1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG, KIẾN THỨC THÁI độ THỰC HÀNH và một số yếu tố LIÊN QUAN đến QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế của cán bộ y tế tại VIỆN HUYẾT học TRUYỀN máu TRUNG ƯƠNG, năm 2017

147 267 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 9,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Theo quy định về quản lý chất thải y tế được Bộ y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN VĂN THANH

CHUYÊN NGÀNH : Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ : 60720301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS TS Doãn Ngọc Hải

Trang 2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Bản cam đoan

Mục lục

Tóm tắt luận văn

Danh mục các ký hiệu, viết tắt, các bảng, các hình vẽ

ĐẶT VẤN ĐỀ .1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .3

1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế .3

1.1.1 Định nghĩa .3

1.1.2 Phân loại chất thải y tế .4

1.1.3 Nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe .6

1.1.4 Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế .9

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới .10

1.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế .12

1.2.2 Quản lý chất thải rắn y tế .13

1.3 Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam .14

1.3.1 Nhận định chung .14

1.3.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện .15

1.3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại Viện Huyết học – Truyền máu TW 20

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .25

2.1 Đối tượng nghiên cứu .25

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu .25

2.3 Thiết kế nghiên cứu .25

2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu: .25

2.5 Phương pháp thu thập số liệu .26

2.5.1 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng .26

2.5.2 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính .27

Trang 3

2.7 Cách đánh giá kiến thức, thực hành quản lý CTYT của NVYT .27

2.8 Sai số, biện pháp không chế sai số .29

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .31

3.1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế .31

3.2 Kiến thức – thái độ - thực hành về phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn của đối tượng nghiên cứu 34

3.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .34

3.2.2 Kiến thức về phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý CTRYT của đối tượng nghiên cứu .36

3.2.3 Thái độ đúng về phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý CTRYT của đối tượng nghiên cứu .43

3.2.4 Thực hành về quản lý chất thải rắn của đối tượng nghiên cứu .45

3.3 Các yếu tố liên quan đến hoạt động phân loại, thu gom QLCTR 46

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49

4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn tại Viện .49

4.1.1 Dụng cụ, trang thiết bị đựng, thu gom, vận chuyển chất thải 49

4.1.2 Thực trạng phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải .53

4.2 Kiến thức – thái độ - thực hành của nhân viên y tế về phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, chất thải rắn y tế .58

4.3 Bàn luận một số yếu tố liên quan .60

4.4 Hạn chế và ưu điểm của nghiên cứu .61

4.4.1 Hạn chế của nghiên cứu .61

4.4.2 Ưu điểm của nghiên cứu .61

KẾT LUẬN 63

KHUYẾN NGHỊ .65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

Ký hiệu từ viết tắt Nội dung

Trang 5

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện .16

Bảng 3.1: Thực trạng dụng cụ, bao bì thu gom, phương tiện vận chuyển 31

Bảng 3.2: Thực trạng phân loại chất thải rắn .31

Bảng 3.3: Thực trạng thu gom chất thải rắn .32

Bảng 3.4: Thực trạng lưu giữ chất thải rắn y tế .32

Bảng 3.5: Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế .33

Bảng 3.6: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .34

Bảng 3.7: Kiến thức đúng về phân loại CTRYT của đối tượng nghiên cứu .36

Bảng 3.8: Kiến thức đúng về thu gom CTRYT của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.9: Kiến thức đúng về lưu giữ CTRYT của đối tượng nghiên cứu .39

Bảng 3.10: Kiến thức đúng về vận chuyển CTRYT của đối tượng nghiên cứu 40

Bảng 3.11: Kiến thức đúng về xử lý CTRYT của đối tượng nghiên cứu 41

Bảng 3.12: Thái độ đúng về các hoạt động quản lý CTRYT của đối tượng nghiên cứu .43

Bảng 3.13: Mối liên quan giữa các thông tin chung của đối tượng nghiên cứu với các hoạt động quản lý chất thải rắn y tế 46

Bảng 3.14: Mối liên quan giữa các thông tin chung của đối tượng nghiên cứu với kiến thức phân loại chất thải rắn y tế .47

Bảng 3.15: Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải và thực hành phân loại chất thải rắn y tế .48

Trang 6

Biểu đồ 3.1: Kiến thức quản lý chất thải rắn y tế .42

Biểu đồ 3.2: Kiến thức đạt về PL, TG, VC, LG chất thải .42

Biểu đồ 3.3: Thái độ đúng về quản lý chất thải y tế .45

Biểu đồ 3.4: Thực hành về phân loại chất thải y tế của NVYT .45

Biểu đồ 3.5: Thực hành về thu gom CTRYT .46

Trang 7

Sơ đồ 1.1: Tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe và môi trường .6

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ quản lý chất thải rắn y tế tại Viện .23

Sơ đồ 1.3: Khung lý thuyết: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế 24

Trang 8

Hình 4.1: Dụng cụ thu gom chất thải .50 Hình 4.2: Sử dụng xe vận chuyển chất thải tại khoa .52

Hình 4.3: Dụng cụ vận chuyển chất thải sắc nhọn 56

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàngđầu của ngành y tế Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các cơ sở y tế đặcbiệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải rắn baogồm cả chất thải lây nhiễm và chất thải độc hại Các nghiên cứu dịch tễ họctrên thế giới đã chứng minh, các chất thải này có ảnh hưởng trực tiếp đến sứckhoẻ cán bộ, nhân viên y tế và cộng đồng dân cư nếu như không được quản lýđúng cách [22].

Thành phần của chất thải rắn y tế có chứa một lượng lớn các vi sinh vậtgây bệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơthể con người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da (do trầy xước,

tổn thương), qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hoá…

[12] Các chất thải là vật sắc nhọn còn có khả năng gây tổn thương kép chocác đối tượng phơi nhiễm Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, tỷ lệ nguy cơ lâynhiễm bệnh HBV khi bị tổn thương do kim tiêm đã qua sử dụng của bệnhnhân là 30%, HCV là 1,8% và HIV là 0,3% [24] Hiện nay trong quá trìnhphát triển, chất thải y tế chưa thật sự được quan tâm đúng mức Nhiều quốcgia trên thế giới, chất thải y tế và chất thải y tế nguy hại vẫn được xử lý chungvới các chất thải thông thường điều đó đã tạo ra các nguy cơ sức khoẻ đối vớicon người và môi trường xung quanh[21] Kết quả đánh giá của tổ chức y tếthế giới (WHO) năm 2002 được tiến hành tại 22 nước đang phát triển chothấy, tỷ lệ các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp xử lý chất thải y tế

thích hợp chiếm từ 18 – 64%[24].

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế – Bộ Y tếnăm 2010, hiện nay bình quân mỗi ngày các cơ sở y tế trên cả nước thải rakhoảng 380 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 45 tấn là chất thải rắn y tếnguy hại Ước tính đến năm 2015, lượng chất thải này sẽ tăng lên gần gấp đôi,khoảng 600 tấn/ ngày và năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày[15] Tuy nhiênhiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế nhưngnhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Tỷ lệ các Bệnh viện

Trang 10

tuyến Trung ương chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế là 25%, tuyến tỉnh là

gần 50% và ở Bệnh viện tuyến huyện là trên 60%[20] Công tác quản lý, phân

loại thu gom và xử lý chất thải rắn tại các bệnh viện như thế nào hiện đang làvấn đề quan tâm nóng hổi của tất cả các cơ sở y tế và của toàn xã hội

Để đảm bảo thực hiện đúng luật bảo vệ môi trường, theo quy định vềquản lý chất thải y tế được Bộ y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy địnhtại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ban hành ngày31/12/2015 Quy chế này được áp dụng đối với tất cả các cơ sở khám, chữabệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, các bệnh viện và các cá nhân tham gia vậnchuyển, xử lý, tiêu huỷ chất thải y tế [5]

Viện Huyết học – Truyền máu TW là bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y

tế Với quy mô 673 giường kế hoạch, công suất sử dụng giường bệnh là 116%[2], hiện nay trong quá trình hoạt động số lượng chất thải trung bình hàng thángcủa Viện là 202.841kg chất thải, trong đó số lượng chất thải nguy hại là 10.841kg[3] Nằm trong tình trạng chung của hệ thống các bệnh viện tuyến trung ương đólà: Cơ sở vật chất đầy đủ, cơ sở hạ tầng được quy hoạch, thiết kế theo mô hìnhViện hạng I ngay từ đầu, nhưng hệ thống xử lý chất thải đặc biệt là chất thải rắn làchưa có, phải thuê đơn vị đủ chức năng xử lý chính vì vậy công tác quản lý chấtthải còn gặp nhiều khó khăn Để đánh giá đúng thực trạng quản lý chất thải rắn y tếcủa Viện như thế nào? Có đáp ứng được các yêu cầu được quy định tại Thông tưliên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015không? Kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế như thế nào? Những yếu

tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện ra sao? TChúng tôi

thực hiện đề tài “Thực trạng , , kiến thức – thái độ - thực hành và thực hànhvà một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế và một số yếu tố liên quan tại của nhân viên y tế Viện huyết học – Truyền máu TW , năm 2017” Với 3 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Viện huyết học – Truyền

máu TW năm 2017

2 Đánh giá kiến thức – thái độ - thực hành của cán bộ y tế Viện huyết học

– Truyền máu TW về phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải

Trang 11

Xác định một số yếu tố liên quan đến hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ,

vận chuyển chất thải rắn tại Viện huyết học – Truyền máu TW

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mô tả thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tếtại Viện huyết học – Truyền máu TW năm 2017

Mô tả kiến thức, thực hành của nhân viên y tế Viện huyết học – Truyềnmáu TW về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế, năm2017

Xác định các yếu tố liên quan đến hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ,vận chuyển chất thải rắn tại Viện huyết học – Truyền máu TW năm 2017

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế

1.1.1 Định nghĩa Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các

cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước

thải y tế [5].

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây

nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [5].

Chất thải y tế thông thường bao gồm: chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn thông được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế

Việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản lý chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng [4] Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình

lưu giữ hoặc tiêu huỷ.

Xử lý và tiêu huỷ chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ của con người

và môi trường.

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức y tế thế giới (WHO)

Theo WHO, chất thải y tế được phân thành 8 loại:

Trang 14

- Chất thải nhiễm trùng: Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn,

virut, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm

nhiễm, bao gồm các loại:

+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm.

+ Chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm

trùng.

+ Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng.

+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm.

+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm.

- Chất thải sắc nhọn: Có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: Bơm

kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền

- Thuốc thải loại: Bao gồm: Thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại

vaccin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng

- Chất thải có tính độc với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như

- Chất phóng xạ: Không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường

gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β [23] 1.1.2.2 Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Theo quy định về quản lý chất thải y tế được Bộ y tế và Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ban hành ngày 31/12/2015, chất thải trong các cơ sở y tế được chia thành 3 loại bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm, chất thải thông thường Tuy không phân thành 8 loại như WHO nhưng chất thải y tế

Trang 15

Chất thải lây nhiễm:

+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: Bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các

vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Là chất thải có thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.

+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.

+ Chất thải giải phẫu: Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau

thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.

Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại + Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy

hại từ nhà sản xuất;

+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và

các kim loại nặng;

+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi

36/2015/TT-trường về quản lý chất thải nguy hại

Chất thải y tế thông thường bao gồm:

+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con

người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;

+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất

thải nguy hại;

+ Sản phẩm thải lỏng không nguy hại.

1.1.3 Nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe

7

Bệnh viện

Chất thải y tế

Hoạt động

Ô nhiễm môi trường

Phân loại, thu gom, xử lý không tốt

Trang 16

Sơ đồ 1.1: Tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe và môi trường

1.1.3.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [11], [12], [14] Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các

cách thức sau:

- Qua da (do trầy sước, vết cắt trên da );

- Qua các niêm mạc (màng nhầy);

- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải);

- Qua đường tiêu hóa.

Bảng 1.1: Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn [14].

Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây bệnh Chất truyền bệnh

Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa Các vi khuẩn đường tiêu

hóa: Samonella, Shigella, Vibrio cholera, trứng

Bệnh than Trực khuẩn than Chất tiết qua da

đường sinh dục.

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ

thể.

Trang 17

(Nguồn: Lê Thị Tài và cộng sự (2006), Thực trạng quản lý chất thải tại các bệnh viện tỉnh Phú Thọ, Tạp chí nghiên cứu y học, Số 45,Tr.74)

1.1.3.2 Nguy cơ các vật sắc nhọn Các vật sắc nhọn không có những nguy cơ gây thương tích cho những người phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệu thống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da như sau: Nhiễm HIV là 0.3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêm gan C là 3

– 5% [14].

Ở Mỹ, tháng 6/19942009, trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC đã phát hiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trường hợp bị bơm kim tiêm nhiễm khuẩn chọc qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh [9] Cũng theo nguồn số liệu này tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến các tổn thương do vật sắc

nhọn gây ra như sau:

Bảng 1.2: Nguy cơ các vật sắc nhọn

Nghề nghiệp Số ca tổn thương do vật sắc

nhọn (người/năm)

Số ca bị viêm gan (người/năm)

Nhân viên vệ sinh bệnh viện 11.700 – 45.300 23 – 91

Bác sỹ và nha sỹ của bệnh viện 100 – 400 <1

Nhân viên phụ giúp nha sĩ

Trang 18

(Nguồn: Lê Thị Tài và cộng sự (2006), Thực trạng quản lý chất thải tại các bệnh viện tỉnh Phú Thọ, Tạp chí nghiên cứu y học, Số 45,Tr.74)

Số liệu bảng 1.2 cho thấy, hầu hết các đối tượng nhân viên y tế đều bị tổn thương do vật sắc nhọn gây ra, các đối tượng liên quan, tiếp xúc trực tiếp với chất thải nhiều có tần số bị tổn thương cao hơn Tỷ lệ nhiễm viêm gan B tập trung chủ yếu ở 2 đối tượng: Điều dưỡng, nhân viên vệ sinh bệnh viện 1.1.3.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phẩm

Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do các tính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến di truyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt

bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây

ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường

hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, dễ ăn mòn, các chất gây phản ứng có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp và phổ biến nhất là các vết bỏng Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng, những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình

thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao[12].

1.1.3.4 Nguy cơ của chất thải phóng xạ Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do có khả năng gây ảnh hưởng đến chất liệu di truyền Ngoài ra, chất thải phóng xạ còn gây ra một loạt các triệu chứng: đau đầu, ngủ gà, nôn Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp ) có thể gây ra tổn thương như phá hủy

1.1.4 Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế

Nguyên tắc tiêu hủy rác thải y tế

Trang 19

- Yêu cầu xử lý chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế phải được xử lý theo

quy định, mỗi loại chất thải có những yêu cầu xử lý riêng nhưng toàn bộ chất thải rắn y tế nguy hại đều phải được quản lý và xử lý triệt để Chất thải y tế

thông thường xử lý như rác sinh hoạt.

- Yêu cầu chung xử lý chất thải rắn y tế nguy hại: Là làm cho chúng trở

thành vô hại với sức khỏe con người và môi trường; giảm thiểu về số lượng; đáp ứng yêu cầu kinh tế và hiệu quả trong chu trình kinh tế - xã hội.

- Nguyên tắc thực hiện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại: Không gây ô

nhiễm thứ cấp, nằm trong quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảm

bảo đúng quy định luật bảo vệ môi trường [13], [14].

Công nghệ xử lý và tiêu hủy

- Công nghệ thiêu đốt: Sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt rác,

có thể xử lý được nhiều loại rác đặc biệt là chất thải lâm sàng Phương pháp này làm giảm thiểu tối đa số lượng và khối lượng rác, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mầm bệnh trong chất thải nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá

cao và chi phí vận hành, bảo dưỡng tương đối tốn kém.

- Công nghệ khử khuẩn hóa học: Sử dụng một số hóa chất khử trùng

(HClO, NaClO ) để tiêu diệt các mầm bệnh làm cho chất thải được an toàn về mặt vi sinh vật Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tùy thuộc vào loại hóa chất và có thể gây ô nhiễm thứ cấp do một

số hóa chất dư.

- Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nước: Sử dụng nhiệt ẩm hoặc hấp khô

để diệt khuẩn ở nhiệt độ 121 – 160 Chỉ áp dụng lượng chất thải rất nhỏ.

- Công nghệ vi sóng: Là một công nghệ mới, hiệu quả Chi phí đầu tư ban

đầu tương đối đắt nhưng sử lý bằng phương pháp này nhiều vật liệu có thể tái

sử dụng

- Công nghệ chôn lấp: Chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ

nhưng chỉ khi được phép và đảm bảo điều kiện tự nhiên như: diện tích rộng, đặc điểm thổ nhưỡng, đặc điểm nguồn nước ngầm, xa khu dân cư

- Cố định chất thải: Cố định chất thải cùng với chất cố định như xi măng, vôi.

Thông thường hỗn hợp gồm rác thải y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng

15%, nước 5% được trộn nén thành khối.

Trang 20

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Mỹ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái xử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y

tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng Gần đây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh:

Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng.

Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và

ngoài bệnh viện.

Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế.

Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe.

Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và người thu gom rác, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt

rác, vệ sinh viện và cộng đồng.

- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [14], [17] Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chức đăng ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về

an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) xây dựng và quản lý các dữ

liệu thông tin về an toàn hoá chất.

Tuỳ từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật

cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải

của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới

thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất

thải rắn

Trang 21

nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học,

hóa/lý, sinh học, chôn lấp, rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình

xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong lúc đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp

đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%), Các nước

sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên Bang Nga

(80%), Tây Ban Nha (80%)[19].

* Hoạt động quản lý

Theo WHO [25], để đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải

nguy hại các cơ sở y tế cần có những hoạt động cơ bản như:

- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành

phần)

- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải.

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm.

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định ).

- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và có các phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc.

- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động.

- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp.

1.2.1.Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và

phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như:

Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh.

Loại, quy mô bệnh viện.

Lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoại trú.

Điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực.

Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và

chăm sóc.

Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân

Trang 22

Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổi theo

mức thu nhập như sau:

Nước có thu nhập cao:

+ Chất thải bệnh viện nói chung: 1,2 – 12 kg/đầu người.

+ Chất thải nguy hại: 0,4 – 5,5 kg/đầu người.

Nước có thu nhập trung bình:

+ Chất thải bệnh viện nói chung: 0,8 - 6 kg/đầu người.

+ Chất thải nguy hại: 0,3 – 0,4 kg/đầu người.

Nước có thu nhập thấp:

+ Chất thải bệnh viện nói chung: 0,5 – 3 kg/đầu người.

Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện[11] Với sự dao động

từ 0,5 –8,7 kg/ngày đối với tổng lượng chất thải y tế và 0,1 – 1,6 kg /ngày đối

với chất thải nguy hại (Bảng 1.3).

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT

Trang 23

(Nguồn: Đào Ngọc Phong (2007), Mô tả thực trạng ô nhiễm môi trường

do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai mô hình quản lý chất thải y tế tại bệnh viện trung tâm y tế huyện, Đề tài NCKH cấp Bộ, Đại học y

Hà Nội, Hà Nội)

1.2.2 Quản lý chất thải rắn y tế

Theo tổ chức y tế thế giới [10], có 18 – 64% các cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý chất thải y tế Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển chất thải đi qua khu

vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy.

Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe, môi trường khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo,

Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lý CTYT.

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng,

vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử

lý chất thải khác để thay thế như Philipin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Inđônêxia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa

chọn phù hợp.

1.3 Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

1.3.1 Nhận định chung

Trang 24

Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam, quá trình thiết kế và xây dựng trong giai đoạn đất nước còn nghèo, trải qua chiến tranh lại chưa có nhận thức đúng nên đều không có phần xử lý chất thải đảm bảo quy định và ngày nay vấn đề này đã trở lên bức xúc, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện gây ra sự không đồng tình của nhân dân mà các

cơ quan báo chí, truyền hình đã phản ánh trong các phóng sự điều tra [11].

Hệ thống xử lý triệt để các loại chất thải y tế tại các bệnh viện còn thiếu nhiều Việc thu gom và vận chuyển rác phế thải bệnh viện chủ yếu bằng phương pháp thủ công và chuyển rác ra các bể rác, thùng chứa rác hở, với thời gian lưu trữ chờ chuyển đi từ 1 đến 7 ngày Thời gian này đủ để quá trình phân hủy chất thải diễn ra và gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam Thêm nữa, với sự tham gia của chuột, bọ, côn trùng và người bới rác đã làm tăng khả năng lây nhiễm, gây mất vệ sinh

ngay tại bệnh viện và môi trường sống xung quanh.

Nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn rất hạn chế do công tác giáo dục, tuyên truyền chưa được trú trọng đúng mức Hiện tượng dân vào bới rác tại các hố rác của bệnh viện để thu nhặt ống nhựa, kim tiêm, găng tay phẫu thuật để tái chế sử dụng lại diễn ra ở một số nơi là do thiếu quản lý chặt chẽ

và chưa có quy trình xử lý rác triệt để.

Khả năng một số bệnh viện tự tìm kiếm nguồn tài chính là rất hạn chế,

vì vậy phải lưu ý dành một phần vốn ngân sách (trung ương và địa phương), vốn vay dài hạn, ưu đãi, ODA và đầu tư xong sẽ được ghi bổ sung vào vốn tài

sản cố định của các bệnh viện [11].

Chất thải thuộc các bệnh viện thuộc các thành phố thường được ký hợp đồng thu gom với các công ty môi trường đô thị hoặc được xử lý bằng các biện pháp đốt bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc ngâm Formaldehyde rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang hoặc trong các khuôn viên bệnh viện Rất nhiều phế thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp

ra bãi rác sinh hoạt của thành phố mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần

thiết nào.

Trang 25

Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của nghành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập Ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo xây dựng, quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh trong

phạm vi toàn quốc

Ngày 27 tháng 8 năm 1999, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chếT quản lý chất thải y tế” và Bộ Y tế trong thời gian qua đã tiến hành nhiều đợt tập huân, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Quy chế này Ngoài ra nhiều chương trình nghiên cứu thí điểm các lò đốt, chương trình xây dựng, quy hoạch tổng

thể hệ thống các lò đốt trên toàn quốc đang được triển khai.

1.3.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện

Các nghiên cứu về chất thải tại Việt Nam

- Năm 1995, Đỗ Quốc Thái đã nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tại

32 khoa/phòng của 7 bệnh viện tại Thái Bình và Hà Nam; Bùi Văn Tường, Nguyễn Tất Hà nghiên cứu về quản lý chất thải y tế tại 5 bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội (Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm).

- Năm 1996, Đào Ngọc Phong và cộng tác viên nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà

Nội.

- Năm 1996, Nguyễn Thị Kim Thái nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tại 14 bệnh viện lớn tại Hà Nội Kết quả cho thấy, ngay tại thành phố Hà Nội công tác quản lý chất thải y tế cũng còn nhiều vấn đề tồn tại: Chưa có khâu phân loại rác ngay tại nơi phát sinh, chưa có biện pháp giảm thiểu, chưa

có phương tiện để thu gom và phân loại rác theo một phương pháp thích hợp

để giảm thiểu chi phí, nhân viên bệnh viện, nhân viên thu gom rác chưa được tập huấn những kiến thức cơ bản của việc phân loại rác bệnh viện, chưa nhận thức được đúng nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe và đời sống, chưa

có kỹ năng và nghiệp vụ cần thiết Các bệnh viện chưa có kế hoạch, dự kiến kinh phí hàng năm về xử lý rác thải, chưa có bộ phận chuyên trách về xử lý chất thải Dây truyền công nghệ xử lý lạc hậu, thiếu nguồn kinh phí cần thiết

[14]

Trang 26

- Năm 1998, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải của 80 bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tại các tuyến như sau

CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh)

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế

1.1.1 Định nghĩa

Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơsở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nướcthải y tế [5]

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc cóđặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lâynhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [5]

Chất thải y tế thông thường bao gồm: chất thải rắn sinh hoạt và chấtthải rắn thông được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế

Việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đếnquản lý chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng [4]

Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom,lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện

Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh vàvận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế

Trang 27

Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơilưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử

lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tậptrung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chấtthải y tế

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải cónguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơilưu giữ hoặc tiêu huỷ

Xử lý và tiêu huỷ chất thải là quá trình sử dụng các công nghệnhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ củacon người và môi trường

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức y tế thế giới (WHO)

Theo WHO, chất thải y tế được phân thành 8 loại:

- Chất thải nhiễm trùng: Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn,

virut, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảmnhiễm, bao gồm các loại:

+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm

+ Chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng + Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng

+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm

+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm

- Chất thải sắc nhọn: Có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm:

Bơm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền

- Thuốc thải loại: Bao gồm: Thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các

loại vaccin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng

- Chất thải có tính độc với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quái thai

như các chất chống ung thư

- Hóa chất: Có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí, bao gồm:

Trang 28

+ Hóa chất độc.

+ Hóa chất có tính ăn mòn (PH<2 hoặc PH>12)

+ Hóa chất dễ gây nổ

- Rác chứa kim loại nặng, độc: Chất chứa kim loại như chì, thủy ngân, asen

- Các bình chứa khí nén: Được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí

gây mê

- Chất phóng xạ: Không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường

gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β [23]

1.1.2.2 Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế

Theo quy định về quản lý chất thải y tế được Bộ y tế và Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định tại Thông tư liên tịch số BTNMT ban hành ngày 31/12/2015, chất thải trong các cơ sở y tế được chiathành 3 loại bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lâynhiễm, chất thải thông thường Tuy không phân thành 8 loại như WHO nhưngchất thải y tế cũng đã bao gồm tất cả 8 loại trên Cụ thể như sau:

58/2015/TTLT-BYT-Chất thải lây nhiễm:

+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Là chất thải có thể gây ra các vết cắthoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: Bơm kim tiêm, đầu sắc nhọncủa dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ

và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Là chất thải có thấm máu, thấmdịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Là chất thải phát sinh trongcác phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

+ Chất thải giải phẫu: Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người;rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại

Trang 29

+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguyhại từ nhà sản xuất;

+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và

các kim loại nặng;

+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường về quản lý chất thải nguy hại

36/2015/TT-Chất thải y tế thông thường bao gồm:

+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của conngười và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;

+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danhmục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quyđịnh tại Điểm a Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡngchất thải nguy hại;

+ Sản phẩm thải lỏng không nguy hại

1.1.3 Nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe

Sơ đồ 1.1: Tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe và môi trường 1.1.3.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn

Trang 30

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựngmột lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [11], [12], [14].Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông quacác cách thức sau:

- Qua da (do trầy sước, vết cắt trên da );

- Qua các niêm mạc (màng nhầy);

- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải);

- Qua đường tiêu hóa

Trang 31

Bảng 1.1: Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn [14]

Các dạng

nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây bệnh Chất truyền bệnh

Nhiễm khuẩn đường

tiêu hóa

Các vi khuẩn đường tiêu hóa:

Samonella, Shigella, Vibriocholera, trứng giun

đường sinh dục

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể

(Nguồn: Lê Thị Tài và cộng sự (2014), Thực trạng quản lý chất thải tại các bệnh viện tỉnh Phú Thọ, Tạp chí nghiên cứu y học, Số 45,Tr.74)

1.1.3.2 Nguy cơ các vật sắc nhọn

Các vật sắc nhọn không có những nguy cơ gây thương tích cho nhữngngười phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệuthống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyênqua da như sau: Nhiễm HIV là 0.3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêm gan C là

3 – 5% [14]

Ở Mỹ, tháng 6/2009, trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC đã phát hiệnđược 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trường hợp bịbơm kim tiêm nhiễm khuẩn chọc qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1trường hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh [9] Cũng theo nguồn số liệunày tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến các tổn thương do vật sắcnhọn gây ra như sau:

Bảng 1.2: Nguy cơ các vật sắc nhọn

Trang 32

do vật sắc nhọn (người/năm) gan (người/năm)

Nhân viên vệ sinh bệnh viện 11.700 – 45.300 23 – 91

Bác sỹ và nha sỹ của bệnh viện 100 – 400 <1

Nhân viên phụ giúp nha sĩ ngoài

bệnh viện

2.600 – 3.900 <1

Nhân viên xử lý chất thải ngoài

1.1.3.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phẩm

Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do cáctính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến ditruyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với

số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tácdụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính vàmạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể

là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêmmạc, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất

dễ cháy, dễ ăn mòn, các chất gây phản ứng có thể gây nên những tổn thươngtới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp và phổ biếnnhất là các vết bỏng

Trang 33

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhómnày, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ănmòn Cũng cần phải lưu ý rằng, những loại hóa chất gây phản ứng có thể hìnhthành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao[12].

1.1.3.4 Nguy cơ của chất thải phóng xạ

Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do cókhả năng gây ảnh hưởng đến chất liệu di truyền Ngoài ra, chất thải phóng xạcòn gây ra một loạt các triệu chứng: đau đầu, ngủ gà, nôn Tiếp xúc với cácnguồn phóng xạ có hoạt tính cao: các nguồn phóng xạ của các phương tiệnchuẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp ) có thể gây ra tổn thương nhưphá hủy mô

1.1.4 Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế

Nguyên tắc tiêu hủy rác thải y tế

- Yêu cầu xử lý chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế phải được xử lý

theo quy định, mỗi loại chất thải có những yêu cầu xử lý riêng nhưng toàn bộchất thải rắn y tế nguy hại đều phải được quản lý và xử lý triệt để Chất thải y

tế thông thường xử lý như rác sinh hoạt

- Yêu cầu chung xử lý chất thải rắn y tế nguy hại: Là làm cho chúng trở

thành vô hại với sức khỏe con người và môi trường; giảm thiểu về số lượng;đáp ứng yêu cầu kinh tế và hiệu quả trong chu trình kinh tế - xã hội

- Nguyên tắc thực hiện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại: Không gây ô

nhiễm thứ cấp, nằm trong quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảmbảo đúng quy định luật bảo vệ môi trường [13], [14]

Công nghệ xử lý và tiêu hủy

- Công nghệ thiêu đốt: Sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt rác,

có thể xử lý được nhiều loại rác đặc biệt là chất thải lâm sàng Phương phápnày làm giảm thiểu tối đa số lượng và khối lượng rác, đồng thời tiêu diệt hoàntoàn các mầm bệnh trong chất thải nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khácao và chi phí vận hành, bảo dưỡng tương đối tốn kém

Trang 34

- Công nghệ khử khuẩn hóa học: Sử dụng một số hóa chất khử trùng

(HClO, NaClO ) để tiêu diệt các mầm bệnh làm cho chất thải được an toàn

về mặt vi sinh vật Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn, chiphí vận hành đắt tùy thuộc vào loại hóa chất và có thể gây ô nhiễm thứ cấp domột số hóa chất dư

- Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nước: Sử dụng nhiệt ẩm hoặc hấp

khô để diệt khuẩn ở nhiệt độ 121 – 160 Chỉ áp dụng lượng chất thải rất nhỏ

- Công nghệ vi sóng : Là một công nghệ mới, hiệu quả Chi phí đầu tư

ban đầu tương đối đắt nhưng sử lý bằng phương pháp này nhiều vật liệu cóthể tái sử dụng

- Công nghệ chôn lấp: Chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ

nhưng chỉ khi được phép và đảm bảo điều kiện tự nhiên như: diện tích rộng,đặc điểm thổ nhưỡng, đặc điểm nguồn nước ngầm, xa khu dân cư

- Cố định chất thải: Cố định chất thải cùng với chất cố định như xi

măng, vôi Thông thường hỗn hợp gồm rác thải y tế nguy hại 65%, vôi 15%,

xi măng 15%, nước 5% được trộn nén thành khối

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thếgiới, đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Mỹ, Nhật Bản, Canada cáccông trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế(biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái xử dụng, các phương pháp xử lýchất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại củachất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y

tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng Gầnđây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh:

- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng

- Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịchtrong và ngoài bệnh viện

- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế

Trang 35

- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe.

- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và người thu gomrác, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thunhặt rác, vệ sinh viện và cộng đồng

- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [14], [17] Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chứcđăng ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về

an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) xây dựng và quản lý các dữliệu thông tin về an toàn hoá chất

Tuỳ từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuậtcùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lýchất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trênthế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn,trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương

pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lấp, rất khác nhau Qua

số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giớicho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắnvới hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong lúc đóSingapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý

vi sinh nhiều nhất (30%), Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ

sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan(84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha (80%)[19]

- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm

Trang 36

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ,màu sắc, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định ).

- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và cócác phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc

- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động

- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp

1.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa

và phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như:

- Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh

- Loại, quy mô bệnh viện

- Lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoạitrú

- Điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực

- Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám,điều trị và chăm sóc

- Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân

Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổi theomức thu nhập như sau:

 Nước có thu nhập cao:

+ Chất thải bệnh viện nói chung: 1,2 – 12 kg/đầu người

+ Chất thải nguy hại: 0,4 – 5,5 kg/đầu người

 Nước có thu nhập trung bình:

+ Chất thải bệnh viện nói chung: 0,8 - 6 kg/đầu người

+ Chất thải nguy hại: 0,3 – 0,4 kg/đầu người

 Nước có thu nhập thấp:

+ Chất thải bệnh viện nói chung: 0,5 – 3 kg/đầu người

Trang 37

Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện[11] Với sự dao độngtừ 0,5 –8,7 kg/ngày đối với tổng lượng chất thải y tế và 0,1 – 1,6 kg /ngày đốivới chất thải nguy hại (Bảng 1.3).

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT

(Nguồn: Đào Ngọc Phong (2015), Mô tả thực trạng ô nhiễm môi

trường do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai mô hình quản lý chất thải y tế tại bệnh viện trung tâm y tế huyện, Đề tài NCKH cấp Bộ, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội)

1.2.2 Quản lý chất thải rắn y tế

Theo tổ chức Y tế Thế Giới [10], có 18 – 64% các cơ sở y tế chưa cóbiện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử

lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý chất thải y

tế Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biếnnhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn

Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển chất thải đi quakhu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy

Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe, môi trườngkhu vực Châu Á – Thái Bình Dương, phần lớn các nước đang phát triểnkhông quản lý tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùngvới tất cả các loại chất thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản,Singapore, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lý CTYT[5]

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy nhưđốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được

áp dụng, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một sốphương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philipin đã áp dụng phươngpháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề

Trang 38

khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vàocác thùng có những thiết bị cọ rửa; Inđônêxia chủ trương nâng cao nhận thứctrước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện

Hệ thống xử lý triệt để các loại chất thải y tế tại các bệnh viện còn thiếunhiều Việc thu gom và vận chuyển rác phế thải bệnh viện chủ yếu bằngphương pháp thủ công và chuyển rác ra các bể rác, thùng chứa rác hở, vớithời gian lưu trữ chờ chuyển đi từ 1 đến 7 ngày Thời gian này đủ để quá trìnhphân hủy chất thải diễn ra và gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là trong điềukiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam Thêm nữa, với sự tham gia của chuột,

bọ, côn trùng và người bới rác đã làm tăng khả năng lây nhiễm, gây mất vệsinh ngay tại bệnh viện và môi trường sống xung quanh

Nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng vềnhững nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn rất hạn chế do công tácgiáo dục, tuyên truyền chưa được trú trọng đúng mức Hiện tượng dân vào bớirác tại các hố rác của bệnh viện để thu nhặt ống nhựa, kim tiêm, găng tayphẫu thuật để tái chế sử dụng lại diễn ra ở một số nơi là do thiếu quản lý chặtchẽ và chưa có quy trình xử lý rác triệt để

Khả năng một số bệnh viện tự tìm kiếm nguồn tài chính là rất hạn chế,

vì vậy phải lưu ý dành một phần vốn ngân sách (trung ương và địa phương),

Trang 39

vốn vay dài hạn, ưu đãi, ODA và đầu tư xong sẽ được ghi bổ sung vào vốn tàisản cố định của các bệnh viện [11].

Chất thải thuộc các bệnh viện thuộc các thành phố thường được ký hợpđồng thu gom với các công ty môi trường đô thị hoặc được xử lý bằng cácbiện pháp đốt bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trườnghoặc ngâm Formaldehyde rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang hoặc trongcác khuôn viên bệnh viện Rất nhiều phế thải lây nhiễm, độc hại được xả trựctiếp ra bãi rác sinh hoạt của thành phố mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cầnthiết nào

Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chấtthải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của nghành, năm 1998 Bộ Y tế đãthành lập Ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởngtrong công tác chỉ đạo xây dựng, quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnhtrong phạm vi toàn quốc

Ngày 31 tháng 12 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên vàMôi trường đã ban hành Thông tư liên tịch quy định về quản lý chất thải y tế

và Bộ Y tế trong thời gian qua đã tiến hành nhiều đợt tập huân, kiểm tra, đônđốc thực hiện Quy định này Ngoài ra nhiều chương trình nghiên cứu thí điểmcác lò đốt, chương trình xây dựng, quy hoạch tổng thể hệ thống các lò đốt trêntoàn quốc đang được triển khai

1.3.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện

Các nghiên cứu về chất thải tại Việt Nam

- Năm 2011, Hoàng Thị Thúy và Phan Văn Tường đã nghiên cứu về thựctrạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tếBệnh viện Đa khoa Đông Anh

- Năm 2012, TS Ngô Kim Chi và cộng tác viên nghiên cứu về thực hànhquản lý chất thải rắn y tế và công nghệ xử lý tại Việt Nam

- Năm 2013, Huỳnh Thị Phúc đã nghiên cứu về đánh giá thực trạng và đềxuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trang 40

- Năm 2014, Đỗ Quốc Thái đã nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tại

32 khoa/phòng của 7 bệnh viện tại Thái Bình và Hà Nam; Bùi Văn Tường,Nguyễn Tất Hà nghiên cứu về quản lý chất thải y tế tại 5 bệnh viện huyệnngoại thành Hà Nội (Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm)

- Năm 2014, Nguyễn Thị Kim Thái nghiên cứu tình hình quản lý chấtthải tại 14 bệnh viện lớn tại Hà Nội Kết quả cho thấy, ngay tại thành phố HàNội công tác quản lý chất thải y tế cũng còn nhiều vấn đề tồn tại: Chưa cókhâu phân loại rác ngay tại nơi phát sinh, chưa có biện pháp giảm thiểu, chưa cóphương tiện để thu gom và phân loại rác theo một phương pháp thích hợp đểgiảm thiểu chi phí, nhân viên bệnh viện, nhân viên thu gom rác chưa được tậphuấn những kiến thức cơ bản của việc phân loại rác bệnh viện, chưa nhận thứcđược đúng nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe và đời sống, chưa có kỹnăng và nghiệp vụ cần thiết Các bệnh viện chưa có kế hoạch, dự kiến kinh phíhàng năm về xử lý rác thải, chưa có bộ phận chuyên trách về xử lý chất thải Dây

truyền công nghệ xử lý lạc hậu, thiếu nguồn kinh phí cần thiết [14]

- Năm 2015, Đào Ngọc Phong và cộng tác viên nghiên cứu về ô nhiễmmôi trường và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở

Hà Nội

- Năm 2010, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Namtiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải của 80 bệnh việntrong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tại các tuyến nhưsau[11]:

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện [11].

Tuyến bệnh viện

(Kg/giường bệnh)

Tổng lượng CTYT (Kg/giường bệnh)

CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh)

Ngày đăng: 22/09/2019, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w