nước ngoài nói chung vào các KCN từ nay đến năm 2010 được mởrộng hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử phát triển các KCN Việt Nam trở thànhđiểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các thành viêncủa WTO Các đoàn doanh nghiệp lớn, công nghệ cao liên tục đến Việt Nam tìmhiểu cơ hội đầu tư Nhiều dự án lớn với vốn đầu tư trên 500 triệu USD đã và đangđược cấp phép và đi vào hoạt động như dự án nhà máy sản xuất thép của Tập đoànPosco (Hàn Quốc) tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 2, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần1,2 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Intel vốn đầu tư 605 triệu USD Đối với đầu tưtrong nước, Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư tiếp tục phát huy hiệu quả, đượcđánh giá là có tiềm năng to lớn trong việc huy động vốn Theo dự báo, những lĩnhvực có triển vọng hơn cả trong việc thu hút đầu tư vào các KCN trong 5 năm tới sẽ

là ngành công nghiệp năng lượng (điện, than và dầu khí); tiếp đến là công nghiệp ôtô; công nghiệp dệt may, da giày; cơ khí đóng tàu; sản xuất máy móc, thiết bị điện

tử, thiết bị thông tin, phần mềm và vật liệu xây dựng

1.2.2 Đóng góp của các khu CN vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của cả nước

Trang 14

Nhờ việc tích cực thực hiện cải cách kinh tế và chủ động hội nhập kinh tếquốc tế theo chủ trương của Đại hội Đảng đề ra, trong 23 năm đổi mới vừaqua(1986-2009), Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng về kinh tế cũngnhư đời sống văn hoá, xã hội.

- Tỷ lệ tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm (trung bình giai đoạn2001-2009 đạt 7,1%), riêng năm 2009 đạt 5,32%, tổng GDP toàn xã hội ước tínhđạt 91 tỷ USD, GDP đầu người đạt 1055 USD giảm so với năm 2008 là 6,23%,GDPkhoảng 89tỷ USD

- Cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa (chuyểndịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷtrọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản) Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xâydựng từ 40% năm 2008 lên 41,7% trong năm 2009 và khu vực dịch vụ tăng từ 38,%lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 22% xuống còn20,22%.; tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh (gấp 3,2 lần, từ 11% GDP năm 1986 lên 41%năm 2009)

- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức xấp xỉ 56,5 tỷ USD, giảm7,6% so với năm 2008 Số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt giá trị từ 1,1 tỉ USD trởlên tăng từ 0 mặt hàng năm 1981 lên 11 năm 2006, trong đó 4 mặt hàng chủ lực làdầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch mỗi mặt hàng đạt trên 3,4 tỷ USD

- FDI và ODA ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế,góp phần cung cấp vốn, cải thiện công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến, tạo ranhững sản phẩm có chất lượng cao hơn, thị trường xuất khẩu lớn hơn, đa dạng hơn,tăng tính cạnh tranh và tạo việc làm cho người lao động Đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) giảm mạnh so với những năm trước, đạt khoảng 11 tỷ USD, tỷ suấtFDI/GDP tăng từ cuối thập kỷ 1980 lên 6,41% năm 1994 lên 16,5% năm 2009.Tổng lượng vốn ODA đạt giá trị 2.966 triệu USD, trong đó vốn vay đạt 3.425 triệu

USD và vốn viện trợ đạt 294 triệu USD, cam kết năm 2008 là 5,5 tỷ USD Xuất

khẩu hàng hoá năm 2009 ước tính đạt 37,6 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư

nước ngoài đóng góp 14,5 tỷ USD, tăng 27,1% so với năm 2008, đóng góp 44,3% vào tổng giá trị xuất khẩu cả nước

Trong sự phát triển rất mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, KCN là điểmthen chốt, đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong định

Trang 15

góp phần xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩy xuất nhập khẩu, thể hiện ở những khía cạnhchủ yếu sau:

- Trong năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp trong cácKCN cả nước (không kể doanh thu dịch vụ) đạt 19,8 tỷ USD, tăng 17% so với năm

2008 và chiếm khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước

- Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 9,4 tỷ USD,tăng hơn 15% so với năm 2006 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng côngnghiệp xuất khẩu của cả nước

- Trong năm, các doanh nghiệp KCN đã nộp ngân sách Nhà nước khoảng 1

tỷ USD, tăng 32,4% so với năm 2008

- Thu hút lượng khá lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước Riêng đầu tư trựctiếp nước ngoài, tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn bổ sung vào các KCN trongnăm 2009 đầu tư đạt 10,5792 tỷ USD tăng gần 2 lần so với năm 2008, chiếm 56%tổng vốn FDI đăng ký mới và bổ sung trong năm của cả nước Đầu tư trong nướccũng diễn biến khả quan với hơn 110 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tưđăng ký đạt trên 101414 tỷ đồng (tương đương 540 triệu USD) Tổng hợp đến cuốinăm 2009, các KCN đã thu hút được 2839 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng kýđạt 24,79 tỷ USD,số dự án trong nước là 2723 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng kýđạt 175.790 tỷ đồng (tương đương khoảng 10 tỷ USD) Tỷ lệ so sánh giữa hainguồn vốn này là 0,4033 thể hiện nguồn vốn đầu tư trong nước đã có vai trò quantrọng nhất định trong phát triển các KCN những năm qua Như vậy, các KCN trên

cả nước có 5548 dự án còn hiệu lực, bao gồm 2733 dự án đầu tư nước ngoài, 2815

dự án đầu tư trong nước,đã có gần 4048 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và trên

1500 dự án đang triển khai xây dựng cơ bản

Tại Hà Nội, vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN chiếm tỷ trọng lớn, đạttới 98% tổng vốn đầu tư Nguồn vốn này đóng góp 7,5% vào tổng vốn đầu tư pháttriển kinh tế - xã hội của Thành phố và được coi là xung lực, tạo sự đột phá cho sựtăng trưởng kinh tế của Hà Nội Năm 2005, có 76 doanh nghiệp hoạt động trong 3KCN tập trung đã đạt tổng doanh thu 915,4 triệu USD, xuất khẩu 550,52 triệu USD,nộp ngân sách Nhà nước 26,55 triệu USD và tạo thêm 31.160 việc làm cho ngườilao động Mặc dù các KCN của Hà Nội chỉ chiếm 17% tổng số dự án và 18,4% tổngvốn đăng ký của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn nhưng lại

Trang 16

chiếm tới 41% tổng doanh thu, 85% tổng kim ngạch xuất khẩu và 18,2% tổng mứcnộp ngân sách Nhà nước của các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tạo ra

- Tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp Năm

2009 các KCN đã thu hút thêm gần 100.000 lao động trực tiếp, tăng 13% so vớinăm trước, đưa tổng số lao động trực tiếp trong KCN lên 1042.000 người, không kểhơn 2 triệu lao động gián tiếp khác Tại Hà Nội, chỉ tính 76 doanh nghiệp đi vàohoạt động, đã thu hút gần 46.000 lao động trực tiếp và khoảng 47.000 lao động giántiếp, bằng 40% số lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn,phần lớn các lao động đều được đào tạo huấn luyện để nhanh chóng nắm bắt và sửdụng các dây chuyền sản xuất mới, làm gia tăng chất lượng nguồn nhân lực kể cảlao động quản lý và kỹ năng lao động trực tiếp

- Thúc đẩy việc đổi mới và hoàn thiện môi trường kinh doanh, nâng cao nănglực cạnh tranh Các doanh nghiệp trong các KCN, đi tiên phong trong việc thu hútvốn đầu tư nước ngoài và áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, là môhình thử nghiệm thích hợp nhất để cải thiện môi trường đầu tư trong nước, đã đemlại nhiều bài học kinh nghiệm góp phần quan trọng vào việc đổi mới, hoàn thiện thểchế kinh tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, nhất là thể chế tiền tệ và tíndụng, ngoại hối của các địa phương nói riêng và cả nước nói chung Các doanhnghiệp này cũng góp phần làm thay đổi bộ mặt và mạng lưới thương mại hàng hoá

và dịch vụ, cơ cấu hệ thống thương mại cũng như toàn bộ lĩnh vực phân phối, lưuthông và dịch vụ xã hội của cả nước

- Tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của mình,đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong vùng, miền vàtoan bộ lãnh thổ

- Các KCN góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới vàcông nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàntuyến hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh

tế công nghiệp hoá, thị trường, hiện đại Nhiều KCN nói chung đã phát triển cácngành công nghiệp hoàn toàn mới có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như thiết

bị văn phòng (Canon), điện tử (Orion -Hanel ), phụ tùng ôtô,dây chuyền sản xuầt

Trang 17

có của nước ta, là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước học hỏi và áp dụng, nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- KCN còn góp phần quan trọng vào mở rộng thị trường, đẩy mạnh kinh tếđối ngoại và tăng kim ngạch xuất khẩu cho khu vực hành lang kinh tế Do đa dạnghoá thị trường, đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, các doanh nghiệp trongcác KCN có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu Giá trị xuất khẩu hàng hóa của doanhnghiệp KCN đạt khoảng 9,5 tỷ USD, chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu hàngcông nghiệp xuất khẩu của cả nước Các doanh nghiệp trong các KCN còn góp phầnlàm thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và cơ cấu nhập khẩu, mở rộng thị trườngtiêu thụ trong khu vực và trên toàn thế giới

1.2.3 Hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng:

Việc phát triển các KCN trong những năm vừa qua không những thúc đẩytăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà cònđẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kếtcấu hạ tầng trong và ngoài KCN, tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá, mở rộngthị trường tiêu thụ Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sựphát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nôngthôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Điều này cóthể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển mạnh như DungQuất(Quảng Nam), Biên Hòa, Nhơn Hội(Bình Định),Nhơn Trạch (Đồng Nai),Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn (Bắc Ninh)… cùng với quá trình phát triểnKCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể,nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh chocác cơ sở dịch vụ trong vùng,miền khắp cả nước

- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợicủa nhà nước việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ cáckết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư nướcngoài Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốcdoanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh)tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi

Trang 18

cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóathành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trongviệc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN.

- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hútcác dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô

để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân

cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môitrường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác củacộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (TP.Hồ Chí Minh), Việt Hương (BìnhDương),khu công nghiệp bắc Vinh(Nghệ An)…

- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảmbảo sự liên thông giữa các vùng và định hướng cho quy hoạch phát triển các khudân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịchvụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trongkhu vực như: trường học, bệnh viện, khu giải trí,nhà ở và khu dân cư…

Nguồn vốn Ngân sách không thể đáp ứng hết nhu cầu cải tạo kết cấu hạ tầng,vìthế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành nhưgiao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tàichính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường bất động sản vànhà ốc là giải pháp thiết yếu để đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của cácKCN

1.2.4 Nâng cao trình độ công nghệ,hiện đại hoá cách thức quản lý sản xuất:

KCN là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng vớinhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng nên đây chính là điểm đến lý tưởngcủa các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài Một số công nghệ tiên tiến, hiệnđại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình

độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại ViệtNam Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việcquan điểm của Đảng về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

- KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp

Trang 19

Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có

cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao (phần lớn của Nhật Bản,Hàn Quốc), nhưCông ty TNHH Canon Việt Nam, Mabuchi Motor, Orion Hanel , những lĩnh vực

mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điệntử,công nghệ ôtô,xe máy

- Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệpnhẹ như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số

dự án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đã gópphần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm Tuynhiên, các KCN cũng đã thu hút được các dự án có quy mô và yêu cầu vốn lớn,công nghệ cao như dầu khí, sản xuất ôtô, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chínhxác, vật liệu xây dựng Mặc dù số lượng các dự án này trong KCN mới chiếmkhoảng 6-10% số dự án, nhưng cũng đã góp phần phát triển và đa dạng hoá cơ cấungành nghề công nghiệp

- Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vậnhành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững côngnghệ, có tác động lan toả và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Việt Namlên một bước Một lượng đáng kể người lao động Việt Nam được đảm nhận các vịtrí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiêntiến, hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự Việc đượctrực tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rènluyện được những kỹ năng và tác phong làm việc giúp người lao động Việt Namsớm thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại

1.3 Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam.

Các KCN Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần

thứ VI (1986) Đại hội đã đánh dấu bước đổi mới căn bản về nhận thức về tư duy vềkinh tế mà trọng tâm là chủ trương là chuyển tử cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tậptrung sang cơ chế kinh tế hang hoá tập trung nhiều thành phần Việc hình thành mô

Trang 20

hình KCN kiểu mới đang được áp dụng hiện nay là nơi tập trung và thu hút cácthành phần kinh tế đã thay thế dần mô hình KCN kiểu cũ là nơi tập trung các doanhnghiệp quốc doanh thuộc các ngành công nghiệp nặng bắt nguồn từ tư duy đổi mới

về kinh tế tại Đại hội VI

Đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và sự sụp

đổ của Liên Xô đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế và đời sống kinh tế xã hộinước ta, là một trong những đòi hỏi thực tiễn khách quan để đại hội VII đề ra nhữngđường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toan diện,thưc hiện CNH-HĐH đất nướctrên cơ sở yêu cầu của đất nước và điều kiện của thời đại đượ cụ thể hoá bằng Chiếnlược tổng thể phát triển kinh tế xã hội 1991-2010 Hàng loạt các chương trình kinh

tế -xã hội đươc triển khai để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó cácchính sách phát triển KCN, KCX với sự ra đời của KCX Tân Thuận, thành phố HồChí Minh (1991) và ban hành quy chế KCX (Nghị định 322/HDBT ngày18/10/1991) và quy chế KCN ( Nghị định 129/CP ngày 28/12/1994)

Tiếp đó, định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố KCN,KCX đã được Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ tại Hội nghịgiữa nhiệm kì khoá VII tháng 1/1994: “Quy hoạch các vùng, trước hết là các địabàn trọng điểm, các KCX, khu kinh tế, KCN tập trung” Đến Nghị quyết Đại biểutoàn quốc lần thứ VIII của Đảng, đinh hướng này được phát triển cụ thể: “Hìnhthành các KCN tập trung ( bao gồm cả KCX và khu công nghệ cao), tạo địa bảnthuân lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh côngnghiệp nông thôn và ven đô thị Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp và cải tạo các cơ

sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lí ôi nhiễm ra ngoàithành phố, hạn chế việc xây dựng các KCN mới xen lẫn với khu dân cư “ Lộ trìnhthực hiện được nêu ngắn gọn và tổng quát trong Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành

TW khoá VII là: “ phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các KCN” Đây cũng

là những định hướng quan trọng của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triểncác KCN, KCX nhằm thúc đẩy tiến trình CNH – HDH đất nước Báo cáo chính trịcủa Ban chấp hành TW khoá VIII tại Đại hội IX của Đảng về chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội năm 2001 – 2005 tiếp tục khẳng định: “quy hoạch phân bố hợp lícông nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả các KCN, KCX, xây dựng một sốkhu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và các khu kinh tế mở”

Trang 21

thời khằng định tư tưởng tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong

đó phát triển bền vững KCN, KCX được thể hiện ở những mục tiêu cụ thể trong báocáo phương hướng, nhiệm vụ để kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010

Nghị quyết của Đảng tại các kì Đại hội tử năm 1986 đã hình thành hệ thốngcác quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển KCN, KCX; khẳng định vai trò củaKCN trong việc “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại” như Nghị quyết Đại hội X đã nêu rõ; đây chính là cơ

sở để triển khai xây dựng, quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX 19năm qua và trong giai đoạn tới

Trong năm 2008 là năm đầu tiên triển khai Nghị định số 29/2008/NĐ – CPngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và khu kinh tế Trong năm

2008, Việt Nam triển khai các cam kết với tổ chức thương mại thế giới (WTO) trêncác lĩnh vực đầu tư, thương mại…Mặc dù tình hình khủng hoảng tài chính thế giớichưa được ngăn chặn và có những diễn biến phức tạp ở những nền tài chính lớn nhưHoa Kì, Nhật Bản và một số nước EU nhưng các KCN trong nước một mặt vẫn duytrì được đà tăng trưởng như những năm trước, mặt khác có những nét phát triển mớimang tính đột phá

Trong năm 2009 đã có 52 dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN đượccấp giấy chứng nhận đầu tư, thành lập mới 43 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên18675,6 ha (tăng 71% so với năm 2008) và mở rộng 9 KCN vởi tổng diện tích đất

tự nhiên 3010,8 ha ( tăng 39% so với năm 2008) Năm 2009 là năm có số lượngKCN được thành lập mới và được mở rộng nhiều nhất trong gần 19 năm xây dựng

và phát triển KCN Kết quả này xuất phát từ nhu cầu phát triển KCN của các địaphương nhằm tận dụng cơ hội thu hút đầu tư hiện đang tăng cao trên cả nước Mặtkhác do nhiệm vụ cấp giấy chứng nhận đầu tư cho dự án phát triển kết cấu hạ tầngKCN đã được phân cấp về địa phương, nên đã tạo điều kiện cho các địa phương chủđộng và đẩy nhanh thực hiện các thủ tục đẩu tư Tính đến cuối tháng 12 năm 2009

cả nước đã có 312 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 70472,6

ha, phân bố trên 54 tỉnh, thành phố trên cả nước Trong đó diện tích đất công nghiệp

có thể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 42000 ha, chiếm 67% diện tích đất côngnghiệp Theo quy hoach từ nay đến năm 2015 sẽ thành lập them 91 KCN với tổngdiện tích 20839 ha và mở rộng thêm 22 KCN với tổng diện tích 3473 ha Dự kiếnđến hết năm 2015 sẽ có thêm 26385 ha đất KCN

Trang 22

Về phân bố các KCN: mặc dù sự phân bố KCN đã được điều chỉnh theochiều hướng tạo điều kiện cho một số địa bàn đặc biệt khó khăn ở Tây Bắc (YênBái, Tuyên Quang, Hoà Bình, Sơn La, Bắc Cạn), Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông,Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), Tây Nam Bộ ( Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng)phát triển KCN để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song các KCN vẫn tập trung ở cácđịa phương thuộc ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Đếncuối tháng 12/2009 với 159 KCN và tổng diện tích đất tự nhiêm 53232 ha, ba vùngkinh tế trọng điểm chiếm 69% tổng số KCN và 81% tổng đất tự nhiên cac KCN cảnước.

Như vậy sau 19 năm hình thành và phát triển, đến nay các KCN đã và đang

có các đóng góp to lớn vào quá trình chuyển biến của nền kinh tế Từ đó Đảng vàNhà nước ta đã nhận thấy được tầm quan trọng và việc thúc đẩy phát triển hơn nữacác KCN trong tương lai

1.4 Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư tại khu công nghiệp ở Việt Nam đến hết năm 2009

Cùng với những chuyển biến mới của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động củacác KCN cả nước trong năm 2009 đã đạt được những thành tựu nổi bật về nhiềumặt

Tổng diện tích đất quy hoạch tăng thêm trong năm là 1864 ha, từ 9 KCN

mới được thành lập và 3 KCN được phép mở rộng Đến hết năm 2009, cả nước có

149 KCN với tổng diện tích quy hoạch là 31.392 ha, trong đó diện tích đất côngnghiệp có khả năng cho thuê đạt 20.953 ha So với cuối năm 2008, quỹ đất tự nhiên(gồm cả đất đã được phân định cho sản xuất công nghiệp) của toàn bộ các KCNđược thành lập (đến thời điểm này) tăng 10,6%

Ngoài ra, đến nay có 9 khu kinh tế (KKT) đã được hình thành theo Quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên là 384.230 ha Đó là cácKKT mở Chu Lai, KKT Dung Quất, Nhơn Hội, Nghi Sơn(Thanh Hóa), Vũng áng,Vân Phong, Phú Quốc và Chân Mây-Lăng Cô,Lao Bảo Từ đó, đã và đang mở ratiềm lực về quỹ đất dồi dào để phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp trên nhiềuvùng khác nhau

Trang 23

Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN được đẩy nhanh hơn, số các KCNđược xây dựng xong và đưa vào vận hành trong năm là 13 KCN Trong tổng số 149KCN đã được thành lập đã có 98 KCN cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng

và thực tế đã vận hành, với tổng diện tích công nghiệp 14.783 ha, tăng 20% so vớinăm 2008 (năm 2008 có 78 KCN đi vào hoạt động với 12.850 ha đất công nghiệp

đã hoàn tất xây dựng cơ sở hạ tầng) Tỷ lệ KCN đã vận hành, hoạt động trong nămchiếm 68% tổng các KCN hiện có Trong đó, có 19/23 dự án xây dựng hạ tầng cóvốn ĐTNN và 79/132 xây dựng hạ tầng của DN trong nước

Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN,tính đến cuối năm 2009 đạt khoảng 685 triệu USD và 16,578 tỷ đồng So với tổngvốn dự toán, vốn thực hiện FDI đạt 62,5% với trình độ xây dựng các công trình hạtầng đạt chất lượng khá cao Tổng vốn đầu tư thực hiện xây dựng hạ tầng của các

Tổng hợp đến cuối năm 2009, các KCN đã thu hút được 2733 dự án FDI vớitổng vốn đầu tư đăng ký đạt 24,79 tỷ USD

Các dự án ĐTNN có quy mô lớn hơn năm trước

Quy mô vốn đầu tư bình quân mỗi dự án ĐTNN đăng ký mới vào KCN trongnăm là 12,18 triệu USD/dự án, gấp hơn 2 lần năm 2008 Bình quân mỗi lượt dự án

mở rộng sản xuất có mức vốn đầu tư bổ sung là 4 triệu USD/dự án, tăng 36% so vớinăm trước Có mức tăng trưởng cao như vậy là do trong năm có nhiều dự án ĐTNN

có quy mô vốn lớn đầu tư vào KCN, khu kinh tế ở các vùng kinh tế trọng điểm.Nhờ đó, một số địa phương có KCN tiếp nhận được những dự án này đã trở thành

Trang 24

đơn vị có năng lực thu hút đầu tư thuộc diện dẫn đầu cả nước Những dự án có quy

mô vốn lớn đầu tư như dự án Công ty TNHH TA Assiociates Vietnam là liên doanhgiữa Công ty cổ phần Công nghệ Viễn thông Sài Gòn với Công ty TA AssiociatesInternational Pte.Ltd (Singapore) đầu tư 1,2 tỷ USD để xây dựng khách sạn 5 sao,cao ốc cho thuê; sản xuất vi mạch và gia công phần mềm tại Thủ Thiêm, TP Hồ ChíMinh, Công ty Gang thép Hưng nghiệp Formosa do Tập đoàn Formosa (Đài Loan)đầu tư 7,879 tỷ USD tại Vũng Áng, Hà Tĩnh; Công ty Lọc dầu Nghi Sơn có tổngvốn đầu tư 6,2 tỷ USD để xây dựng nhà máy lọc dầu tại Thanh Hóa; Công ty TNHH

dự án Hồ Tràm do Tập đoàn Asian Coast Development (Canada) Ltd đầu tư 4,23 tỷUSD để xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng, các khách sạn 5 sao tại Bà Rịa - VũngTàu.Công ty TNHH một thành viên Starbay Việt Nam do Tập đoàn StarbayHolding Ltd (B.V.Island) đầu tư Tổ hợp nghỉ dưỡng, sân golf, căn hộ cho thuê tạiKiên Giang với vốn đầu tư là 1,648 tỷ USD; Công ty TNHH Good Choice USA -Việt Nam do tập đoàn Good Choice (Hoa Kỳ) đầu tư 100% vốn để xây dựng kháchsạn 5 sao, khu vui chơi giải trí, ẩm thực tại Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư

là 1,299 tỷ USD

Đặc biệt, một số dự án đăng ký mở rộng sản xuất, tăng vốn bổ sung cũng với

số vốn lớn như: Công ty TNHH Hoàng Trà (Hà Nội) tăng thêm 120 triệu USD, nhàmáy sản xuất máy in Canon (Bắc Ninh) với mức tăng 70 triệu USD

Năng lực thu hút nguồn đầu tư trong nước vào KCN cũng có chuyển biến khá

Trong năm 2009, các KCN, KKT tiếp tục thu hút được hơn 256 dự án đầu tưtrong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 16.000 tỷ đồng (tương đương 842triệu USD) So với năm 2008, tuy giảm về số dự án nhưng tổng vốn đầu tư trongnước của năm 2008 lại tăng 50% với khoảng 7000 tỷ đồng, do cũng có nhiều dự ánđầu tư trong năm có lượng vốn đăng ký lớn hơn Tổng hợp đến cuối năm 2009, tổng

số dự án trong nước còn hiệu lực là 2723 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạtkhoảng 142.690 tỷ đồng (tương đương khoảng 7,5 tỷ USD) Tỷ lệ so sánh giữa vốnđầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài tại KCN-KCX là 0,41 thể hiện nguồnvốn đầu tư trong nước đã có vai trò quan trọng nhất định trong phát triển các KCNnhững năm qua

Trang 25

Tổng diện tích đất công nghiệp thực tế cho thuê lại trong năm đạt 1826 ha,

tăng 17% so với năm 2008, đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho nhà đầu tư trongnăm Tính chung cả nước đến cuối năm 2009, các KCN đã cho thuê khoảng14494.9 ha đất công nghiệp, đạt tỷ lệ diện tích đất cho thuê 57,3% trong tổng diệntích công nghiệp có thể cho thuê của các KCN đã thành lập (gồm cả diện tích củanhững KCN mới thành lập chưa khởi công xây dựng) Nếu tính riêng diện tích côngnghiệp của những KCN đã vận hành (cơ sở hạ tầng đủ điều kiện tiếp nhận, thựchiện dự án) thì diện tích đất công nghiệp thực tế cho thuê đạt 72,2%, thể hiện tốc độthu hút đầu tư tăng nhanh, tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng được đẩynhanh hơn và sớm thực hiện nhiều dự án đầu tư

Gia tăng tốc độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Tính đến cuối năm 2009, tổng số các dự án đầu tư trong và ngoài nước cònhiệu lực đã tăng 12% so với cuối năm 2008, trong đó dự án đã và đang triển khaithực hiện đầu tư là 4500 dự án, tăng 26% so với năm 2008 và chiếm 83% tổng sốcác dự án còn hiệu lực (năm 2008, tỷ lệ này đạt 75%)

Trong tổng số dự án đang thực hiện phân theo nguồn vốn đầu tư có tình hìnhnhư sau:

Dự án có vốn ĐTNN còn hiệu lực trong năm là 2623 dự án, trong đó những

dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh trong KCN là 1800 dự án và 428 dự án đangxây dựng nhà xưởng Tổng vốn đầu tư thực hiện đến cuối năm 2009 đạt 15,32 tỷUSD, chiếm 52% tổng vốn đăng ký

Trong 2933 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký175.690 tỷ đồng, hiện đã có 1920 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và gần 500

dự án đang xây dựng nhà xưởng Tổng vốn đầu tư thực hiện của những dự án nàyđạt 95.000 tỷ đồng chiếm khoảng 61% tổng vốn đăng ký

Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN trong các KCN đạt mức tăng trưởng khá cao và toàn diện Trong năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của DN

trong các KCN cả nước (không kể doanh thu dịch vụ) đạt 16,8 tỷ USD, tăng 17% vàchiếm khoảng 33% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước

Trang 26

Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,8 tỷ USD,tăng hơn 2o% so với năm 2008 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng côngnghiệp xuất khẩu của cả nước

Trong năm, các doanh nghiệp KCN đã nộp ngân sách Nhà nước khoảng 1 tỷUSD, tăng 35,4% so với năm 2005

Số lao động trực tiếp làm việc tại KCN cuối năm 2008 là 87 vạn người, đến cuối

năm 2009 là 98,8 vạn người Như vậy, cả năm tăng thêm 11,8 vạn người, tăng13,5% so với cuối năm 2008

CHƯƠNG 2

Trang 27

THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VÙNG KINH TẾ

TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC

2.1 Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp

cả nước

2.1.1.Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp ở Việt

Nam(tính theo vốn đăng kí)

Sau 19 năm xây dựng và phát triển, các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đã cóđóng góp quan trọng vào việc thu hút vốn đầu tư Tổng số vốn đầu tư thực hiện thuhút được đến hết năm 2009 là :

Bảng 2.1: Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước

Chỉ tiêu

Tổng vốn (tr.USD)

Vốn đầu

tư xây dựng CSHT (tr.USD)

Vốn đầu tư sản xuất kinh doanh

Số dự

án (dự án)

Tỷ trọng

Số vốn (triệu USD)

Tỷ trọng

Đầu tư trong

Đầu tư nước

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lí KCN-KCX, Bộ Kế hoạch Đầu tư

Các KCN, KCX tại Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và phát triểnban đầu nên lượng vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định và chiếm tỷtrọng lớn nhưng theo thời gian lượng vốn này có xu hướng giảm tương đối so vớilượng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh tăng mạnh tại các KCN đã hoàn thànhxây dựng cơ bản Tính đến năm 2009, cả nước có 98 KCN đã cơ bản xây dựng xong

Trang 28

cơ sở hạ tầng và 52 khu đang thực hiện xây dựng cơ bản theo hình thức cuốn chiếu,cho thuê để sản xuất kinh doanh những phần đã hoàn thành xây dựng cơ bản.

Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Vốn trong nước chiếm 51.62%, giai đoạn

đầu chủ yếu là nguồn vốn ngân sách, hiện nay đã áp dụng chính sách giao đất chodoanh nghiệp thầu xây dựng cơ sở hạ tầng nên tỉ trọng đầu tư của các doanh nghiệpngoài quốc doanh bắt đầu tăng, tuy còn nhiều bất cập về giá trị gia tăng sau khi xâydựng cơ sở hạ tầng và hiệu quả xây dựng Vốn nước ngoài chiếm 48.38% tổng vốnđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chiếm và có xu hướng tăng lên trong thời gian tới,giữ vai trò quan trọng trong việc hiện đại hoá cơ sở hạ tầng các KCN, KCX theoquy chuẩn quốc tế, làm tăng sức hấp dẫn của KCN, KCX đối với các nhà đầu tư

Về đầu tư vào sản xuất kinh doanh:

 Đầu tư trong nước: Quy mô vốn trung bình là 1,723 triệu USD/dự

án, chiếm tỷ trọng vốn 28,3% tổng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại cácKCN, KCX trên cả nước Các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN, KCXthuộc mọi thành phần kinh tế, đa số là các doanh nghiệp thành lập từ trước, do nhucầu mở rộng sản xuất, cần di dời từ ngoài KCN vào trong KCN, hoặc thành lậpthêm cơ sở sản xuất trong KCN Tuy chỉ giữ vai trò khiêm tốn nhưng nguồn vốnnày là nhân tố nội lực, có ý nghĩa quyết định Những năm đầu xây dựng KCN, dochưa nhận thức được tầm quan trọng của KCN trong việc huy động nguồn vốn bêntrong, chúng ta đã xem nhẹ việc thu hút các doanh nghiệp trong nước đầu tư vàoKCN Điều này thể hiện ở số dự án và tổng vốn đầu tư của thành phần kinh tế trongnước vào KCN thời gian này còn rất hạn chế Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khuvực trong nước mới được chú trọng, dòng vốn đầu tư trong nước trong KCN tăngđáng kể, số dự án trong nước trong các KCN hai năm gần đây đã vượt so với khuvực có vốn đầu tư nước ngoài Kết quả là đã có hơn 2.600 dự án với tổng vốn đầu tưđăng ký là 155.900 tỷ đồng Điều đã cho thấy rõ tiềm lực của khu vực kinh tế trongnước, tiềm lực này cần được kích thích tăng trưởng mạnh mẽ để nâng cao khả năngsản xuất và tỷ trọng đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong nước Hiệnnay, KCN đã trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong nước, ngoài nhữngdoanh nghiệp di chuyển từ các đô thị vào đã xuất hiện các doanh nghiệp thành lậpmới tại KCN

Trang 29

 Đầu tư nước ngoài: Cách thức đầu tư nước ngoài tại KCN-KCX làđầu tư trực tiếp Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, khi nói đến ĐTNN vàoSXKD tại KCN, ta chỉ đề cập đến ĐTTTNN vào SXKD, không bao hàm đầu tưgián tiếp Quy mô vốn trung bình của các dự án FDI là 4,83 triệu USD/ dự án,chiếm 72,4% tỷ trọng về vốn so với tổng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chiếm95% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX Có thể nói, KCN là nơi chínhsách ưu đãi đối với khu vực đầu tư nước ngoài được thể hiện rõ nhất, các nhà đầu tưnước ngoài có xu hướng đầu tư vào KCN, bởi KCN có một hệ thống kết cấu hạ tầnghiện đại và sẵn có, một môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất, có cơ chế “mộtcửa, tại chỗ” được thực thi Vì vậy, vốn đầu tư nước ngoài trong KCN chiếm tỷtrọng lớn và giữ vai trò chủ đạo đối với KCN và tổng vốn ĐTTTNN trong cả nước

2.1.2.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu CN phân theo từng thời

Nhờ các yếu tố thuận lợi trên, lượng vốn ĐTNN qua các năm phát triển rấttích cực Bảng số liệu sau sẽ thể hiện chi tiết tình hình tăng giảm vốn đầu tư nướcngoài vào KCN qua các năm trong giai đoạn 1991-2009

Trang 30

:Bảng 2.2:Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX

cả nước so sánh theo trung bình năm giai đoạn 1991-2006(tính theo vốn đăng

ký của các dự án được cấp giấy phép đầu tư)tốc độ tăng giảm liên

Trang 31

Trong 5 năm đầu (1991-1995), tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoKCN, KCX là 4.220 triệu USD, trung bình 844 triệu USD/năm, số vốn đầu tư vào

cơ sở hạ tầng là 370 triệu USD chiếm 8,8%, còn lại 91,2% là vốn đầu tư vào sảnxuất kinh doanh

Giai đoạn 1996-2000, do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực châu Áđặc biệt là khu vực ASEAN, số vốn ĐTTTNN vào KCN, KCX giảm 4,2% so vớigiai đoạn trước xuống 4.042 triệu USD (trung bình năm 808,4 triệu USD) trong đóđầu tư vào sản xuất kinh doanh giảm 6,9% (3.586 triệu USD), nhưng do nhu cầuthành lập và xây dựng KCN, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng vẫn tăng 23% lên 456triệu USD, chiếm 11,3% tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả giai đoạn

Giai đoạn 2001-2009 đánh dấu sự phục hồi của nền kinh tế khu vực và thếgiới sau khủng hoảng kinh tế ở châu Á, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCXtăng vượt bậc với tổng vốn thu hút được lên tới 10.056 triệu USD (tăng 149%),Tổng số vốn vào sản xuất kinh doanh đạt 9.841 triệu USD, chiếm tỷ lệ 97,9% tổng

số vốn và tăng 174,4% so với thời kỳ 1996-2000, trung bình năm thu hút 4.031,2

triệu USD Tuy nhiên lượng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm xuống thấp nhất chỉcòn 215 triệu USD, do các KCN cũ đã hoàn thành và đi vào hoạt động, các KCNchưa được thành lập hoặc gặp khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng

Riêng năm 2009, nhờ tích cực cải cách môi trường đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, chú trọng quảng bá các cơ hội đầu tư ở Việt Nam, đặc biệt là

việc gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư vào KCN, KCX tăng đột biến, đạt 10.682

triệu USD chiếm 56% tổng vốn FDI của cả nước, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng vốn FDI kỷ lục 12,2 tỷ USD vào Việt Nam trong năm

2.2.Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

2.2.1.Điều kiện tự nhiên ,kinh tế,xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và tại vùng KT trọng điểm phía Bắc nói riêng

Theo Quyết định số 145/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phươnghướng phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và

tầm nhìn đến năm 2020”, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gồm 8 tỉnh: tp Hà Nội,

Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.

Trang 32

Trước năm 2003, vùng KTTĐ Bắc Bộ chỉ gồm 5 tỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, QuảngNinh, Hưng Yên, Hải Dương Sau Hội nghị các tỉnh vùng KTTĐ Bắc Bộ ngày 14 –15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định mở rộng ranh giới vùng KTTĐ Bắc

Bộ, bổ sung thêm 3 tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Tổng diện tích vùng KTTĐBắc Bộ sau khi bổ sung là 15.286,7 km2, bằng 3,8% diện tích cả nước và dân số(ước tính đến năm 2006) là 13,8 triệu người, chiếm 16,4% dân số cả nước Đây làtrung tâm kinh tế năng động và là một đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc vàcủa cả nước Việt Nam

bộ, có các tuyến đường bộ thông thương lên vùng Tây Nam Trung Quốc ở phía Bắc(quốc lộ 1) , sang Bắc Lào, Bắc Thái Lan ở phía Đông, quốc lộ 5 nối liền tam giác

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh là trục đường xương sống cho toàn Bắc Bộ Vớisân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi cùng với cụm cảng Hải Phòng - Cái Lân làcửa mở vào - ra của toàn vùng Bắc Bộ và hệ thống đường quốc lộ, đường sắt,đường sông (sông Hồng và các nhánh) toả đi các vùng khác trong cả nước và điquốc tế, vùng KTTĐ Bắc Bộ là đầu mối giao thương bằng cả đường biển, đường sắt

và đường hàng không lớn thứ hai cả nước Vùng KTTĐ Bắc Bộ có mặt tiền hướng

ra biển Đông, thuận lợi trong việc thông thương với ASEAN, là một trong nhữngkhu vực phát triển năng động nhất thế giới, nhờ đó các mối quan hệ giao lưu hợp tácquốc tế về kinh tế, văn hoá của vùng đã được mở rộng nhanh chóng

Vùng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước: là vùng có đủ điều kiện và lợi thế để phát triển mạnh về công nghiệp, đặc

biệt là công nghiệp nặng, các ngành công nghiệp công nghệ cao, có ưu thế để hìnhthành các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ lớn trên cả nước nhờ nguồn

Trang 33

nhân lực đã qua đào tạo bài bản; dân số đông và điều kiện tự nhiên lí tưởng thuậnlợi cho phát triển dịch vụ và du lịch.

Với số dân đông, mật độ dân số lớn nhất cả nước, vùng có ưu thế nổi trội về

nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động kĩ thuật, lao động có chuyên môn cao, cán bộ đầu ngành của hầu hết mọi lĩnh vực, có hệ thống đào tạo và nghiên

cứu khoa học, trung tâm y tế trình độ ca, giữ vai trò quyết định trong việc đào tạo vàchăm sóc sức khoẻ cho cả vùng và cả nước Vùng có số lao động trình độ cao đẳng,đại học và trên đại học cao nhất so với các vùng khác, chiếm tới 32% cả nước(2005) Vùng cũng là nơi tập trung các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, caođẳng đầu ngành có các trang thiết bị hiện đại Trong tương lai ưu thế này vẫn tiếptục được củng cố và phát triển, là thế mạnh nổi trội, một tiềm năng lớn cần phát huytối đa để thúc đẩy phát triển vùng và tác động tích cực tới các vùng lân cận

Vùng KTTĐ Bắc Bộ là nơi phát triển công nghiệp sớm nhất cả nước, hiện

nay đã và tiếp tục hình thành hệ thống đô thị phát triển hơn hẳn so với các vùngkhác, tạo cục diện mới cho tổ chức không gian lãnh thổ, cho tăng trưởng và giao lưugiữa các vùng trong nước và quốc tế Hai thành phố thuộc vùng là Hà Nội và HảiPhòng đều là các thành phố lớn trực thuộc trung ương và có vai trò quan trọng trong

hệ thống quốc gia, cùng với hai thành phố thuộc tỉnh (trong tổng số 21 thành phốtrên cả nước), 7 thị xã (trong tổng số 61), 77 thị trấn ( trong tổng số 565) Tỷ lệ đôthị hoá của vùng đạt khoảng 27, 45% (lớn hơn trung bình cả nước là 24,8%) Vùng

là khởi nguồn của văn minh đô thị của cả nước Nhờ đô thị phát triển mạnh tạo nên

sự thịnh vượng chung cho cả vùng, tạo sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư nướcngoài đến vùng và các vùng lân cận

Đây cũng là trung tâm công nghiệp từ rất sớm và hiện đã hình thành hệ thốngcác KCN lớn và các cụm công nghiệp nhỏ trên cả 8 tỉnh thành, thu hút lực lượng laođộng đông đảo và có trình độ kĩ thuật cao hơn nhiều vùng khác Năm 2005, vùngKTTĐ Bắc Bộ có 17 vạn doanh nghiệp công nghiệp,chiếm 26% số doanh nghiệpcông nghiệp cả nước, riêng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếmkhoảng 15,8% cả nước tạo ra 13,8% giá trị công nghiệp và xây dựng cả nước

Tuy không phong phú về khoáng sản, vùng có một số khoáng sản quan trọng

như than đá, trữ lượng chiếm 98%, than nâu, đá vôi làm xi măng trữ lượng hơn

Trang 34

20%, cao lanh làm sứ trữ lượng khoảng 40% so với cả nước… Khai thác có hiệuquả các khoáng sản này sẽ tạo nguồn nguyên nhiên vật liệu cho các ngành côngnghiệp chế biến và công nghiệp nặng, tạo điều kiện phát triển công nghiệp và dịch

vụ của vùng

Vùng KTTĐ Bắc Bộ còn có tiềm năng lớn về du lịch với các địa điểm du lịch

nổi tiếng trong nước và quốc tế như vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là disản thiên nhiên của thế giới Nhờ lịch sử hơn một nghìn năm phát triển, vùng cònlưu giữ nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hoá, làng nghề truyền trống Ngoài

ra vùng có rất nhiều bãi biển và khu du lịch thiên nhiên, có tiềm năng lớn để pháttriển thành địa điểm du lịch văn hoá và sinh thái hấp dẫn trong và ngoài nước

Vùng KTTĐ Bắc Bộ là cái nôi của nền văn minh lúa nước, có ưu thế về điều

kiện khí hậu đặc thù có mùa đông lạnh để phát triển các vùng rau, hoa quả, chănnuôi (diện tích đất nông nghiệp của vùng hiện có khoảng 585 nghìn ha), nhất là cácvùng xung quanh các đô thị, các thành phố lớn, các khu công nghiệp tạo ra giá trịgia tăng lớn trên một đơn vị diện tích

Vùng KTTĐ Bắc Bộ có dải đất chuyển tiếp giữa miền núi trung du Bắc Bộvới đồng bằng sông Hồng thuận tiện cho phân bố các khu công nghiệp, các đô thị

mà không ảnh hưởng nhiều đến quỹ đất nông nghiệp

và đặc biệt thoát nước tại các đô thị yếu kém, lạc hậu, bất cập (nhiều đô thị thiếunước, nhất là vào mùa hè, trong khi đó lượng nước thất thoát rất lớn tới khoảng50%); nếu có mưa lớn kéo dài 1, 2 ngày là nhiều điểm ngập úng; nhiều nơi ở khu

Trang 35

lượng thi công trong xây dựng cơ bản thấp gây thất thoát lãng phí vốn Ngân sách,kìm hãm sự phát triển của vùng.

Trình độ trang thiết bị kĩ thuật của các cơ sở công nghiệp còn kém phát triển, thiếu tác phong sản xuất công nghiệp, tình hình quy hoạch còn chưa hợp lý

gây chi phí tốn kém nhưng sản phẩm sản xuất ra kém chất lượng, khó cạnh tranhtrên thị trường Tình trạng gây ô nhiễm môi trường phổ biến Bắt đầu từ điểm xuấtphát thấp, sự phát triển của vùng chưa tương xứng với tiềm năng Vì vậy, tỷ trọngđóng góp vào GDP cả nước còn khiêm tốn so với vùng KTTĐ Nam Bộ

Do mật độ dân số đông, giá thuê đất ở VKTTĐBB cao nhất trong cả nước, công tác quy hoạch đất cho KCN gặp nhiều khó khăn Dân số chủ yếu sống bằng

nghề nông, mức tiêu dùng thấp nên cầu thị trường thấp, lấy đất cho KCN dẫn tớiviệc người nông dân mất đất canh tác, nhưng hiệu quả sử dụng đất không cao tácđộng xấu tới đời sống người dân và độ hấp dẫn của môi trường đầu tư

2.2.2.Thưc trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu CN tại vùng kinh

tế trọng điểm phía Bắc

So với các KCN, ở vùng KTTĐ Nam Bộ, số lượng các KCN, ở vùng KTTĐBắc Bộ ít hơn, các KCN phát triển chậm hơn và có quy mô nhỏ hơn do nhu cầutiêu dùng thấp, giá thuê đất cao nên sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, kém hấp dẫnhơn khu vực phía Nam Lượng vốn đầu tư trung bình hàng năm vào các KCN thuộcvùng KTTĐ Bắc Bộ chỉ chiếm khoảng gần 20% tổng lượng vốn đầu tư vào cácKCN trên cả nước

Tính đến hết tháng 12/2009, vùng KTTĐ Bắc Bộ hiện có 28 KCN đã thànhlập, chủ yếu là các KCN có quy mô nhỏ và trung bình, trong đó có 19 KCN đã cơbản xây xong cơ sở hạ tầng và đang triển khai sản xuất kinh doanh và 9 KCN đangtrong thời gian xây dựng cơ sở hạ tầng Tổng số vốn đầu tư các KCN, KCX tại vùng

là 5.219,5 triệu USD, chiếm tỷ lệ 15,55% tổng số vốn thu hút được vào KCN cảnước Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài giữ vai trò chủ đạo với 385 dự án chiếm50,8% tổng số dự án đầu tư vào KCN tại vùng và số vốn 3552 triệu USD, chiếm68% tổng số vốn đầu tư vào các KCN của vùng

Trang 36

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng dự án đầu tư

trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX

của vùng

50%

50%

ĐTTTNN Đt trong nước

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài vào KCN, KCX của

vùng

68% 32%

ĐTTTNN Đt trong nước

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

So với đầu tư trong nước thì đầu tư trực tiếp nước ngoài có số lượng dự ántương đương nhưng gấp hơn 2 lần về số vốn Điều này cho thấy sự vượt trội vềlượng vốn và quy mô vốn bình quân 1 dự án đầu tư nước ngoài so với các lượngvốn và quy mô bình quân của các dự án trong nước (vốn bình quân mỗi dự ánĐTTTNN là 9,89 triệu USD/dự án gần gấp 3 lần vốn bình quân mỗi dự án đầu tưtrong nước là 3,57 triệu USD/dự án)

Hiện cả nước có 228 khu công nghiệp, phân bổ tại 56 tỉnh, thành phố, vớitổng diện tích khoảng 58,4 nghìn ha Trong con số này, 145 khu công nghiệp đã đivào hoạt động, còn lại đang thực hiện giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu hạtầng

Đối với đầu tư trong nước, đến hết năm 2009, các KCN của vùng đã thu hútđược 362 dự án, chiếm tỷ lệ 50,2% tổng số dự án và số vốn 20652 tỷ đồng (khoảng1290,75 triệu USD) chiếm tỷ lệ 32% tổng số vốn đầu tư vào KCN của vùng

Trang 37

Các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN của Vùng thuộc mọi thànhphần kinh tế, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp có sẵn tại các khu đô thị lớn trướckhi các KCN được thành lập (đa phần là doanh nghiệp Nhà nước) có xu hướng didời sản xuất từ nội thành hay khu vực dân cư vào KCN, ít đơn vị thuê đất để thànhlập mới, vì vậy quy mô vốn đầu tư bình quân của đầu tư trong nước không cao

Do hạn chế về lượng vốn, trình độ công nghệ và thị trường tiêu thụ nên cácdoanh nghiệp trong nước ít có nhu cầu đầu tư vào KCN đặc biệt trong điều kiện cơ

sở hạ tầng còn thấp, chi phí vận chuyển cao, giá thuê đất tại các KCN cao do giáđền bù giải phóng mặt bằng lớn Vì vậy các dự án đầu tư trong nước thường là các

dự án mở rộng vốn, tuy bằng về số dự án nhưng vẫn thấp hơn về lượng vốn so vớicác dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu là thành lập mới

Từ khi KCN đầu tiên của Vùng là KCN Nội Bài (Hà Nội) được thành lậpnăm 1993, các KCN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đã trải qua 16 năm xây dựng và pháttriển, thu hút một lượng vốn đáng kể bổ sung vào nguồn vốn phát triển kinh tế-xãhội của vùng và cả nước

Trang 38

Bảng 2.3 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX vùng

kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (so sánh theo trung bình năm) giai đoạn 1993-2009

(tính theo vốn đăng ký của các dự án được cấp

giấy phép đầu tư)

Chỉ tiêu Đơn vị đoạn 1993- TB giai

1995

TB giai đoạn 1996- 2000

TB giai đoạn 2001- 2005

TB giai đoạn 2006_2009 Tổng vốn ĐTNN vào

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong giai đoạn 1993-1995, các KCN tiến hành song song việc đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng và cho thuê đất kinh doanh Tổng số vốn đầu tư nước ngoài thuhút vào KCN, KCX của vùng giai đoạn này là 421,47 triệu USD, bao gồm đầu tưvào xây dựng cơ sở hạ tầng là 152,64 triệu USD, chiếm 36,2% và đầu tư vào sản

Trang 39

Giai đoạn 5 năm tiếp theo, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực,tổng lượng vốn và thay đổi về chính sách đầu tư, tổng lượng vốn ĐTTTNN vào cácKCN, KCX của vùng là 659,55 triệu USD, lượng vốn trung bình hàng năm giảm chỉbằng 94% so với vốn trung bình năm giai đoạn trước Trong đó lượng vốn vào sảnxuất kinh doanh giảm 41,5% còn lượng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn tiếptục tăng 56,2% do nhu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở các KCN mới thành lập.Tuy nhiên, nhiều dự án đang thực hiện bị ngừng hoặc rút vốn do không có khả năngthanh toán sau cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong 5 năm tiếp theo (2001-2005), nền kinh tế thế giới phục hồi sau khủnghoảng, đồng thời chính quyền các cấp đã có những biện pháp tích cực để tăngcường thu hút đầu tư nên tình hình thu hút vốn ĐTTTNN đã khởi sắc trở lại Thời

kỳ này lượng vốn ĐTTTNN tăng nhanh lên 1163,91 triệu USD, tăng hơn 3 lần sovới giai đoạn trước Trong đó lượng vốn sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ 100%(tăng 256,9%), không có đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Từ 2006_2009, với những cải cách lớn về chính sách và các động thái tíchcực của chính phủ trong hội nhập quốc tế, lượng vốn ĐTTTNN tiếp tục tăng mạnhgần gấp 3 lần vốn đầu tư trung bình năm của giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư vàosản xuất kinh doanh là chủ yếu, chiếm 94,3%, đầu tư vào cơ sở hạ tầng tăng dothành lập mới nhiều KCN làm tăng nhu cầu ngành xây dựng cơ bản

Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, tỷ lệ vốn đầu tư vào sản xuất kinhdoanh và cơ sở hạ tầng liên tục thay đổi phụ thuộc vào việc thành lập mới các KCN,nhưng có xu hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cao đầu tư vàosản xuất kinh doanh Đây là xu hướng tích cực chứng tỏ sự hiệu quả của đầu tư sảnxuất kinh doanh tại KCN, KCX vùng KTTĐ Bắc Bộ

Với điều kiện thuận lợi như hiện nay, trong những năm tới lượng vốn sẽ tiếptục tăng mạnh và cơ cấu vốn sẽ dịch chuyển theo hướng tích cực tập trung vào sảnxuất kinh doanh Vì vậy sau đây là nghiên cứu cụ thể thực trạng thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài vào từng lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất kinh doanh

để làm rõ tình hình thu hút ĐTTTNN vào KCN, KCX

Trang 40

2.2.2.1.Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng khu công nghiệp của vùng giai đoạn 1993-2009

Từ năm 1993 đến cuối 2006, vùng KTTĐ Bắc Bộ đã thành lập 25 KCN,trong đó hoàn thành về xây dựng cơ bản, đưa vào sản xuất kinh doanh đối với 16KCN và đang tiếp tục đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng 9 khu.Trong các KCN đã hoàn thành có nhiều khu đã đạt tỷ lệ lấp đầy là 100% như KCNNội Bài (Hà Nội), Thăng Long (Hà Nội), Sài Đồng B (Hà Nội và Quang Minh(Vĩnh Phúc) Tuy nhiên, số KCN có vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồnvốn FDI là tương đối cao, 5/16 KCN đã hoàn thành và 2/9 KCN đang xây dựng cơbản, chiếm tỷ lệ 28% Tuy nhiên, việc tiến hành xây dựng các KCN thực hiện chậm,nhìn chung, việc xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ thường kéo dài từ 5 đến 7 năm (trừ KCN Nomura - Hải Phòng) Trừ KCNNomura - Hải Phòng, giai đoạn I (50 ha) của KCN Nội Bài (Hà Nội) có cơ sở hạtầng đã được xây dựng hoàn chỉnh, còn các KCN, KCX khác trong vùng triển khaixây dựng hạ tầng chậm do giải phóng mặt bằng, việc đền bù giải toả phức tạp, tốnkém thời gian và do khả năng thu hút đầu tư hạn chế, do vậy, các chủ đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng cầm chừng Có trường hợp, tuy được thành lập từ 4 - 5 năm,nhưng chủ đầu tư vẫn chưa thực hiện dự án như KCN Daewoo – Hanel

Giai đoạn tiếp theo, các KCN đã cơ bản hoàn thành chủ yếu nhờ nguồn vốnNgân sách hoặc vốn địa phương, vốn ĐTTTNN vào Vùng đều là đầu tư vào sảnxuất kinh doanh

Ngày đăng: 19/04/2015, 23:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước - SỐ GIẢI  PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯNƯỚC NGOÀI  VÀ NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI KHU CN VÙNG KT TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC
Bảng 2.1 Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước (Trang 25)
Bảng 2.5: Tình hình vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng tại KCN-KCX - SỐ GIẢI  PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯNƯỚC NGOÀI  VÀ NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI KHU CN VÙNG KT TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC
Bảng 2.5 Tình hình vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng tại KCN-KCX (Trang 39)
Bảng 2.8: ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh trong KCN của vùng phân theo - SỐ GIẢI  PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯNƯỚC NGOÀI  VÀ NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI KHU CN VÙNG KT TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC
Bảng 2.8 ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh trong KCN của vùng phân theo (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w