1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên các trường mầm non huyện tân hồng, tỉnh đồng tháp

129 783 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN NHỰT DUY KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN NHỰT DUY

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN NHỰT DUY

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN NGỌC ẤN

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ cũng như ủng hộ nhiệt tình của Quý thầy cô, bạn bè và người thân trong gia đình Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Ấn, Thạc sĩ Dương Kim Tuấn những người thầy kính

mến đã tận tâm hướng dẫn cũng như giúp đỡ cho tôi định hướng ngay từ khi thực hiện luận văn cho đến khi hoàn thành

Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo sau đại học, các thầy/cô bộ môn trường Đại học Y tế công cộng, trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Xin cảm ơn các bạn bè, anh chị lớp Cao học Y tế công cộng khóa 19 Đồng Tháp,

cơ quan, đồng nghiệp luôn ủng hộ giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn Ban giám đốc và quý đồng nghiệp Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng, Phòng giáo dục huyện Tân Hồng và các cô tại các trường mầm non trên địa bàn huyện đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt quá trình thu thập số liệu để thực hiện luận văn

Xin bày tỏ tấm chân tình đến những người thân trong gia đình, bạn bè thân thiết gần xa đã kề vai sát cánh động viên, chia sẽ khó khăn trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này

Tác giả

Nguyễn Nhựt Duy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC BẢNG VII DANH MỤC BIỂU ĐỒ VIII TÓM TẮT NGHIÊN CỨU IX

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Bệnh tay chân miệng 4

1.1.1 Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng 4

1.1.2 Lịch sử của bệnh 4

1.2 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh tay chân miệng 4

1.2.1 Tác nhân gây bệnh 4

1.2.2 Nguồn và phương thức lây truyền 5

1.2.3 Một số đặc điểm của bệnh 5

1.3 Một số nghiên cứu về yếu tố liên quan đến bệnh tay chân miệng 6

1.4 Các biện pháp phòng, chống bệnh tay chân miệng 7

1.4.1 Các biện pháp chung 7

1.4.2 Nguyên tắc phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch bệnh cụ thể 8

1.4.3 Phương pháp phòng bệnh TCM trên thế giới 9

1.5 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và ở Việt Nam 10

1.5.1 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và trong khu vực 10

1.5.2 Tình hình bệnh Tay chân miệng ở Việt Nam 12

1.5.3 Tình hình bệnh tay chân miệng tại tỉnh Đồng Tháp 12

1.5.4 Một số đặc điểm và tình hình bệnh TCM tại huyện Tân Hồng 13

1.6 Một số nghiên cứu về KAP và yếu tố liên quan đến bệnh Tay chân miệng 15

1.6.1 Một số nghiên cứu về KAP và yếu tố liên quan đến bệnh Tay chân miệng trên thế giới 15

1.6.2 Một số nghiên cứu về KAP và yếu tố liên quan đến bệnh Tay chân miệng tại Việt Nam 18

1.7 Sơ đồ khung lý thuyết 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

Trang 5

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Thiết kế nghiên cứu 22

2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.4 Điều tra viên và giám sát viên 23

2.4.1 Điều tra viên 23

2.4.2 Giám sát viên 23

2.5 Quá trình thu thập số liệu 24

2.5.1 Công thụ thu thập 24

2.5.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu 25

2.6 Biến số nghiên cứu 26

2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 26

2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức phòng bệnh TCM (phụ lục 3) 26

2.7.2 Tiêu chuẩn về thực hành phòng bệnh TCM (phụ lục 3) 27

2.8 Phương pháp phân tích và trình bày số liệu 28

2.8.1 Nghiên cứu định lượng 28

2.8.2 Nghiên cứu định tính 28

2.9 Đạo đức nghiên cứu 29

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Kiến thức của ĐTNC về phòng, chống bệnh TCM 31

3.2.1 Kiến thức về dịch tễ học 31

3.2.2 Kiến thức về triệu chứng của bệnh 33

3.2.3 Kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng 34

3.2.4 Kiến thức về biện pháp tránh lây lan 35

3.2.5 Kiến thức về đường lây truyền 36

3.2.6 Kiến thức về biện pháp phòng ngừa 37

3.2.7 Kiến thức về các biện pháp phòng chống 38

3.2.8 Kiến thức về cách chăm sóc trẻ khi trẻ mắc bệnh 39

3.2.9 Đánh giá kiến thức chung phòng, chống bệnh TCM của ĐTNC 40

3.3 Thực hành phòng, chống bệnh tay chân miệng 41

3.3.1 Thực hành rửa tay cho bản thân giáo viên 41

3.3.2 Thực hành rửa tay cho trẻ 42

Trang 6

3.3.3 Thực hành lau rửa đồ chơi cho trẻ 44

3.3.4 Thực hành lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa 45

3.3.5 Thực hành về vệ sinh ăn uống 46

3.3.6 Thực hành thu gom và xử lý chất thải trẻ 47

3.3.7 Xử trí khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM 48

3.3.8 Đánh giá thực hành chung phòng, chống bệnh TCM 49

3.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM 50

3.4.1 Mối liên quan giữa đặc điểm của ĐTNC với kiến thức phòng bệnh, phòng chống TCM 50

3.4.2 Mối liên quan giữa đặc điểm của ĐTNC với thực hành phòng chống bệnh TCM 52

3.4.3 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng, chống bệnh TCM của ĐTNC 54

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 55

4.1 Kiến thức phòng, chống bệnh Tay chân miệng 55

4.1.1 Kiến thức về dịch tễ học 55

4.2.2 Kiến thức về triệu chứng của bệnh 56

4.2.3 Kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng 57

4.2.4 Kiến thức về biện pháp tránh lây lan 57

4.2.5 Kiến thức về đường lây truyền 58

4.2.6 Kiến thức về biện pháp phòng ngừa 58

4.2.7 Kiến thức về biện pháp phòng chống 59

4.2.8 Kiến thức về cách chăm sóc trẻ khi trẻ mắc bệnh 59

4.3 Thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng 60

4.3.1 Thực hành rửa tay cho bản thân 60

4.3.2 Thực hành rửa tay cho trẻ 60

4.3.3 Thực hành lau rửa đồ chơi 60

4.3.4 Thực hành lau chùi sàn nhà 61

4.3.5 Thực hành vệ sinh ăn uống 61

4.3.6 Thực hành thu gom và xử lý chất thải của trẻ 62

4.3.7 Thực hành xử trí khi nghi ngờ trẻ măc bệnh 62

4.4 Mốt số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM 62

4.5 Hạn chế của nghiên cứu 65

KẾT LUẬN 66

Trang 7

5.1 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng 66

5.2 Mối liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng 66

KHUYẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Phụ lục 1 Biến số nghiên cứu 72

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 78

PHỤ LỤC 3: ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TCM 91

PHỤ LỤC 4: PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG DỊCH TUYẾN TỈNH 103

Phụ lục 5 : Bảng phỏng vấn cán bộ quản lý công tác phòng chống dịch tại TTYT huyện Tân Hồng 105

Phụ lục 6: Phỏng vấn sâu giáo viên mầm non 107

Phụ lục 7: Kế hoạch thực hiện luận văn 109

PHỤ LỤC 8: NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 111

PHỤ LỤC 9: BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH 117

Trang 8

TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng

UBND Ủy ban nhân dân

WHO Tổ chức y tế thế giới

YTCC Y tế công cộng

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Đặc điểm của ĐTNC (n=258) 30

Bảng 3 2 Kiến thức của ĐTNC về dịch tễ học bệnh TCM (n=258) 31

Bảng 3 3 Kiến thức của ĐTNC về các dấu hiệu nặng của bệnh TCM (n=258) 34

Bảng 3 4 Kiến thức của ĐTNC về biện pháp tránh lây lan của bệnh TCM (n=258) 35

Bảng 3 5 Kiến thức của ĐTNC về đường lây truyền bệnh TCM (n=258) 36

Bảng 3 6 Kiến thức của ĐTNC về biện pháp phòng ngừa bệnh TCM (n=258) 37

Bảng 3 7 Kiến thức của ĐTNC về các biện pháp phòng chống bệnh TCM (n=258) 38

Bảng 3 8 Kiến thức của ĐTNC về cách xử lý khi có trẻ mắc TCM (n=258) 39

Bảng 3 9 Thực hành rửa tay cho giáo viên (n=258) 41

Bảng 3 10 Thực hành rửa tay cho trẻ (n=258) 42

Bảng 3 11.Thực hành lau rửa đồ chơi cho trẻ (n=258) 44

Bảng 3 12.Thực hành lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa (n=258) 45

Bảng 3 13 Thực hành về vệ sinh ăn uống (n=258) 46

Bảng 3 14 Thực hành thu gom và xử lý chất thải (n=258) 47

Bảng 3 15 Xử trí khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM (n=258) 48

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa kiến thức PC bệnh TCM và đặc điểm của ĐTNC 50

Bảng 3 17 Mối liên quan giữa thực hành phòng chống bệnh TCM với đặc điểm của ĐTNC 52

Bảng 3 18 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng, chống bệnh TCM của ĐTNC 54

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 1 Số ca mắc bệnh TCM tại Trung Quốc từ 2012 đến 2016 (Nguồn:

WPRO 2016) 10

Biểu đồ 1 2 Số ca mắc TCM tại Singapore từ 2012 – 2016 11

Biểu đồ 1 3 Số ca mắc TCM tại Nhật Bản từ 2010 đến 2016 11

Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ kiến thức của giáo viên về triệu chứng của bệnh 33

Biểu đồ 3 2 Kiến thức chung về phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên các trường mầm non 40

Biểu đồ 3 3 Tỷ lệ giáo viên thực hành quy trình rửa tay 43

Biểu đồ 3 4 Thực hành thu gom và xử lý chất thải của trẻ 47

Biểu đồ 3 5 Thực hành chung của giáo viên về phòng chống bệnh tay chân miệng 49

Trang 11

Tại huyện Tân Hồng của tỉnh Đồng Tháp, trong 5 năm gần đây tình hình mắc TCM trên địa bàn huyện vẫn diễn biến phức tạp và nguy hiểm Trên địa bàn huyện

số trẻ dưới 5 tuổi là 5143 trẻ trong đó số trẻ được đi học tại các trường mầm non là

4066 trẻ chiếm 79% Vì vậy, giáo viên mầm non có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng chống bệnh TCM Nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về kiến thức, thực hành của các giáo viên mầm non (GVMN) trên địa bàn huyện, chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích từ tháng 01/2017 đến tháng 6/2017 trên toàn bộ 258 GVMN tại địa bàn huyện với mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thực hành

về phòng, chống bệnh TCM của giáo viên tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2017 và (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của các giáo viên này Kết quả nghiên cứu cho thấy có 79,1% giáo viên đã từng được tập huấn bệnh TCM; 59,7% số giáo viên đã từng xử lý/chăm sóc trẻ bị TCM Việc tự cập nhật kiến thức phòng chống bệnh TCM được các giáo viên quan tâm chiếm đến 90,3% Tỷ lệ giáo viên có kiến thức phòng chống bệnh TCM đạt là 76% Tỷ lệ thực hành phòng chống bệnh TCM của giáo viên đạt là 73,3% Những giáo viên không có việc làm thêm ngoài giờ thì có kiến thức và thực hành phòng chống bệnh TCM tốt hơn những giáo viên còn lại, các giáo viên tự cập nhật kiến thức phòng chống bệnh TCM có kiến thức phòng chống bệnh tốt hơn các giáo viên không tự cập nhật kiến thức Nghiên cứu cũng đưa ra một

số khuyến nghị: 1 Cần duy trì các buổi tập huấn về phòng chống bệnh TCM cho các GVMN trên địa bàn huyện 2 Các GVMN nên chủ động cập nhật các kiến thức về phòng chống bệnh TCM 3 Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên được tập huấn phòng chống bệnh TCM đầy đủ 4 Giám sát chặt chẽ việc rửa tay cho học sinh và giáo viên theo đúng quy trình

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh TCM là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do

vi-rút đường ruột gây ra Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus

A16 và Enterovirus 71 (EV71) Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá và có thể gặp

ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh [2]

Trên thế giới bệnh được phát hiện ở hầu hết ở các nước, đặc biệt là ở châu Á đã xảy ra các vụ dịch lớn với số mắc và tử vong cao và đang trở thành vấn đề Y tế công cộng (YTCC) nghiêm trọng Những quốc gia ghi nhận số ca mắc cao trong thời gian gần đây gồm: Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam [31]

Tại Việt Nam, tính đến tháng 9/2016, đã có 29.134 trường hợp mắc bệnh TCM

và từ 63 tỉnh [32] Bệnh xuất hiện rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương Riêng các tỉnh phía Nam chiếm đến 60% tổng số ca bệnh trên cả nước Bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm Hiện tại, bệnh chưa có vắc-xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu [2] Do

đó, biện pháp quan trọng và hữu hiệu để phòng, chống bệnh TCM cho trẻ là giữ vệ sinh và cách ly trẻ khi phát hiện bệnh Cả hai yếu tố này phụ thuộc rất nhiều vào người chăm sóc trẻ Chỉ khi người chăm sóc trẻ có kiến thức và kỹ năng thực hành

về phòng chống bệnh TCM thì mới có thể xử trí tốt khi trẻ mắc bệnh và tránh lây bệnh

Tỉnh Đồng Tháp là một trong những điểm nóng về tình hình bệnh TCM của khu vực Trong năm 2015 toàn tỉnh có 4009 ca mắc trong đó có 1 trường hợp tử vong Tính đến tháng 9/2016 toàn tỉnh có 1987 ca mắc [13] Nhận định tình hình 3 tháng cuối năm bệnh còn diễn biến phức tạp và không có dấu hiệu dừng lại

Tại huyện Tân Hồng, theo báo cáo Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng, trong năm

2010 trên địa bàn huyện bệnh TCM chỉ mắc 7 ca, nhưng đến năm 2011 bệnh TCM

Trang 13

tăng lên 272 ca (có 01 ca tử vong), đỉnh điểm năm 2012 bệnh TCM tăng lên 442 ca, năm 2013 (309 ca), tuy dịch có xu hướng giảm nhưng không đáng kể, năm 2014 có

357 trường hợp mắc bệnh TCM và năm 2015 số trường hợp mắc TCM là 214 ca [14], [15], [16], [17], [18] Tuy nhiên, tính đến thời điểm tháng 9/2016 số ca mắc TCM là

165 ca tăng 95 ca so với cùng kỳ năm 2015 (70 ca), đối tượng thường dễ mắc bệnh

là trẻ dưới 5 tuổi, bệnh hay bùng phát vào đầu năm học bắt đầu từ tháng 9 hàng năm [19] Mặc dù ngành Y tế đã triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh TCM nhưng hiệu quả mang lại chưa cao Tình hình mắc TCM trên địa bàn huyện vẫn diễn biến phức tạp và nguy hiểm

Qua số liệu báo cáo của TTYT huyện Tân Hồng thì trên địa bàn huyện số trẻ dưới 5 tuổi là 5143 trẻ trong đó số trẻ được đi học tại các trường mầm non là 4066 trẻ chiếm 79% Mặt khác, trong số 165 Ca mắc TCM có 113 ca là trẻ có đi học tại các trường mầm non chiếm 68% Vì vậy công tác phòng chống bệnh TCM phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên ở các trường mầm non này

Vậy câu hỏi đặt ra là thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của giáo viên tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Tân Hồng hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào liên quan tới thực trạng này? Để trả lời các câu hỏi trên chúng

tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến

phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên tại các trường mầm non huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2017”.

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh tay chân miệng của giáo viên tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm

2017

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh TCM của giáo viên tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp năm 2017

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Bệnh tay chân miệng

1.1.1 Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng

Bệnh tay, chân và miệng là một bệnh truyền nhiễm phổ biến của trẻ sơ sinh và trẻ em Tuy nhiên, trong những năm gần đây bệnh có xuất hiện ở người lớn Dấu hiệu đặc trưng là sốt, các vết loét trong miệng, và phát ban ở bàn tay, bàn chân và mông

Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 (CA16) và

Enterovirus 71 (EV71) Bệnh phổ biến ở nhiều nước châu Á [2] Bệnh TCM thường

xảy ra ở mức độ nhẹ và hồi phục trong vòng 7-10 ngày Riêng nhóm vi-rút EV71 có thể gây các biến chứng nặng và có liên quan đến di chứng thần kinh nghiêm trọng ở một số trường hợp [2]

1.1.2 Lịch sử của bệnh

Bệnh được mô tả lần đầu tại Toronto - Canada năm 1957 [1] Đến năm 1959 trong vụ dịch tại Birmingham - Anh, bệnh đã được đặt tên là TCM Cũng tại vụ dịch này, CA16 đã được xác định là căn nguyên gây bệnh Cho đến năm 1974, căn nguyên EV71 đã được Schmidt và cộng sự mô tả dựa trên 20 bệnh nhân bị bệnh TCM có biến chứng thần kinh trung ương, trong đó có 1 ca tử vong tại California (Mỹ) vào giữa những năm 1969 và 1972 Bắt đầu từ cuối những năm 1990, các vụ dịch TCM đã lan rộng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương với một tỷ lệ lớn có biểu hiện bệnh lý thần kinh và tim mạch [31] Tại Việt Nam, TCM do EV71 được phát hiện và phân lập đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 [5] Các chủng EV71 lưu hành ở khu vực phía Nam thuộc nhiều nhóm Tuy nhiên, không có sự khác biệt về mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng giữa các nhóm và phân nhóm của EV71

1.2 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh tay chân miệng

1.2.1 Tác nhân gây bệnh

Bệnh TCM gây ra do nhóm vi-rút đường ruột bao gồm vi-rút Coxsackies, Echo

và các vi-rút đường ruột khác Các vi-rút đường ruột týp 71 (EV71) và CA16 CA16

Trang 16

là một tác nhân gây bệnh thường xuyên gặp phải trong các trường hợp TCM và biểu hiện lâm sàng thường nhẹ và có thể hoàn toàn hồi phục Trường hợp tử vong của nhiễm trùng CA16 là rất hiếm Vi-rút EV71 có thể gây ra biến chứng nặng và dẫn đến tử vong Các vi-rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ Vi-rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 40C Tia cực tím, nhiệt

độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi-rút [2], [26]

1.2.2 Nguồn và phương thức lây truyền

Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa: thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi-rút từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người – người qua các dịch tiêt đường hô hấp, hạt nước bọt, một số yếu tố

có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày [2], [26]

1.2.3 Một số đặc điểm của bệnh

Tuổi: Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất là trẻ dưới 05 tuổi, đặc

biệt dưới 3 tuổi có nguy cơ mắc 2 - 3 lần so với nhóm khác Người lớn ít bị mắc bệnh,

có thể đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây [30]

Giới tính: Có sự chênh lệnh tỷ lệ mắc bệnh TCM giữa nam và nữ Theo một

nghiên cứu ở Trung Quốc trong năm 2008-2009 tỷ chênh giữa nam và nữ là 1,56 [30] Trong một nghiên cứu dịch tễ học ở Singapore, tỷ lệ này là 1,3 [25] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu tại các tỉnh phía Nam cũng cho thấy bệnh TCM xảy ra nhiều ở nam (61,43%) [12]

Mùa mắc bệnh: Bệnh TCM có thể xuất hiện quanh năm nhưng số ca mắc tăng

vào những tháng đầu mùa hè vả đầu mùa thu trong năm Theo báo cáo của viện

Trang 17

Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, ở các tỉnh phía Nam thì số bệnh nhân TCM tăng cao trong 2 đợt: từ tháng 3 – 5 và tháng 9 – 12 hàng năm [21]

1.3 Một số nghiên cứu về yếu tố liên quan đến bệnh tay chân miệng

Nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng và cộng sự về “Đặc điểm dịch tễ học và một số yếu tố đến bệnh TCM tại khu vực miền Trung, năm 2008-2009” Với thiết kế nghiên cứu bệnh chứng gồm 35 bệnh và 140 chứng Kết quả cho thấy những trẻ sinh thiếu tháng có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn trẻ sinh đủ tháng gấp 3,93 lần (CI=1,07-14,34; p<0,05) Những trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2,53 lần

so với trẻ không đi (CI=1.09-5,9;p<0,05) Những trẻ có sử dụng đồ chơi chung với trẻ khác có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn trẻ không sử dụng đồ chơi chung với trẻ khác gấp 2,62 lần (CI=1,14-6,03; p<0,05) Những trẻ có thói quen múc tay có nguy

cơ mắc bệnh TCM cao hơn trẻ không có thói quen này gấp 3,13 lần (CI=1,24-7,88; p<0,05) Những trẻ sống trong hộ gia đình có từ 3 người trở lên có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn những trẻ sống trong hộ gia đình chỉ có 2 người gấp 4,89 lần (CI=1,06-31,18; p<0,01) Trẻ sống trong hộ gia đình có diện tích trung bình 5m2/người có nguy

cơ mắc bệnh TCM cao hơn những trẻ sống trong hộ gia đình có diện tích rộng hơn gấp 3,93 lần (CI=1,07-14,34; p<0,05) [6]

Năm 2010, Jie Gao đã tiến hành nghiên cứu bệnh chứng tại các nhà trẻ của tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc Gồm 90 lớp học trong đó có 30 lớp học thỏa mãn điều kiện

về ca bệnh và 60 lớp học thõa mãn điều kiện đối chứng Kết quả nghiên cứu cho thấy lớp học không được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, không có nước rửa tay, cốc uống nước không được rửa sạch và việc cách ly người bệnh không được thực hiện đúng lúc là những yếu tố nguy cơ của bệnh TCM ở những nhà trẻ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thiếu hệ thống thông gió, không có khăn tắm riêng và không có cốc uống nước riêng cho mỗi trẻ là các yếu tố làm tăng nguy cơ bị TCM lên 2,9 lần [24]

Nghiên cứu bệnh chứng được Feng Ruan và cộng sự tiến hành ngẫu nhiên trên

283 trẻ dưới 6 tuổi có mắc bệnh TCM và nhóm chứng 283 trẻ không mắc bệnh TCM

có tuổi và nơi ở tương đồng với trẻ nhóm bệnh ở thị trấn Qiaosi, tỉnh Zhejang, Trung Quốc năm 2011 [28] Với mục tiêu là xác định các yếu tố nguy cơ của bệnh TCM, và

Trang 18

hiệu quả phòng bệnh bằng rửa tay Kết quả cho thấy các yếu tố nguy cơ dễ mắc bệnh TCM bao gồm: trẻ chơi với nhà hàng xóm (OR=11; 95% CI=6,2-17); đi đến phòng khám ngoại trú vì một lý do khác trong vòng một tuần trước khi bị bệnh (OR=20; 95%CI=5,0-88); phơi nhiễm/tiếp xúc với người khác ở nơi đông đúc (OR=7,3; 95%CI=4,1-13) Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng câu hỏi phỏng vấn người chăm sóc trẻ (NCST) về hành vi rửa tay (4 câu hỏi) Kết quả cho thấy việc rửa tay thường xuyên có hiệu quả bảo vệ từ 80-90% (OR=0,02-0,20) Trong số 2,5% số NCST trả lời với điểm số thấp thì có đến 50% trẻ nhiễm bệnh, trong khi chỉ có 12% trẻ nhiễm bệnh ở nhóm 78% NCST trả lời đạt điểm số cao (OR: 0,00069 [95%CI: 0,0022– 0,022])

1.4 Các biện pháp phòng, chống bệnh tay chân miệng

và làm vệ sinh cho trẻ

Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ thường xảy ra vào mùa hè và mùa thu, thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng Không có biện pháp cụ thể nào chắc chắn giảm thiểu các trường hợp mới mắc nếu dịch bùng phát trong nhà trẻ, trường học Tuy nhiên, những biện pháp chung sau đây thường được khuyến cáo:

 Rửa tay sạch sẽ, nhất là sau khi đi vệ sinh, thay tã lót, hoặc dọn dẹp các đồ chơi, vật dụng, sàn nền nhà nơi trẻ chơi đùa, các chất thải, dịch tiết của trẻ;

 Che miệng khi ho, hắt hơi;

 Thường xuyên vệ sinh đồ chơi của trẻ;

Trang 19

 Cho nghỉ tại nhà với những trẻ có biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện loét miệng, nổi nốt phòng ờ lòng bàn tay, chân và mông

Trong tất cả các khuyến cáo trên thì việc rửa tay bằng xà phòng thường xuyên được “xem như là liều “vắc – xin” hiệu quả được các chuyên gia của WHO cũng như Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế khuyến nghị [2]

1.4.2 Nguyên tắc phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch bệnh cụ thể

Bệnh TCM chưa có vắc-xin và thuốc điều trị đặc hiệu Do đó biện pháp phòng chống dịch chủ yếu dựa theo “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh tay chân miệng” ban hành kèm theo Quyết định số: 581/QĐ – BYT ngày 24/02/2012 và

“Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng” ban hành kèm theo Quyết định số: 1003/QĐ – BYT ngày 30/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế bao gồm:

 Phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý và điều trị kịp thời;

 Cách ly ngay các trường hợp mắc, không để lây lan ra cộng đồng;

 Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, nâng cao thể trạng;

 Làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh bị nhiễm chất tiết và bài tiết của bệnh nhân TCM

Tại nhà trẻ, mẫu giáo:

Trẻ mắc bệnh không đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh và chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các phỏng nước Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại từng lớp học Thầy cô giáo/người chăm sóc trẻ cần theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ hàng ngày Đặc biệt khi phát hiện trong lớp, trong trường có trẻ nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo cho gia đình và cán bộ y tế để xử lý kịp thời Đảm bảo tất cả trẻ em, người lớn thực hiện tốt vệ sinh cá nhân như vệ sinh răng miệng, rửa tay sạch và thường xuyên trước và sau khi chế biến thức ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi thay tã cho trẻ

Làm sạch các dụng cụ, vật dụng mà trẻ thường xuyên tiếp xúc như đồ chơi, tay cầm cửa, tay vịn cầu thang…nhà vệ sinh bằng xà phòng, sau đó lau lại bằng Cloramin

Trang 20

B 2% hằng ngày Dụng cụ ăn uống như chén, dĩa, ly, cốc… ngâm, tráng qua nước sôi trước khi sử dụng Thường xuyên làm thông gió lớp học [3]

Tùy tình hình và mức độ nghiêm trọng của dịch, cơ quan y tế địa phương tham mưu cho cấp có thẩm quyền tại địa phương quyết định việc đóng cửa lớp học/trường học/nhà trẻ, mẫu giáo.Thời gian đóng cửa lớp học/trường học/nhà trẻ, mẫu giáo là 10 ngày kể từ ngày khởi phát của ca bệnh cuối cùng [3]

Đối với cộng đồng:

Tuyên truyền tới từng hộ gia đình, đặc biệt là bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại các

hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi, giáo viên các trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm trẻ gia đình, lãnh đạo chính quyền, đoàn thể tại địa phương về bệnh TCM và các biện pháp phòng chống bằng nhiều hình thức như họp tổ dân phố, họp dân, tập huấn, hướng dẫn tại chỗ, tờ rơi, loa đài, phát thanh, báo chí, truyền hình

1.4.3 Phương pháp phòng bệnh TCM trên thế giới

Năm 2011, Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành hướng dẫn về quản lý lâm sàng

và đáp ứng YTCC về phòng chống bệnh TCM Các phương pháp phòng chống bệnh TCM được WHO khuyến cáo là: Thiết lập và tăng cường hệ thống giám sát; tiến hành các chiến dịch truyền thông về vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản, hỗ trợ trường mẫu giáo, mầm non, cơ sở chăm sóc ban ngày, trường học trong vụ dịch; tăng cường các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng ở cả 2 tuyến chăm sóc: y tế và cộng đồng; cải thiện dịch

vụ quản lý các trường hợp lâm sàng, đặc biệt các trường hợp có biểu hiện nghiêm trọng yêu cầu chăm sóc y tế chuyên sâu; trao đổi thông tin và phổ biến kinh nghiệm

để chuẩn bị, đáp ứng và quản lý tốt bệnh TCM, đặc biệt là trong thời gian bùng phát dịch; cải thiện hệ thống hành chính cho các cơ quan chính phủ, các đơn vị thực hiện phòng ngừa và kiểm soát; giám sát và đánh giá tình dịch dịch bệnh [31]

Trang 21

1.5 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và ở Việt Nam

1.5.1 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và trong khu vực

Bệnh TCM do EV71 phân bố khá phổ biến trên thế giới, bệnh thường xảy ra ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Kể từ khi ca bệnh được xác định là do EV71 gây

ra được phát hiện vào năm 1969 tại bang California, Mỹ bệnh đã phát tán rộng khắp thế giới và không ngừng biến thể thành nhiều chủng khác nhau Theo đại diện của WHO tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, cho đến những năm cuối thập niên 90 bệnh bắt đầu xuất hiện tại Hồng Kông, Trung Quốc, Singepore và Braxin [12] Trong

đó, Trung Quốc là quốc gia có số ca mắc TCM nhiều nhất [31]

Tại Trung Quốc, trường hợp nhiễm bệnh TCM được phát hiện đầu tiên vào

năm 1981 tại Thượng Hải Sau đó dịch đã lan sang các tỉnh thành khác như Bắc Kinh, Quảng Đông Trong năm 2016, tính đến thời điểm tháng 8, Trung Quốc đã ghi nhận 1.792.251 trường hợp mắc TCM trong đó có 172 trường hợp tử vong [32]

Biểu đồ 1 1 Số ca mắc bệnh TCM tại Trung Quốc từ 2012 đến 2016 (Nguồn: WPRO 2016)

Tại Singapore, bệnh TCM vẫn là vấn đề YTCC nổi cộm với tỷ lệ mắc hàng

năm trên 100.000 dân từ 125,5 (năm 2001) tăng lên 435,9 (2007), mặc dù các biện pháp nghiêm ngặt được thực hiện tại các trường mầm non để ngăn chặn sự lây lan

Trang 22

của bệnh Tính đến thời điểm hiện tại (9/2016), số ca mắc TCM tại Singapore là 38.733 ca và chưa có trường hợp tử vong [31], [32]

Biểu đồ 1 2 Số ca mắc TCM tại Singapore từ 2012 – 2016

(Nguồn: WPRO 2016)

Tại Nhật Bản, 2 vụ dịch lớn xảy ra vào năm 1973 và 1978 với 3196 và 36301

ca mắc tương ứng và một số tử vong [31] Vụ dịch TCM năm 2000 và 2003 tại Nhật Bản ghi nhận lần lượt 205.365 và 172.659 ca mắc, khoảng 90% trẻ dưới 5 tuổi Tính đến tháng 9/2016 số trường hợp TCM tại Nhật Bản được ghi nhận là 57,453 trường hợp và không có trường hợp tử vong [32]

Biểu đồ 1 3 Số ca mắc TCM tại Nhật Bản từ 2010 đến 2016

(Nguồn: WPRO 2016)

Trang 23

Theo số liệu cập nhật ngày 29/11/2016 của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, bệnh TCM miệng vẫn tiếp tục được ghi nhận tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, có một số quốc gia tăng cao hơn năm trước như Trung Quốc, Triều Tiên, Macau, Singapore [32]

1.5.2 Tình hình bệnh Tay chân miệng ở Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh TCM lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1997 Năm 2003,

vụ dịch TCM lần đầu được báo cáo tại miền Nam Việt Nam [12] Những năm gần đây, bệnh có diễn biến rất phức tạp và đang trở thành mối lo ngại đối với sức khỏe cộng đồng Bệnh xảy ra phần lớn tại các tỉnh phía Nam và có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm [2]

Bảng 1.1 Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 2013 – 2015

1.5.3 Tình hình bệnh tay chân miệng tại tỉnh Đồng Tháp

Theo dõi tình hình bệnh TCM trên địa bàn tỉnh từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy số ca mắc đỉnh điểm là năm 2012 (6.188 ca, 7 ca tử vong) Năm 2011 (6131, 10

ca tử vong) Trong những năm tiếp theo lần lượt là 2013 (3848 ca, 5 ca tử vong), 2014 (4525 ca, 1 ca tử vong), 2015 (4009 ca, 1 ca tử vong) [13]

Trang 24

1.5.4 Một số đặc điểm và tình hình bệnh TCM tại huyện Tân Hồng

1.5.4.1 Thông tin chung về huyện Tân Hồng

Huyện Tân Hồng được thành lập vào ngày 01 tháng 6 năm 1989 là huyện vùng sâu biên giới của tỉnh Đồng Tháp Phía Bắc giáp huyện Sa đách và huyện Ta Bét tỉnh Preyveng của Campuchia, phía Nam giáp huyện Tam Nông; phía Tây giáp thị xã Hồng Ngự; phía Đông giáp huyện Tân Hưng của tỉnh Long An Tổng diện tích tự nhiên là 294 km2, huyện có 9 đơn vị hành chính gồm 01 thị trấn và 08 xã, có 39 khóm,

ấp với tổng số dân số 104.274 nhân khẩu Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 13,55%, là huyện có

tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh [20]

Về kết cấu hạ tầng: Huyện có cửa khẩu Quốc tế Dinh Bà là nơi hội tụ nhiều tuyến đường giao thông quan trọng, hệ thống giao thông nông thôn của huyện khá hoàn chỉnh Hệ thống điện bao phủ toàn huyện, 100% các xã trên địa bàn huyện đều

có trạm cấp nước sinh hoạt cung cấp cho người dân sử dụng

Về kinh tế: Nông nghiệp vẫn là thế mạnh kinh tế của huyện, tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện đạt 108, 27%, GDP bình quân đầu người đạt 27,89 triệu/năm

Về Y tế: Huyện có 01 Phòng y tế, 01 Bệnh viện, 01 Trung tâm Y tế, 02 Phòng khám đa Quân dân Y kết hợp, 9 trạm y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh cho người dân, 100% các trạm y tế đều đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, các trạm y tế đều

có bác sĩ phục vụ, đến cuối năm 2014 tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân đạt 6,7, ngoài ra tại 39 khóm, ấp còn có đội ngũ nhân viên sức khỏe cộng đồng với số lượng 02 nhân viên SKCĐ/khóm, ấp Bệnh viện đa khoa huyện với quy mô 120 giường, trong năm 2015 nhiều Dự án đã hỗ trợ trang thiết bị hiện đại, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ

và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Về giáo dục: Năm 2015 số trường trên địa bàn huyện: 55 trường, trong đó mầm non: 14 trường, tiểu học: 24 trường, trung học cơ sở: 13 trường, trung học phổ thông

03 trường, có 01 Trung tâm dạy nghề - giáo dục thường xuyên Có 14 trường đạt chuẩn Quốc gia

Trang 25

Xây dựng đời sống văn hóa: Năm 2015 có 5/9 xã đạt chuẩn văn hóa, 37/39 ấp đạt chuẩn ấp văn hóa, nhiều ấp đạt chuẩn văn hóa nhiều năm liền

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Hồng

1.5.4.2 Tình hình bệnh TCM của huyện Tân Hồng

Theo các báo cáo của Trung tâm y tế huyện Tân Hồng, trong năm 2010 trên địa bàn huyện bệnh TCM chỉ mắc 7ca, nhưng đến năm 2011 bệnh TCM tăng lên 272 ca (có 01 ca tử vong), đỉnh điểm năm 2012 bệnh TCM tăng lên 442 ca, năm 2013 (309 ca), tuy dịch có xu hướng giảm nhưng không đáng kể, năm 2014 có 357 trường hợp mắc bệnh TCM và năm 2015 số trường hợp mắc TCM là 214 ca Tuy nhiên, tính đến thời điểm tháng 9/2016 số ca mắc TCM là 165 ca tăng 95 ca so với cùng kỳ năm 2015 (70 ca), đối tượng thường dễ mắc bệnh là trẻ dưới 5 tuổi, bệnh hay bùng phát vào đầu năm học bắt đầu từ tháng 9 hàng năm Mặc dù ngành Y tế đã triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh TCM nhưng hiệu quả mang lại chưa cao Tình hình mắc TCM trên địa bàn huyện vẫn diễn biến phức tạp và nguy hiểm [14], [15], [16], [17], [18], [20]

Trang 26

Qua số liệu báo cáo của TTYT huyện Tân Hồng thì trên địa bàn huyện số trẻ dưới 5 tuổi là 5658 trẻ trong đó số trẻ được đi học tại các trường mầm non là 4066 trẻ chiếm 71,86% Mặt khác, trong số 165 Ca mắc TCM có 113 ca là trẻ đang đi học tại các trường mần non 68% Vì vậy công tác phòng chống bệnh TCM phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên ở các trường mầm non này

1.6 Một số nghiên cứu về KAP và yếu tố liên quan đến bệnh Tay chân miệng

1.6.1 Một số nghiên cứu về KAP và yếu tố liên quan đến bệnh Tay chân miệng trên thế giới

Một nghiên cứu cắt ngang của Su Ching Yang và đồng sự trên 690 phụ huynh

và 104 giáo viên của 10 trường mẫu giáo ở miền bắc Đài Loan về kiến thức và thái

độ của họ đối với sự lây nhiễm EV71 từ 1/6/2008 đến 31/7/2008 [33] Các thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi gồm kiến thức cạnh về EV71, thực hành tránh lây nhiễm,

và sự căng thẳng tâm lý khi đối phó lại tình trạng nhiễm EV trong trường Tất cả đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng đã được ghi nhận Kết quả khảo sát cho thấy 76% giáo viên dưới 30 tuổi và 56,7% có trình độ học vấn cao đẳng Tỷ lệ trả lời chính xác

ở cả hai nhóm là 89,3% về các triệu chứng đặc trưng nhiễm EV71; 91,8% về nhóm tuổi dễ bị nhiễm EV71 và 80,6% về mùa lây nhiễm Tỷ lệ trả lời chính xác các triệu chứng phổ biến xác định nhiễm EV và các dấu hiệu cảnh báo nhiễm EV nặng ít hơn một phần ba trong cả hai, cụ thể là ở nhóm phụ huynh là 31,9% và ở nhóm giáo viên

là 26% Khoảng một nửa số phụ huynh và giáo viên nghĩ rằng có thuốc kháng vi-rút điều trị hiệu quả đối với bệnh nhiễm EV71 Nhóm cha mẹ có kiến thức tốt hơn so với nhóm giáo viên về mùa lây truyền (tương ứng với 82,3% và 69,2%), các triệu chứng đặc trưng khi nhiễm EV71 (tương ứng với 90,3% và 82,7%) Liên quan đến hành vi phòng tránh nguy cơ lây nhiễm EV71, biện pháp cho trẻ bị nhiễm vi-rút nghỉ ở nhà trong 1 đến 2 tuần được trả lời nhiều hơn ở nhóm giáo viên so với nhóm phụ huynh (tương ứng với 91,3% và 72,2%) Nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả liên quan đến kiến thức, thái độ của giáo viên và phụ huynh về sự lây nhiễm EV71 Tuy nhiên, nghiên cứu có một số hạn chế Thứ nhất, độ tin cậy chưa được thiết lập Thứ hai, nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian bùng nổ dịch bệnh, cảm giác lo

Trang 27

lắng và hoảng sợ của phụ huynh là khá mạnh, nhưng thái độ và nhận thức có thể thay đổi sau khi dịch bệnh được kiểm soát Thứ ba, có thể có sai số trong chọn mẫu và chưa thể ước tính giá tri bên ngoài của nghiên cứu

Một nghiên cứu khác của Hwa-Chih Pai về nhận thức, quan điểm và hành vi phòng, chống EV của giáo viên và phụ huynh của trường mầm giáo đã được tiến hành

ở tỉnh và thành phố Đài Nam, năm 2006 [27] Mục đích của nghiên cứu là để điều tra tình trạng phòng EV gần đây và để đánh giá nhận thức, quan điểm và hành vi phòng, chống EV của giáo viên và phụ huynh của trường mầm giáo Đối tựng gồm 479 giáo viên và 1161 cha mẹ ở tỉnh và thành phố Đài Nam Thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi gồm đặc điểm nhân khẩu học, 12 câu hỏi về nhận thức về enterovirus, 10 câu hỏi về hành vi phòng, chống enterovirus, truyền thông về EV Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình nhận thức của giáo viên là 7,99; tỷ lệ trả lời đúng EV lây truyền qua đường tiêu hóa, hô hấp là 68,3%; triệu chứng điển hình của bệnh TCM là 85,4%; dấu hiệu nặng của bệnh là 30,7%; cho đến nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu EV là 62,4%; nếu nghi ngờ có dịch enterovirus, phải làm sạch bề mặt và khử trùng môi trường với liều thuốc tẩy là 200mg/l là 30,9%; đến nay chưa có vắc-xin phòng EV là 68,3% Sau khi phân tích mối liên quan giữa các biến nhân khẩu học và nhận thức về EV, nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa độ tuổi của giáo viên với nhận thức Những giáo viên đã kết hôn và có con điểm trung bình về nhận thức

có điểm số cao nhất, sau đó đến những giáo viên chưa lập gia đình, và thấp nhất những giáo viên đã lập gia đình chưa có con cái Thâm niên công tác có mối liên quan với điểm nhận thức Giáo viên có số năm kinh nghiệm trên 16 năm có điểm trung bình nhận thức cao nhất, điểm số giảm dần theo thứ tự 11-15 năm; 6-10 năm và 5 năm Những giáo viên đã từng tham gia học về EV có điểm trung bình nhận thức cao hơn những giáo viên không tham gia học Số lượng nguồn thông tin có mối liên quan với điểm nhận thức của giáo viên Cụ thể là, những giáo viên nhận được năm hoặc nhiều hơn nguồn thông tin có điểm trung bình nhận thức cao nhất Về hành vi phòng ngừa EV, điểm trung bình của hành vi phòng ngừa của giáo viên là 4,43 Tỷ lệ luôn luôn nhắc trẻ rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; dạy trẻ rửa tay sau khi hắt

Trang 28

hơi, ho bị dính vào tay; rửa tay trước khi chuẩn bị bữa ăn cho trẻ; lau sàn nhà thường xuyên với thuốc tẩy; thường xuyên ngâm đồ chơi của trẻ với thuốc tẩy trong 30 phút sau đó làm khô tương ứng là 93,3%; 78,9%; 88,5%; 47%; 33,4%; 29,9% Sau khi phân tích mối liên quan giữa nhân khẩu học với hành vi phòng ngừa EV, nghiên cứu

đã tìm thấy mối liên quan giữa tuổi và hành vi phòng ngừa của giáo viên Điểm trung bình hành vi giảm dần theo nhóm tuổi lần lượt là 41-45 tuổi, từ 46 trở lên, 36-40 tuổi, 31-35 tuổi, 26-30 tuổi và thấp nhất là 25 tuổi trở xuống Tình trạng hôn nhân có mối liên quan với hành vi phòng ngừa EV Những giáo viên đã kết hôn và có con có điểm trung bình hành vi cao nhất; những giáo viên chưa lập gia đình có điểm trung bình thấp nhất Thâm niên công tác có mối quan hệ với hành vi phòng ngừa của giáo viên

Cụ thể là, những giáo viên có thâm niên công tác hơn 16 năm có điểm trung bình hành vi cao nhất; điểm số giảm dần theo thứ tự 11-15 năm; 6-10 năm và 5 năm Từng tham gia khóa học về EV có mối liên quan với hành vi phòng ngừa Những giáo viên

đã từng tham gia khóa học có điểm số trung bình cao hơn những người không tham gia khóa học Nghiên cứu còn một số hạn chế Thứ nhất, quy mô mẫu chưa đủ lớn, chỉ giới hạn trong tỉnh và thành phố Đài Nam vì các quận, các đô thị ở Đài Loan có

vị trí địa lý, khí hậu, độ ẩm, điều kiện sức khỏe và đời sống … nên chưa mang tính đại diện cao Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nên thiếu linh hoạt, nếu người hỏi hiểu sai ý nghĩa của vấn đề có thể có câu trả lời sai, tất cả câu trả lời dựa vào bộ câu hỏi nên khó khăn để hiểu được kiến thức nền của người được hỏi Ngoài ra, nghiên cứu chưa tìm ra được mối liên quan giữa kiến thức và thực hành

Một nghiên cứu mô tả của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự về kiến thức phòng chống bệnh TCM và thực hành trong suốt vụ dịch trên 388 người chăm sóc trẻ ở các trung tâm chăm sóc trẻ và trường mẫu giáo được tiến hành tại thành phố Khon Kaen, Thái Lan, năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người chăm sóc có đủ kiến thức để sàng lọc và kiến thức phòng chống bệnh TCM tương ứng là 95% và 39,8% Trong phần kiến thức phòng chống bệnh TCM, tỷ lệ đối tượng biết phải rửa tay cho trẻ với nước sạch trước mỗi bữa ăn chỉ chiếm 3,5% và tỷ lệ biết sử dụng đúng chất

Trang 29

tẩy rửa để làm sạch bàn tay, bàn chân, khử trùng miệng là 43% Đối với thực hành phòng chống bệnh, chỉ có 3,5% đối tượng biết rửa tay với xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Trong thời gian dịch bùng phát, một số người chăm sóc trẻ (23,7%) không giảm hoạt động tiếp xúc gần gũi giữa các trẻ bệnh, và khi có trẻ bị bệnh, 19,1% người chăm sóc không báo cáo cho cơ quan YTCC biết [22]

Một trong những hạn chế của nghiên cứu này là tập trung tìm hiểu về thực hành trong khi xảy ra dịch mà chưa khai thác được nhiều thông tin về thực hành về phòng chống bệnh TCM, không phân tích các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành Năm 2012, Wang Wen-Ming và cộng sự tiến hành “Khảo sát kiến thức và hành

vi liên quan đến bệnh tay chân miệng trong giáo viên mầm non và cha mẹ trẻ em trong khu đô thị thành phố Côn Sơn, Trung Quốc” Có 335 giáo viên mẫu giáo và

852 bố mẹ của trẻ mẫu giáo đã đồng ý tham gia cuộc khảo sát Kết quả cho thấy tỉ lệ nhận thức về kiến thức liên quan đến bệnh tay chân miệng ở cha mẹ trẻ là 67,24% và trong giáo viên mẫu giáo là 85,73% Tỉ lệ hành vi chăm sóc sức khoẻ ở cha mẹ của trẻ là 86,25% và giáo viên mẫu giáo là 98,04% Tỉ lệ cha mẹ trẻ nghĩ rằng trẻ bệnh nên đến bệnh viện là 93,19 % và tỷ lệ giáo viên mẫu giáo là 94,93% Có 76,53% bố

mẹ của trẻ em và 79,70% giáo viên mẫu giáo đạt được kiến thức liên quan về bệnh tay chân miệng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng [29]

1.6.2 Một số nghiên cứu về KAP và yếu tố liên quan đến bệnh Tay chân miệng tại Việt Nam

Nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân năm 2012 về “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội năm 2012”, nghiên cứu người chăm sóc trẻ dưới 3 tuổi tại kết quả nghiên cứu cho thấy 58,5% đối tượng nghiên cứu có kiến thức phòng chống bệnh TCM không đạt và 69,5% đối tượng nghiên cứu thực hành phòng chống bệnh TCM không đạt [10]

Nghiên cứu của Đỗ Thị Thùy Chi (2013), tại các trường Mầm non giáo huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, kết quả nghiên cứu cho thấy giáo viên có kiến thức về

Trang 30

phòng, chống bệnh TCM thấp, tỷ lệ giáo viên có kiến thức tốt về dịch tễ học bệnh TCM chỉ đạt 14,1%, triệu chứng chỉ đạt 10%, dấu hiệu nặng chỉ đạt 0,5%, đường lây truyền đạt 31,4%, biện pháp tránh lây lan đạt 5% và biện pháp phòng ngừa bệnh TCM chỉ đạt 2,3% Thực hành phòng chống bệnh TCM khá tốt, tỷ lệ giáo viên thực hành rửa tay cho trẻ đạt 23,3%, rửa tay cho trẻ đạt 85%, lau rửa đồ chơi chỉ đạt 20,9%, lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa đạt 91,4%, vệ sinh ăn uống đạt 80% [4]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm năm 2015 về kiến thức, thực hành và một

số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã của huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2015 [8] Kết quả cho thấy kiến thức chung và thực hành chung về phòng bệnh TCM của các bà mẹ còn khá thấp Nhiều bà mẹ có hiểu biết sai, cho là: TCM không tái phát ở trẻ (64%), đã có vắc-xin phòng TCM (25%) Có tới 82,4% bà mẹ không biết tác nhân gây bệnh và 22,8% không biết đường lây bệnh TCM; chỉ có 85,3% bà mẹ biết TCM có thể phòng được Kiến thức về dấu hiệu mắc TCM của bà

mẹ tương đối tốt, 62,5% mẹ biết có dấu hiệu sốt kèm mệt mỏi, 84,6% mẹ cho là trẻ

có nốt bỏng nước ở miệng, lòng bàn tay, chân… Thực hành của bà mẹ về phòng TCM chưa tốt: tỷ lệ bà mẹ rửa tay bằng xà phòng cho mẹ khi chăm sóc trẻ và rủa tay bằng

xà phòng cho trẻ là cao (87,5%; 90%), nhưng rửa tay bằng xà phòng vào từng thời điểm cần thiết cho mẹ và trẻ là chưa thường xuyên (<50%) Tỷ lệ mẹ dùng xà phòng lau rửa đồ chơi của trẻ và lau chùi sàn nhà hàng ngày là thấp (21%; 19,8%); thực hiện

vệ sinh môi trường của hộ gia đình để phòng TCM chưa đạt

Nghiên cứu của Mai Văn Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành

về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02

xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015” kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM là 79,1%; thái độ tích cực về phòng bệnh TCM là 59,1%; có đến 83,7% bà mẹ thực hành đạt về phòng chống bệnh TCM Tác giả cũng tìm thấy có sự khác biệt giữa những bà mẹ là cán bộ - công nhân viên

và bà mẹ làm những ngành nghề khác, cụ thể là những bà mẹ là cán bộ - công nhân viên có kiến thức đạt cao gấp 9,29 lần những bà mẹ làm nghề khác Những bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên có tỷ lệ kiến thức đạt cao hơn 3,47 lần bà mẹ bị mù

Trang 31

chữ và học cấp I, II Những bà mẹ tiếp cận thông tin về bệnh TCM có tỷ lệ thực hành cao gấp 4,12 lần những bà mẹ không tiếp cận thông tin; những bà mẹ có thái độ tích cực thì thực hành đạt cao gấp 7,71 lần bà mẹ có thái độ không tích cực; những bà mẹ

có kiến thức chung về bệnh TCM đạt thì có thái độ tích cực cao gấp 2,83 lần những

mà mẹ có kiến thức chung không đạt [11]

Năm 2016, Lý Đức Trung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và sự tiếp cận các phương tiện truyền thông trong phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên mầm non tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận 2016” kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ giáo viên có kiến thức đúng về bệnh TCM là 73,53% và thực hành đúng về phòng chống bệnh TCM là 89,5% 100% giáo viên đã từng nghe/biết về bệnh TCM chủ yếu thông qua tivi, internet (68,6%), nhân viên Y tế (46,4%) và từ sách báo, tạp chí (43,7%) Nghiên cứu cũng tìm ra được mối liên quan giữa kiến thức phòng bệnh TCM của giáo viên mầm non với trình độ chuyên môn và nhóm tuổi Tỉ

lệ giáo viên ở độ tuổi 40-49 có kiến thức đúng về bệnh TCM cao gấp 1,28 lần nhóm tuổi dưới 30 (OR=1,28; 95%CI (1,06 – 1,55)) Có mối liên quan giữa thực hành về phòng chống bệnh TCM của giáo viên với nhóm tuổi Cụ thể, giáo viên nhóm tuổi 40 – 49 thực hành phòng chống bệnh TCM tốt gấp 1,16 lần so với nhóm tuổi dưới 30

(OR= 1,16; 95%CI (1,03 – 1,31)) [9]

Trang 32

1.7 Sơ đồ khung lý thuyết

Khung lý thuyết được chúng tôi xây dựng dựa trên nghiên cứu của Lý Đức

Trung (2016), của Đỗ Thị Thùy Chi (2013) và một số tham khảo từ nghiên cứu của

Nguyễn Thanh Liêm (2015) [4], [8], [9] Trên cơ sở đó, bổ sung thêm yếu tố tạo điều

kiện (đã từng tập huấn về phòng chống bệnh TCM, đã từng xử lý/chăm sóc trẻ bị

TCM, tự cập nhật kiến thức chăm sóc trẻ, các công việc khác để kiếm thêm thu nhập)

để tìm hiểu thêm về các ĐTNC

Kiến thức phòng bệnh TCM

 Dịch tễ học của bệnh

 Triệu chứng của bệnh

 Dấu hiệu nặng của bệnh

 Đường lây truyền bệnh

 Biện pháp tránh lây truyền bệnh

 Cách phòng bệnh

Thực hành phòng bệnh TCM

 Rửa tay cho bản thân và cho trẻ

 Lau rửa đồ chơi

 Lau chùi sàn nhà, nơi trẻ chơi đùa

 Vệ sinh ăn uống

 Thu gom xử lý chất thải trẻ

 Xử trí lúc nghi trẻ bị bệnh TCM

Trang 33

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng: Giáo viên tại 14 trường mầm non trên địa bàn huyện

Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp năm 2017 Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn:

Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Tân Hồng đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

Giáo viên nghỉ ốm, thai sản, đi tập huấn dài ngày;

Giáo viên không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Địa điểm: Huyện Tân Hồng - Đồng Tháp

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng: sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn các giáo

viên đang giảng dạy tại các trường mầm non nhằm mô tả kiến thức, thực hành và một

số yếu tố liên quan đến việc phòng, chống bệnh TCM

Nghiên cứu định tính: tiến hành phỏng vấn sâu 01 cán bộ tuyến tỉnh và 01 cán

bộ tuyến huyện đang phụ trách công tác phòng chống bệnh TCM và 02 GVMN được

Trang 34

chọn ngẫu nhiên Nhằm mục đích bổ sung thêm cho nghiên cứu định lượng về một

số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh TCM Đồng thời, tìm hiểu thêm công tác truyền thông về phòng chống bệnh TCM được triển khai tại tuyến tỉnh về đến tuyến huyện Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện công tác này làm cơ sở cho các khuyến nghị sau khi thực hiện nghiên cứu này

2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu cắt ngang được tính theo công thức:

𝑛 = 𝑍1−∝/2

𝑑2

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu

Z1-  /2: Hệ số tin cậy (với α=0,05: Z1-  /2 =1,96)

p: tham khảo nghiên cứu tương tự của Lý Đức Trung thực hiện tại Phan Thiết, Bình Thuận năm 2016, tỷ lệ giáo viên có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM là 73,53%, chúng tôi chọn p = 0,7353

d: Độ sai lệch ước muốn (chọn d = 0,06)

Tính ra cỡ mẫu cần có là 204 đối tượng Tuy nhiên, tổng số giáo viên được tham khảo tại 14 điểm trường nghiên cứu là 258 người, vì vậy chúng tôi lấy mẫu toàn bộ

là 258 đối tượng

2.4 Điều tra viên và giám sát viên

2.4.1 Điều tra viên

Đội điều tra viên bao gồm 03 thành viên là nhân viên của TTYT Huyện Tân Hồng những điều tra viên này được tập huấn kỹ lưỡng về chuyên môn cũng như những nội dung trong phiếu phỏng vấn trước khi thực hiện các buổi phỏng vấn

2.4.2 Giám sát viên

Là bản thân học viên thực hiện đề tài nghiên cứu, trong quá trình phỏng vấn thực địa giám sát viên giám sát qui trình thu thập số liệu và chất lượng cuộc phỏng

Trang 35

vấn thu thập số liệu thực địa của các điều tra viên, giám sát viên cũng góp ý điều tra viên để có được chất lượng tối ưu của cuộc phỏng vấn

Giám sát viên kiểm tra phiếu do điều tra viên phỏng vấn nhằm đảm bảo thông tin thu được không bị bỏ sót và có chất lượng, giám sát viên tổng hợp phiếu điều tra hằng ngày và cập nhật tiến độ thu thập số liệu cũng như hỗ trợ điều tra viên giải quyết các vấn đề phát sinh khi cần thiết

2.5 Quá trình thu thập số liệu

2.5.1 Công thụ thu thập

Để chọn được những đối tượng phù hợp với tiêu chuẩn mà nghiên cứu đề ra, nghiên cứu viên tiến hành thống kê danh sách các trường mầm non, số lượng GVMN trên địa bàn huyện Tân Hồng, sau đó nghiên cứu viên đến các trường mời các giáo viên này tham gia nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn với những người đồng ý tham gia

Phỏng vấn ĐTNC: Cán bộ nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn ĐTNC dựa theo

bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc Cán bộ nghiên cứu sẽ nhấn mạnh với các ĐTNC

là các thông tin chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu

Phỏng vấn sâu: cán bộ nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 1 cán bộ y tế

tuyến tỉnh và 1 cán bộ y tế tuyến huyện phụ trách công tác phòng chống bệnh TCM

để nắm rõ thêm tình hình bệnh TCM trên địa bàn Tỉnh nói chung và địa bàn huyện nói riêng; công tác truyền thông; những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện triển khai công tác truyền thông cho các đối tượng là giáo viên tại các trường mầm non; n Phỏng vấn sâu giáo viên mầm non tìm hiểu thêm các mối liên quan, những thuận lợi, khó khăn trong việc vận dụng kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh TCM

Công cụ thu thập

Nghiên cứu định lượng: sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu gồm bốn phần: (i)

Nhóm câu hỏi về thông tin giáo viên bao gồm các câu hỏi về tuổi, trình độ học vần,

số năm kinh nghiệm, số trẻ phụ trách; (ii) Nhóm câu hỏi về kiến thức của giáo viên

Trang 36

về dịch tễ học của bệnh, triệu chứng của bệnh, dấu hiệu bệnh nặng, đường lây truyền, biện pháp tránh lây lan và biện pháp phòng ngừa; và (iii) Nhóm câu hỏi về thực hành rửa tay cho bản thân, rửa tay cho trẻ, lau rửa đồ chơi cho trẻ, lau chùi sàn nhà nơi trẻ

nô đùa, vệ sinh ăn uống, xử lý chất thải của trẻ và xử trí khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM

Nghiên cứu định tính: sử dụng bộ câu hỏi được chuẩn bị sẵn xoay quanh chủ

đề trong bộ câu hỏi

2.5.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

Thử nghiệm bộ câu hỏi: bộ câu hỏi đã được thử nghiệm ở trường mầm non của huyện trước khi điều tra Sau khi thử nghiệm bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa để phù hợp với đối tượng nghiên cứu

Tập huấn điều tra: đối tượng tham gia tập huấn là điều tra viên và giám sát viên

là học viên cao học YTCC, cán bộ trung tâm Y tế huyện Các đối tượng được phát một bộ tài liệu tập huấn và được hướng dẫn cụ thể về từng câu hỏi và trả lời trong bộ câu hỏi

Thu thập thông tin: các thông tin được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu là giáo viên các trường mầm non nên nghiên cứu viên liên hệ trực tiếp với nhà trường và xin sự cho phép của BGH nhà trường Tiếp cận giáo viên tại trường, trong ngày giáo viên đó là người chăm sóc và dạy trẻ, dùng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp giáo viên Thời gian thu thập: vào ngày trong tuần Thành phần tham gia: điều tra viên và giám sát viên là học viên cao học YTCC, cán bộ trung tâm y tế huyện

Giám sát thu thập thông tin: giám sát viên trực tiếp quan sát phỏng vấn viên phỏng vần ĐTNC Sau khi thông tin được thu thập, giám sát viên tiến hành kiểm tra các thông tin trên phiếu thu thập xem có bỏ sót thông tin không? Nếu có thì sẽ tiến hành thu thập lại vào 1 ngày khác Đồng thời sẽ trao đổi với các phỏng vấn viên các điểm cần lưu ý khi phỏng vấn để cho các cuộc phỏng vấn được thực hiện tốt nhất Công tác kiểm tra được giám sát viên thực hiện vào cuối ngày phỏng vấn để phát hiện sớm những sai sót và khắc phục kịp thời

Trang 37

Sau khi thu thập toàn bộ thông tin Điều tra viên tiến hành phỏng vấn sâu cán

bộ tuyến tỉnh, cán bộ tuyến huyện và giáo viên mầm non về công tác phòng chống bệnh TCM Những thuận lợi và khó khăn cũng như các môi liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của các GVMN và giải pháp cho công tác truyền thông…

2.6 Biến số nghiên cứu

 Thực hành phòng chống bệnh TCM: (rửa tay cho bản thân, rủa tay cho trẻ, lau chùi sàn nhà, lau rửa đồ chơi, vệ sinh ăn uống, xử trí khi phát hiện trẻ bệnh…) Các biến số cụ thể được định nghĩa và thể hiện tại Phụ lục 1

2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

Dựa vào nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân

miệng và một số yếu tố liên quan của giáo viên các trường mầm non huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2013” của Đỗ Thị Thùy Chi, và nghiên cứu “Kiến thức, thái

độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt quận Đống Đa, Hà Nội năm 2012” của Cao Thị Thúy Ngân học

viên đã đưa ra thang điểm để đánh giá kiến thức, thực hành của đối tượng Do vậy, ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu

2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức phòng bệnh TCM (phụ lục 3)

 Kiến thức dịch tễ học của bệnh: 5 câu B1B5, tổng điểm là 11, điểm đạt

là từ 7 điểm trở lên

Trang 38

 Kiến thức về triệu chứng của bệnh: câu B6, tổng điểm là 7, điểm đạt là từ 5 điểm trở lên

 Kiến thức về dấu hiệu nặng của bệnh: câu B7, tổng điểm là 9, điểm đạt là

Trang 39

 Thực hành xử lý chất thải của trẻ, câu C19, tổng điểm là 2, điểm đạt là 2 điểm

 Thực hành xử trí khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM câu C20, tổng điểm là 7, điểm đạt từ 5 điểm trở lên

 Đánh giá điểm thực hành chung về phòng, chống bệnh TCM là 51 điểm, , thực hành của ĐTNC đạt khi có tổng số điểm đạt từ 34 điểm trở lên

2.8 Phương pháp phân tích và trình bày số liệu

2.8.1 Nghiên cứu định lượng

Làm sạch và xử lý thông tin trên các phiếu phỏng vấn trước khi nhập liệu;

Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng chương trình EPIDATA 3.1, phân tích

dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20

- Với mục tiêu 1: sử dụng thống kê mô tả: dùng tần số và tỷ lệ % để biểu diễn

sự phân bố của các biến số (các thông tin chung của các giáo viên (tuổi, TĐHV, thâm niên công tác, số trẻ đang quản lý…), thực trạng kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh TCM của giáo viên) Sử dụng bảng và biểu đồ để biểu diễn số liệu

- Với mục tiêu 2: Phân tích đơn biến, sử dụng kiểm định khi bình phương để xác định mối liên quan giữa kiến thức, thực hành và một số yếu tố khác, sử dụng giá trị p <0,05 là bằng chứng về mối liên quan

 Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai các công tác này

 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của giáo viên

 Các giải pháp cần thiết giúp cho công tác tuyên truyền được hiệu quả hơn

Trang 40

2.9 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng, nghiên cứu đã được hội đồng đạo đức chấp thuận theo Quyết định số 157/2017/YTCC-HD3 ngày 01 tháng 3 năm 2017 về việc chấp thuận các vấn

đề đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học

Đối tượng nghiên cứu đã được giải thích về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra và nghiên cứu đã được tiến hành khi có sự chấp nhận tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục

Khi được hỏi, điều tra viên có thể ghi thiếu thông tin, đánh sai đáp án Cách khắc phục: điều tra viên nên khéo léo cắt ngang, tóm tắt và hỏi lại những ý câu trả lời của đối tượng cho câu hỏi đang hỏi, giám sát viên nên kiểm tra lại phiếu sau mỗi ngày thu thập để điều chỉnh lại thông tin thiếu chính xác

Đôi khi, đối tượng hiểu sai câu hỏi nên trả lời sai câu hỏi Cách khắc phục: điều tra viên nên giải thích lại câu hỏi cho đối tượng hiểu

Trong quá trình nhập phiếu: đánh nhầm giá trị, bỏ qua giá trị cần nhập Cách khắc phục: tập huấn nhập liệu, thiết lập khoảng, ràng buộc trong phần mềm nhập số liệu Epidata 3.1

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w