Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật với nồng độ quá mức cho phép trong rau quả là tác nhân thường gặp của một số vụ ngộ độc gây rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, nôn mửa, giảm trí n
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau, quả là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày Rau quả cung cấp cho cơ thể nhiều thành phần hoạt tính sinh học không thể thiếu như carotenoids, phức chất polyphenol, các chất chứa bioflavonoid, các vitamin, xenluloza, các khoáng chất cần thiết để duy trì cân bằng kiềm toan, giúp hấp thu dễ dàng các chất cần thiết cho sự phát triển, tăng cường hệ miễn dịch cho, phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn, góp phần làm giảm các yếu tố nguycơ đối với các bệnh tim mạch và phòng ngừa ung thư
Khác với nhiều cây trồng khác, cây rau, quả là cây trồng ngắn ngày với yêu cầu thâm canh và BVTV rất cao, hóa chất hóa học được sử dụng trên đơn
vị diện tích cao hơn nhiều so với cây lúa nên mức sử dụng các HCBVTV ngày càng gia tăng [36] Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay người trồng rau đã lạm dụng quá nhiều HCBVTV để phun tưới cho rau quả với mục đích lợi nhuận mà chưa
có những hiểu biết cần thiết về cách sử dụng an toàn Bên cạnh những ưu điểm mang lại từ việc sử dụng HCBVTV thì còn có những nhược điểm không thể phủ nhận và nếu chúng ta không kiểm soát được có thể dẫn đến những hậu quả khó lường Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật với nồng độ quá mức cho phép trong rau quả là tác nhân thường gặp của một số vụ ngộ độc gây rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, nôn mửa, giảm trí nhớ, với mức độ nặng hơn còn có thế gây tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn đến liệt
Theo báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn tại hội nghị về công tác VSATTP trong ngành nông nghiệp diễn ra tháng 8/2009, Cục Bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp đã công bố kết quả kiểm tra 25 mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc, có tới 44% mẫu rau có dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó 4% có hoạt chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép [1] Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế (ILO), ở Việt Nam con số bị ngộ
Trang 2độc do ăn rau, quả là không nhỏ Tổng kết về tình hình ngộ độc thực phẩm, theo thống kê từ của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010, 10 tháng đầu năm, cả nước có 45 vụ ngộ độc lớn (hơn 30 người/vụ) Các số liệu thống kê cho thấy tới năm 2010, ngộ độc vi sinh vật giảm (<40%), ngộ độc chủ yếu do hóa chất (> 60%) [2] Hàng loạt vụ ngộ độc đã và đang xảy ra là hồi chuông cảnh báo tới các cấp, các ngành và chính người sản xuất cũng như người tiêu dùng, cần quan tâm hơn nữa tới vấn đề ATVSTP
Xã Yên Thường là một xã ngoại thành Hà Nội, sản xuất và cung cấp một lượng khá lớn rau quả cho địa phương và khu vực nội đô, việc sử dụng HCBVTV tại xã diễn ra thường xuyên để đáp ứng nhu cầu của thị trường, điều này có thể dẫn tới những hậu quả khó lường với sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng và môi trường sống Do vậy, việc tìm hiểu thực trạng kiến thức, thực hành trong sử dụng hóa chất BVTV tại xã là điều rất quan trọng và cần thiết nhằm đánh giá hiểu biết về HCBVTV và có kế hoạch can thiệp giúp sử dụng hóa chất hợp lý nhằm hướng tới sản xuất, tiêu thụ và sử dụng rau của người dân có độ an toàn cao hơn, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng kiến thức và thực hành của người trồng và người tiêu dùng rau, quả về hóa chất BVTV tại xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về sử dụng hóa chất bảo
vệ thực vật của người trồng rau tại xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, Hà Nội
2 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về hóa chất BVTV đảm bảo VSATTP trong ăn uống của người tiêu dùng tại xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nhiễm độc HCBVTV và ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật tới sức khỏe con người
1.1.1 Sự hấp thụ và chuyến hóa HCBVTV trong cơ thể người
Sự hấp thu HCBVTV xảy ra chủ yếu qua da, mắt, hô hấp và đặc biệt là tiêu hóa HCBVTV hòa tan trong mỡ và một chừng mực nảo đó HCBVTV hòa tan trong nước được hấp thu qua da lành Các tổn thương và trầy da làm cho sự hấp thu qua da dễ dàng Ở các nước đang phát triển do không có đủ phương tiện bảo hộ lao động nên việc nhiễm HCBVTV qua da là khá phổ biến [3] Hơi hay các hạt HCBVTV kích thước nhỏ ≤ 5µm dạng khí dung được hít vào và hấp thu dễ dàng qua phổi Các hạt lớn hơn được ra khỏi đường hô hấp
và nuốt vào đường tiêu hóa
HCBVTV xâm nhập vào đường tiêu hóa do tiêu thụ thực phẩm, nước uống có hoặc sử dụng dụng cụ nhà bếp nhiễm HCBVTV,tay nhiễm HCBVTV cũng là nguồn gây nhiễm HCBVTV qua miệng
Trong cơ thể, HCBVTV được chuyển hóa hay tồn lưu trong mỡ hoặc được thải ra ngoài nguyên vẹn Sự chuyển hóa làm cho HCBVTV hòa tan trong nước dễ hơn và như vậy dễ đào thải hơn, ví dụ như pyrethroid, đôi khi
sự chuyển hóa lại làm tăng độc tính của HCBVTV, ví dụ sự thủy phân sulfan tạo thành chất tan trong nước và độc hơn Một số HCBVTV hòa tan trong mỡ không dễ chuyển hóa, nhưng lại tích lũy lại trong mỡ dưới dạng không hoạt động (như DDT), khi cơ thể kém dinh dưỡng hoặc đói mỡ tồn đọng bị huy động vào tuần hoàn và gây nhiễm độc nếu nồng độ đạt ngưỡng Việc nhiễm 2 hay nhiều loại HCBVTV cùng 1 lúc cũng có thể làm tăng hoặc
Trang 4carbo-giảm độc tính, ví dụ nhiễm lindan và heptachlor cùng lúc sẽ độc hơn là nhiễm riêng từng loại
1.1.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật tới sức khỏe
Ảnh hưởng của HCBVTV tới con người được biết đến chủ yếu là những tác động tiêu cực Nó gây ra các ngộ độc cấp và ngộ độc mạn tính [4], trong đó:
- Ngộ độc cấp tính HCBVTV là do nhiễm một lượng hóa chất cao trong thời gian ngắn thường là do tiếp xúc nghề nghiệp (sản xuất, sử dụng…), tiếp xúc do sự cố (uống nhầm, vận chuyển HCBVTV chung với thực phẩm …), do tiếp xúc cố ý (tự tử, đầu độc…)
- Ngộ độc mạn tính xảy ra khi một người nhiễm nhiều lần độc tố trong thời gian dài nhưng chỉ nhiễm liều lượng nhỏ vào cơ thể mỗi lần thường là do tiếp xúc nghề nghiệp hoặc sinh sống trong môi trường bị ô nhiễm HCBVTV bao gồm trực tiếp tiếp xúc với HCBVTV hoặc gián tiếp qua thực phẩm, nước uống, không khí, bụi
Mức độ nhiễm độc HCBVTV còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của người tiếp xúc – sự kém dinh dưỡng và mất nước có thể làm tăng sự mẫn cảm của HCBVTV, nhiệt độ cao cũng làm tăng ảnh hưởng xấu của HCBVTV
* Tổn thương do nhiễm độc HCBVTV cấp, mạn tính chủ yếu bao gồm:
- Tổn thương da: viêm da tiếp xúc, mẫn cảm dị ứng, phát ban, trứng cá Chloracne bênh da porphyry
- Nhiễm độc thần kinh (với người nhiễm độc mãn tính do nghề nghiệp thường sau 4 năm sẽ có biểu hiện bệnh) thường thấy ở những người tiếp xúc với HCBVTV nhóm Chlor hữu cơ hoặc chất diệt cỏ: thay đổi hành vi (giảm trí nhớ và khả năng tập trung, mất phương hướng, dễ bị kích động, đau đầu, mất ngủ…), tổn thương thần kinh trung ương, viêm thần kinh ngoại biên, teo dây thần kinh thị giác
- Tổn thương xương tủy
Trang 5- Ung thư
- Vô sinh nam giới (trường hợp tiếp xúc với hóa chất diệt giun mechlorpropan)
dibro Tổn thương nhiễm sắc thể, sảy thai, dị tật thai nhi
- Thay đổi tình trạng miễn dịch cơ thể, hen
- Tổn thương gan, thận, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn
- Tổn thương khác: yếu cơ, tăng tiết nước bọt, chảy nước mắt, viêm đường hô hấp
- Phụ nữ nhiễm HCBVTV sẽ tăng nguy có những đứa con mắc hội
chứng rối loạn tăng động giảm chú ý và tự kỷ
- Nhiễm độc cấp tính do ăn phải thức ăn hoặc nước uống nhiễm hoặc hít phải hóa chất trừ sâu Trẻ em có thể uống phải Triệu chứng của nhiễm độc cấp thường là buồn nôn, nôn, vã mồ hôi, xanh xao, nhức đầu, khó thở dạng hen, chuột rút, co giật, co đồng tử, giảm nhịp tim Trường hợp nặng có lú lẫn, suy hô hấp, phù phổi cấp, liệt, tụt huyết áp, suy gan thận, hôn mê, tử vong Việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật là một thực tế khách quan và là một yêu cầu không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp Hoá chất bảo vệ thực vật là một loại hàng hoá đặc biệt do đặc tính độc hại của chúng đối với sức khoẻ con người và môi trường sinh thái [5], nhưng nó cũng là một loại hàng hoá rất thông dụng đối với những người làm nông nghiệp Nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng dân cư nông nghiệp
Trên thế giới ước tính có khoảng 39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm do ảnh hưởng của hoá chất bảo vệ thực vật [6] Trong đó có khoảng 3 triệu người bị ngộ độc cấp tính nghiêm trọng và 220 nghìn người tử vong mỗi năm Trong khi nhu cầu sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật trên thế giới ngày càng tăng thì sản lượng hoá chất bảo vệ thực vật cũng tăng từ
Trang 6400.000 tấn (1955) lên 4,4 triệu tấn (2009) [7] Đi đôi với số lượng hoá chất bảo vệ thực vật sử dụng tăng là số người ngộ độc hoá chất bảo vệ thực vật cũng tăng, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, 99% trường hợp ngộ độc xảy ra ở các nước này, cho dù lượng tiêu thụ hoá chất bảo vệ thực vật chỉ chiếm 20% [1], [8] Tuy nhiên, phần lớn người nông dân tại các nước này chưa nhận biết đầy đủ về tác hại cũng như nguy cơ do hoá chất bảo vệ thực vật gây ra [1] Thực trạng nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam vẫn còn nghiêm trọng Thống kê sơ bộ tại 38 tỉnh, thành phố, trong năm 2007
đã xảy ra gần 4.700 vụ, với 5.207 trường hợp bị nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật và 106 người đã tử vong Năm 2009 có 4.372 vụ nhiễm độc với 4.515 trường hợp, tử vong 138 trường hợp chiếm tỷ lệ 3,05% [9] Theo Hà Minh Trung và cộng sự, cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp xúc nghề nghiệp với hoá chất bảo vệ thực vật ít nhất cũng tới 11,5 triệu người Với tỷ lệ nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật mạn tính là 18,26% thì số người bị nhiễm độc mạn tính trong cả nước có thể lên tới 2,1 triệu người [10] Theo Mai Thanh Tuyết, hóa chất BVTV là tên gọi chung cho tất cả các hóa chất trừ rầy, hóa chất sát trùng, hóa chất diệt cỏ dại, hóa chất trừ nấm…Đa số các hóa chất này là do một hay nhiều nguyên tố Benzen kết hợp với nguyên tố clo, nói chung các hợp chất này có tính độc hại lên con người tương tự như Dioxin, do đó có tên gọi là Dioxin – tương đương Bệnh ung thư
là một trong những ảnh hưởng của các hóa chất gây ra cho con người Thêm nữa, một số hóa chất BVTV còn chứa nguyên tố Asen và thủy ngân, mức nguy hại cho đến nay vẫn chưa được các khoa học gia kết luận một cách chính xác [11]
Theo Trần Như Nguyên, Đào Ngọc Phong nghiên cứu trên 500 hộ gia đình ngoại thành Hà Nội thấy dấu hiệu phổ biến nhất sau khi sử dụng
Trang 7HCBVTV là chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn thấy ở 70% đối tượng ngoài ra còn các triệu chứng ăn kém, hoa mắt, đau bụng (rối loạn giấc ngủ) [12]
Lê Kế Sơn tiến hành khám lâm sàng, cận lâm sàng cho 128 người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với HCBVTV và 47 người không tiếp xúc Kết quả thấy tỉ lệ bệnh khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tiếp xúc với HCBVTV và nhóm chứng là: hội chứng suy nhược thần kinh, hội chứng rối loạn thần kinh thực vật, viêm đường hô hấp trên mạn tính, hội chứng thiếu máu, tổn thương gan mạn tính và bệnh ngoài da Có sự liên quan chặt chẽ giữa tỉ lệ bệnh với nghề nghiệp và tuổi nghề [13]
Nguyễn Duy Thiết điều tra 100 hộ gia đình tại 5 đội xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì Hà Nội thấy 73% có biểu hiện triệu chứng như nôn nao, khó chịu, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn, khó ngủ, ngứa và nóng rát các vùng da hở [14]
Lê Thị Thu, Nguyễn Thị Dư Loan, Hoàng Thị Bích Ngọc nghiên cứu trên 36 người dân thường xuyên tiếp xúc với HCBVTV ở 2 xã thuộc huyện Thường Tín, nhóm chứng gồm 32 sinh viên Học viện Quân y Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở những người làm nông nghiệp, tiếp xúc dài ngày với HCBVTV thì hoạt độ enzym cholinesterase (5931U/l) giảm so với nhóm chứng (8359 U/l) [15]
1.2 Tính hình sử dụng HCBVTV cho sản xuất trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Những hiểu biết chung về hóa chất BVTV
1.2.1.1 Khái niệm về HCBVTV
Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là một thuật ngữ chung cho các hóa chất được sử dụng để tiêu diệt hoặc phòng trừ dịch hại Dịch hại là các
Trang 8sinh vật, vi sinh vật, các loại sâu hại, các loài gặm nhấm…có khả năng gây hại cho cây trồng và lương thực [16]
Trang 91.2.1.2 Phân loại HCBVTV
- Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hoá học [17]
Bảng 1.1: Phân loại HCBVTV theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hoá học
Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa Các chất trừ sâu thuỷ ngân hữu cơ
Các dẫn xuất của hợp chất nito Các dẫn xuất của urê
Các dẫn xuất của axít propioníc Các dẫn xuất của axít xyanhydríc
Vô cơ
Các hợp chất chứa đồng Các hợp chất chứa lưu huỳnh Các hợp chất chứa thuỷ ngân Chất trừ sâu có nguồn gốc thực vật, sinh học là ancaloid, thực vật có chứa nicotin, anabazin, pyrethroid
Một số loại khác
Trang 10- Phân loại theo mục đích sử dụng [17]
Bảng 1.2: Phân loại HCBVTV theo mục đích sử dụng
Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin
Các chất trừ nấm, trừ
bệnh, trừ vi sinh vật
gây hại
Các hợp chất chứa đồng Các hợp chất chứa lưu huỳnh Các hợp chất chứa thuỷ ngân Một số loại khác
Các chất trừ cỏ dại,
làm rụng lá, kích thích
sinh trưởng
Các hợp chất chứa Phênol (2,4- D) Các hợp chất của axits propyoníc (Dalapon) Các dẫn xuất của cacbamat (ordram)
Triazin Các chất diệt chuột và
động vật gặm nhấm Photphua kẽm và Warfarin
Trang 11- Theo độc tính HCBVTV được WHO phân nhóm như sau: [17]
Bảng 1.3: Phân loại HCBVTV theo độc tính và các biểu tượng về độ độc cần
Đỏ 5 hay ít
hơn
20 hay ít hơn
10 hay ít hơn
40 hay ít hơn
Xanh nước biển
Xanh lá cây Trên 500 Trên 2000 Trên 1000
Trên 4000
Loại hóa chất nào có LD 50 nằm trong khoảng 500-2000 thì sử dụng “Nguy
hiểm”
Loại hóa chất nào có LD 50 >2000 thì sử dụng từ “Cẩn thận”
Trang 12Những ký hiệu và biểu tượng nêu trong bảng trên đây được áp dụng trong việc trình bày các bao bì, các nhãn HCBVTV lưu thông và sử dụng ở Việt Nam Với những hóa chất BVTV thuộc nhóm I, nếu vô ý nuốt phải vài giọt hoặc một nhúm nhỏ (hóa chất ở thể rắn) cho tới 1 thìa cà phê là có thể gây chết người.Với nhóm II, nếu nuốt phải một lượng nhiều (30/450ml) thì mới gây chết người
- Phân loại theo thời gian phân giải sinh học
Bảng 1.4: Phân loại HCBVTV theo thời gian phân giải sinh học
b Đúng liều lượng
Dùng hóa chất với liều cao hơn khuyến cáo càng làm gia tăng nguy cơ
bị ngộ độc của người đi phun hóa chất, người sống ở gần vùng phun hóa chất
Trang 13và người sử dụng nông sản có phun hóa chất Ngoài ra còn có nguy cơ cây trồng bị hại do hóa chất liều lượng cao gây ra
c Đúng thời điểm
Đối với dịch hại đúng lúc là phun hóa chất vào thời điểm mà dịch hại trên đồng ruộng dễ bị tiêu diệt nhất Sâu hại thường mẫn cảm nhất đối với hóa chất BVTV khi chúng ở giai đoạn sâu non tuổi nhỏ Đối với hóa chất trừ cỏ thì phải tuỳ theo đặc điểm của từng loại hóa chất và sử dụng vào lúc hóa chất
có tác động mạnh nhất đến cỏ dại và ít có nguy cơ gây hại cho cây trồng Phun đúng lúc cũng là tránh phun hóa chất khi trời sắp mưa to có thể làm rửa trôi hết hóa chất trên mặt lá, thân cây Phun hóa chất vào lúc trời mát, không có gió to để hóa chất bay vào mặt hoặc bay vào nhà ở gần nơi phun hóa chất
Phun đúng lúc là không phụ thuộc vào quá gần ngày thu hoạch nông sản Phải tuỳ loại hóa chất mà ngừng sử dụng trước khi thu hoạch một thời gian nhất định
d Đúng cách
Dùng hóa chất đúng cách thể hiện trước hết ở khâu pha hóa chất Pha hóa chất đúng cách là làm thế nào để làm cho chế phẩm sử dụng được hoà thật đồng đều vào nước, như vậy khi phun hóa chất sẽ được trang trải thật đều trên vật phun (lá cây, mặt đất…) Khâu tiếp theo của việc dùng hóa chất đúng cách là phun rải hóa chất trên đồng ruộng cho đúng cách Phun rải hóa chất đúng cách là làm sao cho hóa chất BVTV tiếp xúc được với dịch hại nhiều nhất Có những loại sâu hại chỉ tập trung phá ở gốc (ví dụ rày nâu), có những loài chuyên sống trên lá, trên ngọn, lại có những loài chỉ sống ở mặt dưới lá,
… Do vậy khi phun hóa chất phải hướng sao cho tia tập trung vào nơi quy định phun
Trang 14Dùng hóa chất đúng cách còn có nghĩa là không tự ý hỗn hợp nhiều loại hóa chất BVTV với nhau để phun trên đồng ruộng Khi hỗn hợp 2 hay nhiều loại hóa chất BVTV cũng có trường hợp do phản ứng với nhau mà hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực trừ dịch hại, hoặc dễ gây cháy lá cây, hoặc dễ gây độc cho người sử dụng Do vậy chỉ thực hiện việc hỗn hợp nếu như điều đó có hướng dẫn trên nhãn hóa chất hoặc trong các tài liệu khoa học kỹ thuật hướng dẫn dùng hóa chất BVTV
1.2.1.4 Dư lượng HCBVTV
FAO (1991) đã định nghĩa dư luợng HCBVTV trong thực phẩm là lượng rất nhỏ HCBVTV hoặc dẫn xuất, đồng phân của chúng có trong thực phẩm và lượng này được đem so sánh với giới hạn dư lượng tối đa cho phép [18]
a Dư lượng HCBVTV trên nông sản
Sau khi một loại HCBVTV được phun rải lên cây hoặc bón vào đất thì hóa chất sẽ để lại trên mặt lá, thân cây và thông thường là ở cả bên trong các
mô thực vật một lượng hóa chất(hoạt chất) nhất định Sau phun rải một thời gian(vài ngày hoặc vài tuần) lượng hóa chất bám trên cây và tồn tại bên trong cây sẽ giảm dần và mất đi do tác động của nhiều yếu tố: Do thời tiết (nắng mưa),hoặc do hoạt động phân hủy hóa chất của các men thực vật, do sự tăng trưởng của cây được gọi là dư lượng HCBVTV trên thân, lá, trái, củ của cây trồng.Càng xa ngày phun, rải hóa chất thì dư lượng của hóa chất bên ngoài và bên trong cây càng giảm dần
b Mức dư lượng tối đa cho phép
HCBVTV có khả năng gây hại cho người và động vật.Mỗi cơ thể đều
có một giới hạn nhất định chịu đựng lượng HCBVTV gọi là giới hạn chịu đựng của cơ thể Nếu như loại hóa chất đó xâm nhập vào cơ thể với một lượng thấp hơn lượng giới hạn nói trên thì chưa gây hại cho cơ thể.Loại HCBVTV nào có độc tính càng cao thì giới hạn chịu đựng của cơ thể càng
Trang 15thấp và ngược lại loại HCBVTV nào có độc tính càng thấp thì giới hạn chịu đựng của cơ thể càng cao Song trong quá trình hấp thu lương thưc, thực phẩm của cơ thể thì việc tích lũy hóa HCBVTV lâu dài cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Những lương thực, thực phẩm chứa dư lượng HCBVTV ít hơn mức tối
đa cho phép thì được xem như là vô hại đối với sức khỏe người tiêu dùng Ngược lại,những nông sản chứa dư lượng HCBVTV vượt quá dư lượng tối đa cho phép thì không được dùng làm lương thực thực phẩm cho người tiêu dùng
Theo qui định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm (ban hành – kèm theo Quyết định số 46/2007/QĐ – BYT ngày 19/12/2007 của Bộ Trưởng Bộ Y tế), dư lượng tối đa cho phép của một số hoạt chất BVTV trên một số loại rau được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 1.5: Tổng hợp dư lượng tối đa cho phép của một số hoạt chất hóa chất
BVTV thường trên rau [19]
p
Cyp erm ethr
in
Chlor pyrifo
s
Ppr ofen oph
os
Prof enof
os
Pho salo
ne
Fenit rothio
n
End osuf ran
Per met hrin
Chl oro thal onil
Met ham idop
hs
Dim etho ate
Ner eist oxin
Cà chua 0,2 - 0,5 0,5 2 2 1 0,5 2 1 1 0,01 1 - Dưa chuột - - 0,2 0,01 (1) 0,01 1 0,05 2 0,5 5 1 - - Bắp cải 0,5 0,2 1 0,05 1 1 1 0,5 2 5 1 0,5 2 0,2 Đậu rau 0,1 (2) 0,5 0,01 0,1 0,1 (0,5) 0,5 0,5 1 5 1 0,5 (2)
Cải xanh 0,2 2 1 0,01 1 0,01 (1) 0,5 2 5 1 (0,5) 0,5 2
Rau
muống
0,5 (2) 2 0,01 (1) 0,01 (1) (0,2) 2 2 1 1 1 (2)
Trang 16c Thời gian cách ly
từ ngày phun hóa chất lần cuối trong vụ đến ngày thu hoạch nông sản đã có phun hóa chất.Thời gian cách li có thể thay đổi một vài ngày đến một vài tuần tùy theo đặc tính khoa học, độc tính, lượng được sử dụng của hóa chất và tùy theo loại cây lương thực, thực phẩm được phun hóa chất.Thời gian cách li ngắn hay dài còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết trong thời kì sử dụng hóa chất
1.2.1.5 Những lưu ý trong quá trình mua, bán và sử dụng HCBVTV
a Những hiểu biết cần có của người bán, phân phối hóa chất
• Được trải qua lớp tập huấn về an toàn và sử dụng hóa chất
• Biết cách phân loại, tính năng của từng loại hóa chất
• Biết cách hướng dẫn người sử dụng hóa chất sao cho an toàn và có hiệu quả đúng với từng loại dịch hạch
• Chấp hành đúng luật và điều lệ phân phối hóa chất bảo vệ thực vật
• Nhận định hóa chất thật hóa chất giả và có trách nhiệm thông báo cho
cơ quan quản lý có thẩm quyền
b Những hiểu biết cần có của người sử dụng HCBVTV [20]
• Thực hiện tuân thủ 4 đúng trong quá trình sử dụng HCBVTV
• Tuân thủ đúng quy trình, bảo hộ lao động trong quá trình thực hành sử dụng HCBVTV
• Đảm bảo thực hiện đúng thời gian cách li
• Đảm bảo an toàn trong khâu cất giữ HCBVTV tại nhà
1.2.2 Tình hình sử dụng HCBVTV trên thế giới và tại Việt Nam
a Thế giới
Theo Phùng Minh Phong, trên thế giới đang khuyến khích dùng các biện pháp sinh học và phòng trừ tổng hợp để bảo vệ cây trồng nhằm hạn chế sử
Trang 17dụng các hóa chất BVTV có hại cho môi trường Tuy nhiên, hóa chất BVTV vẫn được sử dụng nhiều về số lượng và chủng loại Có khoảng 90% lượng hóa chất BVTV được sử dụng trong nông nghiệp, còn lại được sử dụng trong
Ngày nay, thế giới có khoảng 900 – 1000 loại hóa chất chính với khoảng 5000 loại dẫn xuất khác nhau Số lượng hóa chất BVTV trên toàn cầu đạt tới hàng triệu tấn Các nhà khoa học đã nghiên cứu tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rằng, tiêu thụ hóa chất BVTV trên toàn cầu năm 1985 khoảng
3 triệu tấn, trong những năm gần đây con số này tăng lên rất nhiều [7] Đối với các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản sử dụng khoảng 20%, còn các nước đang phát triển sử dụng 10% tổng số hóa chất BVTV [23]
b Việt Nam
Ở Việt Nam, hóa chất BVTV thực sự có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp trong hơn 40 năm qua (miền Bắc từ năm 1956 và miền Nam từ năm 1962) Tuy lịch sử sử dụng hóa chất BVTV ở nước ta chưa dài song bước đi cũng giống như nhiều nước khác [24]
Trang 18Thời gian đầu, từ cuối những năm 50 đến cuối thập kỷ 60, hóa chất BVTV mới được đưa vào sản xuất nhưng người ta hết lòng ca ngợi chúng, do
đó đã nảy sinh tình trạng lạm dụng hóa chất Theo số liệu của chi cục BVTV, năm 1990 nước ta chỉ sử dụng khoảng 10.000 tấn hóa chất BVTV, đến năm
1998 lượng này đã tăng lên gấp 3 lần tức 30.000 tấn hóa chất BVTV Có 30%
cơ sở kinh doanh hóa chất BVTV không có giấy phép tiếp sức cho việc lạm dụng hóa chất tràn lan Theo viện BVTV 1998, tại Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hải Dương…Monitor, Wofatox bị cấm trên rau nhưng người dân vẫn sử dụng với lượng khá lớn, gấp 6,45 lần/vụ với rau họ thập tự, trên đậu đỗ là 5,73 lần/vụ Về chủng loại, người dân dùng phổ biến 30 loại, trong đó, ở miền bắc là
13 loại, miền nam là 17 loại chỉ dùng cho rau [25]
Cho đến năm 2002 lượng hóa chất sử dụng hàng năm ước tính khoảng 36.000 tấn, đã có 354 hoạt chất với 1113 tên hóa chất thương phẩm đang được phép lưu hành Tính đến năm 2010, riêng các loại hóa chất sử dụng trong nông nghiệp, theo thống kê: hóa chất trừ sâu: 437 hoạt chất với 1.196 tên thương phẩm; hóa chất trừ bệnh: 304 hoạt chất với 828 tên thương phẩm; hóa chất trừ cỏ: 160 hoạt chất với 474 tên thương phẩm; hóa chất trừ chuột: 11 hoạt chất với 17 tên thương phẩm; hóa chất điều hòa sinh trưởng: 49 hoạt chất với 118 tên thương phẩm; chất dẫn dụ côn trùng: 6 hoạt chất với 8 tên thương phẩm; hóa chất trừ ốc: 19 hoạt chất với 91 tên thương phẩm; chất hỗ trợ (chất trải): 5 hoạt chất với 6 tên thương phẩm Trên các chánh đồng rau vùng Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây thì các loại hóa chất trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ được dùng phổ biến [26]
Do thói quen và tâm lý sợ mất mùa nên đa số nông dân chỉ dùng những loại TTS hiệu quả nhanh Ngược lại nhiều loại hóa chất trừ sâu sinh học như
Bt, có hiệu lực trừ sâu cao, ít độc hại với người và vật nuôi nhưng lại chỉ có ít người sử dụng chỉ chiếm 11,82% Theo nghiên cứu về kiến thức thực hành sử
dụng hóa chất bảo vệ thực vật của người dân phường Túc Xuyên- Tp.Thái Nguyên, tác giả nhận thấy còn nhiều hạn chế, một số hóa chất biết cấm nhưng
Trang 19vẫn sử dụng như Mornitor, Volfatox…Sử dụng dụng cụ phòng hộ lao động không đầy đủ (không có áo mưa 19%, không có mũ 52,3%, không có ủng 78,7%, không có kính 97%), số lần phun trong một tháng quá nhiều (trên 3 lần là 62,9%), và 83,3% số hộ sử dung hóa chất bảo vệ thực vật vứt bỏ bao bì không cẩn thận gây ô nhiễm môi trường [27]
Tình trạng buôn bán hóa chất, đặc biệt là hóa chất BVTV trên thị trường rất phức tạp Theo thống kê, trên thị trường có khoảng 22000 cửa hàng buốn bán hóa chất BVTV, trung bình mỗi tỉnh có 400 – 500 của hàng, rải đều trên diện rộng ở tất cả các xã, phường vùng sâu vùng xa nên việc quản lý là rất khó khăn Là mặt hàng hạn chế kinh doanh nhưng theo thống kê của cục BVTV, hiện nay mới chỉ có 80% cá nhân buôn bán hóa chất được cấp chứng chỉ hành nghề 20% hoạt động buôn bán không có chứng chỉ, chủ yếu tập trung ở các của hàng nhỏ lẻ, vùng sâu, vùng xa rất khó kiểm soát [28]
Thời gian cách ly hóa chất BVTV là 1 vấn đề lớn nhất trong giai đoạn hiện nay Ở nước ta, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đó là cần có thời gian cách ly sau khi sử dụng hóa chất BVTV trên rau và các loại cây thực phẩm khác Theo điều tra của cục BVTV, hầu hết nông dân đều vi phạm thời gian cách ly theo quy định sau khi phun hóa chất Sự vi phạm lớn nhất là trên nhóm rau ăn quả như cà chua, đậu đỗ, tiếp theo là đến các loại rau ăn lá
Bảng 1.6: Thực trạng thời gian cách ly hóa chất BVTV đối với rau
Địa điểm
Số hộ điều tra
Tỷ lệ (%) số hộ nông dân thực hiện ở khoảng thời gian cách ly (ngày)
1 – 3 4 – 6 7 – 10 11 – 15 > 15
Trên rau ăn lá
Minh Khai, Từ Liêm 58 6,9 37,9 25,9 13,8 15,5 Tiền phong, Mê Linh 73 9,6 35,6 30,1 13,7 11,0 Song Phương, Hoài Đức 60 10,0 46,7 18,3 15,0 10,0
Trang 20Hưng Tiệp, Hưng Yên 55 12,5 29,1 25,5 14,5 18,2
Rau ăn quả
Song Phương, Hoài Đức 60 35,0 43,3 10,0 - -
Sai số chung là 0,014%
Nguồn: Theo thống kê của cục BVTV 2009
Theo cục BVTV, hàng năm cả nước sử dụng khoảng 20.000 – 25.000 tấn hóa chất BVTV các loại Nếu tính nồng độ hóa chất khoảng 2% thì lượng hóa chất phun là 75.1010 lít.Với diện tích canh tác 7 triệu ha đã sử dụng 10.104 lít hóa chất 2%/ha/năm nay hay có thể hình dung là 11 lít hóa chất 2%/m2/năm Kiểm tra 35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam, cục Bảo vệ thực vật phát hiện tới 54% mẫu rau có dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó 8,6% mẫu được phát hiện có hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật đủ khả năng gây độc cho người sử dụng
Theo báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội tháng 5-6 2009 có 196% số người sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ngoài danh mục
có 128% sản phẩm không đảm bảo thời gian cách li [29]
Theo Nguyễn Văn Miện, Nguyễn Trọng Hùng, Ngô Văn Công – TT Y tế
Dự phòng Bắc Ninh, Khảo sát tồn dư HCBVTV trong 3 loại rau xã Vũ Ninh, thị xã Bắc Ninh, 2001 có 82,1% (tổng số 56 mẫu rau muống), 67,6% (tổng số
34 mẫu rau ngót), 100% (tổng số 30 mẫu đậu đũa) còn tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên lượng tồn dư này trong mức giới hạn tối đa cho phép theo quyết định 867/1998/QĐ-BYT của Bộ Y tế [30]
Trang 21Nghiên cứu của Lê Công Toàn (2009) khảo sát dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên rau quả tươi ở 17 tỉnh thành phố đã cho thấy hóa chất bảo vệ thực vật vượt MRLs cao.(MRLs là dư lượng hóa chất tối đa cho phép), trong
đó cao nhất là rau ngót (23%), rau cải (19%) Loại quả nho là loại mẫu có dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật cao nhất vượt MRLs (24%) Trong 17 tỉnh thành phố được lấy mẫu kiểm nghiệm, Ninh Thuận là địa phương có dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật cao nhất (30%), các địa phương khác như Thái Nguyên, Phú Thọ, Bình Dương, Đồng Nai chưa phát hiện mẫu nào vượt MRLs [31]
Theo Trần Đáng, Nguyễn Thanh Phong, Bùi Hoàng Tuấn – Cục quản lí chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm về Khảo sát ô nhiễm HCBVTV trên một số loại rau ở Hà Nội năm 1999-2000 thấy tỉ lệ vượt mức tồn dư cho phép
là 29- 50% tùy loại rau và khu vực khảo sát, đặc biệt có những loại hóa chất bảo vệ thực vật trong danh mục cấm sử dụng Nhiều vùng rau sạch đã được quy hoạch nhưng không phải tất cả các sản phẩm rau mang “nhãn hiệu rau sạch” đều đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Trong nghiên cứu năm
2009 tại Hà Nội có 34 mẫu rau được gọi là rau sạch (rau an toàn) thì có 5 mẫu không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu HCBVTV (14,7%) [32]
1.3 Tổng qua về địa điểm nghiên cứu
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Yên Thường là một xã lớn, nằm ở cửa ngõ phía Bắc của huyện Gia Lâm, giáp với quận Long Biên, huyện Đông Anh, có diện tích đất tự nhiên 853 ha
với 456 ha đất trông trọt, có 10 thôn nằm rải rác trên toàn bộ diện tích đất của
xã, dân số gần 15000 nhân khẩu, là khu vực tập trung đông dân cư nhất của
huyện Địa hình xã tương đối cao và dễ thoát nước
Trang 22Xã Yên Thường mang đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng:
- Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô hanh keo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Giữa 2 mùa nóng ẩm và mùa khô hanh có các thời kỳ chuyển tiếp khí hậu tạo ra một dạng khí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,50C, mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng đạt 27,40C
- Lượng mưa trung bình hàng năm ở mức vừa Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8
- Số giờ nắng trung bình, Tổng lượng bức xạ cao, khoảng 4.272Kcal/m2/tháng
- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường gây ra lạnh và khô Rét đậm trong tháng 12 và tháng 1 và thường gây ra những thiệt hại cho sản xuất
Phát huy vai trò xã chuẩn quốc gia về y tế, đội ngũ cán bộ y tế luôn nâng cao vai trò, trách nhiệm trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực Y tế như DS-
Trang 23KHHGD, ATVSTP,… Trong năm, cán bộ trạm đã tổ chức khám và điều trị
bệnh cho 3.381 lượt người, tiêm phòng vắc-xin cho bà mẹ và trẻ em đạt 100% Tình hình kinh tế xã hội
Những năm qua, Đảng bộ và nhân dân xã Yên Thường luôn cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết phấn đấu vươn lên xây dựng quê hương ngày một phát triển Một trong những hướng đi đầu tiên của Yên
Thường để phát triển kinh tế nông nghiệp đó là, xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật nông nghiệp gồm: Nhân viên bảo vệ thực vật (đảm nhận cả nhiệm vụ chuyên ngành trồng trọt); Nhân viên thú y (đảm nhận nhiệm vụ chuyên ngành chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản); Nhân viên thuỷ lợi; Nhân viên khuyến nông, khuyến ngư;kết hợp tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng các mô hình kinh tế tổng hợp; tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa các giống cây con có năng suất, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất Nhờ vậy, kinh
tế nông nghiệp của Yên Thường đã có những bước tăng trưởng khá
Năm 2011, mặc dù thời tiết diễn biến phức tạp nhưng cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân lao động, sản xuất đúng thời vụ, hạn chế ở mức thấp nhất về thiệt hại Vì thế, tổng diện tích gieo cấy đạt 554,2ha, tổng sản phẩm nông nghiệp quy thóc đạt 5.432 tấn (tăng 1.022 tấn so với năm 2010)
Bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng được xã quan tâm, phát triển Năm 2010, tổng đàn bò 80 con; đàn lợn 2.400 con; gia cầm 45.000 con Với lợi thế mặt bằng đất đai rộng lớn, Yên Thường có rất nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế trang trại và bán trang trại
Song song với phát triển kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ - thương mại của Yên Thường cũng có những bước chuyển khả quan Ngành nghề tiếp tục phát triển đa dạng, thu hút ngày càng đông lao động Đặc biệt, dịch vụ - thương mại đã góp phần giải quyết thời gian nông nhàn cho lao
Trang 24động nữ, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho nhân dân Tổng giá trị từ tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại đạt 65,8 tỷ đồng
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Xã Yên Thường- Gia Lâm- Hà Nội [33]
Thời gian: từ 1/2015 tới 4/2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Người trồng rau của xã Yên Thường
- Người tiêu dùng rau, quả tại xã Yên Thường
Trang 262.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.2.1 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính:
n=
Trong đó:
n = cỡ mẫu tối thiểu
Z 1- a/2= mức độ chính xác của nghiên cứu (độ tin cậy) cần đạt, dự kiến là 95%, khi đó có giá trị là 1,96
p = tỉ lệ giá trị về kích thước (ước tính từ một nghiên cứu trước đó hoặc một nghiên cứu thử)
ɛ = độ chính xác tương đối giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ quần thể
a, Người trồng rau, quả:
Dựa theo nghiên cứu của Hoàng Hải năm 2006 tại xã Yên Thường- Gia Lâm- Hà Nội [35] ta thấy có 69,8% người trồng rau được phỏng vấn có sử dụng HCBVTV trên ruộng, vườn rau nhà mình, vậy p= 0,698, ta có cỡ mẫu cần nghiên cứu tính được với độ tin cậy 95% và ɛ= 0,15 tối thiểu là 74
người Thực tế lấy n= 81 người
b, Người tiêu dùng rau quả
Dựa theo nghiên cứu của Trần Thị Hà Phương năm 2012 tại huyện
Thanh Trì và quận Hai Bà Trưng [26] ta thấy tỉ lệ người tiêu dùng thực hiện
Trang 27rửa rau quả từ 2 lần trở lên trước khi sử dụng chiếm 85%, vậy p= 0,85, ta có
cỡ mẫu nghiên cứu tính được với độ tin cậy 95% và ɛ = 0,15 thối thiểu là 30 người Thực tế lấy n= 50 người
2.3.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn chủ đích địa điểm nghiên cứu là xã Yên Thường, huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội là nơi trồng rau, cung cấp một lượng rau khá lớn cho địa bàn Hà Nội
Cách chọn mẫu : chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Một mẫu ngẫu nhiên đơn gồm 81 người trồng rau được chọn từ xã có
403 người trồng rau Sử dụng danh sách của xã cung cấp với 403 người trồng rau, mỗi người nhận một số thứ tự (từ 1 tới 403), và những số này được viết trên một mẫu giấy nhỏ Toàn bộ nhữn mẫu giấy có số này được gập lại bỏ vào một cái hộp, lắc kỹ để đảm bảo là ngẫu nhiên Tiếp theo, 81 mẫu giấy được lấy ra và số của chúng được ghi lại Những người có những số này nằm trong mẫu nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
*Không giới hạn về giới, nghề nghiệp, dân tộc
*Người đủ điều kiện và đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
*Các đối tượng không đủ điều kiện và không vui lòng trả lời phỏng vấn *Từ chối tham gia nghiên cứu
Trang 282.3.3 Biến số nghiên cứu
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Loại HCBVTV thường sử dụng
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Lý do lựa chon sử dụng HCBVTV
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Có được hướng dẫn sử dụng HCBVTV không
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Tuân thủ hướng dẫn sử dụng HCBVTV
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Sử dụng bảo hộ lao động khi tiếp xúc với HCBVTV
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Mục tiêu 2: Thực trạng kiến thức thực hành về hóa chất BVTV đảm bảo
Trang 29VSATTP trong ăn uống rau quả của người tiêu dùng tại xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Người tiêu dùng
rau quả
(17 câu hỏi)
Phân bố nghề nghiệp
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Các loại rau quả
sử dụng trong 24h trước phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Địa điểm lựa chọn mua rau quả
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Lý do lựa chọn nơi mua rau quả
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Cách thức làm sạch rau quả
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Thời gian làm sạch rau quả
Phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi
Bộ câu hỏi cho người tiêu dùng rau quả là mẫu phiếu số 1 (phụ lục ) “PHIẾU ĐIỀU TRA KHẨU PHẦN ĂN VÀ KIỂM TRA SỨC KHỎE NGƯỜI ĐI CHỢ TRONG GIA ĐÌNH”
Bộ câu hỏi cho người trồng rau quả là mẫu phiếu số 2 (phụ lục) ” PHIẾU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NGƯỜI TRỒNG RAU”
2.4 Kĩ thuật thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn dành cho từng đối tượng
2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Làm sạch số liệu: loại bỏ những phiếu không điền đủ thông tin phỏng vấn
Trang 30- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Số liệu xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS 16
2.6 Sai số và cách khống chế sai số
2.6.1 Sai số
Sai số ngẫu nhiên do cỡ mẫu nhỏ
Sai số thu thập thông tin
Sai số chọn
2.6.2 Cách khống chế sai số
Chọn đối tượng đúng theo tiêu chuẩn nghiên cứu
Tập huấn kĩ về cách thu thập số liệu
Xây dựng bộ câu hỏi theo mục tiêu, dễ hiểu, tiến hành thu thập thử để chỉnh sửa cho rõ ràng, sát thực tế
2.7 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu phải được sự đồng ý của trường Đại học Y Hà Nội và địa phương tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu viên phải có trách nhiệm giải thích cho các đối tượng nghiên cứu về mục đích nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn
Phải được sự đồng ý tự nguyện của các đối tượng tham gia phỏng vấn
Đảm bảo giữ bí mật về các thông tin mà đối tượng cung cấp
Các kết quả nghiên cứu phải được thông báo cho địa phương tiến hành nghiên cứu và có những khuyến nghị thích hợp
Thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số đặc điểm chung về các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm phân bố về tuổi của các đối tượng (người tiêu dùng,
người buôn bán rau quả, người trồng rau quả)
Đặc điểm về Tuổi Người tiêu dùng rau quả
Bảng kết quả trên cho thấy:
- Số đối tượng từ 30 tới 50 tuổi chiếm tỉ lệ lớn ở cả 2 nhóm: ở nhóm
người trồng rau chiếm 71,6%, người tiêu dùng là 52%
- Số đối tượng có độ tuổi dưới 30 và từ 50 trở lên chiếm tỉ lệ nhỏ hơn nhiều nhưng cũng đã góp phần thể hiện được sự đa dạng về độ tuổi trong từng nhóm đối tượng phỏng vấn được
Bảng 3.2: Đặc điểm phân bố về giới của các đối tượng
Trang 32Nhận xét:
Kết quả nghiên cứu cho thấy: số lượng người tiêu dùng và người trồng
rau quả mang giới tính nữ rất cao với 90% ở người tiêu dùng và 88,9% ở
người trồng
Biểu đồ 3.1: Đặc điểm phân bố nghề nghiệp chính của người tiêu dùng rau quả
tại xã Yên Thường
Nhận xét:
Từ kết quả nghiên cứu ta thấy: Người tiêu dùng rau quả tại xã Yên Thường chiếm tỉ lệ cao là công nhân và sinh viên với lần lượt là 30% và 24% Do trong địa bàn xã có trường cao đẳng nên số lượng sinh viên tiêu dùng rau quả cũng chiếm đáng kể Tỉ lệ còn lại chia khá đồng đều cho các nhóm ngành nghề khác là cán bộ, nội trợ, nông dân,… trong số những người phỏng vấn được
Trang 333.2 Kiến thức và thực hành về sử dụng HCBVTV của người trồng rau
là 18 người, chiếm 22%
Trang 34Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ các loại HCBVTV người trồng rau sử dụngnhiều nhất
Trang 35Nhận xét:
Kết quả nghiên cứu, phỏng vấn 63 người trồng rau của xã Yên Thường,
có tới 68% không được người bán hàng HCBVTV hướng dẫn sử dụng về loại hóa chất họ mua, chỉ có 32% được hướng dẫn sử dụng
Bảng 3.3: Lý do người trồng rau lựa chọn dùng hóa chất BVTV
trên ruộng vườn của nhà
Lí do lựa chọn HCBVTV
n=63
Số lượng %
Được người khác giới thiệu sử dụng 13 20.6%
Nhận xét:
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Lí do lựa chọn sử dụng HCBVTV trên ruộng, vườn rau nhà mình của người trồng rau nhiều nhất là do cho năng suất cây trồng cao với 100% sự đồng ý, được người khác giới thiệu sử dụng là 20,6%, thấy nhiều người dùng 14,29%