1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

29 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 76,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tây Nam Bộ là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Việt Nam.Từ xa xưa, vùng đất này đã thuộc chủ quyền của Việt Nam, đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở đây là một bộ phận trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ quyền của Việt Nam, kích động đồng bào Khơme ở Việt Nam và một số người dân Campuchia chống phá quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước, phá hoại hòa bình ổn định và ngăn cản tiến trình phân giới cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia. Đặc biệt, chúng xuyên tạc sự thật lịch sử vùng đất Tây Nam Bộ, kích động ý thức dân tộc hẹp hòi, đòi “độc lập”, “tự trị”, xây dựng tổ chức phản động để tiến tới thành lập cái gọi là “Nhà nước Khơme Campuchia Crôm”, hoặc sáp nhập Miền Tây Nam Bộ vào Campuchia, cản trở công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta.Nhằm giúp cho cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở có thêm thông tin, tư liệu để đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ, Tài liệu này đề cập một số nội dung cơ bản về cơ sở lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Miền Tây Nam Bộ, tình hình và định hướng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ.I. CƠ SỞ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ1. Vị trí vùng đất Tây Nam BộVùng đất Tây Nam Bộ (hay Miền Tây Nam Bộ) là cách gọi thông thường chỉ vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cực Nam của Tổ quốc, phía Đông Bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh, Đông và Nam giáp Biển Đông, Bắc giáp Campuchia, Tây giáp vịnh Thái Lan; là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của vùng Đông Nam Á và thế giới.Miền Tây Nam Bộ hiện có 12 tỉnh và 01 thành phố trực thuộc Trung ương gồm: thành phố Cần Thơ và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011, tổng diện tích các tỉnh Miền Tây Nam Bộ trên 40.548,2 km2 dân số trong vùng trên 17.330.900 người, chiếm 21% dân số cả nước. Có đường biên giới với Campuchia dài 409km đi qua bốn tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang (từ Nam Tây Ninh đến mép biển Xà Xía, Kiên Giang); có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 743 km, có 2 huyện đảo là Phú Quốc, Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang).Dân cư sinh sống ở vùng đất Tây Nam Bộ bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có 4 dân tộc chính là: Việt (Kinh), Hoa, Chăm và Khơme. Người Việt chiếm đại đa số, sống ở hầu hết các nơi trong vùng. Người Hoa tập trung nhiều ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng. Người Chăm sống chủ yếu ở An Giang. Người Khơme có mặt đông đúc ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang. Miền Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhất là trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và các nước ASE

Trang 1

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ

Chuyên đề 2

CHỦ QUYỀN VIỆT NAM

ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

HÀ NỘI – 4/2016

Trang 2

để tiến tới thành lập cái gọi là “Nhà nước Khơme Campuchia Crôm”, hoặc sápnhập Miền Tây Nam Bộ vào Campuchia, cản trở công cuộc xây dựng đất nướccủa nhân dân ta.

Nhằm giúp cho cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở có thêm thông tin, tư liệu đểđấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền củaViệt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ, Tài liệu này đề cập một số nội dung cơbản về cơ sở lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với MiềnTây Nam Bộ, tình hình và định hướng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạncủa các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ quyền của Việt Nam đối vớivùng đất Tây Nam Bộ

I CƠ SỞ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

1 Vị trí vùng đất Tây Nam Bộ

Vùng đất Tây Nam Bộ (hay Miền Tây Nam Bộ) là cách gọi thông thườngchỉ vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cực Nam của Tổ quốc, phía ĐôngBắc giáp thành phố Hồ Chí Minh, Đông và Nam giáp Biển Đông, Bắc giápCampuchia, Tây giáp vịnh Thái Lan; là một trong những đồng bằng lớn, phìnhiêu của vùng Đông Nam Á và thế giới

Miền Tây Nam Bộ hiện có 12 tỉnh và 01 thành phố trực thuộc Trung ươnggồm: thành phố Cần Thơ và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long,Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu,

Cà Mau

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011, tổng diện tích các tỉnh MiềnTây Nam Bộ trên 40.548,2 km2 dân số trong vùng trên 17.330.900 người, chiếm21% dân số cả nước Có đường biên giới với Campuchia dài 409km1 đi qua bốntỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang (từ Nam Tây Ninh đến mépbiển Xà Xía, Kiên Giang); có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 743 km, có 2 huyệnđảo là Phú Quốc, Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang)

Dân cư sinh sống ở vùng đất Tây Nam Bộ bao gồm nhiều dân tộc khác nhau,trong đó có 4 dân tộc chính là: Việt (Kinh), Hoa, Chăm và Khơme Người Việtchiếm đại đa số, sống ở hầu hết các nơi trong vùng Người Hoa tập trung nhiều ở

1 Tổng chiều dài đường biên giới Việt Nam - Campuchia: 1.137 km.

Trang 3

các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng Người Chăm sống chủ yếu ở An Giang.Người Khơme có mặt đông đúc ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang MiềnTây Nam Bộ có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, anninh và đối ngoại, nhất là trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và cácnước ASEAN Đây là vùng sản xuất lương thực trọng điểm; có nhiều tiềm năng,thế mạnh về phát triển nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản lớn nhất

cả nước; có tiềm năng lớn về dầu khí và du lịch Vùng Kinh tế trọng điểm đồngbằng sông Cửu Long bao gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thànhphố Cần Thơ, tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau, với diện tích tự nhiên là1.786.700 ha, dân số trên 6,5 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số của toàn vùng.Hàng năm Tây Nam Bộ đóng góp 18% GDP, trên 50% sản lượng lúa, xuất khẩu90% sản lượng gạo và 70% sản lượng thủy sản của cả nước

2 Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

a) Miền Tây Nam Bộ được hình thành gắn với quá trình khai hóa đất hoang của người Việt và việc xác lập chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam cách đây hơn 300 năm

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liênquan như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hoá học, luật học ở trong và ngoài

nước, cuốn sách “Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam” do Hội Khoa học Lịch

sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2006 đã trình bàymột cách khách quan, có hệ thống và cô đọng những tư liệu, chứng cứ cơ bản vềlịch sử phát triến vùng đất Nam Bộ với những nội dung cơ bản sau:

- Trước khi trở thành lãnh thổ của nước Việt Nam, vùng đất Nam Bộ nóichung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng thuộc Vương quốc Phù Nam (một quốc giabản địa, độc lập) Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI Miền Tây Nam Bộ bị Vươngquốc Chân Lạp (nhà nước đầu tiên của người Khơme) thôn tính, Vương quốc PhùNam cũng bị diệt vong

+ Phù Nam là một quốc gia cổ, ở Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Côngnguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông Trong thời kỳ hưng thịnh,vương quốc này khá rộng lớn, về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía NamTrung Bộ của Việt Nam ngày nay, phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (TháiLan), phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai Quốc gia này tồn tại đếnkhoảng nửa thế kỷ VII (sau năm 627) thì bị nước Chân Lạp tiêu diệt

+ Chân Lạp trước kia vốn là nước thuộc quốc của Phù Nam (chư hầu, lệthuộc), tồn tại trên phần phía Nam của bán đảo Đông Dương (là nhà nước củangười Khơme, Campuchia ngày nay) Các vương quốc láng giềng xung quanhgồm Chăm Pa (Lâm Ấp) ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam và Dvaravati (thuộcThái Lan ngày nay) ở về phía Tây bắc Đến thế kỷ VI (khoảng năm 550), họgiành được độc lập, lập ra nước Chân Lạp và dần dần xâm chiếm được miền Bắccủa Phù Nam, trong thế kỷ VII, Chân Lạp đã thôn tính toàn bộ Phù Nam

+ Phù Nam và Chân Lạp là hai quốc gia độc lập Các tư liệu trong thư tịch

cổ Trung Quốc cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp (quốc gia của ngườiKhơme) Sử ký của nhà Tùy (581-618) chép rằng nước Chân Lạp ở về phía Tây

Trang 4

nam Lâm Ấp2 (Chămpa), nguyên là một chư hầu cùa Phù Nam Vua nước ấy làKsatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam Sử ký nhà Đường (618-907) cũng chép: “Trong nước (Phù Nam) bấy giờ có thay đổi lớn Nhà vua đóng

đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn vềmiền Nam, trú ở thị trấn Na Phất Na”3 Năm 627 Phù Nam còn tiến công nhàĐường lần cuối cùng, trước khi bị Chân Lạp tiêu diệt (Những sự kiện được chéptrên đây diễn ra vào đầu thế kỷ VII)

+ Hai nước Phù Nam và Chân Lạp có đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội khácnhau Chân Lạp là quốc gia của người Khơme, xuất hiện ở vùng trung lưu sông

Mê Kông, khu vực Biển Hồ4, lấy nông nghiệp là nghề chính Còn Phù Nam làmột quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển.Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách

là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp Vào đầu thế kỷ VII,nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã đánh chiếm, Nhà nước Phù Nam bị diệtvong, lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp

+ Phù Nam và Chân Lạp có nền văn hóa cổ khác nhau Theo các số liệukhảo cổ học, các hiện vật tìm thấy ở di chỉ khảo cổ Óc-Eo (thuộc tỉnh An Giang)5

đã chứng minh về sự tồn tại của một nền văn hóa cổ của người Phù Nam cách đâygần 2.000 năm, có trước nền văn minh Ăng Co của người Khơme mấy trăm năm.Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tất cả những di tích thuộc văn hóa Óc-Eo đều

là của người Phù Nam, khác biệt so với văn hóa Khơme

+ Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVI, Nam Bộ (kể cả Phù Nam) thuộc vềChân Lạp nhưng vùng đất này chưa có sự quản lý về mặt hành chính của Nhànước Chân Lạp Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là ThủyChân Lạp (vùng hạ, thấp, sông nước) Việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đốivới Chân Lập hết sức khó khăn vì đây là vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngậpnước và sình lầy, người Khơme với dân số ít ỏi, trình độ sản xuất manh mún,chưa thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trênlãnh thổ của Lục Chân Lạp (vùng trên, cao, lục địa) đang đòi hỏi rất nhiều thờigian và sức lực Do vậy, nước Chân Lạp dồn sức phát triển ở Lục Chân Lạp, nhất

là các vùng trung tâm truyền thống ở khu vực Biển Hồ (Campuchia), trung lưusông Mê Kông và bành trướng sang phía Tây Nhờ đó, Chân Lạp trở thành mộtquốc gia cường thịnh, có nền văn minh Ăng Co rực rỡ, mở rộng lãnh thổ lên tậnNam Lào và đến cả khu vực sông Mê Nam (còn gọi là Chao Phaya, thuộc TháiLan)

2 Lâm Ẩp là một vương quốc đã tồn tại từ khoảng năm 192 đến khoảng năm 605, tại vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam Vương quốc này được coi là giai đoạn khỏi đầu cho lịch sử Chămpa độc lập.

3 Vũ Minh Giang: Quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ phía nam của Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Biên giới Tây Nam, ĐHQG HN, 1996 *

4 Biển Hồ (hay Tonlé Sap) là một hệ thống kết hợp giữa hồ và sông có tầm quan trọng to lớn đối với Campuchia Đây là hồ nước ngọt lớn nhât Đông Nam Á và được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thê giới nãm 1997 Tonlé Sap có nghĩa

là "sông nước ngọt lớn" nhưng thông thường được dịch là "Hồ Lớn", "Biển Hồ"

5 “Óc Eo” là tên gọi di chỉ ở núi Ba Thê, hiện nay thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Nơi này đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VII Lý do quan trọng nhất cho sự thịnh vượng cùa

Óc Eo là do vị trí cùa nó trên trục đường thương mại trên biển giữa một bên là bán đảo Mã Lai và Ẩn Độ với bên kia là sông

Mê Kông cùng với Trung Quốc Vào thời kỳ phồn thịnh của Óc Eo và Phù Nam, tàu thuyền trong khu vực có thể thực hiện những hải trình rất dài mà không phải đi dọc theo bờ biển Do vậy, về mặt chiến lược, Óc Eo là một địa điểm trung chuyển rất thuận lợi.

Trang 5

Do chiến tranh và phải tập trung công sức phát triển các trung tâm ở lục địa,sau gần 10 thế kỷ thuộc Chân Lạp, Nam Bộ nói chung, nhất là Miền Tây Nam Bộnói riêng vẫn là một vùng đất hoang sơ.

+ Bắt đầu từ thế kỷ XIV, khi vương quốc Ayuthaya (vương quốc Xiêm)6 hìnhthành, Chân Lạp phải lo đối phó với sự bành trướng của vương triều Xiêm từ phíaTây, kinh thành Ăng Co đã có lúc bị quân Xiêm chiếm đóng Nội bộ mâu thuẫn,tranh giành quyên lực, Chân Lạp bước vào thời kỳ suy yếu

- Từ thế kỷ XVI trở đi, Nam Bộ thuộc chủ quyền của nước ta.

+ Trong lịch sử, Nhà Nguyễn vốn có quan hệ bang giao rất tốt với triều đìnhChân Lạp Trong khi Chân Lạp không có điều kiện quản lý vùng đất phía Đôngvốn thuộc nước Phù Nam trước đó (Nam Bộ ngày nay), nhiều cư dân người Việt

đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang, lậplàng sinh sống, sau đó phát triển đến các vùng đất phía Tây

+ Năm 1623 chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đình Chân Lạp để chodân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý,chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế VuaChân Lạp đã chấp thuận đề nghị này7

+ Trong thời kỳ này sự thần phục của các nhóm di thần nhà Minh góp phầnđẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên lãnh thổ Nam Bộ.Năm 1671, một quan lại nhà Minh tên Mạc Cửu cùng với 400 người đổ bộ lênvùng đất hoang vu trong vịnh Thái Lan và xin thần phục vương triều Khơme.Năm 1681, vua Chân Lạp Jayajettha IV cho Mạc Cửu khai thác vùng đất dọc bờbiển phía Nam Campuchia, gọi là Căn Khẩu Sau nhiều lần bị hải tặc Xiêm Lađánh phá và không được vua Khơme hỗ trợ, Mạc Cửu xin thần phục chúaNguyễn, vùng đất Căn Khẩu đổi tên thành Long Hồ dinh, sau này là Hà Tiên củaViệt Nam8

Tháng 5/1735, Mạc Cửu mất, con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ đã tận tìnhgiúp các vua Khơme đánh trả quân thù để bảo vệ ngôi báu, sau mỗi chiến công,các vua Khơme trao tặng đất đai để tưởng thưởng, nhờ đó mà đất đai bờ cõi ngàycàng rộng mở

Từ năm 1679 chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhóm Dương NgạnĐịch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây tổ chức khai phá và phát triến kinh

tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho); cho nhóm Trần Thượng Xuyên vànhững đồng hương Quảng Đông của ông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng BiênHòa - Đồng Nai Trong vòng gần 20 năm, một vùng đất trải dài từ Bà Rịa đếnsông Tiền Giang, vốn đã được cư dân Việt đến sinh cư lập nghiệp từ trước, nhanhchóng trở thành những trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú,phố phường sầm uất, hải cảng nhộn nhịp, có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản

và một số nước khác tới giao lưu buôn bán

+ Từ năm 1698, chủ quyền thực tế của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ

6 Vương quốc Ayutthaya (A-yut-tha-da; Xiêm) là một vương quốc của người Thái tồn tại từ năm 1351 đến 1767.

7 Võ Sỹ Khải: Nghiên cứu văn hoá khảo cổ Óc Eo: mười năm nhìn lại, Khảo cổ học, số 4/1985.

8 Trên thực tế từ năm 1665 số người Việt sinh sống ở Phnom Penh đã chạy về cư trú ở vùng Hà Tiên và Phú Quốc Trước khi Mạc Cửu đến; vào thời điểm này lãnh thổ Hà Tiên gồm các vùng Long Cai, Cần Vọt, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau và đảo Phú Quốc.

Trang 6

được xác lập: Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào

kinh lý vùng đất Nam Bộ và thiết lập đơn vị hành chính ở đây là phủ Gia Định,

mở rộng đất đai, chiêu mộ dân di cư từ Bố Chánh (Quảng Bình) trở vào Nam,thành lập xã thôn, đặt chức Giám quân, Cai bộ và Ký lục để cai trị Đó là sự xáclập quyền lực nhà nước, khẳng định chủ quyền trên thực tế của Việt Nam đối vớivùng đất Nam Bộ

+ Từ năm 1732 đến nãm 1775, do tình hình nội bộ phức tạp9, các đời vuaChân Lạp đã nhiều lần tự nguyện cắt đất trao cho Chúa Nguyễn để đền ơn dẹploạn, cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua Đáng lưu ý là vào năm 1757,Vua Nặc Tôn đã cắt vùng đất Tầm Phong Long (tương đương vùng Tứ giác LongXuyên ngày nay10) cho chúa Nguyễn11 Năm 1759, toàn bộ lãnh thổ đồng bằng sông Cửu Long chỉnh thức được sáp nhập vào lãnh thổ của nhà Nguyễn Đến

đây quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộnói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng cơ bản hoàn thành

- Thế kỷ XVII - XVIII, Nhà Nguyễn tiếp tục lập ra các đơn vị hành chính,

bố trí quan lại, lập sổ sách quản lý dân cư, đất đai và định ra các loại thuế Saunăm 1744, vùng đất Nam Bộ được chia thành 4 dinh (ở miền Đông có dinh TrấnBiên, Phiên Trân, ở miền Tây có dinh Long Hồ, Hà Tiên)

- Dưới triều Nguyễn, hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện và thốngnhất quản lý trên quy mô cả nước Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạtoàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ (trong đó: 3 tỉnh miền Đông gồm Phiên An, Biên Hòa,Định Tường và 3 tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; trong đó cótất cả 10 phủ, 25 huyện, 135 tổng với 1.637 xã, thôn, phường)

- Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đối với vùng đất phía Nam, triều Nguyễn đãlãnh đạo nhân dân đánh bại các cuộc tiến công của quân Xiêm vào các năm 1715,1771 Năm 1785, anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã đánh tan cuộc xâm lược củaquân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang ngày nay) TriềuNguyễn cũng cho xây dựng hệ thống các đồn lũy để trấn thủ biên giới

- Thời Pháp thuộc, 6 tỉnh Nam Kỳ, trong đó có 3 tỉnh Miền Tây Nam Bộ dothực dân Pháp cai quản, đến năm 1949 thì giao trả cho Quốc gia Việt Nam12

9 Về nội bộ Chân Lạp, sau cái chết của vua Chey Chettha II (1628), Chân Lạp rơi vào tình trạng khủng

hoảng nghiêm trọng, các đời vua liên tiếp tranh nhau quyền lực, người thì dựa vào thế lực Xiêm, người lại đi tim sự giúp đỡ từ chúa Nguyễn Năm 1674, dưới sự dàn xếp của chúa Nguyễn, Chân Lạp tưong đổi ổn định nhưng lại chia làm hai Chúa Nguyễn phong cho Nặc Thu (Chey Chettha 111 - Preh Ong Su hay Chau Po Nhia Su) làm Chính quốc vương, đóng đô ở U Đông và Nặc Nộn (Preh Ong Nuôn), thân Việt, làm Phó Quốc vương đóng ở Sài Gòn Cả hai đều phải triều cống chúa Nguyễn Năm 1691, Phó Quốc Vương Nặc Nộn ở Sài Gòn qua đời, khu vực phía đông Campuchia (vùng Nam bộ nay) không có đại diện cùa vương triều Chân Lạp cai quản nữa.

10 Tứ giác Long xuyên: 4 góc là Rạch giá và Hà Tiên (Kiên Giang), Châu Đốc và Long Xuyên (An Giang).

11 Năm 1732, sau khi được chúa Nguyễn giúp dẹp xong một bộ tộc Lào “làm loạn”, Vua Ong Chi (Preh Satha H) đã trao 2 tỉnh là Mê So (Mỹ Tho) và Long Hồ (Vĩnh Long) cho chúa Nguyễn; Vua Nặc Tôn (Bat Ria chia Thip Pạ đây III) truóc khi mất (1757) đã đồng ý nhượng lại tỉnh Phsa Đéc (Sa Đéc) và hai huyện Tâm Đôn, Xuy Lạp thuộc tĩnh Long Hồ (Vĩnh Long) cùng tỉnh Moát Chruc (Châu Đốc) cho chúa Nguyễn (đất Tầm Phong Long) Năm 1758 Ong Ton đã dâng cho chúa Nguyễn hai tỉnh là Pre T’ro Peng (Trà Vinh) và Khleng (Sóc Trăng).

12 Theo Hiệp ước Pháp - Tây Ban Nha và Nhà Nguyễn, ký tại Sài Gòn ngày 05/6/1862, triều đình Nhà Nguyễn đã nhượng 3 tình miền Đông (1862) và 3 tỉnh miền Tây (1874) cho Pháp (thực tế Pháp đã chiếm đóng 3 tỉnh miền Tây từ năm 1867) Đến

Trang 7

- Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộcđấu tranh của nhân dân Miền Tây Nam Bộ, trong đó có dân tộc Khơme tiếp tụcphát triển, cùng cả nước làm nên cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độclập, tự do cho dân tộc.

- Thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâmlược và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam đã khẳng định quan điểm, chủtrương của Đảng, Nhà nước, lòng dũng cảm, kiên định, sự hy sinh xương máu củanhân dân ta đê bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trong

đó có Miền Tây Nam Bộ

b) Lịch sử hình thành cộng đồng cư dân trên vùng đất Tây Nam Bộ

- Miền Tây Nam Bộ hiện nay có nhiều tộc người sinh sống, trong đó có 4dân tộc chiếm tỉ lệ dân số cao là: người Việt (người Kinh); người Khơme, ngườiHoa, người Chăm Ngoài ra còn một số tộc người có số lượng ít như Tày, Nùng,Ngái, Mnông, Striêng, Mường, Chơ ro, Châu mạ, K’ho

Trong quá trình phát triển, cộng đồng cư dân Miền Tây Nam Bộ, bao gồmnhững người bản địa đã có mặt từ trước và lưu dân từ nơi khác đến, đã cùng nhaukhai khẩn đất hoang, đoàn kết, chống lại thú dữ, thiên tai để sinh tồn

Theo các tài liệu sử học, khảo cổ, địa lý , từ khoảng 500 năm trước Côngnguyên, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đã được nổi lên trên mặt nước biển.Thông qua di chỉ Óc-Eo - Ba Thê, con người từng có mặt ở nơi đây vào đầu Côngnguyên nhưng do chưa đủ sức chống chọi thiên nhiên để tồn tại và phát trển nênnền văn hóa Óc-Eo chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi biến mất Từ thế kỷ X trở

đi, do biển rút dần, nhũng vùng đất ở Đồng Tháp Mười, Sóc Trăng, Trà Vinh, TràCú đã nổi lên thành những vùng đất màu mỡ

- Người Khơme có mặt ở Miền Tây Nam Bộ từ rất sớm nhưng số lượng ít,

sông rải rác ở một số rẻo đất hoang vừa được khai phá, có tính biệt lập, chưa quốcgia nào thiết lập quan hệ quản lý hành chính đối với họ Ban đầu chỉ là một sốngười nông dân Khơme nghèo muốn thoát khỏi áp bức, bóc lột của chế độ “ĂngCo”, họ từ từ di cư đến Miền Tây Nam Bộ Nhưng càng về sau, nhất là từ thế kỷ

XV trở đi, Campuchia rơi vào nội chiến và bị quân Xiêm (Thái Lan) đánh pháliên tục, dòng người di cư xuống đồng bằng sông Cửu Long ngày càng đông Tuynhiên, cho đến giữa thế kỷ XIX, người Khơme ở Nam Bộ cũng chỉ có 146.718người Hiện nay, có trên 1,2 triệu người Khơme sinh sống ở Miền Tây Nam Bộ,tập trung nhất là ở các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, KiênGiang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau

Người Khơme ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông Sản xuất nông nghiệpcủa người Khơme mang tính chất độc canh, chủ yếu là trồng lúa, vốn là một nềnsản xuất nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc Đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn.Theo số liệu của Ủy ban Dân tộc miền núi, hiện nay cả vùng Khơme TâyNam Bộ mới chỉ có 12,7% số hộ có nhà kiên cố, 59% nhà tre lá lụp sụp

Hầu hết người Khơme theo đạo Phật Trong mỗi phum, sóc13 đều có 1 đến 2

năm 1949, trước những thắng lợi liên tiếp cùa nhân dân Việt Nam, ngày 04/6/1949 Tổng thống Pháp đã ký Bộ luật số 49-733 trả lại Nam Kỳ lục tỉnh cho “Quốc gia Việt Nam”, đại diện là Bảo Đại.

13 Phum là một đơn vị cư trú của người Khơme bao gồm một số gia đình sống quần cư, vừa có quan hệ huyết thống, vừa cỏ quan hệ láng giềng, sỏc là một địa vực cư trú cùa nguời Khơme giống như làng cùa người Việt.

Trang 8

ngôi chùa làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng Đạo phật có ảnhhưởng lớn trong xã hội, tầng lớp sư, sãi có vị trí đặc biệt quan trọng trong đờisống chính trị - xã hội, văn hóa của người Khơme ở Miền Tây Nam Bộ

Người Khơme có truyền thống yêu nước, đoàn kết với các dân tộc anh emtrong vùng, đã góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, tình đoàn kết giữa người Khơme và người Việt cũng như cácdân tộc anh em ngày càng gắn bó thủy chung Tuy nhiên, bên cạnh truyền thốngtốt đẹp, một số nơi trong vùng dân tộc Khơme vẫn còn có biểu hiện mâu thuẫn,

kỳ thị giữa người Khơme và người Việt vì nhiều nguyên nhân do lịch sử để lại.Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách lợi dụng, kích động làm chovấn đề dân tộc ngày càng phức tạp

- Người Hoa bắt đầu di cư đến vùng đất Tây Nam Bộ vào thế kỷ

XVII-XVIII: Năm 1671, Mạc Cửu cùng với 400 người Hoa lánh nạn sang khai phávùng đất Hà Tiên, sau đó mở rộng ra Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau Sau khi MạcCửu xin thần phục, nhà Nguyễn phong Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên, choxây dựng thành lũy, mở mang phố xá, dân cư nhiều nơi khác đến, Hà Tiên trởthành đô thị sầm uất Vào năm 1769, khoảng 5000 quan, quận nhà Minh khôngchịu thần phục Mãn Thanh đã vượt biển vào cảng Đà Nẵng xin hàng chúaNguyễn Chúa Nguyễn Phúc Tần cho số này lập nghiệp tại Biên Hòa (Đồng Nai)

và Mỹ Tho (Tiền Giang) làm cho Nam Bộ ngày càng thịnh vượng

Hiện nay, người Hoa ở Miền Tây Nam Bộ có gần 200.000 người, chiếmkhoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2% dân sốngười Hoa trong toàn quốc Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bạc Liêu,Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau

Trên vùng đất Tây Nam Bộ, người Hoa sống hoà đồng với các dân tộc khác;với nghề buôn bán là chủ yếu Người Hoa rất có ý thức và năng lực kinh doanh,thương mại, chịu khó làm lụng, ít quan tâm đến chính trị Họ ít tham gia các hoạtđộng của cộng đồng chung, song tính cộng đồng trong nội bộ người Hoa rất cao.Các hội tương trợ của các dòng họ người Hoa liên kết lại thành các tổ chức chặtchẽ, có quy mô lớn và hoạt động rất hiệu quả

Ngoài tín ngưỡng thờ các vị thần khác nhau, người Hoa còn theo đạo Phật.Bên cạnh những nét đặc sắc trong phong tục tập quán, thể hiện qua thờ tự, nghithức hành lệ, tín đồ người Hoa cũng lập Hội Phật học lấy tên là Minh nguyệt cư sĩLâm Phật học hội Tổ chức này có mặt tại nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Longnhư Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp Đây là hình thứctương trợ, động viên nhau rất hiệu quả trong cộng đồng người Hoa

- Người Chăm ở Tây Nam Bộ còn gọi là người Chàm, người Chiêm, dân

Chiêm Thành, người Hời, có nguồn gốc xuất xứ từ miền Trung Trung Bộ, nguyên

là cư dân nước Chămpa14 Vào thế kỷ XIV - XV, một bộ phận người Chăm ở NinhThuận di cư đi nhiều nơi, sau đó về tụ cư thành từng làng (Palay) dọc theo sôngHậu, trên các cù lao thuộc các huyện Phú Châu, Phú Tân, Châu Phú, tỉnh AnGiang vào nửa đầu thế kỷ XIX Nhóm cộng đồng Chăm cùng theo đạo Hồi

14 Lịch sử nước Chămpa cổ, bao gồm các quốc gia Hồ Tôn, Lâm Áp, Hoàn Vương, Chiêm Thành (Campanagara) và Thuận Thành (Nagar Cam), độc lập được từ năm 192 và kết thúc vào 1832.

Trang 9

(Islam), một tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào Nam Bộ Trong vùng đất TâyNam Bộ, đa số người Chăm sống ở An Giang, hiện có trên 14.200 người, hầu hếtđều cư trú giáp biên giới Campuchia.

- Người Việt có công lớn nhất trong quá trình chinh phục đồng bằng sông

Cửu Long, hình thành vùng đât Tây Nam Bộ Cũng như người Khơme, ngườiHoa, đầu tiên người Việt đến đây cũng vì lý do lánh nạn chiến tranh, áp bức bóclột nặng nề Họ đi khai phá đất hoang và chung sống hòa bình với người Khơme.Ngoài những cư dân đã có mặt từ trước, từ cuối thế kỷ XVI, nhất là thế kỷXVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX người Việt ở miền Trung, miền Bắc đã di cư vàoNam Bộ Ban đầu người Việt đến ngụ cư ở Mũi Xuy (Bà Rịa), Bàn Lân (BiênHòa), sau đó phát triển đến các khu vực Bến Nghé, Sài Gòn, rồi Vĩnh Long, HàTiên Trước khi Mạc Cửu cùng họ hàng đến Hà Tiên, từ năm 1665, một số ngườiViệt ở Phnom Penh cũng đã chạy về Hà Tiên và Phú Quốc để khai khẩn đất đai,tìm nơi cư trú

Từ khi nhà Nguyễn thực thi chính sách khai phá đất đai, mở cõi, lập hệthống chính quyên cai trị, làn sóng người Việt di cư vào Nam ngày càng đôngđúc, trở thành chủ nhân chính trong cộng đồng dân cư Nam Bộ nói chung, MiềnTây Nam Bộ nói riêng Hiện nay, người Việt chiếm 93% dân số các tỉnh, thànhMiền Tây Nam Bộ

Quan hệ tộc người ở Tây Nam Bộ đã được thiết lập lâu bền trong lịch sử bởinhững người nông dân nghèo từ nhiều nơi khác đến để tìm kế sinh nhai, ở đây đãdiễn ra quá trình hòa hợp, hội nhập giữa người Việt và các tộc người thiểu số trênmọi lĩnh vực đời sống xã hội Đó cũng là xu hướng chủ đạo, xuyên suốt tiến trìnhhình thành và phát triển vùng đất Tây Nam Bộ và cộng đồng cư dân nơi đây Dovậy, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều mang dấu ấn của người Việt với tưcách là dân tộc chiếm đa số, chủ nhân chính, trung tâm đoàn kết cộng đồng cácdân tộc trên vùng đất Tây Nam Bộ

Trải qua hơn ba thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhiều thế hệngười Việt Nam (với ý nghĩa cộng đồng cư dân đa dân tộc) đã đổ biết bao côngsức để dựng xây và bảo vệ vùng đất Tây Nam Bộ Mỗi tấc đất nơi đây đều thấmđẫm mồ hôi và máu của người dân đất Việt Chính vì thế mà đối với mỗi ngườidân Việt Nam, Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng không đơn thuầnchỉ là vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà cao hơn thế, còn là vùng đất của những giátrị thiêng liêng, trường tồn cùng dân tộc

Như vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với Miền Tây Nam Bộ nói riêng và

Nam Bộ nói chung đã được khẳng định từ rất sớm bằng sự xuất hiện của ngườiViệt, là chủ nhân chính khai hóa một cách hòa bình các vùng đất còn hoang sơvốn thuộc nước Phù Nam đã bị diệt vong; đồng thời bằng việc xác lập quyềnquản lý hành chính liên tục, trên thực tế của Nhà Nguyễn kể từ năm 1698

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động cho rằng vùng đất Nam

Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng từ xưa vốn thuộc lãnh thổ của người Khơme - Campuchia, bị thực dân Pháp xâm chiếm rồi giao cho Việt Nam Lập

luận chủ yếu, mà không có căn cứ khoa học của quan niệm này là đồng nhất nướcPhù Nam ở trung tâm của vùng hạ lưu sông Mê Kông với nhà nước đầu tiên của

Trang 10

người Khơme (nước Chân Lạp trước đây) Thực tế lịch sử cho thấy: Vùng đất TâyNam Bộ trước đây thuộc nước Phù Nam độc lập, từng bị Chân Lạp xâm chiếmnhưng Chân Lạp đã không khai phá và xác lập quyền cai quản thực tế, Người Việt

từ lâu đã cùng với cư dân các tộc người Hoa, Khơme, Chăm khai phá và pháttriên vùng đất này Quá trình mở cõi, khai phá và xác lập chủ quyền thực tế củaNhà Nguyễn Việt Nam đối với Vùng đất Tây Nam Bộ là hoàn toàn hợp pháp

3 Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

a) Chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ được khẳng định bằng các văn bản có giá trị pháp lý, được cộng đồng quốc tế, trong đó có chính phủ Campuchia thừa nhận

Hiện nay vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ nóichung, trong đó có Miền Tây Nam Bộ đã được luật pháp quốc tế thừa nhận.Chính phủ và luật pháp Campuchia cũng hoàn toàn thừa nhận Điều này thể hiện

ở các văn bản Hiệp ước quan trọng mà các bên đã ký kết

- Hiệp ước giữa An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Cao Miên(Campuchia), ký tháng 12/1845 đã thừa nhận về mặt pháp lý, Nam Kỳ lục tỉnhthuộc về Việt Nam

- Hiệp ước năm 1846 giữa An Nam và Xiêm tiếp tục xác nhận nội dung này:Sau đó, Cao Miên cũng đồng ý và tham gia Hiệp ước này

- Hiệp ước Việt - Xiêm năm 1847 với sự chứng kiến của vua Cao Miên làAng Dương, khẳng định vùng đất Nam Kỳ thuộc chủ quyền Việt Nam Hiệp ước

đã công nhận Ang Dương là vua Cao Miên, nhưng Cao Miên nhận là chư hầu củahai nước Việt và Xiêm; Cao Miên cũng xác nhận vùng đất Nam Kỳ thuộc về ViệtNam

- Hiệp ước Pháp - Tây Ban Nha và Nhà Nguyễn (Việt Nam), ký tại Sài Gònngày 05/6/1862 và trao đổi văn bản phê chuẩn tại Huế ngày 14/4/1863, đã khẳngđịnh quyền lực của Việt Nam trên lãnh thổ Nam Kỳ Nhưng triều đình NhàNguyễn bất lực, đã nhượng 3 tỉnh miền Đông (1862) và 3 tỉnh miền Tây (1874)cho Pháp15 Chính phủ Campuchia lúc đó không có phản ứng gì

- Hiệp ước Xiêm - Cao Miên ngày 01/12/1863 chứng tỏ cả Campuchia vàXiêm đều công nhận Nam Kỳ là một vùng đất không phải là của Campuchia(“Campuchia nằm giữa các lãnh thổ Xiêm, Nam Kỳ”); điều đó cũng có nghĩa làvùng đất Nam Kỳ thuộc về Việt Nam

- Trong thời Pháp thuộc, ranh giới giữa hai nước Việt Nam và Campuchiađược phân định bao gồm hai đoạn: đoạn biên giới giữa Nam Kỳ với Campuchia

và đoạn biên giới giữa Trung Kỳ với Campuchia Đoạn biên giới ở Nam Kỳ (từTây Ninh đến Hà Tiên) được hình thành trên cơ sở các thỏa ước được ký kết giữaPháp với Campuchia:

+ Thỏa ước Pháp - Campuchia ngày 09/7/1870

15 Vua Minh Mạng năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh Trong đó, 3 tỉnh ở miền Đông gồm: Phiên An (năm 1836 đôi lại thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường; 3 tinh ở miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Trên thực tế Pháp đã chiếm 3 tinh miền Tây từ năm 1867.

Trang 11

Để chuẩn bị cho việc soạn thảo và ký kết Thỏa ước, tháng 3/1870, Ủy banliên hợp Pháp - Campuchia đã được thành lập Ủy ban này có nhiệm vụ nghiêncứu vạch ra một đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia, đề xuất xác định

19 cột mốc từ Tây Ninh đên Hà Tiên Trên cơ sở đề xuất của Ủy ban này, hai bên

đã nhất trí tiến hành phân ranh trên thực địa và cắm được 16/19 cột mốc từ bờsông Tônlê Tru (mốc Số l, giáp Tây Ninh) đến điểm rạch Tà Sang gặp rạch CáiCậy (mốc số 16), chưa thống nhất được biên giới khu vực Hà Tiên

+ Thỏa ước Pháp - Campuchia ngày 15/7/1873

Ngày 15/7/1873, Quốc vương Campuchia Norodom và Thống đốc Nam Kỳ,Chuẩn đô đốc Dupré nhân danh Chính phủ Pháp đã ký tiếp Thỏa ước về biên giớigiữa Vương quốc Campuchia và Nam Kỳ thuộc Pháp Đường biên giới được haibên nhất trí thỏa thuận lần này là một đường biên giới được xác định dứt khoát,rành mạch, dựa vào các con sông hay các biến đổi địa hình khá ổn định, rõ ràng

để xác định đường biên giới, tránh mọi tranh chấp về sau Thỏa ước cũng đã quyđịnh các điểm chính mà đường biên giới sẽ đi qua Điểm xuất phát là tại cột mốc

số 1 đặt trên bờ sông Tônlê Tru đến làng Giang Thành và từ đó đi thẳng đến HàTiên (Kiên Giang)

Với hai Thỏa ước nói trên đường biên giới giữa Campuchia và Nam Kỳ đãđược xác lập đầy đủ trong thời Pháp thuộc16

- Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong công cuộckháng chiến chống Pháp, ngày 04/6/1949 Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã ký

Bộ luật số 49-733 trả lại Nam Kỳ lục tỉnh cho “Quốc gia Việt Nam”, đại diện làBảo Đại Điều 2 của Luật quy định “Vùng đất Cochinchine được trao lại nhànước thuộc địa Việt Nam theo Tuyên bố chung ngày 05/6/1948 và Tuyên bố củaChính phủ Pháp ngày 19/8/1948 Vùng đất Cochinchine không còn nằm trongquy chế lãnh thổ thuộc Pháp”17

Trước khi Chính phủ Pháp chuẩn bị trao trả lại vùng đất Nam Bộ cho ViệtNam, Chính quyền Campuchia lúc đó đã đưa ra các yêu sách phản đối

Ngày 25/6/1945, Quốc vương Norodom Sihanouk ra tuyên bố về quan điểmcủa Campuchia về vùng đất Nam Kỳ, ngày 20/01/1948 ông gửi thư cho Cao ủyCộng hòa Pháp, ngày 02/4/1949, ông gửi thư cho Chủ tịch Liên hiệp Pháp đểphản đối ý định của Pháp trả đất Nam Kỳ cho phía Việt Nam

Chính phủ Pháp có đủ căn cứ để phản bác lập luận trên Trong thư gửi Quốcvương Norodom Sihanouk, ngày 08/6/1949, Chính phủ Pháp đã khẳng định: “…

Ngoài những lý do thực tiễn, những lý do pháp lý và lịch sử không cho phép

16 Tuy nhiên do có những phát sinh trong quá trình quản lý thực tế, nên sau đỏ, đường biên giới này dù được xácđịnh là “dứt khoát” nhưng đã được điều chỉnh ở một sổ điềm bởi 5 Nghị định khác nhau cùa Toàn quyền Đông Dương Cụ thể:

1 Nghị định ngày 10/12/1898: sửa đổi một đoạn trên biên giới giữa Tây Ninh và tỉnh Svey-riêng.

2 Nghị định ngày 20/3/1899: điều chỉnh đoạn biên giới thuộc tỉnh Long An và Svey- riêng.

3 Nghị định ngày 31/7/1914: có 3 điểu sửa đổi biên giới liên quan đến các đoạn biên giới:

Đoạn biên giới giũa tỉnh Hà Tiên và Campot Đoạn biên giói giữa tỉnh Tây Ninh và Prey-veng.

Đoạn biên giới giũa tỉnh Thủ Dầu Một và Kôngpông Chàm.

4 Nghị định ngày 6/12/1935: thay đổi ranh giới giũa Châu Đốc và Candal, giữa sông Mê Kông và sông Bassac.

5 Nghị định ngày 11/12/1936: thay đổi ranh giới giữa các tình Châu Đốc và Prey Veng.

17 Người Pháp gọi Nam Kỳ Lục Tỉnh là Basse-Cochinchine (vùng Cochinchine "hạ" hay vùng Hạ Đàng Trong).

Trang 12

Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Campuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ Quốc vương hẳn cũng biết rằng Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm 1862 và 1874 ” và

“Chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam”, trước lúc Pháp có mặt ở Đông Dương, miền Tây Nam Kỳ không thuộc triều đình Khơme.

- Chủ quyền của Việt Nam đối với Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộnói riêng tiếp tục được công nhận tại Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) và Hiệp địnhPari (1973), được các nước lớn có liên quan như Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, TrungQuốc và Lào, Campuchia thừa nhận Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơnăm 1954 khẳng định: “11 Hội nghị ghi nhận tuyên bố của Chính phủ Pháp theohướng là đế giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc củng cố và thiêt lập lại hoàbình ở Campuchia, Lào và Việt Nam, Chính phủ Pháp sẽ xuất phát từ nguyên tắctôn trọng độc lập và chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia,Lào và Việt Nam 12 Trong mối quan hệ của mình, Campuchia, Lào và ViệtNam, mỗi nước thành viên Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 cam kết tôn trọng chủquyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia nói trên và kiềmchế trong bất cứ việc nào can thiệp đến công việc nội bộ của họ”

Như vậy, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về đình chỉ chiến sự ở ViệtNam và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về khôi phục hoàbình ở Đông Dương, Việt Nam chỉ tạm thời bị cắt thành hai miền Nam - Bắc bởimột giới tuyến quân sự (vĩ tuyến 17), Campuchia, Lào và các nước tham gia Hộinghị đều đã cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của ViệtNam, bao gồm cả vùng đất Tây Nam bộ

- Trong những năm đất nước ta tạm thời bị chia cắt, đã nhiều lần xảy ra xungđột, tranh chấp biên giới giữa chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Campuchia.Trước tình hình đó, các chính quyền khác nhau của Nhà nước Campuchia vàQuốc vương Norodom Sihanouk đã nhiều lần kêu gọi cộng đồng quốc tế thừanhận đường biên giới hiện tại giữa Campuchia với Nam Việt Nam được thể hiệntrên các bản đồ (hợp pháp) do Sở Địa dư Đông Dương ấn hành trước năm 1954.+ Khi tham dự Hội nghị các nước không liên kết tại Le Caire (Ai Cập) tháng10/1964, Thủ tướng Campuchia Norodom Kan-ton chính thức ủng hộ nguyên tắcghi trong bản Tuyên ngôn bế mạc Hội nghị và đã được biểu quyết thông qua: " tất cả cam kết rằng khi được độc lập, có những biên giới như thế nào thì cứ tiếptục duy trì và tôn trọng các biên giới đó" Thủ tướng Norodom Kan-ton còn tuyênbố: "Vấn đề chủ yếu của chúng tôi là được các nước thừa nhận biên giới với NamViệt Nam đường giới tuyến này do mẫu quốc Pháp đặt ra Mặc dù các biêngiới này rất bất lợi cho Campuchia, chúng tôi cũng thừa nhận những biên giớiđó"18.

+ Từ năm 1960 đến 1962, chính phủ Vương quốc Campuchia tiến hànhthương lượng với chính quyền ngụy Sài Gòn nhằm giải quyết những xung độtbiên giới, cải thiện quan hệ giữa hai bên nhưng không đạt được kết quả Năm

1962, Norodom Sihanouk đề nghị Liên hợp quốc triệu tập một hội nghị quốc tế

để công nhận độc lập, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia

18 Trần Văn Minh (1978), Biên giới Việt Nam - Campuchia, vài khía cạnh về lịch sừ và pháp lý, Paris, tr.20-21

Trang 13

- Tháng 3/1964, Chính phủ Vương quốc Campuchia gửi Chính phủ ViệtNam Dân chủ cộng hoà bản dự thảo Nghị định thư về tuyên bố nền trung lập củaVương quốc Campuchia, tại Điều 1 bản dự thảo viết: " b/ Với Nam Việt Nam,biên giới ghi trên các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thôngdụng trước các Hiệp định Paris năm 1954 và về các đảo ven bờ trên bản đồ hảiquân kèm theo " Tuy nhiên, phía Campuchia gửi kèm theo bản dự thảo này bộbản đồ thể hiện đường biên giới trên đất liền giữa hai nước, nhưng đã bị cạo sửa 9điểm, chỗ lớn nhất là khu vực Bu Prăng (thuộc tỉnh Đăknông) lấn sang lãnh thổViệt Nam khoảng 50 km2; có cả hải đồ vẽ đường ranh giới trên biển mà trong đóđảo Thổ Chu và một số đảo khác của Việt Nam thuộc về Campuchia Do vậy,Chính phủ Việt Nam đã không đáp ứng đề nghị vô lý đó của Chính phủCampuchia19.

- Ngày 20/6/1964, Quốc vương Norodom Sihanouk đã gửi thư cho Chủ tịchĐoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ViệtNam Nguyễn Hữu Thọ, khắng định: “Về phần mình, Campuchia chỉ đòi hỏi sựcông nhận đường biên giới hiện tại trên đất liền của mình như được vẽ trên cácbản đồ thông dụng đến năm 1954 và sự công nhận chủ quyền của Campuchia đốivới các đảo ven bờ mà chế độ Sài Gòn đã đòi hỏi mà không có một chút lý lẽ gì

để biện hộ được”20

- Ngày 09/5/1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia đã ra lời kêu gọi cácnước “tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ Campuchia trong đường biên giới hiện tại”(theo đường biên giới lúc đó, Miền Tây Nam Bộ thuộc Nam Việt Nam)

Đáp lại lời kêu gọi của Campuchia, ngày 31/5/1967 và ngày 08/6/1967 ủyban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủViệt Nam dân chủ cộng hòa đã lần lượt ra tuyên bố thừa nhận và cam kết tôntrọng đường biên giới hiện tại của Campuchia

- Đến cuối năm 1968, đã có 34 nước, trong đó có Pháp, Mỹ, Bỉ, Tây BanNha, Hà Lan ra tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnhthổ của Vương quốc Campuchia trong các đường biên giới hiện tại21

b) Những hiệp ước về biên giới, lãnh thố được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia

Sau khi chính quyền Khơme đỏ bị lật đổ, nước Cộng hòa nhân dânCampuchia được thành lập, chính phủ hai nước Việt Nam và Campuchia đã kýnhiều hiệp ước về biên giới, lãnh thổ

- Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia

Hiệp ước này được chính phủ hai nước ký ngày 18/02/1979, tại Điều 4 củaHiệp ước đã thống nhất: "Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hoàbình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ hai nước Hai bên sẽ

19 Lưu Văn Lợi (1990), Việt Nam – Đất, Biển, Trời, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

20 Theo “Lược sử vùng đất Nam bộ", Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Nxb Thế Giới năm 2006, Tạp chí Xưa & Nay, số 285,

6-2007, tr 11.

21 Ngày 16/4/1968, Chính phủ Mỹ tuyên bố: ‘Theo Hiến chương Liên hợp quốc, Mỹ công nhận và tôn trọng chủquyền, nền độc lập, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Campuchia trong các đường biên giới hiện tại”.

Trang 14

đàm phán để ký một hiệp định hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên

cơ sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới này thànhbiên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước”22

- Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước CHXHCNViệt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia

Ngày 20/7/1983, nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dânCampuchia đã ký Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam -Campuchia, trong đó đã thống nhất áp dụng hai nguyên tắc: (1) Trên đất liền, haibên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm

1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ đã được hai bên xác nhận) là đường biêngiới quốc gia giữa hai nước23; (2) ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trênbản đồ hoặc hai bên đều thấy chưa hợp lý thì sẽ cùng nhau bàn bạc, giải quyếttrên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệtViệt Nam - Campuchia, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế

- Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia24

Hiệp ước được chính phủ hai nước ký ngày 27/12/1985, được Hội đồng nhànước nước CHXHCN Việt Nam phê chuẩn ngày 30/01/1986 và Quốc hội nướcCộng hoà Nhân dân Campuchia phê chuẩn ngày 07/02/1986, hai bên trao đổi vănkiện phê chuẩn Hiệp ước ngày 22/02/1986 Nội dung Hiệp ước thể hiện rõ lậptrường của hai nước tôn trọng và bảo vệ đường biên giới hiện tại

Nội dung hai Hiệp ước năm 1983 và 1985, nêu trên không chỉ phù hợp vớithực tế khách quan về đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, mà còn phùhợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia.Sau khi Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết năm 1991, năm 1993 Quốc hộiCampuchia thông qua Hiến pháp mới, Điều 2 của bản Hiến pháp này khẳng định:

“Toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia không thể bị vi phạm trong đườngbiên giới của mình đã được xác định trong bản đồ tỷ lệ 1/100.000, làm giữanhững năm 1933-1953 và được quốc tế công nhận giữa những năm 1963-1969”25.Đường biên giới theo Hiếp pháp Campuchia là phù hợp với nguyên tắc được quyđịnh tại Điều 1, Hiệp ước 1983 về xác định sử dụng loại bản đồ để phân định biêngiới Việt Nam - Campuchia và đã được cụ thể hóa trong Hiệp ước hoạch địnhbiên giới quốc gia năm 1985

- Hiệp ước giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc

Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985.

Năm 2005, quan hệ hai nước Việt Nam - Campuchia đã bước sang một giaiđoạn mới với chính sách nhất quán và kiên trì của Nhà nước ta thắt chặt và củng

cố quan hệ hữu nghị láng giềng tốt với Campuchia, quan hệ hợp tác tin cậy giữa

22 Nguồn: Lưu trữ Ủy ban Biên giới quốc gia.

23 Bản đồ Bonne 26 mành tỷ lệ 1/100.000 là tập bàn đồ được chính quyền Đông Dương cùa Pháp xuất bản trong khoảng những năm 1951-1955 Tập bản đồ này được Quốc vương Norodom Sihanouk gửi lên Liên hiệp Quốc để lưu trữ năm 1964 Trong những năm 1963-1969, tập bản đồ được quốc tế công nhận rộng rãi Các hiệp định phân định biên giới giữa Việt Nam và Campuchia cũng dựa trên bản đồ này.

24 Nguồn: Lưu trữ Ủy ban Biên giới quốc gia.

25 Theo “Lược sử vùng đất Nam bộ”, Hội khoa học lịch sứ Việt Nam, Nxb Thế Giới năm 2006, Tạp chí Xưa & Nay, số 285, 6

- 2007, tr 11.

Ngày đăng: 15/02/2018, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w