1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tỷ lệ nhiễm và phát triển quy trình chẩn đoán bệnh do vi bào tử trùng trên tôm nuôi nước lợ tại các vùng nuôi trọng điểm phía nam

83 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nghiên cứu nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa tại tỉnh Kiên Giang và biện pháp phòng trị bệnh” là công trình nghiên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN QUỐC SƠN

NGHIÊN CỨU NẤM Rhizoctonia solani GÂY BỆNH

ĐỐM VẰN TRÊN LÚA TẠI TỈNH KIÊN GIANG VÀ

BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN QUỐC SƠN

NGHIÊN CỨU NẤM Rhizoctonia solani GÂY BỆNH

ĐỐM VẰN TRÊN LÚA TẠI TỈNH KIÊN GIANG VÀ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nghiên cứu nấm Rhizoctonia solani

gây bệnh đốm vằn trên lúa tại tỉnh Kiên Giang và biện pháp phòng trị bệnh” là

công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

……… , Ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Trần Quốc Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Trần Thị Thu Thủy và TS Phạm Thị Minh Thu đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến

sự giúp đỡ này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

……… , Ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Trần Quốc Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình sản xuất lúa ở tỉnh Kiên Giang 3

1.2 Sơ lược về bệnh đốm vằn trên lúa 4

1.2.1 Lịch sử phát hiện, địa bàn phân bố 4

1.2.2 Thiệt hại của bệnh gây ra 4

1.2.3 Triệu chứng bệnh 5

1.2.4 Tác nhân 6

1.2.5 Sự lây lan, xâm nhiễm và gây bệnh 11

1.2.6 Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh 12

1.2.7 Quản lý bệnh 14

1.3 Sơ lược về giống lúa dùng trong thí nghiệm: Jasmine 85 18

1.3.1 Nguồn gốc 18

1.3.2 Những đặc tính chủ yếu 18

1.3.3 Yêu cầu kỹ thuật và tình trạng sử dụng 18

1.4 Sơ lược các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm 19

1.4.1 Thuốc Validan 5 SL 19

1.4.2 Thuốc Evitin 50 SC 19

1.4.3 Tricô - ĐHCT 108 bt/g 20

Chương 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.2 Vật liệu nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

Trang 6

2.3.1 Thu mẫu bệnh và phân lập nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn 22

2.3.2 Khảo sát đặc điểm nuôi cấy của các chủng nấm Rhizoctonia solani 23

2.3.3 Đánh giá khả năng gây hại của nấm Rhizoctonia solani 24

2.3.4 Nghiên cứu khả năng phòng và trị bệnh đốm vằn của thuốc sinh học trong điều kiện nhà lưới 26

2.3.5 Phân tích số liệu 27

Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 29

3.1 Thu mẫu bệnh và phân lập nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn 29

3.1.1 Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh đốm vằn trên ruộng ghi nhận được khi thu mẫu bệnh 29

3.1.2 Phân lập các chủng nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa 30

3.2 Đặc điểm nuôi cấy của các chủng nấm Rhizoctonia solani 31

3.2.1 Đặc điểm khuẩn ty, khuẩn lạc 31

3.2.2 Tốc độ khuẩn ty nấm phát triển 34

3.2.3 Sự hình thành và đặc điểm hình thái của hạch nấm 35

3.3 Khả năng gây hại của các chủng nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa 40

3.3.1 Tỷ lệ bệnh (TLB) 41

3.3.2 Chỉ số bệnh (CSB) 42

3.4 Khả năng phòng và trị bệnh của thuốc sinh học và hóa học trong điều kiện nhà lưới 44

3.4.1 Tỷ lệ bệnh (TLB) 44

3.4.2 Chỉ số bệnh (CSB) 49

3.4.3 Các chỉ tiêu về thành phần năng suất 54

Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

4.1 Kết luận 58

4.2 Khuyến nghị 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC

Trang 7

: Đồng bằng sông Cửu Long : Giờ sau khi cấy

: Kể từ sau khi hình thành : Ngày sau chủng bệnh : Ngày sau nghiên cứu

: Patato dextrose agar : Tỷ lệ bệnh

: Water agar

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Danh sách các chủng nấm Rhizoctonia solani đã được phân lập 31

Bảng 3.2 Đường kính tản nấm của 10 chủng nấm Rhizoctonia solani qua các thời điểm 34

Bảng 3.3 Đặc điểm hình thành và hình thái của hạch nấm 36

Bảng 3.4 Tỷ lệ (%) chồi lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn qua các thời điểm 41

Bảng 3.5 Chỉ số bệnh (%) của cây lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn qua các thời điểm 42

Bảng 3.6 Tỷ lệ (%) chồi lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 5 NSCB 45

Bảng 3.7 Tỷ lệ (%) chồi lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 7 NSCB 45

Bảng 3.8 Tỷ lệ (%) chồi lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 9 NSCB 46

Bảng 3.9 Tỷ lệ (%) chồi lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 14 NSCB 47

Bảng 3.10 Chỉ số bệnh (%) của cây lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 5 NSCB 49

Bảng 3.11 Chỉ số bệnh (%) của cây lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 7 NSCB 50

Bảng 3.12 Chỉ số bệnh (%) của cây lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 9 NSCB 51

Bảng 3.13 Chỉ số bệnh (%) của cây lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn ở thời điểm 14 NSCB 51

Bảng 3.14 Tổng số bông /chậu ở các nghiệm thức 54

Bảng 3.15 Trung bình số hạt/bông 55

Bảng 3.16 Tỷ lệ (%) hạt chắc/bông 55

Bảng 3.17 Trọng lượng hạt /chậu 56

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vết bệnh đốm vằn trên lúa 6 Hình 1.2 Chu trình bệnh đốm vằn trên lúa 12 Hình 3.1 Triệu chứng bệnh đốm vằn trên các bộ phận cây lúa ở điều kiện ngoài đồng 30 Hình 3.2 Đặc điểm tản nấm của các chủng nấm Rhizoctonia solani ở thời điểm 36

GSNC 32 Hình 3.2 (tiếp theo) Đặc điểm tản nấm của các chủng nấm Rhizoctonia solani ở thời

điểm 36 GSNC 33 Hình 3.3 Hình thái khuẩn ty chủng nấm R solani – chủng RG1 trên môi trường PDA 33 Hình 3.4 Quá trình hình thành hạch nấm Rhizoctonia solani của chủng nấm RG2 37 Hình 3.5 Đặc điểm hình thành hạch nấm trên đĩa petri của các chủng nấm ở thời điểm

120 GSKC 39 Hình 3.5 (tiếp theo) Đặc điểm hình thành hạch nấm trên đĩa petri của các chủng nấm

ở thời điểm 120 GSKC 40 Hình 3.6 Mức độ gây bệnh đốm vằn của một số chủng nấm ở thời điểm 14 NSCB 43 Hình 3.7 Mức độ bệnh đốm vằn trên cây lúa ở thời điểm 14 NSCB của một số nghiệm

thức xử lý 48

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Đề tài “Nghiên cứu nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa tại tỉnh

Kiên Giang và biện pháp phòng trị bệnh” được thực hiện từ tháng 01 năm 2017 đến

tháng 06 năm 2017 trong điều kiện phòng thí nghiệm Phòng trừ Sinh học và Nhà lưới thuộc bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa NN & SHƯD, trường Đại học Cần Thơ nhằm

nghiên cứu khả năng gây hại, đặc điểm hình thái của nấm Rhizoctonia solani gây bệnh

đốm vằn trên giống lúa Jasmine 85 tại tỉnh Kiên Giang và đánh giá hiệu quả của hai

loại thuốc sinh học Validan 5SL và Tricô-ĐHCT trong việc phòng và trị bệnh

Đề tài đã phân lập được 10 chủng nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên

6 giống lúa (OM5451, Jasmine 85, OM2517, KG9921, OM4900, OM6976) tại các huyện Châu Thành, Gò Quao, Giồng Riềng và thành phố Rạch Giá, thuộc tỉnh Kiên Giang

Qua khảo sát các đặc điểm nuôi cấy của các chủng nấm nhận thấy các chủng nấm

có nhiều đặc điểm giống nhau về hình thái khuẩn lạc và phát triển nhanh trên môi trường PDA; đồng thời có sự đa dạng về đặc điểm hạch nấm như thời gian bắt đầu hình thành, mức độ hình thành trên đĩa petri, màu sắc và kích thước

Kết quả thực hiện đánh giá khả năng gây hại của 10 chủng nấm Rhizoctonia solani trên giống lúa Jasmine 85, đã ghi nhận được chủng Rhizoctonia solani RG1 có

khả năng gây bệnh cao nhất với tỷ lệ chồi bị nhiễm bệnh và chỉ số bệnh ở thời điểm 14 ngày sau chủng bệnh lần lượt là 100% và 52,82% nên được sử dụng làm nguồn nấm bệnh để thực hiện cho thí nghiệm tiếp theo

Kết quả thực hiện đánh giá khả năng phòng và trị bệnh đốm vằn của thuốc sinh học so với hóa học trong điều kiện nhà lưới đã ghi nhận các thuốc sinh học Validan 5SL và Tricô-ĐHCT đều có hiệu quả quản lý bệnh đốm vằn trong điều kiện nhà lưới ở những thời điểm xử lý khác nhau Trong đó, thuốc Validan 5SL ở biện pháp phun trước hoặc phun kết hợp trước + sau và thuốc Tricô-ĐHCT ở biện pháp phun kết hợp trước + sau cho hiệu quả phòng trị bệnh cao và bảo vệ năng suất tốt hơn so với khi áp dụng 2 thuốc này ở các biện pháp xử lý khác

Từ khóa: Bệnh đốm vằn, biện pháp phòng trị, Rhizoctonia solani, Validan 5SL,

Tricô-ĐHCT

Trang 11

MỞ ĐẦU

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, điều kiện thuận lợi cho cây lúa phát triển, kèm theo đó là sự phát triển của nhiều loại dịch hại Hằng năm, những thiệt hại do bệnh gây

ra trên cây trồng có thể lên tới hơn 7% sản lượng lương thực (Phạm Văn Kim, 2000) Trong

đó, bệnh đốm vằn là một bệnh hại quan trọng và xuất hiện ở hầu hết các nơi trồng lúa trên

thế giới Bệnh có thể gây thiệt hại năng suất lên đến 25-50% (Ou, 1985; Agarwal et al ,

1989; Phạm Hoàng Oanh và cs, 2004; Gnanamanickam, 2009) Trong những năm gần đây,

xu hướng sản xuất lúa theo hướng độc canh, tăng vụ, sử dụng giống cao sản đó là nguyên nhân và điều kiện cho các loại bệnh hại phát triển ngày càng nhiều hơn, trong đó bệnh đốm vằn là một trong những đối tượng, phá hoại nghiêm trọng ở các vùng trồng lúa nước của nước ta, gây thiệt hại nặng về năng suất, làm tổn hại đến môi trường và sức khỏe con người cùng với việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng liên tục một loại thuốc trừ bệnh ở một vùng có thể làm tác nhân gây bệnh quen thuốc và có thể dẫn đến hiện tượng kháng thuốc (Vũ Triệu Mân, 2007b)

Tỉnh Kiên Giang là một trong số các tỉnh trồng lúa trọng điểm của vùng ĐBSCL

và của cả nước Diện tích trồng lúa 769,464 ha, năng suất lúa 60,34 tạ/ha và sản lượng lúa cả năm 4.642,896 nghìn tấn Kiên Giang đang tập trung phát triển ngành nông nghiệp toàn diện và bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa hiện đại phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và sản xuất lúa gạo đóng một vai trò quan trọng (Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang 2015)

Để phòng trị bệnh đốm vằn, nhiều biện pháp đã được nghiên cứu và áp dụng, trong đó biện pháp sử dụng thuốc với nhiều thuốc có nguồn gốc hóa học và sinh học hiện nay được khuyến cáo áp dụng rộng rãi trong địa bàn tỉnh Kiên Giang tuy nhiên với hiệu quả ở những mức độ khác nhau Việc quản lý bệnh bằng thuốc hóa học tuy cho hiệu quả nhanh chóng nhưng không bền vững vì có một số nhược điểm như: gây ô nhiễm môi trường, không an toàn cho người sản xuất và tiêu dùng, tăng chi phí sản

xuất và tạo điều kiện cho mầm bệnh hình thành nòi kháng thuốc (Gusmin et al.,

2005) Trong khi, các sản phẩm có nguồn gốc sinh học tỏ ra thân thiện với môi trường

và hiệu quả bền vững hơn, cho nên việc sử dụng các sản phẩm này trong phòng trị bệnh cây nói chung và bệnh đốm vằn trên lúa nói riêng là hướng nghiên cứu và sản xuất rất hứa hẹn nhằm hạn chế hậu quả của các nông dược đến môi trường.

Trang 12

Chính vì những lý do trên đề tài “Nghiên cứu nấm Rhizoctonia solani gây bệnh

đốm vằn trên lúa tại tỉnh Kiên Giang và biện pháp phòng trị bệnh”cần đƣợc thực

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình sản xuất lúa ở tỉnh Kiên Giang

Kiên Giang là tỉnh có sản lượng lúa chiếm tỷ lệ cao và là một trong những tỉnh trọng điểm sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL và của cả nước Ngành trồng trọt luôn giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh Các nhóm cây trồng bao gồm cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và cây ăn quả, trong đó ưu thế thuộc về các cây lương thực, đặc biệt là cây lúa Trong đó các huyện như huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện Hòn Đất, huyện Kiên Lương, huyện Tân Hiệp… là những huyện trồng lúa tiêu biểu của tỉnh Năm 2010, tỉnh Kiên Giang tỉnh đã xuất khẩu được 819.000 tấn gạo, tiếp tục dẫn đầu các tỉnh ĐBSCL về xuất khẩu gạo ra 45 thị trường, tăng 6 thị trường so với năm

2009 (Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang, 2015)

Theo Sở NN và PTNT tỉnh Kiên Giang cho biết, vụ Đông xuân 2016-2017, năng suất bình quân của tỉnh chỉ 6,16 tấn/ha, còn năng suất vụ lúa mùa chỉ đạt 3,76 tấn/ha Tổng sản lượng lúa thu hoạch đạt khoảng 2 triệu tấn, “hụt” khoảng 400.000 tấn so kế hoạch Nguyên nhân chính là do tình trạng hạn hán, xâm ngập mặn, sâu hại và bệnh hại Từ đó, lợi nhuận của người nông dân cũng thấp đi

nong-dan-o-kien-giang.html.)

(http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/32885802-chuyen-cay-lua-va-nguoi-Năm 2017 được dự đoán là năm thứ 2 liên tiếp Kiên Giang sản xuất lượng lúa không đạt kế hoạch Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết diễn biến bất thường phát sinh tình trạng nắng hạn, xâm nhập mặn cục bộ, mưa bão gây bất lợi tới sản xuất nông nghiệp Để khắc phục thiệt hại, ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang xây dựng kế hoạch, triển khai hỗ trợ nông dân sản xuất lúa theo hướng cải tiến bao gồm sản xuất lúa theo hướng ViêtGap và phát động nông dân giảm lượng giống gieo sạ, quản lý và

sử dụng giống lúa chất lượng cao Nông dân nâng năng lực sản xuất, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học; tăng giá trị lúa hàng hoá, sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường, liên kết sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn, góp phần nâng thu nhập người trồng lúa Nhờ vậy, vụ Đông Xuân 2017-2018 với diện tích gieo trồng là

Trang 14

290.000 ha, năng suất lúa ở Kiên Giang đạt khoảng 7,1 tấn/ha, tăng hơn so với cùng vụ năm 2016-2017 (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, 2018)

1.2 Sơ lược về bệnh đốm vằn trên lúa

1.2.1 Lịch sử phát hiện, địa bàn phân bố

Bệnh đốm vằn hay còn gọi là bệnh khô vằn, tiếng Anh gọi là Sheath blight disease Đây là một trong các bệnh quan trọng trên ruộng lúa ở khắp thế giới (Phạm Văn Kim, 2015) Bệnh được ghi nhận đầu tiên ở Nhật Bản vào năm 1910 bởi Myake (Lee and Rush, 1983) nhưng mãi đến năm 1912 thì Sawada đã phát hiện rằng Shirai từng mô tả bệnh này từ năm 1906 Không lâu sau đó, bệnh đốm vằn đã được các nhà khoa học báo cáo sự hiện diện ở nhiều quốc gia khác nhau

Địa bàn phân bố của bệnh khá rộng ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới (Ou, 1985) Bệnh xuất hiện ở nhiều nước như Philippines, Sri Lanka, Trung Quốc và nhiều quốc gia Châu Á khác (Ghaffer, 1988), trong đó có cả ở Việt Nam Barazil, Venezuela, Surinam, Madagasca và USA cũng được ghi nhận là có sự xuất hiện của bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993)

1.2.2 Thiệt hại của bệnh gây ra

- Những ghi nhận trên thế giới:

Bệnh đốm vằn là một loại bệnh gây hại quan trọng cho các vùng trồng lúa trên thế giới, được ghi nhận là một loại mầm bệnh do nấm gây ra quan trọng thứ 2 sau bệnh đạo ôn (Ou, 1985) Hiện nay, chưa có giống kháng đối với loại bệnh này (Kotamraju, 2010)

Bệnh gây ảnh hưởng nặng đến năng suất từ 20% đến 25%, khi bệnh nặng có thể lên đến 50% (Ou, 1985; Agrios, 2005; CABI, 2007; Gnanamanickam, 2009) Thất thu năng suất còn tùy thuộc vào mức độ phân đạm, cũng như tính nhiễm bệnh của giống (Võ Thanh Hoàng, 1993) Từ năm 1985 - 1990, bệnh đốm vằn đã xuất hiện trên 47% diện tích đất trồng lúa của Trung Quốc và ước tính thiệt hại 200.000 tấn/năm Tại Nhật Bản, bệnh có thể gây thất thu năng suất đến 20% (Ghaffer, 1988) Tại Hoa Kỳ đã có trường hợp thiệt hại năng suất đến 50% khi trồng các giống nhiễm nặng (Lee and Rush, 1983)

Trang 15

- Những ghi nhận ở nước ta:

Ở Việt Nam, ruộng lúa từ miền Bắc đến miền Nam đều bị bệnh đóm vằn gây hại (Phạm Văn Kim, 2015) Bệnh nặng có thể làm giảm năng suất đáng kể, trung bình từ 15 – 40% (Lê Lương Tề, 1998) Diện tích nhiễm bệnh đã tăng lên 10 lần trong 5 năm (từ 21.000

ha của năm 1985 tăng lên 200.000 ha trong năm 1990 và 1991) (Ghaffer, 1988)

Tại ĐBSCL, bệnh đốm vằn gây hại quanh năm và có mặt khắp nơi (Phạm Văn Kim, 2015) Trong những năm 1996 và 1997, bệnh gây nhiều thiệt hại quan trọng cho ruộng lúa và là một trong hai bệnh quan trọng nhất tại ĐBSCL (Phạm Minh Sang và

cs, 1996) Bệnh đốm vằn tuy phát triển chậm, không ồ ạt như bệnh đạo ôn, nhưng luôn luôn có mặt trong mỗi vụ và vụ sau luôn có khuynh hướng nặng hơn vụ trước (Phạm Văn Kim, 2015)

Theo dự báo sâu bệnh tổng hợp trong tuần, từ 15 – 21/01/2018, bệnh khô vằn trên cả nước ta có diện tích nhiễm 3.225 ha (giảm 454 ha so với kỳ trước, tăng 2.469

ha với cùng kỳ năm trước) Bệnh tập trung phân bố tại tỉnh Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sóc Trăng, HCM, Đồng Nai (Cục bảo vệ thực vật, 2017)

1.2.3 Triệu chứng bệnh

Trên đồng ruộng vết bệnh có thể xuất hiện gần mực nước (Ou, 1985) Bệnh đốm vằn gây hại chủ yếu ở bẹ lá, phiến lá, thân và cổ bông, nhưng các bẹ lá ở sát mặt nước hoặc các

lá già thường là nơi phát sinh bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân, 2007a)

Vết bệnh đầu tiên có hình bầu dục hoặc hình elíp, ovan, hoặc bất định, chiều rộng từ 0,5 - 1 cm và chiều dài từ 1 - 3 cm (Groth và cs, 2009) Giữa vết bệnh có màu xám trắng, xung quanh có màu nâu (Ou, 1985) (Hình 1.1) Mô nhiễm bị hư chỉ còn biểu bì ngoài của bẹ nên vết bệnh bị lõm xuống, phần biểu bì còn lại áp sát vào bẹ lá bên trong (Võ Thanh Hoàng, 1993) Lúc đầu, vết bệnh có màu lục tối hoặc xám nhạt, sau lan rộng ra thành dạng vết vằn da hổ, dạng đám mây (Vũ Triệu Mân, 2007a) Bệnh lan dần từ các bẹ dưới lên các bẹ trên, kể cả phiến lá (Võ Thanh Hoàng, 1993) Vết bệnh ở lá tương tự như ở bẹ lá, thường vết bệnh lan rộng ra rất nhanh chiếm hết cả bề rộng phiến lá tạo ra từng mảng vân mây hoặc dạng vết vằn da hổ Các

lá già bên dưới hoặc lá sát mặt nước là nơi phát sinh trước sau đó lan dần lên các lá trên (Vũ Triệu Mân, 2007a)

Trang 16

Vết bệnh ở cổ bông thường là vết bệnh kéo dài bao quanh cổ bông, hai đầu vết bệnh

có màu xám loang ra, phần giữa vết bệnh màu lục sẫm co tóp lại (Vũ Triệu Mân, 2007b) Kích thước và màu sắc vết bệnh cũng như sự hình thành hạch nấm tùy thuộc vào điều kiện môi trường Trong điều kiện ẩm, sợi nấm trắng có thể phát triển rất nhanh trên bề mặt vết bệnh (có thể dài khoảng vài cm trong 24 giờ) (Võ Thanh Hoàng, 1993;

Ou, 1985) Nhiều đốm liên kết nhau tạo thành vết vằn, bẹ và phiến lá bị cháy khô, khuẩn ty sẽ hình thành hạch nấm tròn, dẹt có màu trắng khi non, biến sang màu ngà, nâu và nâu sậm khi già Hạch nấm dễ dàng rơi ra khỏi vết bệnh và trôi nổi trên mặt nước (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Bẹ lá, lá và các bộ phận bị bệnh khô lụi sớm, vàng xơ xác, nghẹn đòng, bông lép (Lê Lương Tề, 1998)

1.2.4 Tác nhân

Bệnh đốm vằn hại lúa được báo cáo lần đầu tiên ở Nhật Bản năm 1910 được xác

định bệnh đốm vằn hại lúa do nấm Hypochnus sasakii Shirai, tại Srilanca và Philippin được coi là do nấm Rhizoctonia solani Kuhn Nấm Rhizoctonia solani Kuhn là giai đoạn sinh sản vô tính, giai đoạn hữu tính của nấm có tên là Pellicularia sasakii Shirai (hay còn gọi là Corticicum sasakii hoặc Thanatephorus cucumericus (Frank) Donk)

thuộc lớp Nấm Đảm (Vũ Triệu Mân, 2007a; CABI, 2007)

Hình 1.1 Vết bệnh đốm vằn trên lúa

Trang 17

Giai đoạn sinh sản vô tính là giai đoạn thường gặp ngoài đồng và ở giai đoạn này nấm bệnh đóm vằn chỉ sinh ra hạch nấm Chỉ khi nào chuyển sang giai đoạn sinh sản hữu tính, nấm mới sinh ra bào tử và là bào tử đảm; giai đoạn này ít khi bắt gặp ở điều kiện ngoài đồng (Phạm Văn Kim, 2015) Gây hại bằng bào tử đảm cũng được ghi nhận

ở Bắc Ấn Độ (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Đặc điểm hình thái

Nấm sinh trưởng dễ dàng trên các loại môi trường phổ biến (Ou, 1985) Sợi nấm

Rhizoctonia solani Kuhn có màu trắng khi còn non, khi già thì chuyển dần sang màu

nâu, đường kính sợi nấm từ 8 - 12 µm và sợi nấm được phân thành nhiều nhánh, vách ngăn ngang được thành lập ở những khoảng cách xa nhau (Parmeter, 1970; Ou, 1985; Agarwal và cs, 1989; Võ Thanh Hoàng, 1993) Sợi nấm phát triển nhanh phân nhánh gần vách ngăn của tế bào sợi nấm, sợi nấm phân nhánh vuông gốc hoặc 450 và thắt eo ngay vị trí phân nhánh (Agrios, 2005; CABI, 2007; Gnanamanickam, 2009) Nấm có 3 kiểu khuẩn ty:

- Khuẩn ty vượt, thẳng: những khuẩn ty mọc nhanh và mọc thẳng, mang trên đó các khuẩn ty cầu

- Khuẩn ty cầu: là những nhánh ngắn, hình cầu phát triển ở những khoảng cách nhất định trên khuẩn ty vượt Thường có nhiều nhánh, tập hợp thành mảng có hình dáng và kích thước thay đổi và chính nó quyết định hình dạng và kích thước vết bệnh

- Khuẩn ty dạng xâu chuỗi hạt: gồm các tế bào ngắn, thắt lại ở nơi có các vách ngăn ngang Loại này tham gia vào việc thành lập hạch nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Nấm Rhizoctonia solani biến động về hình thái Nhóm hình thái được xác định

dựa vào sự bắt cặp vô tính của hai sợi nấm khác nhau Hai sợi nấm có nhóm hình thái khác nhau có thể bắt cặp vô tính khi tiếp xúc với nhau Nếu cùng nhóm hình thái hai sợi nấm dù tiếp xúc nhau cũng không bắt cặp được với nhau Đến nay người ta đã biết đến 12 nhóm hình thái khác nhau của nấm này: AG1 đến AG11 và AGB1 (Phạm Văn Kim, 2015)

Nấm Rhizoctonia solani sinh sản vô tính không hình thành bào tử mà hình thành

hạch nấm (Parmeter, 1970; Ou, 1985; CABI, 2007) Hạch nấm là một cấu trúc phức tạp được tạo ra do các sợi nấm cuộn lại, chúng có khả năng được duy trì sức sống

Trang 18

trong điều kiện môi trường không thuận lợi như: khô hạn, thiếu thành phần dinh dưỡng hay hóa chất độc hại (Ghaffer, 1993) Có thể nhìn thấy hạch nấm ngay trên vết bệnh, rất dễ dàng rơi và nổi trên mặt nước (CABI, 2007; Vũ Triệu Mân, 2007a; Gnanamanickam, 2009)

Trên môi trường thạch khoai tây (PDA), hạch nấm ban đầu có màu trắng, sau đó chuyển sang màu nâu hoặc nâu sậm theo thời gian với nhiều hình dạng (tròn, bầu dục, elip…), dẹp ở phía dưới và đa dạng về kích thước Đường kính hạch nấm từ 1 - 6 mm, nhiều hạch nấm có thể kết hợp với nhau tạo thành khối lượng lớn (Parmeter, 1970; Ou, 1985; CABI, 2007) Khi mới được hình thành, hạch nấm bị chìm trong nước, khi già mới có thể nổi trên mặt nước (Lee and Rush, 1983; CABI, 2007) Cụ thể, sau 15 ngày,

do các tế bào bên ngoài rỗng nên hạch nấm sẽ nổi trong nước Hầu hết các hạch nấm thành lập ngoài đồng đều nổi trên mặt nước sau khi thành lập được một tháng (Võ Thanh Hoàng, 1993) Kích thước của sợi nấm và hạch nấm khi nấm mọc trên môi trường nuôi cấy thường lớn hơn so với nấm mọc trên các mô ký chủ trong tự nhiên (Ou, 1985)

Nấm sinh sản hữu tính bằng đảm Đảm không vách ngăn, 10 – 15 x 7 – 9 micron, mấu đảm 4,5 – 7 x 2 -3 µm, có 2 – 4 cái trên mỗi đảm Đảm kích thước 8 - 11 x 6,5

Trang 19

Đặc điểm sinh lý

Agrios (2005) cho rằng nấm Rhizoctonia solani phát triển tốt nhất trong khoảng

nhiệt độ từ 15 – 18oC, tuy vậy vẫn có những chủng hoạt động ở nhiệt độ cao hơn trên

35oC Theo ghi nhận của Hemmi and Yokogi (1927), điều kiện nhiệt độ thích hợp cho

sự phát triển sợi nấm R solani là 30oC, tối đa 40 – 42oC, ở nhiệt độ 10oC sợi nấm phát

triển rất ít hoặc không phát triển Đến năm 1993, Matsumoto et al cho rằng nhiệt độ

thích hợp cho nấm phát triển là từ 28oC đến 31oC Hashiba et al (1974) cho thấy các

chủng thu thập ở vùng nhiệt độ cao thì phát triển tốt trên môi trường Potato Dextrose Agar (PDA) ở 35oC và phát triển kém ở 12oC Tuy nhiên, nhiệt độ ảnh hưởng lên sự phát triển của nấm còn thay đổi tùy theo chủng nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Năm 1974, Hashiba et al đã xác định pH thấp nhất, tối ưu và cao nhất cho sự phát triển của nấm lần lượt là 2,5; 5,4 - 6,7 và 7,8 (Hemmi and Yokogi, 1927; Matsumoto

et al., 1933; Hashiba et al., 1974; trích dẫn bởi Ou, 1985)

Nguồn đạm tốt nhất là arginine, threonine, glycine và ammonium sulfate Chất 2,4 – D có kích thích sự phát triển và làm tăng khả năng gây bệnh của nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993) Theo Santos (1970), thấy rằng một số nguồn carbon như: innositol và sorbitol cho tỉ lệ phát triển của hệ sợi nấm cao nhất

Điều kiện cho sự phát triển của hạch nấm 16 – 30oC, nhiệt độ tối hảo 28 - 30oC,

ẩm độ tương đối cao trên 95 - 96% là điều kiện cần thiết cho sự hình thành hạch nấm (Inoue and Uchino, 1963; trích dẫn bởi Ou, 1985) Võ Thanh Hoàng (1993) cũng cho biết nhiệt độ hạ đột ngột, tốc độ hình thành cũng gia tăng; trong điều kiện có ánh sáng, hạch nấm sẽ được thành lập nhiều Nguồn dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến số lượng

và kích thước hạch nấm, nếu dùng ammonium sulfate, hạch nấm sẽ không thành lập được

Phổ ký chủ

Nấm Rhizoctonia solani là loài nấm có phổ ký chủ rộng chúng có thể xâm nhiễm

32 họ cây trồng và 20 loài cỏ dại thuộc 11 họ (CABI, 2005) Theo Vũ Triệu Mân

(2007) thì nấm Rhizoctonia solani gây hại trên lúa là loại nấm bán kí sinh thuộc nhóm

AG 1 type 2 nhưng cũng có tính chuyên hóa rộng, phạm vi ký chủ trên 180 loài cây trồng khác nhau như lúa, đại mạch, đậu tương, ngô, mía, đậu đỗ, dâu,

Trang 20

Tại các tỉnh ĐBSCL, nấm R solani ngoài gây bệnh đốm vằn trên lúa, nấm còn

gây bệnh thối nhũn lá đậu nành, bệnh héo cây con đậu xanh, bệnh đốm vằn trên bắp và bệnh trên nhiều loại cây trồng khác (Võ Thanh Hoàng, 1993) Theo Phạm Hoàng Oanh

và cs (2004), trong cùng một khu vực, chúng ta có thể bắt gặp nấm này gây hại trên nhiều loài cỏ dại, trên lúa và trên các cây trồng khác lúa

Khả năng lưu tồn

Nấm Rhizoctonia solani có thể lưu tồn bằng sợi nấm hoặc hạch nấm trong đất, trong rơm rạ lúa bị nhiễm bệnh hoặc thực vật khác (Agrios, 2005; Burgess et al., 2009; Wamishe et al., 2012) Nấm có khả năng lưu tồn được trên 188 loài thực vật, thuộc 32

họ, trong đó có ít nhất 20 loài cỏ dại thuộc 22 họ

Hạch nấm chính là bộ phận lây lan chủ yếu của bệnh đốm vằn Hạch nấm mọc cơi trên mặt của bẹ lúa nơi có vết bệnh và rất dễ rơi xuống nước ruộng, nổi trên mặt nước hoặc hạch nấm rơi trên mặt đất ruộng và lưu tồn trong đất trong thời gian dài Bên cạnh hạch nấm, sợi nấm trong rơm rạ sau thu hoạch cũng giúp nấm bệnh tồn tại khá lâu và cũng là nguồn lây lan của bệnh đốm vằn (Phạm Văn Kim, 2015) Các sợi nấm trong tàn dư cây bệnh sẽ xâm nhiễm trực tiếp vào mô cây (Burgess và cs, 2009) Còn đối với hạch nấm, quá trình xâm nhiễm được lặp lại thường xảy ra qua tiếp xúc giữa hạch nấm và bẹ lá lúa

Thời gian tồn tại hạch nấm trong tự nhiên rất biến đổi và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ, hóa chất và các vi sinh vật đối kháng (Lê Lương Tề, 2000) Theo Vũ Triệu Mân (2007), hạch nấm có thể sống một thời gian dài sau thu hoạch lúa, thậm chí trong điều kiện ngập nước vẫn có tới 30% số hạch giữ được sức sống, nảy mầm thành sợi và xâm nhiễm gây bệnh cho vụ sau Hạch nấm sau khi nảy mầm nhiều lần, khả năng nảy mầm giảm dần từ 90% còn 13% đối với hạch nấm lớn và 3% đối với hạch nấm nhỏ (Ou, 1985) Trong điều kiện khô ráo và nhiệt độ phòng, hạch nấm có thể sống sót đến 20 tháng (Phạm Văn Kim, 2015)

Ở Nhật Bản, sợi nấm cũng như hạch nấm có thể tồn tại qua mùa đông, hạch nấm

có thể sống trong đất khô sau 21 tháng (Endo, 1931) Theo kết quả nghiên cứu của Bertus (1932) ghi nhận trong điều kiện nhiệt độ phòng đối với đất khô hạch nấm có thể sống ít nhất 130 ngày, đất ẩm khả năng sống tối thiểu 224 ngày Theo ghi nhận của Hori and Anraku (1971), 60 - 70% hạch nấm nhỏ hơn 1 cm được tìm thấy trên mặt đất

Trang 21

với khả năng sống sót 30 - 50% Tương tự, Roy (1976) cho biết sau 9 tháng tồn tại trong phân bò, rơm hạch nấm có thể sống sót trở lại (trích dẫn bởi Ou, 1985)

1.2.5 Sự lây lan, xâm nhiễm và gây bệnh

Sự lây lan

Bệnh đốm vằn lây lan bởi hạch nấm hoặc lây lan từ rơm rạ mắc bệnh và từ cỏ dại

có bệnh ở ven bờ ruộng Hạch nấm sinh ra từ vết bệnh ở bẹ lá lúa hoặc ở lá lúa, nhanh chóng rơi xuống nước ruộng và nổi trên mặt nước Bên cạnh các hạch nấm sinh ra từ lúa mắc bệnh, các hạch nấm của bệnh đốm vằn từ cỏ dại ven ruộng, ven bờ mương và cả ở những bụi lục bình trôi nổi trên sông rạch cũng là nguồn lây lan bệnh đốm vằn quan trọng Hạch nấm rơi trên mặt nước kinh rạch có thể vào ruộng trong lúc lấy nước tưới ruộng và xâm nhiễm gây hại cho lúa trong ruộng Các lá lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn khi tiếp xúc với các lá lúa khác cũng có thể lây cho lá lúa mạnh (Phạm Văn Kim, 2015)

Sự xâm nhiễm và gây bệnh

Chu kì bệnh bắt đầu từ hạch nấm lưu tồn trên ruộng, trên tàn dư (Lê Lương Tề, 2000), hoặc trong điều kiện ngập nước trên đồng ruộng, hạch nấm nổi trên mặt nước

và tiếp xúc với bẹ lá, nảy mầm và xâm nhiễm (Võ Thanh Hoàng, 1993) (Hình 1.2) Nấm thành lập 2 cơ cấu: (1) khối khuẩn ty cầu và từ các nhánh của cấu trúc này

sẽ phát triển vòi xâm nhiễm và (2) gối xâm nhiễm từ đây cũng hình thành vòi xâm nhiễm Chủ yếu nấm xâm nhiễm bằng vòi xâm nhiễm phát triển từ khối khuẩn ty cầu (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Hạch nấm nảy mầm, sợi nấm xâm nhiễm thông qua khí khổng hoặc thâm nhập trực tiếp qua cutin (Ou, 1985; Agrios, 2005) Muốn xâm nhiễm qua khí khổng, khuẩn

ty phải phát triển len lỏi vào mặt trong của bẹ lá và xâm nhập vào (Võ Thanh Hoàng, 1993) nhưng nấm có thể thâm nhập vào cả hai mặt của phiến lá (Ou, 1985)

Sau khi phát triển xong vết bệnh sơ cấp, sợi nấm phát triển ra bên ngoài và bên trong mô bệnh Vết bệnh phát triển theo chiều dọc lan rộng lên lá và theo chiều ngang lây qua các cây lân cận Khi các vết bệnh còn non, sợi nấm hoạt động tích cực và có khả năng gây bệnh nhất Trên các vết bệnh già đã bạc màu chỉ phát triển rất ít sợi nấm

và chúng không có khả năng gây bệnh cao (Ou, 1985)

Trang 22

Tiến trình bệnh bên trong cây có liên quan đến pectin transeliminase, các biến chuyển tinh bột và đạm bên trong bẹ lá thích hợp cho sự phát triển lên của nấm bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Gặp điều kiện thuận lợi, hạch nấm được hình thành Trong điều kiện tối, bệnh đốm vằn càng nghiêm trọng (Võ Thanh Hoàng, 1993; CABI, 2007)

Hình 1.2 Chu trình bệnh đốm vằn trên lúa (Nguồn: Wamishe et al., 2012)

Trong nghiên cứu, khi cắt hạch nấm thành 4, 8, 16 miếng, những miếng này có thể xâm nhập và tạo vết thương trên mô cây ký chủ, những miếng lớn sẽ tạo những vết bệnh lớn (Ou, 1985)

1.2.6 Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh

Thời điểm phát sinh bệnh

Bệnh xuất hiện vào giai đoạn cuối đẻ nhánh và bắt đầu làm đòng (Wamishe et al.,

2012), thường xuất hiện khi lúa đạt 45 ngày sau sạ và giai đoạn lúa 60 ngày tuổi (Võ Thanh Hoàng, 1993) Còn theo Vũ Triệu Mân (2007a) thì sự phát triển của bệnh ở thời

kỳ đầu cây mạ đến đẻ nhánh có mức độ ít, giai đoạn đòng trỗ đến chín sáp là thời kỳ nhiễm bệnh nặng Cây lúa có tuổi càng cao, càng dễ mẫn cảm với sự gây hại của bệnh

Trang 23

Võ Thanh Hoàng (1993) giải thích rằng lúa ở giai đoạn trổ, các chồi tiếp cận chặt, bệnh dễ lây lan; bẹ lá già không còn ôm chặt vào thân giúp nấm dễ phát triển vào mặt trong của bẹ lá để tấn công

Ở miền Bắc nước ta, bệnh gây hại nặng trong vụ mùa lớn hơn vụ Chiêm (Vũ Triệu Mân, 2007a) Còn ở ĐBSCL, bệnh đốm vằn nặng vào vụ hè thu và thu đông và nhẹ vào vụ đông xuân (Phạm Văn Kim, 2015)

Các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh

Bệnh gây hại nặng ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao (Võ Thanh Hoàng, 1993)

- Nhiệt độ: Điều kiện nhiệt độ thích hợp cho sự xâm nhiễm của nấm là 23 – 350C, tối ưu 30 – 320C, với ẩm độ khá cao 96 - 97% (Kazaka, 1965; được trích dẫn bởi Ou, 1985) Theo ghi nhận Endo (1930) cũng như Hemmi and Endo (1933) cho rằng ở nhiệt

độ 320C sự xâm nhiễm được hình thành trong 18 giờ và 280C trong 28 giờ với điều kiện ướt liên tục (Endo, 1930; Hemmi and Endo, 1933; được trích dẫn bởi Ou, 1985) Nhiệt độ khoảng 24 – 320C và pH = 5,5 tối ưu cho sự phát triển của bệnh (Gnanamanickam, 2009; Vũ Triệu Mân, 2007a) Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể phát sinh

ở nhiệt độ thấp (Lê Lương Tề, 1998)

- Mưa và ẩm độ: Bệnh đốm vằn trên lúa phát triển mạnh trong điều kiện mưa nhiều và ẩm độ cao Lượng mưa cao thì bệnh phát sinh phát triển mạnh, tốc độ lây lan nhanh Tốc độ lây lan lên các lá phía trên phụ thuộc vào lượng mưa và mực nước trên ruộng (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân, 2007; Nguyễn Trần Oách, 2007)

- Đất: Ở đất ẩm ướt bệnh sẽ nặng hơn đất khô (Agrios, 2005) Đất trồng nhiều

vụ lúa, ngập nước liên tục, không cài ải hay đất bị ngộ độc hữu cơ sẽ làm bệnh phát triển nặng hơn Mật độ sạ dày bị nặng hơn so với sạ thưa (Võ Thanh Hoàng, 1993) Chất natri có đặc tính ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh đốm vằn Do đó, vùng đất nhiễm mặn, có hàm lượng natri trong đất cao, ít bị bệnh đốm vằn hơn so với vùng ngọt (Phạm Văn Kim, 2015)

- Mật độ gieo sạ: Ruộng lúa được gieo sạ với mật độ cao, lúa giáp tán sớm sẽ tạo ẩm độ cao thích hợp cho sự phát triển của bệnh đốm vằn sớm hơn so với ruộng được sạ với mật độ thưa hơn (Phạm Văn Kim, 2015)

Trang 24

- Phân bón: Bón nhiều phân đạm và tập trung thúc đòng bệnh sẽ phát sinh và phát triển mạnh hơn Bón kali có tác dụng làm giảm mức độ nhiễm bệnh của cây (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân, 2007; Nguyễn Trần Oách, 2007) Bón phân lân với lượng quá cao sẽ thúc đẩy sự phát triển của bệnh (Phạm Văn Kim, 2015)

1.2.7 Quản lý bệnh

Hầu hết các giống lúa đều nhiễm bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani từ

trung bình đến nặng, chưa tìm thấy giống kháng bệnh này (Võ Thanh Hoàng, 1993;

Vũ Triệu Mân, 2007; Phạm Văn Kim, 2015) Để quản lý tốt bệnh đốm vằn có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như:

Vũ Triệu Mân (2007a) và Nguyễn Thị Kim Oanh (2008) khuyến cáo nên luân canh với cây trồng khác, ngay sau khi thu hoạch lúa cày sâu để vùi lấp hạch nấm Ngoài ra, phải gieo trồng đúng thời vụ, bón phân cân đối, hợp lý, tránh bón tập trung phân đạm đón đòng Gieo sạ với mật số vừa phải Hệ thống tưới tiêu chủ động không

để nước quá cao trong khi bệnh đang lây nhanh

Tại Indonesia, sử dụng kali có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh Gieo sạ với mật độ thích hợp sẽ làm giảm ẩm độ, nhiệt độ dưới tán cây và gia tăng sự thoát hơi nước và ánh sáng mặt trời tạo điều kiện bất lợi cho bệnh đốm vằn Tương tự

ở Việt Nam, mức độ bệnh có thể giảm nhờ loại bỏ cỏ dại, mật số gieo trồng thấp và sử

dụng cân đối phân bón NPK (CABI, 2007; Wamishe et al., 2012)

Rodrigues et al (2003) cho rằng sử dụng phân có chứa Silicon để kiểm soát

bệnh đốm vằn sẽ làm giảm chiều cao bệnh từ 24 – 52%, nhất là các vùng đất thiếu silicon Theo CABI (2007), cho thấy rằng Canxi có thể giúp cây trồng kháng lại bệnh đốm vằn

Trang 25

Biện pháp sinh học và thân thiện với môi trường

Ngày nay với xu hướng sản xuất lúa theo hướng bền vững, an toàn, các nhà khoa học nhiều nơi đã quan tâm nghiên cứu sử dụng các vi sinh vật đối kháng hoặc các biện pháp

thân thiệt với môi trường để quản lý bệnh đốm vằn hại lúa do nấm Rhizoctonia solani nhằm

kiểm soát bệnh một cách bền vững, an toàn với môi trường và con người như:

- Datta et al (2002) cho biết cây lúa biến đổi gene có khả năng kháng được bệnh đốm vằn Srinivasachary et al (2011) cho rằng đã có nhiều nghiên cứu xác định gene

kháng bệnh đốm vằn trên lúa, kể cả giống lúa bản địa, tuy nhiên chưa tìm được gene

nào kháng bệnh đốm vằn do nấm R solani, mặc dù một số mức độ kháng khác nhau

đã được báo cáo Đã có đưa ra giả thiết là cây lúa kháng bệnh đốm vằn do đặc tính sinh lý cây trồng

- Dịch trích thực vật:

+ Nguyễn Đắc Khoa và cs (2010) báo cáo rằng dịch trích từ lá cây cỏ hôi

Chromolaena odoreta khi được xử lý bằng biện pháp ngâm hạt hoặc phun lá có khả

năng giúp cây lúa khống chế được bệnh đốm vằn Khả năng này có thể kéo dài đến 21 ngày sau khi chủng bệnh

+ Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Dương (2012) sử dụng dịch trích cỏ hôi hạn chế bệnh đốm vằn trên lúa Các nghiệm thức ngâm hạt 2,5%, phun trên lá hoặc kết hợp ngâm hạt và phun lá đều cho khả năng khống chế bệnh đốm vằn tương đương với thuốc hóa học và khác biệt so với đối chứng, hiệu quả kích kháng được kéo dài đến 70 ngày sau sạ

- Sinh vật đối kháng: trong tự nhiên tồn tại rất nhiều sinh vật đối kháng với nấm

R solani như nhóm nấm đối kháng: Trichoderma spp., Gliocladium spp., Penicillium spp…, nhóm xạ khuẩn: Streptomyces spp…, và nhóm vi khuẩn đối kháng Baccillus subtilis, Pseudomonas arguginos, Pseudomonas flluorecens

+ Nấm Trichoderma: nấm Trichoderma spp được sử dụng rộng rãi trong phòng trừ sinh học để quản lý bệnh hại do R solani gây ra (Hardar et al., 1984) IRRI (1976)

đã báo cáo rằng các dòng Trichoderma spp thu thập trên ruộng lúa thì phổ biến ở lúa

rẫy hơn là lúa nước Với khả năng cạnh tranh cao các tàn dư thực vật trên đồng ruộng,

các dòng Trichoderma có thể làm cạn kiệt nguồn thức ăn và do đó ức chế nấm gây

Trang 26

bệnh đốm vằn R solani trong đất Tuy nhiên, các tác dụng ức chế cũng có thể thông

qua các hợp chất do nấm đối kháng tiết ra Khi nghiên cứu về hiện tượng siêu ký sinh

của các loài nấm đối kháng, Manibhushanrao et al (1989) đã quan sát thấy sợi nấm của T longibrachiatum hình thành một cấu trúc nhỏ móc vào sợi nấm R solani, sau đó

cuộn quanh sợi nấm ký chủ hoặc mọc ra những tơ nấm nhỏ buộc chặt ký chủ Lưu

Hồng Mẫn và Noda (1997) cho biết các chủng nấm Trichoderma spp được phân lập từ

những hệ thống canh tác khác trên nền đất lúa ở 4 tỉnh ĐBSCL chúng đều có khả năng

ký sinh trên nấm R solani được ly trích từ lúa, đậu nành, đậu xanh Nấm Trichoderma spp có chỉ số phân hủy rơm (cellulose) cao hơn nấm R solani Theo nghiên cứu của Naeimi et al (2010) ghi nhận hơn 200 chủng nấm Trichoderma được phân lập thì các chủng thuộc các chủng nấm Trichoderma harzianum, T virens và T atroviride cho

hiệu quả ức chế tốt nấm gây bệnh đốm vằn trong điều kiện phòng thí nghiệm Trong số

đó, chủng nấm T harzianum AS12-2 cho hiệu quả kiểm soát bệnh cao nhất và cao hơn

hoạt chất chống nấm propiconazole

+ Vi khuẩn vùng rễ:

Phạm Văn Kim và New (2003) cho biết vi khuẩn đối kháng Burkholderia cepacia TG17 (Pseudomonas fluorescens TG17) có khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm và hình thành hạch nấm R.solani, làm cho nấm R.solani không sinh được hạch

nấm qua đó giảm sự lưu tồn của nguồn bệnh trong ruộng

Nghiên cứu của Phạm Văn Dư và cs (2010) cho thấy sử dụng vi khuẩn đối kháng

Pseudomonas spp và Bacillus spp phun lên lúa liên tục 5 năm thì bệnh đốm vằn giảm

theo thời gian Vi khuẩn đối kháng làm giảm sức nẩy mầm của hạch nấm Phun vi khuẩn đối kháng 1-2 lần/vụ trước khi bệnh đốm vằn xuất hiện (trước 30 ngày sau cấy)

cfu/ml và (24,5 - 29,4 cm) mật số 108

Trang 27

cfu/ml, trong khi nghiệm thức đối chứng âm là (56,2 - 69,7 cm) và đối chứng dương

sử dụng hoạt chất carbendazim chiều cao tương đối của vết bệnh 16,8 - 19,8 cm Bên

cạnh đó, sử dụng vi khuẩn Bacillus subtilis MBI 600 ở mật số 109 cfu/ml đạt năng

suất (5922 - 6207 kg/ha) so với đối chứng (3925 - 4199 kg/ha)

Anitha and Das (2011) cho biết khi sử dụng kết hợp Trichoderma và Pseudomonas fluorescens với salicylic acid sẽ kích thích cây lúa tăng chiều cao và làm

giảm bệnh đốm vằn

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, 27 chủng xạ khuẩn thể hiện khả năng ức chế

sự phát triển khuẩn ty chủng nấm Rhizoctonia solani Các chủng CT-ST1b, KS-ST6b,

KS-ST8b, TO-VL4b, TO-VL11b, TO-VL6c, TB-VL2, TO-VL11d, CL-TG1, CB-TG1, CB-TG8, BM-VL9 có khả năng đối kháng cao Trong đó, chủng TO-VL4b có hiệu quả nhất (Ngô Thị Kim Ngân, 2014) Ba chủng xạ khuẩn CT-ST1b, TO-VL4b và TB-

VL2 có khả năng quản lý bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani trong điều kiện

nhà lưới Thời điểm phun xạ khuẩn kết hợp trước khi chủng bệnh 2 ngày + phun sau khi chủng bệnh 2 ngày cho hiệu quả phòng trị bệnh cao nhất, trong đó nghiệm thức TB-VL2 phun trước + phun sau cho hiệu quả cao trong quản lý bệnh, các chỉ tiêu nông học và thành phần năng suất cao và khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng (Đinh Hồng Thái, 2014)

Biện pháp hóa học

Theo CABI (2007), một số thuốc diệt nấm được ghi nhận là có hiệu quả kiểm soát bệnh đốm vằn và được sử dụng rộng rãi như: validamycin A (Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia và Nhật Bản), pencycuron (Malaysia) và jingangmycin

(Trung Quốc) (Mew et al., 2004)

Hoạt chất validamycin và polymyxin được sản xuất bởi chủng Streptomyces sp cũng được thương mại hóa nhằm kiểm soát bệnh đốm vằn và được sử dụng rộng rãi ở Nhật Bản (Gnanamanickam, 2009)

Sử dụng thuốc hoá học phòng trừ bệnh chỉ đạt hiệu quả cao khi bệnh mới phát sinh ở những bẹ lá già và thuốc hoá học phải phun tiếp xúc với tầng lá dưới và phải kết hợp với rút cạn nước trên đồng ruộng (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân, 2007; Nguyễn Thị Kim Oanh, 2008)

Trang 28

1.3 Sơ lược về giống lúa dùng trong thí nghiệm: Jasmine 85

1.3.1 Nguồn gốc

Tác giả và cơ quan tác giả: Đỗ Khắc Thịnh, Đào Minh Xô, Trương Thị Hoài Nam và Trần Tiến Khai – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam Nguồn gốc: Jasmine 85 (Dòng lai IR 841-85) được chọn tạo từ tổ hợp lai Pata/ TN 1// Khao dawk Mali của Viện nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) Phương pháp chọn lọc: Chọn lọc làm thuần giống, đưa ra khảo nghiệm và sản xuất thử từ năm 1993 (Nguyễn Văn Hòa

1.3.3 Yêu cầu kỹ thuật và tình trạng sử dụng

Thời vụ gieo trồng thích hợp nhất là vụ Đông Xuân Phạm vi phân bố: thích hợp vùng đất phù sa ngọt ở ĐBSCL hoặc đất xám vùng Đông Nam bộ; phù hợp sản xuất gạo đặc sản cho tiêu dùng trong nước hoặc xuất khẩu (Nguyễn Văn Hòa và cs, 2006)

Do lúa Jasmine 85 thích hợp canh tác trong vụ Đông xuân, có mùi thơm, chất lượng tốt để xuất khẩu; hơn nữa, giống này đang được thị trường ưu chuộng và phù hợp với thời tiết hiện tại ở các tỉnh Nam bộ (http://danviet.vn/nha-nong/khuyen-cao-tang-cuong-giong-lua-jasmine-85-vu-dong-xuan-2541.html) cho nên được gieo trồng

ở khắp các vùng sản xuất lúa ở ĐBSCL, trong đó có tỉnh Kiên Giang Với việc sản xuất giống lúa cấp nguyên chủng, trong năm 2016, Trung tâm giống Nông ngư nghiệp tỉnh Kiên Giang đã sản xuất được gần 340 ha, gồm các giống lúa có năng suất cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, chống chịu sâu bệnh khá và thích nghi với điều kiện sinh thái ở

Trang 29

địa phương, trong đó có giống lúa thơm Jasmine 85 nhằm phục vụ bà con trong tỉnh có giống lúa chất lượng để gieo trồng (http://bnews.vn/-chon-tao-san-xuat-nhieu-giong-lua-thich-ung-bien-doi-khi-hau/36418.html)

1.4 Sơ lược các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm

1.4.1 Thuốc Validan 5 SL

- Hoạt chất: Validamycin A

Tên hóa học: 1L (1,3,4/2,6) 2,3 dihidroxy 6 hydro xymetyl 4 (1S,4R,5S,6S) - 4,5,6 - trihydroxy - 3 - hydroxyl - metyl - cyclohex - 2 - enylamino) cyclohexylβ - D - gluco - pyranocide

Công thức hóa học: C20H35NO13

- Đặc tính: thuốc kỹ thuật ở dạng bột trắng, tan trong nước và nhiều dung môi hữu cơ Tương đối bền vững dưới nhiệt độ thông thường và trong dung dịch kiềm hoặc acid; bị phân giải dưới tác động của chất kiềm và ion kim loại (sắt) Thuốc thuộc nhóm độc IV; LD50 qua miệng: >20.000mg/kg, LD50 qua da: > 50.000mg/kg Thuốc không độc đối với ong mật và cá Thời gian cách ly: 5 ngày

- Công dụng: validamycin A là chế phẩm được sản xuất từ sự lên men

Streptomyces, có tác động kháng sinh, chủ yếu với các nấm Rhizoctoni, Corticium và Sclerotium gây ra các bệnh khô vằn, lở cổ rễ, héo rũ trên lúa, ngô, gừng, rau, dưa, đậu,

cà chua, khoai tây, cà phê và nấm hồng trên nhiều cây trồng như cao su, cà phê, cây ăn quả (Nguyễn Mạnh Chinh và cs, 2016)

Công ty phân phối: Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời

Trang 30

Công dụng: Thuốc dùng phòng trừ bệnh khô vằn, lem lép hạt lúa, bệnh đốm lá, gỉ sắt hại đậu, bệnh phấn trắng hại rau, bầu bí, bệnh thán thư, gỉ sắt cà phê, bệnh phấn trắng, gỉ sắt hại nho, bệnh phòng lá chè, bệnh phấn trắng và nấm hồng cao su, bệnh sẹo táo, bệnh phấn trắng, gỉ sắt cho cây hoa cảnh (Nguyễn Mạnh Chinh và cs, 2016)

Công ty phân phối: Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời

1.4.3 Tricô - ĐHCT 10 8 bt/g

Tính chất: Trichoderma là một loài nấm đất, phát triển nhiều trên các đất giàu

hữu cơ và trên tàn dư thực vật, là một loại nấm đối kháng quan trọng với nấm bệnh

Khi phát triển, nấm Trichoderma quấn lấy sợi nấm bệnh và tiết độc tố, làm nấm bệnh không phát triển được và chết Ngoài ra trong quá trình sống, nấm Trichoderma còn

giúp phân hủy các xác hữu cơ nhanh chóng hơn, làm tăng chất dinh dưỡng dễ hấp thụ cho cây, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt Thuốc thuộc nhóm độc IV (Nguyễn Mạnh Chinh và cs, 2016)

Sử dụng: Trichoderma sử dụng phòng trừ các loại nấm trong đất như

Rhizoctonia, Fusarium, Sclerotium, Phytopthora, Pythium, Botrytis, … gây bệnh khô

vằn hại lúa, ngô, bệnh thối rễ làm héo cây con và cây lớn đối với nhiều loại cây trồng (Nguyễn Mạnh Chinh và cs, 2016)

Công ty phân phối: Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời

Trang 31

Chương 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm thí nghiệm: Thí nghiệm được thực hiện ở phòng thí nghiệm Phòng trừ sinh học, nhà lưới Bộ môn Bảo vệ Thực Vật khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ

- Thời gian: thực hiện từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 06 năm 2017

2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chủng nấm gây bệnh khô vằn Rhizoctonia solani phân lập từ đồng ruộng Kiên Giang

+ Giống lúa Jasmine 85 cung cấp bởi Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long

- Môi trường nuôi cấy:

Water agar (WA) (Burgress et al., 2009)

Trang 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thu mẫu bệnh và phân lập nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn Thu thập mẫu bệnh

Thu thập mẫu bệnh là những bụi lúa bị bệnh đốm vằn trên ruộng lúa ở một số huyện và thành phố như Châu Thành, Gò Quao, Giồng Riềng và thành phố Rạch Giá trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Mỗi mẫu bệnh sau khi thu thập được đưa vào trong các túi nylon riêng biệt ứng với mỗi xã của mỗi huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Sau

đó ghi chú lại địa điểm thu thập cũng như giống lúa Mẫu bệnh được phân lập ngay trong ngày hoặc một ngày sau đó

Phương pháp phân lập nấm bệnh

Mẫu bệnh được phân lập theo phương pháp của Burgess và et al (2009):

1 Chọn vị trí mô giao giữa mô khỏe và vết bệnh đốm vằn, cắt một đoạn và khử trùng bề mặt bằng cồn 700

2 Dùng dụng cụ đã khử trùng cắt mô bệnh thành những mẫu nhỏ (rộng khoảng 5 mm)

3 Khử trùng những mẫu cấy nhỏ này bằng cồn 700 trong 30 giây, rửa lại với nước cất thanh trùng và để khô trên giấy thấm vô trùng

4 Tiếp tục, chuyển những mẫu này vào môi trường nghèo dinh dưỡng Water agar Đặt đĩa cấy ở nhiệt độ phòng

5 Kiểm tra đĩa cấy hàng ngày, khi các tản nấm phát triển từ những mẫu cấy, tách ròng chúng sang môi trường PDA

6 Cuối cùng, cấy truyền từ đỉnh sợi nấm vào ống nghiệm chứa môi trường PDA

để mặt nghiêng và trữ nguồn ở nhiệt độ 4o

C - 8oC

Nhận dạng nấm Rhizoctonia solani phát triển từ mẫu phân lập và trên môi

trường nuôi cấy

- Sợi nấm Rhizoctonia solani có màu trắng khi còn non, khi già thì chuyển dần

sang màu nâu, đường kính sợi nấm từ 8 - 12 µm và sợi nấm được phân thành nhiều nhánh, vách ngăn ngang được thành lập ở những khoảng cách xa nhau (Parmeter,

1970; Ou, 1985; Agarwal et al., 1989; Võ Thanh Hoàng, 1993)

Trang 33

- Sợi nấm phát triển nhanh, phân nhánh gần vách ngăn của tế bào sợi nấm, sợi nấm phân nhánh vuông gốc hoặc 45o và thắc eo ngay vị trí phân nhánh (Agrios, 2005; CABI, 2007; Gnanamanickam, 2009)

2.3.2 Khảo sát đặc điểm nuôi cấy của các chủng nấm Rhizoctonia solani

Mục tiêu thí nghiệm: Tìm hiểu về đặc điểm hình thái và nuôi cấy của các chủng

nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa thu thập tại tỉnh Kiên Giang

Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được tiến hành trên đĩa petri trong phòng thí nghiệm với 10 chủng

Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa được thu thập tại địa bàn tỉnh Kiên

Giang, mỗi chủng nấm bố trí 5 lần lặp lại (5 đĩa)

Các chủng nấm Rhizoctonia solani được nuôi trong đĩa Petri chứa 10 ml môi

trường PDA trong 24 giờ, dùng dụng cụ đục lỗ đường kính 5 mm đục lấy khoanh nấm

từ mép rìa tản nấm chuyển vào giữa đĩa petri chứa 10 ml môi trường PDA Quấn parafin để tránh xâm nhiễm và tạo ẩm độ

- Cho đến khi nấm hình thành hạch nấm ghi nhận:

+ Thời gian bắt đầu hình thành hạch nấm

+ Quá trình hình thành hạch nấm

+ Cách mọc và phân phố của hạch nấm trên đĩa

+ Đặc điểm hạch nấm: kích thước, hình dạng và màu sắc của hạch nấm Kích thước của hạch nấm được đo ngẫu nhiên 30 hạch nấm, sau đó lấy số lớn nhất và nhỏ nhất trong dãy số đo để có được một khoảng kích thước nhất định Kích thước này được tính bằng đơn vị mm

Trang 34

2.3.3 Đánh giá khả năng gây hại của nấm Rhizoctonia solani

Mục tiêu thí nghiệm: Xác định được chủng nấm có khả năng gây bệnh đốm với

mức độ cao trên giống lúa Jasmine 85

Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 chủng

nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa được thu thập tại địa bàn tỉnh Kiên

Giang với giống lúa Jasmine 85, thực hiện 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 chậu lúa được trồng 3 bụi

Tiến hành:

- Chuẩn bị chậu và đất: Chậu nhựa được dùng trong thí nghiệm có đường kính

25cm (diện tích bề mặt đất/ chậu S= 0,049m2) Đất được thu từ lớp đất mặt của ruộng lúa, phơi khô và đập nhỏ rồi đem thanh trùng nhiệt ướt 2 lần ở nhiệt độ 1210

C trong 30 phút, cách nhau 24 giờ, sau đó cho vào chậu (cân 5kg đất/chậu) Đất trong chậu được ngâm nước khoảng 5 ngày, xả nước mỗi ngày để rửa phèn và cho đất ổn định, sau đó tiến hành gieo hạt

- Chuẩn bị giống và chăm sóc:

+ Giống lúa dùng trong thí nghiệm: giống Jasmine 85 (nguyên chủng) được sử

dụng để đánh giá khả năng gây bệnh của các chủng nấm Hạt giống được xử lý trong nước muối 15% rồi ngâm trong nước ấm 54oC (3 sôi 2 lạnh) 15 phút rửa sạch rồi phơi khô lại Sau đó đem ngâm trong nước 24 giờ và ủ 36 giờ trong tủ ủ Hạt lúa nảy mầm được gieo trong chậu, mỗi chậu gieo 5 hạt và giữ lại 3 cây/chậu lúc lúa được 10 ngày tuổi

+ Chăm sóc: lượng phân được quy ra để bón cho diện tích chậu từ công thức

phân với tỉ lệ N - P2O5 - K2O là 120 – 40 - 40 kg/hecta (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008), cụ thể là 0,588g- 0,196g- 0,196g/chậu Các loại phân được sử dụng: Ure (46% N), DAP (18% N, 46% P2O5), KCl (60% K2O) Phân được hòa vào nước tưới đều cho tất cả các chậu, quy trình bón phân như sau:

 Bón thúc đợt 1 (8 NSKG): bón 30% lượng đạm, 50% lượng lân và 30% lượng kali

 Bón thúc đợt 2 (20 NSKG):bón 30% lượng đạm, 50% lượng lân, 30% lượng kali

 Bón đón đòng (40 NSKG): bón 30% lượng đạm, 30% lượng kali

Trang 35

 Bón nuôi hạt (55 NSKG): bón 10% lượng đạm, bón 10% lượng kali

Giữ mực nước thường xuyên trong chậu là 2,5cm, nhằm hạn chế thấp nhất sự gây hại của sâu rầy và sự lây nhiễm của các mầm bệnh khác

- Chuẩn bị nguồn nấm: Mười chủng nấm được nuôi cấy trong môi trường PDA,

nhân sinh khối trên môi trường trấu gạo

- Chủng bệnh nhân tạo: lúa được trồng đến giai đoạn 40 ngày tuổi thì tiến hành

cân (5g) môi trường trấu gạo có chứa các chủng nấm rãi giữa góc của mỗi bụi lúa trong các chậu lúa đã được trồng chuẩn bị trước Các chậu được để nơi mát, phun sương mỗi ngày ít nhất 3 lần (50 ml/chậu) giúp cho bệnh phát triển

Chỉ tiêu ghi nhận

- Ghi nhận thời gian xuất hiện vết bệnh đầu tiên trên giống lúa Jasmine 85

- Ghi nhận hình dạnh, màu sắc vết bệnh và thời gian hình thành hạch nấm trên lúa (nếu có)

Chiều cao cây (CC Cây)

Trang 36

Trong đó: n1, n3 … n9 lần lượt là số chồi cây lúa bị nhiễm bệnh ở cấp 1, 3 …, 9 theo thang đánh giá của IRRI (1996):

Cấp 0: Không có vết bệnh

Cấp 1: Chiều cao tương đối vết bệnh ít hơn 20% chiều cao cây

Cấp 3: Chiều cao tương đối vết bệnh từ 20 - 30% chiều cao cây

Cấp 5: Chiều cao tương đối vết bệnh từ 31 - 45% chiều cao cây

Cấp 7: Chiều cao tương đối vết bệnh từ 46 - 65% chiều cao cây

Cấp 9: Chiều cao tương đối vết bệnh trên 65% chiều cao cây

2.3.4 Nghiên cứu khả năng phòng và trị bệnh đốm vằn của thuốc sinh học trong điều kiện nhà lưới

Mục tiêu thí nghiệm: Xác định thuốc sinh học với thời điểm xử lý thuốc cho

hiệu quả tốt trong phòng trị bệnh đốm vằn trên lúa tốt ở điều kiện nhà lưới

- Nghiệm thức 3 (NT3): thuốc Validan 5SL (Vamidamycin A) phun trước 1 ngày

và sau 3 ngày khi chủng bệnh

- Nghiệm thức 4 (NT4): Tricô-ĐHCT phun một ngày trước khi chủng bệnh

- Nghiệm thức 5 (NT5): Tricô-ĐHCT phun sau 3 ngày khi chủng bệnh

- Nghiệm thức 6 (NT6): Tricô-ĐHCT phun trước 1 ngày và sau 3 ngày khi chủng bệnh

- Nghiệm thức 7 (NT7): Evitin 50SC (Hexaconazole 50g/l) phun một ngày trước khi chủng bệnh

Trang 37

- Nghiệm thức 8 (NT8): Evitin 50SC (Hexaconazole 50g/l) phun sau 3 ngày khi chủng bệnh

- Nghiệm thức 9 (NT9): Evitin 50SC (Hexaconazole 50g/l) phun trước 1 ngày và sau 3 ngày khi

- Nghiệm thức 10 (NT9): Nước cất thanh trùng phun trước 1 ngày khi chủng bệnh

- Nghiệm thức 11 (NT11): Nước cất thanh trùng phun sau 3 ngày chủng bệnh

- Nghiệm thức 12 (NT12): Nước cất thanh trùng phun trước 1 ngày và sau 3 ngày khi chủng bệnh

Mỗi lần lặp lại là 1 chậu lúa được trồng 3 bụi Lúa được trồng đến giai đoạn 40 ngày tuổi thì tiến hành làm thí nghiệm

Tiến hành:

- Chuẩn bị chậu và đất: tương tự như thí nghiệm 2

- Chuẩn bị giống và chăm sóc: tương tự như thí nghiệm 2

- Chuẩn bị nguồn nấm: Chủng nấm có khả năng gây hại cao (được chọn ra từ

thí nghiệm 2) được nuôi cấy trong môi trường PDA, nhân sinh khối trên môi trường trấu gạo

- Chủng bệnh nhân tạo: tương tự như thí nghiệm 2

- Xử lý thuốc: các thuốc sinh học và hóa học được xử lý theo từng nghiệm thức

trình bày ở trên với nồng độ khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất

Chỉ tiêu ghi nhận

- Ghi nhận số chồi bị bệnh và từ đó tính tỷ lệ bệnh Đo chiều cao vết bệnh và chiều cao cây Từ đó tính ra chiều cao tương đối vết bệnh (RLH) Từ RLH, đánh giá mức độ nhiễm bệnh (chỉ số bệnh - CSB) dựa theo thang đánh giá của IRRI (1996)

(tương tụ như thí nghiệm 2)

- Thu hoạch lúa khi chín và ghi nhận các chỉ tiêu về thành phần năng suất (số

bông/chậu, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc/bông) và năng suất thực tế/chậu

2.3.5 Phân tích số liệu

- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS và so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức qua phép thử Duncan

Trang 38

Đối với số liệu phần trăm (như tỷ lệ chồi bị bệnh, chỉ số bệnh) cần biến đổi bảng

số liệu trong từng thời điểm lấy chỉ tiêu trước khi thống Cách biến đổi số liệu phần trăm trong Excel khi nhập bảng số liệu:

+ Trường hợp 1: Số liệu phần trăm trong từng thời điểm lấy chỉ tiêu thuộc trong đoạn [0 - 30%] hoặc [70 - 100%] thì biến đổi:

Khi X khác 0% và khác 100%, biến đổi thành: sqrt (X)

Khi X = 0%, biến đổi thành: sqrt (1/(4*n))

Khi X = 100%, biến đổi thành sqrt (100 - 1/(4*n))

+ Trường hợp 2: Số liệu phần trăm trong từng thời điểm lấy chỉ tiêu thuộc trong đoạn [30 - 70%] thì không cần biến đổi

+ Trường hợp 3: Số liệu phần trăm trong từng thời điểm lấy chỉ tiêu không thuộc

2 trường hợp trên thì biến đổi:

Khi X khác 0% và khác 100%, biến đổi thành: degrees(asin(sqrt (X)))

Khi X = 0%, biến đổi thành : degrees(asin(sqrt (1/(4*n)/100)))

Khi X = 100%, biến đổi thành: degrees(asin(sqrt ((100 - 1/(4*n))/100)))

Trong đó, n là cỡ mẫu quan sát

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Thu mẫu bệnh và phân lập nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn

3.1.1 Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh đốm vằn trên ruộng ghi nhận được khi thu mẫu bệnh

Triệu chứng bệnh ở điều kiện ngoài đồng được ghi nhận là trên bẹ lá, vết bệnh ban đầu có hình bầu dục hoặc dạng trứng, dài khoảng 1cm, có màu xám đến xanh rêu nhạt Các vết bệnh có thể liên kết thành mảng lớn, dài tới 2 cm trở lên, kích thước và hình dạng không đồng đều, tạo nên các vết vằn da hổ Trung tâm vết bệnh thường có màu xám nhạt, mép viền sậm hơn và thường có màu nâu (Hình 3.1A và B)

Bệnh nặng có thể làm cháy rụi gần như toàn bộ các lá chân và lan lên các lá bên trên (Hình 3.1 C và D) Lá bệnh có triệu chứng tương tự như trên bẹ và ở các lá gần bẹ

bị bệnh bên dưới thường bệnh lan rộng ra chiếm phần lớn diện tích phiến lá (Hình Hình 5.1D) Hạch nấm nhỏ màu trắng cũng được ghi nhận là có xuất hiện trên bụi lúa bệnh ở gần hoặc ngay trên vết bệnh và dễ rơi rụng khi bị tiếp xúc (Hình 3.1E)

Bệnh thường phát sinh ở những ruộng ven bờ mương, kênh rạch có nhiều lục bình; đặc biệt, ở các ruộng sạ dày, màu lúa xanh đậm Vị trí trên ruộng hay bị bệnh là những cụm lúa dày, xanh tốt hay cặp ven bờ hay chỗ các cửa ngõ thoát nước ra vào mương của ruộng Điều này phù hợp với nhận định của Phạm Văn Kim (2015) là nguồn nấm bệnh từ cỏ dại ven ruộng, ven bờ mương và cả những bụi lục bình trôi nổi trên sông rạch là nguồn lây bệnh đốm vằn quan trọng trên ruộng lúa; sạ dày và bón đạm với hàm lượng cao sẽ tạo điều kiện thích hợp cho bệnh đốm vằn phát triển Hạch nấm trôi nổi trên nước kênh rạch, mương có thể theo các đường nước dẫn vào ruộng

và xâm nhiễm gây hại cho lúa trong ruộng

Ngoài ra, kết quả khảo sát ngoài đồng còn cho thấy giai đoạn lúa hay bị bệnh đốm vằn là từ đẻ nhánh tối đa đến đồng trỗ hay vào giai đoạn hạt chín sáp Theo Võ Thanh Hoàng (1993), vào các giai đoạn này, bẹ lá già không còn ôm chặt vào thân trong khi các chồi lúa tiếp xúc với nhau gần hơn nên nấm bệnh dễ phát triển vào mặt trong của bẹ lá để tấn công cũng như lây lan bệnh qua các chồi và bụi lúa Ou (1985),

Vũ Triệu Mân (2007) và Phạm Văn Kim (2015) cũng nhận định rằng khi cây lúa trở

Trang 40

nên già (trưởng thành) hơn, chúng sẽ dễ mẫn cảm với bệnh đốm vằn hơn, các điều kiện ngoại cảnh ở các giai đoạn sinh trưởng về sau có ảnh hưởng lớn đến mức độ và tác hại của bệnh

Hình 3.1 Triệu chứng bệnh đốm vằn trên các bộ phận cây lúa ở điều kiện ngoài đồng: (A), (B) Trên bẹ lá, (C) Trên lá, (D) Lá chân bị cháy rụi do bệnh, (E) Hạch nấm nhỏ li ti

màu trắng hình thành trên vết bênh

3.1.2 Phân lập các chủng nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên lúa

Mẫu bệnh có triệu chứng điển hình của bệnh đốm vằn trên lúa được thu thập trên những ruộng với các giống lúa khác nhau tại các huyện Châu Thành, Gò Quao, Giồng Riềng và thành phố Rạch Giá, thuộc tỉnh Kiên Giang Kết quả phân lập được 10 chủng

nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn trên 6 giống lúa (Bảng 3.1)

Ngày đăng: 17/10/2018, 22:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w