1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương đốm trắng quang mắc cài trong điều trị nắn chỉnh răng

97 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua điều tra sơ bộ các bệnh nhân đang điều trị chỉnh răng ở khoa nắn chỉnh răng Viện răng hàm mặt trung ương Hà Nội, bộ môn nắn chỉnh răng - Viện đào tạo răng hàm mặt, khoa răng hàm mặt

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khuôn mặt đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển cá nhân, những người có khuôn mặt hài hòa có xu hướng tự tin hơn những người có khuôn mặt không hài hòa Răng là thành phần chính góp phần vào sự không hài của khuôn mặt đặc biệt là khoảng cách giữa các răng, răng chen chúc, răng xoay [1]

Với sự hiểu biết hiện nay về cơ sinh học trong nắn chỉnh răng, ứng dụng các thành tựu của các ngành khoa học vào việc tạo ra vật liệu và khí cụ nắn chỉnh răng đã giải quyết phần lớn các vấn đề về răng, mặt để cải thiện tính thẩm mỹ của khuôn mặt

Cũng như mọi điều trị y khoa khác, khí cụ chỉnh răng ngoài tác dụng điều trị cũng có một số nguy cơ làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị nắn chỉnh răng [2], [3], [4] đó là:

- Mất khoáng hoá men răng hay tổn thương đốm trắng

- Phản ứng của mô quanh răng: viêm lợi, tiêu xương ổ răng, tụt lợi

- Gãy vỡ men răng

- Phản ứng tuỷ răng

- Tiêu chân răng

Mất khoáng men răng là một trong những nguy cơ phổ biến nhất trên bệnh nhân nắn chỉnh răng đặc biệt trên nhóm bệnh nhân sử dụng khí cụ nắn chỉnh răng cố định Theo tác giả Gorelick và cộng sự (1982), 49,6% bệnh nhân xuất hiện TTĐT sau quá trình điều trị nắn chỉnh răng [5] Theo tác giả Sagarika và cộng sự (2012), tỷ lệ mắc TTĐT trên bệnh nhân nắn chỉnh răng là 75,6%, trong khi tỷ lệ mắc TTĐT trên bệnh nhân trước khi điều trị chỉnh răng

là 15,6% [6]

Trang 2

Các khí cụ nắn chỉnh răng làm cho việc chải răng, dùng chỉ nha khoa gặp khó khăn vì vậy số lượng mảng bám vi khuẩn và thức ăn dư tăng lên Men răng sẽ bị mất khoáng bởi axit hữu cơ, một sản phẩm của vi khuẩn gây sâu răng [7]

Biểu hiện của sự mất khoáng là những đốm màu trắng sữa xuất hiện trên bề mặt men răng, làm cho bề mặt men răng không đồng nhất Nếu không điều trị có thể dẫn tới sâu răng làm ảnh hưởng đến sức khỏe và thẩm mỹ của hàm răng

Qua điều tra sơ bộ các bệnh nhân đang điều trị chỉnh răng ở khoa nắn chỉnh răng Viện răng hàm mặt trung ương Hà Nội, bộ môn nắn chỉnh răng - Viện đào tạo răng hàm mặt, khoa răng hàm mặt - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, tôi nhận thấy có sự xuất hiện các TTĐT xung quanh mắc cài, đặc biệt những bệnh nhân được nắn chỉnh răng từ 3 tháng trở lên Tuy nhiên, thực trạng TTĐT của những bệnh nhân này như thế nào, những yếu tố nào liên quan tới sự xuất hiện các TTĐT ở họ vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp, bởi tính đến nay, tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về các vấn đề này trên nhóm bệnh nhân gắn khí cụ nắn chỉnh răng Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương đốm trắng quanh mắc

cài trong điều trị nắn chỉnh răng” với mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ mắc tổn thương đốm trắng quanh mắc cài trên răng vĩnh viễn ở các bệnh nhân nắn chỉnh răng sau 3 tháng điều trị

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tổn thương đốm trắng quanh mắc cài trong điều trị nắn chỉnh răng

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cấu trúc giải phẫu và mô học men răng trưởng thành

1.1.1 Trụ men: Là đơn vị cấu trúc của men răng có thể quan sát được dưới

kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử, được định nghĩa là một trụ tạo bởi các tinh thể và được bao bọc ở phía nhai (của mỗi trụ) bởi bao trụ Trụ men chạy liên tục từ đường nối men ngà đến mặt ngoài của răng Trên lát cắt

ngang trụ men có nhiều hình thể: lục giác, tròn, bầu dục, hình lỗ khóa [8]

Hình 1.1 B: Lát cắt dọc trụ men; A: Lát cắt ngang trụ men

Hình 1.2 Cấu trúc tổng quát của men răng

Trang 4

- Tinh thể của trụ men: Các tinh thể của men răng trưởng thành hình

trụ dẹt, rộng 30-90 nm, dày 20-60 nm, dài thay đổi từ vài đến hang chục µm Thành phần hóa học của các tinh thể chủ yếu là những canxi, phốtpho loại apatite (Ca10[PO4]6[OH]2), trong đó Fluor hoặc Clo thay thế nhóm hydroxyl (OH), một lượng nhỏ Mg, Clo, Na, K, F… Tỷ lệ Ca/P = 1,8:1-2:1

- Bao trụ: Toàn bộ các tinh thể bị vùi trong một khuôn hữu cơ vô định

hình dạng gel Khuôn hữu cơ bao đầu trụ men, ở phía tiếp xúc môi trường

miệng gọi là bao trụ Khuôn này chiếm 1-2% thể tích của của men trưởng thành Bao trụ dày 0,1-0,2 µm và có thể thấy được dưới kính hiển vi điện tử

1.1.2 Kích thước và mật độ trụ men

Chiều dài trụ men theo chiều từ đường nối men ngà đến mặt ngoài răng khoảng 9 µm Chiều ngang trụ trung bình khoảng 5µm, nhỏ hơn ở phía ngà răng Số lượng trung bình khoảng 20.000-30.000 /mm2 Ở ranh giới men ngà mật độ trụ cao hơn khoảng 10%

1.1.3 Thành phần hóa học của men răng

Chất vô cơ chiếm 96%, chủ yếu là (Ca10 [PO4]6 [OH]2), 4% còn lại là nước và các muối cacbonat của magiê và một lượng nhỏ clo, fluor và muối sunfat của natri và kali Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó chủ yếu là protein Fluor có mặt trong men răng với một lượng thay đổi, hàm lượng cao nhất ở 50µm của lớp men bề mặt ngoài cùng khoảng 300-1200 ppm Những lớp men sâu hơn có hàm lượng fluor thấp hơn 20 lần Hàm lượng fluor thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố: Fluor trong nước uống, thức

ăn, kem chải răng…

1.1.4 Tính chất vật lý của men răng

- Men răng là bộ phận cứng nhất và giòn nhất trong cơ thể (260-360 độ cứng Knoop) Lớp men răng bề mặt cứng hơn men răng ở lớp trong do sự khoáng hóa lớp men răng bề mặt lớp hơn

Trang 5

- Màu của men trong hơi có ánh xanh xám - vàng nhạt Màu răng được quyết định bởi chiều dày lớp men, màu vàng nhạt của ngà, mức độ trong, tính đồng nhất của men Mức độ trong và tính đồng nhất của men phụ thuộc vào mức độ khoáng hóa và độ chắc của men răng

- Men răng có tính thấm và trao đổi ion, vì vậy những thay đổi hóa học

có thể diễn ra ở men răng

1.2 Khí cụ nắn chỉnh răng cố định

Khí cụ cố định là loại khí cụ gắn trực tiếp cố định lên răng gồm band, mắc cài, dây cung được phát minh năm 1915 bởi Edward H Angle, từ đó đến nay đã được cải tiến rất nhiều [2], [9], [10]

1.2.1 Mắc cài: Là vật gắn dính lên bề mặt răng

Cấu tạo chính gồm: Nền mắc cài, cánh mắc cài, rãnh mắc cài, đường trục dọc, điểm đánh dấu hướng về phía xa và phía lợi, móc dành cho các phụ kiện

Hình 1.3 Cấu tạo mắc cài

Các chỉ số về góc chìa, góc nghiêng, góc xoay đã được chỉnh sẵn trên mắc cài Rãnh mắc cài có tiết diện chữ nhật sẽ khớp với tiết diện chữ nhật của dây cung và dây cung sẽ chỉnh góc chìa và chân răng theo chiều môi - lưỡi đối với răng cửa và má - lưỡi với răng nanh và răng hàm Tương quan của nền rãnh mắc cài với nền của mắc cài tiếp xúc bề mặt răng sẽ qui định độ xoay theo trục của răng

Trang 6

Rãnh mắc cài theo chiều ngang cùng với dây cung tiết diện hình chữ nhật

sẽ qui định góc nghiêng của răng theo chiều gần xa

1.2.1.1 Phân loại mắc cài: Có nhiều cách phân loại mắc cài: mắc cài 6 cánh,

mắc cài 4 cánh Mắc cài làm bằng thép, titan, vàng hay mắc cài sứ Mắc cài

gắn mặt ngoài, mắc cài gắn mặt lưỡi, mắc cài tự buộc, mắc cài thường

Mắc cài thường:

Hình 1.4 Mắc cài thường

Mắc cài tự buộc:

Hình 1.5 Mắc cài tự buộc

Trang 7

- Phân loại theo vật liệu:

Mắc cài kim loại:

Hình 1.6 Mắc cài kim loại

Trang 8

- Hình dạng dây cung: dây cung phải được lựa chọn phù hợp với cung hàm của bệnh nhân để đảm bảo tính ổn định kết quả điều trị Trên thị trường

có nhiều dạng dây cung uốn sẵn:

+ Hợp kim niken - titanium (niti)

+ Hợp kim titan - molybden (TMA)

Mỗi loại vật liệu có đặc tính cơ học riêng về độ cứng, độ đàn hồi, độ dẻo được sử dụng cho mục đích khác nhau tùy giai đoạn điều trị

- Kích thước dây cung: mỗi loại dây cung có nhiều kích thước khác nhau Tùy từng giai đoạn điều trị mà ta chọn kích thước dây cung cho phù hợp:

Hình 1.9 Bộ vật liệu gắn mắc cài của 3M

- Mắc cài được dán với răng bằng composite lưỡng trùng hợp, hoặc hóa trùng hợp

Trang 9

1.2.4 Kỹ thuật dán mắc cài

Gắn trực tiếp trên răng qua các bước sau:

Hình 1.10 Quy trình gắn mắc cài

+ Soi mòn bề mặt men răng

+ Rửa sạch, thổi khô và chặn nước bọt

+ Dán mắc cài trực tiếp lên răng bằng nhựa dán hóa trùng hợp hoặc quang trùng hợp

+ Lấy chất gắn thừa xung quanh mắc cài

+ Chiếu đèn trong vòng 20 giây

1.3 Tổn thương đốm trắng

Định nghĩa: tổn thương đốm trắng là dấu hiệu đầu tiên của sâu răng, giới hạn trên bề mặt men răng và có thể trực quan (mắt thường) Hay nói cách khác sự mất khoáng làm cho lớp men răng dưới bề mặt bị xốp và biểu hiện là màu trắng đục như sữa trên bề mặt men răng [11], [12]

Các khí cụ chỉnh răng gây khó khăn trong việc làm sạch, làm tăng nguy

cơ tích tụ mảng bám trên men răng quanh mắc cài, cộng với việc vệ sinh răng

Trang 10

miệng kém làm tăng nguy cơ mất khoáng men răng dẫn đến TTĐT TTĐT có thể cản trở quá trình nắn chỉnh răng, ảnh hưởng đến sức khỏe và thẩm mỹ của hàm răng sau điều trị nắn chỉnh răng

1.3.1 Cơ chế bệnh sinh của tổn thương đốm trắng

Có nhiều thuyết giải thích cơ chế bệnh sinh của TTĐT như thuyết hóa học của Miller, thuyết Davies, thuyết tiêu protein của Gottlieb, thuyết protein phức vòng càng của Martin, Gần đây thuyết động học ra đời và được chấp nhận rộng rãi [13]

Theo thuyết động học thì huỷ khoáng và tái khoáng là 2 hiện tượng sinh lý luôn diễn ra cân bằng trên bề mặt men răng, nếu huỷ khoáng lớn hơn tái khoáng thì bệnh sâu răng sẽ hình thành Biểu hiện đầu tiên của sâu răng là TTĐT Các vi khuẩn trong mảng bám chuyển hóa carbohydrate tạo ra các axit hữu cơ làm môi trường xung quanh mảng bám có pH thấp, axit khuếch tán vào men răng, hòa tan các lớp tinh thể canxi và phốtpho của hydroxyapatite dẫn đến tổn thương trên bề mặt men răng Các tổn thương được tạo ra bởi khử khoáng có thể hồi phục bằng cách hấp thụ canxi, phốtpho và fluor trong nước bọt, tạo thành lớp mới trên bề mặt men răng, quá trình này gọi là sự tái khoáng

Sự cân bằng giữa hủy khoáng và tái khoáng diễn ra tự nhiên liên tục trong khoang miệng [14], [15], [16]

Hình 1.11 Band nắn chỉnh răng thiết kế để duy trì mảng bám và tháo band

sau 7 tuần tổn thương đốm trắng xuất hiện [17]

Tổn thương đốm trắng

Trang 11

Nếu sự cân bằng bị phá vỡ nghiêng về phía hủy khoáng sẽ hình thành các vùng mất khoáng và biểu hiện trên lâm sàng là TTĐT [17] Trong trường hợp nghiêng cán cân cân bằng về phía tái khoáng vùng mất khoáng sẽ được tái khoáng

Mắc cài gắn trên mặt răng tạo ra những vùng lắng đọng thức ăn carbonhydrate đồng thời giảm sự thâm nhập của nước bọt vào vùng đó Những vùng lắng đọng là nơi cư trú của vi khuẩn Streptococus mutans và Lactobacilli Smale (1981), báo cáo sự lắng đọng mảng bám trên bề mặt chất gắn thừa xung quanh mắc cài nhiều hơn trên bề mặt men răng, vị trí men răng phía bờ lợi có nhiều mảng bám hơn các vị trí khác, những bệnh nhân mang ligature bằng chun có lượng vi khuẩn Streptococus mutans, Lactobacilli nhiều hơn những bệnh nhân mang ligature bằng thép Vì vậy răng gắn mắc cài có nguy cơ bị hủy khoáng nhiều hơn răng bình thường [18]

Forsberg (1992), báo cáo ở một số bệnh nhân mang khí cụ chỉnh răng

có sự tăng dòng chảy nước bọt khi nghỉ ngơi Những bệnh nhân này có tỷ lệ TTĐT thấp mặc dù sự tích tụ mảng bám ở mức độ vừa phải, điều này chứng

tỏ nước bọt giúp tăng tái khoáng men răng [19]

Để tạo sự cân bằng giữa hủy khoáng và mất khoáng trên bệnh nhân chỉnh răng, cần xác định các yếu tố nguy cơ bị hủy khoáng như: Vệ sinh răng miệng kém, có tiền sử sâu răng nhiều, có chỉ số mảng bám cao, hay ăn vặt và uống nhiều nước có gas Sau đó hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh răng miệng, thay đổi thói quen ăn uống, rồi mới tiến hành chỉnh răng Trong quá trình chỉnh răng có thể cần sử dụng các chế phẩm có fluor, canxi, photpho [20]

Trang 12

1.3.2 Mô bệnh học tổn thương đốm trắng trên bề mặt men răng

+ Vùng 2 tối: số lượng lỗ chiếm 2-4% thể tích men

+ Vùng 3 trung tâm: số lượng lỗ chiếm 5-25% thể tích men

+ Vùng 4 bề mặt: ít có sự thay đổi ở các tổn thương sớm

Hình 1.13 Hình ảnh tổn thương men

răng trên kính hiển vi điện tử quét

(SEM), lát cắt ngâm trong nước

Hình 1.14 Hình ảnh tổn thương men răng trên kính hiển vi phân cực, lát

cắt ngâm trong quinolone

1.4 Tỷ lệ hiện mắc

Đã có nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ TTĐT trên bệnh nhân chỉnh răng với khí cụ cố định Tỷ lệ TTĐT được báo cáo dao động từ 36% đến

Tổn thương đốm trắng

Trang 13

97% [5], [21] Sự khác biệt trong các nghiên cứu là do phương pháp phát hiện TTĐT khác nhau như: Phương pháp trực quan (mắt thường), QLF, phát hiện qua ảnh

1.5 Một số yếu tố nguy cơ góp phần vào sự hình thành tổn thương đốm trắng trên bệnh nhân chỉnh răng

Một vài nghiên cứu đã báo cáo một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến

sự hình thành và phát triển TTĐT Nhưng cho đến nay vẫn chưa đánh giá được tất cả các yếu tố nguy cơ [22], [23], [24], [25] Sau đây tôi xin trình bày một số yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến TTĐT trên bệnh nhân chỉnh răng

- Vệ sinh răng miệng khó: các khí cụ nắn chỉnh răng cố định như, mắc

cài, dây cung, ligature làm cho việc làm sạch răng khó khăn, đồng thời những khí cụ này cũng hạn chế sự hoạt động tự làm sạch của môi, má, lưỡi

Do đó tăng sự tích lũy các mảnh vụn thức ăn trên bề mặt men răng cuối cùng tăng mảng bám vi khuẩn [26], [18]

- Giảm hiệu quả tái khoáng, tăng khả năng hủy khoáng của nước bọt:Hủy khoáng và tái khoáng men răng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của nước bọt như pH, tốc độ dòng chảy, khả năng đệm, khả năng cung cấp các ion F-, Ca2+, (PO4)3- vào men răng và mảng bám Mắc cài làm ảnh hưởng đến sự tiếp xúc của niêm má và bề mặt răng, làm giảm khả năng xâm nhập của nước bọt vào

bề mặt răng xung quanh mắc cài đặc biệt là các răng cửa hàm trên Vì vậy các

bề mặt răng mang mắc cài dễ bị hủy khoáng và hơn các răng không mang mắc cài [27]

- Tăng khả năng bám cặn trên bề mặt men răng: khi gắn mắc cài trên bề mặt răng, chu vi đế mắc cài gồ cao hơn bề mặt men răng, vùng ranh giới giữa đế mắc cài và men răng tạo thành các bẫy lưu giữ cặn thức ăn, các chất gắn thừa xung quanh đế mắc cài nếu không lấy bỏ cũng tạo thành các bẫy lưu giữ cặn thức ăn Làm tăng mảng bám vi khuẩn trên bề mặt men

Trang 14

răng Ngoài ra các khe, cánh mắc cài, bề mặt dây cung, ligature, bề mặt chất gắn thừa cũng là nơi lưu giữ cặn thức ăn và hình thành mảng bám vi khuẩn làm cho số lượng vi khuẩn Streptococcus mutans, Lactobacillus trong khoang miệng tăng lên [28], [29], [23]

1.6 Các phương pháp phát hiện tổn thương đốm trắng trên bệnh nhân chỉnh răng

1.6.1 Phương pháp trực quan (mắt thường)

Là phương pháp phát hiện tổn thương đốm trắng trên bề mặt men răng bằng mắt thường dưới ánh sáng đèn nha khoa Goreclick (1982), người đầu tiên sử dụng phương pháp trực quan (mắt thường) để xác định và đánh giá tổn thương đốm trắng trên bệnh nhân chỉnh răng sau khi đã thổi khô răng Tổn thương được chia 3 mức độ theo diện tích và độ xâm lấn men răng theo chiều sâu [5]:

+ 1: Tổn thương đốm trắng nhẹ với diện tích < 1/3 bề mặt thân răng phía ngoài

+ 2: Tổn thương đốm trắng nặng với diện tích ≥ 1/3 bề mặt thân răng phía ngoài

+ 3: Tổn thương đốm trắng đã hình thành lỗ sâu

Tổn thương đốm trắng nhìn rõ hay không phụ thuộc vào độ xốp của

men răng và sự khác biệt về chỉ số chiết suất giữa men răng, không khí, nước

Chiết suất của men 1.62, nước 1.33, không khí 1 Men răng trở nên xốp khi mất khoáng, nước hoặc không khí sẽ thay thế vùng mất khoáng Sự khác biệt chiết suất giữa 2 vật chất ảnh hưởng đến tán xạ ánh sáng và các tổn thương mất khoáng nhìn có màu trắng Sự khác biệt về chỉ số chiết suất giữa men và không khí lớn hơn giữa men và nước Vì vậy khi thổi khô răng chúng ta có thể phát hiện được TTĐT rõ hơn [30], [13]

Trang 15

Ưu điểm của phương pháp trực quan (mắt thường) là đơn giản, dễ thực hiện trên lâm sàng và nghiên cứu định tính Nhược điểm của phương pháp trực quan (mắt thường) là ít nhạy cảm với những thay đổi nhỏ và vừa của TTĐT do đó khó có thể sử dụng trong nghiên cứu định lượng, đặc biệt là trong nghiên cứu theo dõi dọc

Hình 1.15 Tổn thương đốm trắng trên lâm sàng

1.6.2 Phương pháp phát hiện qua ảnh

Chụp ảnh là phương pháp sử dụng máy ảnh, chụp bề mặt men răng ở các thời điểm khác nhau, sau đó quan sát trực tiếp trên ảnh hoặc đưa vào phần mềm để xác định và tính diện tích TTĐT Là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong thực hành lâm sàng

Ưu điểm của phương pháp chụp ảnh: lưu giữ dữ liệu được lâu, trung thực khách quan Được sử dụng trong nhiều loại nghiên cứu như: định tính, định lượng, theo dõi dọc đặc biệt mô tả TTĐT trước và sau khi điều trị chỉnh

Trang 16

răng Nhược điểm của phương pháp chụp ảnh: kém hiệu quả khi bệnh nhân đang chỉnh răng vì tổn thương bị mắc cài, dây cung che lấp [31]

1.6.3 Định lượng ánh sáng huỳnh quang (Quantitative light fluorescence – QLF)

QLF là phương pháp định lượng ánh sáng tạo ra từ sự phát quang men răng, khi men răng bị kích thích bởi ánh sáng có bước sóng 370 nm Phát quang là hiện tượng vật lý khi một vật chất bị kích thích bởi ánh sáng có bước sóng nhất định sẽ tạo ra ánh sáng có bước sóng khác Ánh sáng tạo ra từ sự phát quang gọi là ánh sáng huỳnh quang Mất khoáng men răng sẽ giảm bớt ánh sáng huỳnh quang so với men răng bình thường [32]

Phương pháp QLF có thể xác định được độ sâu, độ rộng, mức độ mất khoáng, tái khoáng của men răng Vì vậy phương pháp này được sử dụng trong nhiều loại nghiên cứu như: định định, định lượng và đặc biệt được sử dụng khi nghiên cứu sự tái khoáng của TTĐT sau điều trị nắn chỉnh răng

1.6.4 Laser huỳnh quang

Là phương pháp phân tích quang phổ của ánh sáng huỳnh quang phát ra

từ men răng Phương pháp này có thể phát hiện được tổn thương sâu răng với

độ chính xác trên 90%

Ưu điểm: đơn giản, dễ thực hiện

Nhược điểm: không xác định được độ rộng, độ sâu của tổn thương Kết quả không chính xác khi mất khoáng ít Mảng bám răng, các chất gắn thừa còn dính trên bề mặt men răng làm sai lệch kết quả [33]

1.6.5 Phương pháp giải phẫu bệnh: cắt lát soi trên kính hiển vi lập thể

Đây là tiêu chuẩn vàng để đánh giá TTĐT cả về định tính và định lượng Phương pháp này đòi hỏi phải nhổ răng, vì thế chỉ phù hợp trong

Trang 17

các nghiên cứu thực nghiệm mà không thể sử dụng trong phần lớn các nghiên cứu [34]

1.7 Dự phòng tổn thương đốm trắng trên bệnh nhân chỉnh răng

Nguy cơ mất khoáng trong khi nắn chỉnh răng cố định có thể được ngăn ngừa bằng cách:

- Cải thiện vệ sinh răng miệng, sử dụng phối hợp các phương pháp vệ sinh răng miệng khác nhau để kiểm soát mảng bám răng

- Tăng cường sức đề kháng của men răng với các axit của vi khuẩn bằng cách sử dụng fluor tại chỗ

- Các biện pháp hỗ trợ khác

1.7.1 Kiểm soát mảng bám bằng cơ học

Kiểm soát mảng bám bằng chải răng với bàn chải thích hợp kết hợp với chỉ tơ nha khoa là biện pháp quan trọng và phù hợp với bệnh nhân chỉnh răng để đạt được vệ sinh răng miệng tốt [35] Sử dụng bàn chải điện hoặc bàn chải nước kết hợp với chải răng bằng tay có hiệu quả hơn chỉ sử dụng bằng tay Sử dụng chỉ tơ nha khoa để làm sạch vùng tiếp xúc giữa các răng hoặc bàn chải kẽ răng

được dùng phối hợp với chải răng để kiểm soát mảng bám răng tốt hơn [36]

1.7.2 Tăng cường sự tái khoáng bằng cách sử dụng Fluor tại chỗ

* Cơ chế

- Fluor ức chế sự khử khoáng: thành phần hóa học chính của men răng

là Hydroxyapatite và fluorapatite, bị hòa tan khi pH giảm dưới mức pH tới hạn, pH tới hạn của Hydroxyapatite là 5,5 và pH tới hạn của Fluorapatite là 4,5 Fluor thâm nhập vào bề mặt men bảo vệ sự phá hủy các apatite bằng cách tạo thành các tinh thể fluorapatite trên bề mặt men răng, như vậy Fluor đảm bảo không có sự khử khoáng diễn ra cho đến khi môi trường xung quanh răng đạt được pH tới hạn 4,5 Nguồn fluor trong men răng không đủ để chống lại

Trang 18

sự mất khoáng, các nguồn cung cấp khác: Như thức ăn, nước uống, kem chải răng [8], [37], [38], [39]

- Fluor giúp tăng cường tái khoáng: khi pH từ 5,5 trở lên, nước bọt bão hòa với ion Ca2+ và (PO4)3-, sự tái khoáng xảy ra, Fluor hấp thụ lên bề mặt của các tinh thể bị mất khoáng một phần và kéo theo các ion Ca2+, (PO4)3 cuối cùng tạo ra bề mặt tái khoáng mới và bề mặt này kháng axit hơn [39]

- Fluor có thể ức chế hoạt động của vi khuẩn: Fluor không thể vượt qua màng tế bào vi khuẩn ở dạng ion hóa của nó, trong môi trường axit, ion F- kết hợp với ion H+ tạo thành HF dễ dàng khuếch qua màng tế bào vi khuẩn Trong tế bào HF bị phá vỡ giải phóng các ion F-, các ion này gây cản trở các hoạt động chuyển hóa cần thiết của vi khuẩn [40]

- Fluor có thể được lưu giữ lại trong khoang miệng và giải phóng từ từ sau khi sử dụng các chế phẩm có fluor như Kem chải răng có fluor, vecni fluor, vật liệu hàn răng, nước súc miệng có fluor, chun tại chỗ có tẩm fluor [41] Fluor lưu giữ trên mô cứng của răng, niêm mạc miệng hoặc trong mảng bám răng sẽ giải phóng chậm làm giảm sự mất khoáng và tăng tái khoáng trên

men răng [42]

* Các dạng sử dụng:

- Kem chải răng có fluor: Todd và cộng sự (1999), cho thấy rằng bệnh

nhân chỉnh răng nếu chỉ chải răng hàng ngày với kem chải răng có fluor hàm lượng thông thường < 1500 ppm sẽ không ngăn được sự hình thành TTĐT

xung quanh mắc cài [43]

- Dung dịch súc miệng Fluor: Geiger và cộng sự (1990) nhận thấy súc

miệng hàng ngày với dung dịch fluor (NaF 0,05% hoặc 0,2%), làm giảm 25%

tỷ lệ TTĐT trong suốt quá trình mang khí cụ chỉnh răng cố định [44] Boyd

Trang 19

(1993) báo cáo sau 2 tuần xúc miệng hàng ngày với NaF thì lượng fluor trong

nước bọt tăng lên [45]

- Gel fluor: nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng ZnF2, APF 1,23% dạng gel giảm tỷ lệ TTĐT, năm 1993 tác giả Boyd thử nghiệm nhóm chỉ chải răng với kem chải răng có fluor nồng độ 1100 ppm và nhóm thứ 2 chải răng kết hợp xúc miệng dung dịch NaF 0,05%, và nhóm 3 chải răng kết hợp sử dụng gel ZnF2 thấy nhóm 2 và 3 chống được mất khoáng hóa trên men răng cao hơn nhóm 1 [45]

- Vecni fluor: trong nghiên cứu dọc sau 3 năm theo dõi Azarpazhooh

(2008) kết luận sử dụng fluor vanish 6 tháng 1 lần là tốt nhất và đạt hiệu quả cao cho nhóm nguy cơ cao bị mất khoáng hóa [46] Demito và cộng sự (2011) cho thấy nếu không dùng fluor vanish thì có sự tăng mất khoáng hóa 32% so với nhóm sử dụng 2 lần 1 năm giảm 30-50% TTĐT [47]

- Các cách sử dụng khác: ngoài ra fluor còn được sử dụng trong xi măng gắn band, bonding, chun chuỗi hoặc chun tại chỗ, chun liên hàm với mục đích giải phóng fluor từ từ để phòng TTĐT

1.7.3 Các biện pháp hỗ trợ khác để dự phòng tổn thương đốm trắng

- Sử dụng hiệu ứng Hawthorne: theo hiệu ứng này ý nghĩa của việc tham gia và thực hiện các yêu cầu của một nghiên cứu có thể thay đổi hành vi của đối tượng Feil (2002), thấy rằng giảm điểm số mảng bám sau 3 tháng sử dụng hiệu ứng Hawthorne trên bệnh nhân chỉnh răng [48]

- Sử dụng nước súc miệng diệt khuẩn: theo Tufekci và cộng sự (2008),

sử dụng Listerine cùng chế độ vệ sinh răng miệng hàng ngày làm giảm mảng bám, giảm tỷ lệ viêm lợi ở những bệnh nhân chỉnh răng so với chỉ chải răng

và dùng chỉ tơ nha khoa [49]

Trang 20

- Laser Argon: Laser Argon thay đổi cấu trúc tinh thể của men răng vì vậy giảm sự mất khoáng hóa khi chỉnh răng Blankenau và cộng sự (1999), bằng thực nghiệm cho thấy chiều sâu bề mặt men răng giảm 29,1% so với nhóm chứng khi cho mất khoáng [50]

- Sử dụng mắc cài tự buộc: khi sử dụng mắc cài tự buộc lượng vi khuẩn trong mảng bám răng ít hơn so với dùng loại mắc cài thường [25]

- Nhai kẹo cao su có chứa Xylitol: Xylitol là một carbohydrate có hàm lượng calo thấp, Streptococus mutans không thể chuyển hóa, khi nhai kẹo làm tăng lượng nước bọt có tính chất làm sạch mảng bám răng, tăng nồng độ canxi và phot phát trong môi trường miệng [51]

- Sử dụng CPP-ACP (Casein phosphopeptides Amorphous calcium

phosphate): CPP là peptide có nguồn gốc sữa được tạo phức với canxi và phốtpho CPP liên kết với bề mặt mảng bám, vi khuẩn, mô mềm và ngà răng (do tính chất dính của nó), tạo nguồn cung cấp canxi và phốtpho trong nước bọt và trên bề mặt của răng ACP được giải phóng từ phức hợp CPP-ACP khi môi trường miệng có tính axit, đặc biệt axit được tạo ra dưới mảng bám do hoạt động của vi khuẩn, vì vậy CPP-ACP là chất đệm dưới mảng bám và giải phóng ra các ion Ca2+ và (PO4)3- Cuối cùng làm tăng pH dưới mảng bám và giảm hủy khoáng, tăng ion Ca2+, (PO4)3- dưới mảng bám duy trì tình trạng bão hòa của các ion tạo điều kiện cho sự tái khoáng [52] CPP-ACP có hiệu quả tái khoáng cao hơn so với dùng dung dịch fluor [53], [54]

1.8 Điều trị tổn thương đốm trắng

- Liệu pháp tái khoáng: nếu tổn thương đốm trắng xuất hiện trong khi điều trị chỉnh răng được khuyên nên để tái khoáng tự nhiên Willmot (2004), báo cáo gần một nửa trong số các TTĐT ban đầu sẽ tái khoáng sau 6 tháng

mà không cần điều trị; Fluor không được sử dụng ở nồng độ cao vì nó vừa tái khoáng vừa làm răng xỉn màu; ở nồng độ thấp fluor có thể hỗ trợ tái khoáng

Trang 21

[55] Các nghiên cứu gần đây cho thấy CPP-ACP cũng có hiệu quả tái khoáng thậm chí còn cao hơn sử dụng fluor [54], [53]

- Tẩy trắng răng bề mặt: được chỉ định khi liệu pháp tái khoáng không kết quả và TTĐT không hoạt động, tẩy trắng để ngụy trang làm giảm bớt sự tương phản giữa TTĐT và phần còn lại của bề mặt men răng là bước tiếp theo Khi tẩy trắng răng, vùng men răng bình thường thay đổi độ trắng nhiều hơn sự thay đổi ở vùng men răng bị TTĐT Vì vậy sau tẩy trắng vùng TTĐT

và men răng bình thường có độ chiết quang gần như nhau do đó độ tương phản giữa TTĐT và men răng bình thường giảm [56]

- Mài mòn men răng vi thể: phương pháp này được chỉ định sau khi tẩy trắng răng không thành công Sử dụng axit Clohydric 18% trộn với bột đá mịn dùng đài cao su và tay khoan chậm mài mòn bề mặt tổn thương 30 giây sau đó rửa sạch với nước, chu trình mài mòn và rửa được lặp đi lặp lại 3-4 lần trên TTĐT Là phương pháp hiệu quả nhất được Akin và Basciftci (2012), báo cáo giảm 97% TTĐT sau điều trị, là phương pháp hiệu quả nhất so với nhóm chải răng với kem có fluor giảm 45% TTĐT, xúc miệng với dung dịch fluor 0,025% giảm 48%, dùng CPP-ACP giảm 58% [53]

- Phục hồi có xâm lấn bằng veneer trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc chụp toàn phần là giải pháp cuối cùng nếu bệnh nhân thấy cần thiết phải tiếp tục cải thiện thẩm mỹ khi TTĐT không thể bị loại bỏ hoàn toàn

Trang 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Khoa răng hàm mặt bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, Trung tâm kỹ thuật cao - Viện đào tạo răng hàm mặt

-Thời gian: Từ 2-2014 đến 12-2014

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân đang điều trị nắn chỉnh răng bằng khí cụ cố định từ 3 tháng trở lên trên hàm răng vĩnh viễn

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân đang điều trị nắn chỉnh răng bằng khí cụ cố định từ 3 tháng trở lên trên hàm răng vĩnh viễn

- Bệnh nhân chỉ sử dụng biện pháp vệ sinh răng miệng thông thường

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có tiền sử nắn chỉnh răng trước đây

- Bệnh nhân có sử dụng biện pháp dự phòng TTĐT như: súc miệng với dung dịch fluor, gel fluor, vecni fluor, chải răng với kem chải răng có hàm lượng > 1.500 ppm, các chế phẩm CPP – ACP …

- Bệnh nhân bị dị tật bẩm sinh khe hở môi - vòm miệng, u, nang xương hàm, chậm phát triển trí tuệ, bệnh tự kỷ, trầm cảm

- Bệnh nhân không hợp tác khám, không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Trang 23

2.4 Thiết kế nghiên cứu

Lựa chọn bệnh nhân từ

hồ sơ đến tái khám

Điều trị < 3 tháng Bệnh nhân gắn mắc cài từ ≥ 3

tháng trên hàm răng vĩnh viễn phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn

Phỏng vấn

Đồng ý tham gia nghiên cứu

Trả lời bảng câu hỏi

Trang 24

+ n: Là cỡ mẫu

+ P: Là tỷ lệ đốm trắng trên bệnh nhân nắn chỉnh răng, được xác định

từ nghiên cứu của Fida và Khan (2010), với p =0,75 [58]

+ ∆: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể, chúng tôi chọn ∆ = 0,07

+ α: Là mức ý nghĩa thống kê, chúng tôi chọn α =0,05

+ Giá trị Z thu được từ bảng Z, với α = 0,05  Z²(1-α/2) = (1.96)²

Từ công thức trên chúng tôi tính được n = 147, làm tròn thành 150 bệnh nhân

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu thuận tiện [57]: chọn bệnh nhân đang điều trị nắn chỉnh răng bằng khí cụ cố định được trên 3 tháng tại trung tâm khám chữa bệnh kỹ thuật cao - Viện đào tạo Răng Hàm mặt – Trường Đại học Y Hà Nội, Khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện Đại Học Y Hà Nội

Trang 25

2.4.3 Các biến số nghiên cứu

2.4.3.1 Các biến số về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến số về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Tên biến Định nghĩa Phương pháp thu

Tuổi Tính theo năm sinh tính

tới lúc bắt đầu điều trị Tra cứu bệnh án

Bệnh án của khoa Giới Phân biệt nam và nữ Quan sát Phiếu khám Thời gian

điều trị

Tính từ khi bắt đầu gắn mắc cài tới lúc khám Tra cứu bệnh án

Bệnh án của khoa

Lý do nắn

chỉnh răng

Phân 2 loại: thẩm mỹ và

Loại mắc cài Phân loại: tự buộc,

thường, kim loại, sứ Quan sát Phiếu khám

Trang 26

1.4.3.2 Các biến số phục vụ mục tiêu 1: Xác định tỷ lệ mắc TTĐT quanh mắc

cài trên răng vĩnh viễn ở các bệnh nhân nắn chỉnh răng sau 3 tháng điều trị

độ tổn thương, vị trí

- Răng bị TTĐT khi có ít nhất 1 trong 4 vị trí bị TTĐT

- Bệnh nhân bị TTĐT khi

có ít nhất 1 răng bị TTĐT

Quan sát Phiếu khám

1.4.3.3 Các biến số phục vụ mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan đến

TTĐT quanh mắc cài trong điều trị nắn chỉnh răng

Gồm các biến tuổi, giới, thời gian điều trị, các loại mắc cài đã trình bày

ở phần các biến số về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Ngoài ra còn các biến số khác được trình bày ở bảng dưới

Trang 27

1 răng có chất gắn thừa

Quan sát Phiếu khám

Cặn bám

Xác định có hay không cặn thức ăn quanh mắc cài tại thời điểm khám Bệnh nhân có cặn bám khi có ít nhất 1 răng có cặn bám

Quan sát Phiếu khám

Viêm lợi

Xác định có hay không tình trạng viêm lợi Bệnh nhân bị viêm lợi khi có ít nhất 1 răng bị viêm lợi

Quan sát Phiếu khám

2.4.4 Kỹ thuật thu thập thông tin

- Tra cứu bệnh án: lấy đầy đủ các thông tin theo phiếu tra cứu bệnh án

ở phụ lục 01

- Phỏng vấn: theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn (phụ lục 02)

Trang 28

* Banh miệng, máy chụp ảnh kỹ thuật số

* Tay khoan chậm, chổi cước

+ Biện pháp vô khuẩn:

Trang phục bảo vệ: áo Blu, mũ, khẩu trang, găng khám vô khuẩn

Từng loại dụng cụ được tiệt trùng và bảo quản trong tủ bảo quản dụng cụ

Trang 29

* Tổn thương đốm trắng

Trong nghiên cứu này tôi chọn phương pháp xác định TTĐT bằng mắt thường với quy trình tiến hành như sau: bề mặt răng được làm sạch với chổi cước sau đó thổi khô, quan sát bằng mắt tìm tổn thương màu trắng đục trên bề mặt men răng phía môi/má Trên mỗi răng các tổn thương được đánh giá như sau:

Trang 30

* Ngoài ra tổn thương được phân loại theo vị trí như sau [58]

Hình 2.3 phân loại vị trí tổn thương đốm trắng

* Chất gắn thừa xung quanh mắc cài:

Là chất gắn mắc cài còn thừa trên bề mặt răng xung quanh mắc cài, phát hiện bằng mắt và đánh giá như sau:

0: Không có chất gắn thừa tất cả các răng được kiểm tra

1: Có chất gắn thừa ít nhất 01 răng trong 20 răng được gắn mắc cài

1

2

Trang 31

Hình 2.4 Chất gắn thừa xung quanh mắc cài

Trang 32

2.4.6 Hạn chế sai số

Tôi đã tự thực hiện việc thu thập thông tin nhằm hạn chế tối đa các sai

số do điều tra viên như sai số do không hiểu rõ bộ câu hỏi, sai số do diễn đạt không chính xác

Ngay sau khi thu thập thông tin ở từng bệnh nhân, tôi đã kiểm tra nhanh

để đảm bảo tính đầy đủ và tính hợp lý của số liệu trước khi kết thúc việc nghiên cứu trên mỗi bệnh nhân

8% số phiếu được nhập (tương ứng với 12 phiếu điều tra) đã được kiểm tra ngẫu nhiên và cho thấy kết quả nhập liệu là chính xác

2.4.7 Đạo đức nghiên cứu

- Trước khi thực hiện nghiên cứu, bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân của họ (với những bệnh nhân <18 tuổi) được thông báo trước về mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu này chỉ thực hiện trên những người đã hiểu rõ về nghiên cứu

và tự nguyện tham gia nghiên cứu 3 bệnh nhân phù hợp tiêu chuẩn nghiên cứu nhưng không đồng ý tham gia đã được loại khỏi nghiên cứu này

- Sau khi thực hiện xong nghiên cứu, gửi kết quả lại cho bệnh viện

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi đã thu thập các thông tin về nhân khẩu – xã hội học, thông tin về tình trạng TTĐT, và các yếu tố liên quan Sau đây là kết quả nghiên cứu trên tổng số 150 bệnh nhân đã được điều trị nắn chỉnh răng từ 3 tháng trở lên tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và trung tâm kỹ thuật cao viện đào tạo Răng Hàm Mặt

3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Các bệnh nhân đã được hỏi về ngày sinh, nghề nghiệp, thời gian bắt đầu điều trị, lý đo nắn chỉnh răng… Sau đây là một số đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu này

3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi

Nhận xét: Bệnh nhân < 18 tuổi chiếm tỷ lệ 58,7%; 18-24 chiếm tỷ lệ 26,0%,

tỷ lệ thấp nhất là nhóm bệnh nhân > 24 tuổi 15,3% Như vậy phân bố bệnh nhân theo từng lứa tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi không đều, bệnh nhân

ít tuổi nhất là 10 tuổi bệnh nhân lớn tuổi nhất là 44 tuổi

Trang 34

3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới

Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo giới

Nhận xét: Tỷ lệ nữ chiếm 67,3% (101 bệnh nhân); nam chiếm 32,7%

(49 bệnh nhân) Như vậy bệnh nhân nữ chỉnh răng cao gấp đôi bệnh nhân nam

3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo thời gian điều trị

Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh nhân theo thời gian điều trị

Nhận xét:

- Nhóm bệnh nhân chỉnh răng được 3-6 tháng chiếm tỷ lệ 27,3%; nhóm 7-12 tháng 26%; nhóm > 12 tháng 46,7% Như vậy phân bố bệnh nhân theo thời gian điều trị trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi không đều giữa các nhóm; gần một nửa số bệnh nhân được điều trị > 12 tháng, số còn lại chia gần đều cho 2 nhóm còn lại

Trang 35

- Thời gian điều trị trung bình của nhóm nghiên cứu là 14,43 tháng, thời gian điều trị tối thiểu là 3 tháng, tối đa là 70 tháng

3.1.4 Lý do điều trị nắn chỉnh răng

Biểu đồ 3.4 Lý do nắn chỉnh răng

Nhận xét: Hầu hết các bệnh nhân tham gia nghiên cứu này nắn chỉnh

răng vì lý do thẩm mỹ (98%) Chỉ có một số ít bệnh nhân nắn chỉnh răng vì các lý do khác như: đau khớp thái dương hàm, viêm lợi (2%)

150 100%

Trang 36

3.2 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng

3.2.1 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng trên bệnh nhân nắn chỉnh răng

* Tỷ lệ tổn thương đốm trắng trên bệnh nhân

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng tính trên bệnh nhân

Nhận xét: Bệnh nhân bị TTĐT chiếm tỷ lệ 48,7% trong mẫu nghiên

cứu, 51,3% bệnh nhân không hình thành TTĐT Như vậy gần 1/2 mẫu nghiên cứu bị TTĐT

* Tỷ lệ tổn thương đốm trắng trên số răng

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng tính trên răng

Nhận xét: Răng bị TTĐT chiếm tỷ lệ 16,3% trong số 2703 răng được khám

Trang 37

Nhận xét: Trong số 440 răng bị TTĐT, không có răng nào tiến triển thành lỗ sâu

3.2.3 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng ở hàm trên và hàm dưới

Bảng 3.3 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng ở hàm trên và hàm dưới

18,0%

201 14,6%

440 16,3%

Số răng không bị TTĐT 1087

82,0%

1176 85,4%

2263 83,7

100%

1377 100%

2703 100%

Nhận xét:

- Hàm trên: răng bị TTĐT chiếm tỷ lệ 18% trong số 1326 răng được khám

- Hàm dưới: răng bị TTĐT chiếm tỷ lệ 14,6% trong số 1377 răng được khám

Trang 38

3.2.4 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng ở từng cung răng

Bảng 3.4 Phân bố tổn thương đốm trắng theo cung răng

100 14,5%

101 14,7%

440 16,3

80,4%

555 83,6%

590 85,5%

586 85,3%

2263 83,7%

100%

664 100%

690 100%

687 100%

2703 100%

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng trên từng cung răng

Trang 39

trước

Nhóm R sau

Nhóm R trước

Nhóm răng sau

18,8%

72 16,5%

145 16,1%

56 11,7%

440 16,3%

81,2%

365 83,5%

753 83,9%

423 88,3%

2263 83,7%

100%

437 100%

898 100%

479 100%

2703 100%

Nhận xét: Trong 4 nhóm răng thì nhóm răng trước hàm trên có tỷ lệ

TTĐT cao nhất 18,8%, tiếp theo là nhóm răng sau hàm trên và nhóm răng trước hàm dưới với tỷ lệ gần 16%, thấp nhất là ở nhóm răng sau hàm dưới 11,7%

62 21,5%

44 25,9%

28 10,5%

43 14,3%

46 15,4%

56 18,6%

39 18,0%

17 6,5%

440 16,3%

Không 253

84,3%

242 80,7%

227 78,5%

126 74,1%

239 89,5%

257 85,7%

252 84,6%

244 81,4%

178 82%

245 93,5%

2263 83,7%

Tổng 300

100%

300 100%

289 100%

170 100%

267 100%

300 100%

298 100%

300 100%

217 100%

262 100%

2703 100%

Trang 40

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng từng răng

Nhận xét: Biểu đồ trên cho thấy tỷ lệ răng bị TTĐT phân bố như sau:

- Tỷ lệ 25,9% là tỷ lệ cao nhất gặp ở R4 hàm trên

- Tỷ lệ sấp xỉ 20% gặp ở R2,3 hàm trên và R3,4 hàm dưới

- Tỷ lệ sấp xỉ 15% gặp ở R1 hàm trên, R1,2 hàm dưới

- Tỷ lệ sấp xỉ 10% gặp ở R5 hàm trên và thấp nhất là R5 hàm dưới 6,5%

3.2.7 Tỷ lệ tổn thương đốm trắng ở từng vị trí xung quanh mắc cài

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ TTĐT theo từng vị trí xung quanh mắc cài

Nhận xét: Qua biểu đồ trên cho thấy TTĐT hay xuất hiện ở vị trí phía

lợi (73,2%) sau đó là vị trí phía gần (10,9%), vị trí phía xa (9,5%) và ít gặp nhất là vị trí phía rìa cắn hoặc phía mặt nhai (6,4%)

Ngày đăng: 11/03/2018, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w