1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

71 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 171,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các triều đại phong kiến Việt Nam đều xuất phát từ tư tưởng Nho giáo để xâydựng các thiết chế nhà nước và pháp luật và hoạch định đường lối cai trị của mình.Dưới thời Nguyễn, vua Thiệu T

Trang 1

CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TG & VN

Câu hỏi trắc nghiệm: Những nhận định sau đây đúng hay sai?

Lý giải vì sao, phân tích và chứng minh?

1 Nhà nước Văn Lang- Âu Lạc (696 – 682)(208 -179) TCN ra đời dựa trên chế

độ sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển triệt để và phân hóa xã hội sâu sắc.

2 Chiến tranh là yếu tố duy nhất thúc đẩy nhà nước Văn Lang Âu Lạc ra đời sớm.

3 Thời Văn Lang Âu Lạc ở Việt Nam chưa có Pháp luật thành văn

4 Nhà nước phong kiến Trung Quốc và Việt Nam đều thiết lập và tồn tại dựa trênchế độ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất

5 Nho giáo là cơ sở tư tưởng chính trị pháp lý duy nhất của nhà nước và pháp

luật PKVN

(Nhà nước Phong kiến VN chỉ được thiết lập dựa trên cơ sở tư tưởng Nho giáo)

6 Nguyên tắc “Tôn quân quyền” được vận dụng một cách triệt để trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam qua các triều đại

7 Nhà nước phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê (1428 -1788) là nhà nước Quânchủ quan liêu chuyên chế

8 Các Bộ luật Phong kiến VN đều là các bộ luật tổng hợp

9 Bên cạnh Bộ luật, pháp luật PKVN còn có các bộ Hội điển và các VBQPPLđơn hành như: Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Chuẩn; các văn bản như Chế, Cáo,Biểu, Tấu, Sớ, Châu Bản

10 Hệ thống Ngũ hình trong bộ Quốc triều hình luật (QTHL) thời Hậu Lê tiếp thumột cách chọn lọc, sáng tạo hệ thống Ngũ hình của pháp luật phong kiến TrungQuốc

11 Tính phổ biến là một đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt

Câu hỏi lý thuyết:

1 Phân tích nguyên tắc và các biện pháp cải cách bộ máy nhà nước triều Lê Thánh

Tông ở cấp Trung ương và Địa phương (Đạo và cấp Xã) (1460 – 1497)

2 Đặc điểm của Hình phạt trong pháp luật PKVN

3 So sánh hình phạt trong QTHL và HVLL.

4 Phân tích và chứng minh những quy định trong lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình

của PLPKVN bảo vệ một số quyền của người phụ nữ

Trang 2

5 Phân tích và chứng minh những quy định trong lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình

của PLPKVN thể hiện nguyên tắc không tự do, bất bình đẳng, đề cao quyền củangười gia trưởng

6 Những giá trị đặc sắc của Nhà nước và Pháp luật phong kiến Việt Nam.

Câu hỏi tổng quát:

7 Sự vận dụng học thuyết phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà

nước tư sản thời cận hiện đại (Early Modern – Modern history) và đương đại(Contemporary)

8 Sự kết hợp những yếu tố Phong kiến và yếu tố Tư sản trong nhà nước và pháp luật

Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp (1884 – 1945)

9 Những bài học, những giá trị lịch sử và tương lai của nhà nước và pháp luật VN

cùng với các nước Đông Nam Á; Các nước lớn (Anh, Pháp, Mỹ; Nga, TrungQuốc; Đức, Italy, Nhật; Canada, Australia, Ấn Độ) cùng với các nước và cácChâu lục trên thế giới trong tiến trình lịch sử cổ đại, trung đại, cận hiện đại vàđương đại

Vị trí vai trò và tương lai của Liên hiệp quốc - UN (United Nations – 193/247), cùngvới các tổ chức, hiệp hội, các liên minh khu vực (EU, Asean, APEC,…) và toàn cầu(PAO, WHO, WTO, WB, ILO, IPU, UNICEF, UNESCO, INTERPOL,…)

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP - 2017

MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TG & VN

1 Nhà nước Văn Lang- Âu Lạc (696 -179 TCN) ra đời dựa trên chế độ sở hữu

tư nhân về ruộng đất phát triển triệt để và phân hóa xã hội sâu sắc ?

Nhận định trên là S… bởi vì: Nhà nước Văn Lang- Âu Lạc (696 -179 TCN) ra

đời dựa trên chế độ sở hữu công về ruộng đất, xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sinh

hoạt, công cụ lao động và vũ khí; chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất chưa hình thành và

sự phân hóa xã hội chưa sâu sắc Xã hội mới chỉ phân chia thành các tầng lớp cóquyền lợi, địa vị khác nhau; cơ cấu phân tầng xã hội chưa đến mức đối kháng giai cấp,đẳng cấp như ở Hy Lạp La Mã và một số các nước Trung Đông

Về chế độ sở hữu: sở hữu công về ruộng đất công xã (kẻ, chiềng chạ) chiếm ưu

thế; sở hữu tư về công cụ lao động, đồ dùng vật dụng, sản phẩm lao động, vũ khí nhà

ở phát triển chậm chạp Nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước Văn Lang - Âu Lạc

đã chuyển sang kinh tế sản xuất với công cụ lao động bằng đồng sắt chiếm ưu thế.Nông nghiệp đóng đóng vai trò chủ đạo, cùng với các ngành kinh tế bổ trợ như chănnuôi, trồng trọt, thủ công nghiệp, xuất hiện các ngành nghề như gốm, dệt, sơn, mây tređan, luyện kim đồng sắt đạt trình độ khá cao Trống đồng Đông Sơn và các di vật khảo

cổ đã chứng minh thời kỳ này đã xuất hiện chế độ tư hữu về nhà ở, công cụ lao động,

sản phẩm lao động, đồ dùng vật dụng, vũ khí, nhạc khí, đồ trang sức, song chưa có

chế độ tư hữu về ruộng đất, thương mại chưa phát triển, chưa có tiền tệ lưu thông.

Nhìn chung, đặc thù kinh tế Văn Lang - Âu Lạc mang tính phương Đông và đậm nétđặc thù của khu vực nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á Yêu cầu của công cuộc trịthủy trong nền nông nghiệp lúa nước đã duy trì chế độ sở hữu công về ruộng đất làng

xã lâu dài bền vững Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển không triệt để vàluôn bị kiểm soát kiềm chế bởi nhà nước

Về phân hóa xã hội, gia đình trong xã hội Văn Lang - Âu Lạc là gia đình nhỏ, còn

nhiều tàn dư của chế độ mẫu hệ Làng xóm (Kẻ, chiềng, chạ - Công xã nông thôn) là

Trang 3

cơ cấu xã hội quan trọng của nhà nước trong quản lý dân cư từ cơ sở Vùng đồng bằngBắc bộ và bắc Trung bộ có 15 bộ lạc, trung tâm là Văn Lang Xét trên góc độ giai cấp

đã có sự phân tầng xã hội về tài sản và địa vị: chủ yếu gồm 3 tầng lớp: Quý tộc, Lạcdân và Nô tỳ Tầng lớp thủ lĩnh quý tộc được cộng đồng suy tôn, kính trọng (KinhDương Vương, Lạc Long quân, Âu Cơ, Hùng Vương và Thục Phán An DươngVương, Lạc hầu, Lạc tướng); Lạc dân (người dân trồng lúa) là lực lượng lao độngchính trong xã hội; Nô tỳ chủ yếu phục dịch trong các gia đình quý tộc Mâu thuẫn xãhội chưa sâu sắc đến mức đối kháng giai cấp như ở các Nhà nước chiếm hữu nô lệPhương Tây Tính cách biệt đẳng cấp giữa các giai cấp, tầng lớp chưa sâu sắc như xãhội Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, và Trung Hoa cổ đại

2 Chiến tranh là yếu tố duy nhất thúc đẩy nhà nước Văn Lang Âu Lạc ra đời

sớm (S)

Nhận định trên là S… bởi vì:

Nhà nước Văn Lang Âu Lạc ra đời khi nền kinh tế chưa đạt đến trình độ tư hữuphổ biến, chưa xuất hiện chế độ tư hữu về ruộng đất và xã hội chưa hình thành giaicấp đối kháng Cũng như các nhà nước phương Đông khác, sự ra đời nhà nước Văn

Lang - Âu Lạc còn do sự tác động của nhu cầu trị thủy và chiến tranh chống xâm

lược

Những yếu tố thúc đẩy sự ra đời sớm của nhà nước Văn Lang Âu Lạc

* Công cuộc trị thuỷ - thủy lợi là yếu tố thường xuyên tác động đến sự ra đời của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ở Việt Nam: Như chúng ta đã biết nước Việt cổ

xưa nằm trong phạm vi không gian chủ yếu là châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả

và sông Chu Cư dân Việt cổ là cư dân sinh sống bằng nghề trồng lúa nước, là cư dânsông nước ở nhà sàn đi thuyền độc mộc Công cuộc chinh phục núi rừng, sông biển đãtạo cho người Lạc Việt, Âu Việt một sức sống bền bỉ, kiên cường Sông Hồng đổ từvùng núi cao xuống biển với độ dốc lớn, lũ lụt, hạn hán luôn là nguy cơ đe doạ cộng

đồng Dân gian thường có câu ca như: Trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa,

trông gió, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm, trời yên biển lặng mới yên tấm lòng hoặc "Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy bát cơm đầy”, “lụt thì lút cả làng" Các nguồn tư liệu truyền thuyết cũng phản ánh

công cuộc chinh phục thiên nhiên trị thủy của "Sơn Tinh” Thủy Tinh dâng nước cao

bao nhiêu thì Sơn Tinh lại dâng núi cao lên bấy nhiêu Chỉ có sức mạnh đoàn kết của

cả cộng đồng mới có thể chinh phục được nguồn nước tưới tiêu cho nền kinh tế nôngnghiệp trồng lúa nước và tự thân nền kinh tế của Việt cổ đã buộc người Việt đoàn kết

từ rất sớm Họ dựa vào nhau, cùng tôn "Người tuấn kiệt lên làm tướng" cùng chinh

phục thiên nhiên, phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và bảo vệ cộngđồng

* Công cuộc chống xâm lược đã có tác động trực tiếp đến sự ra đời của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ở Việt Nam: Truyền thuyết, thư tịch cổ và khảo cổ học đều

chứng minh cho điểm đặc thù này Các truyền thuyết Thánh Gióng, An Dương Vươngxây thành Cổ Loa, các ghi chép của cổ sử Trung Quốc và Việt Nam về giặc Ân, giặcMan, giặc Thục, giặc Hồ tôn và điển hình là công cuộc chống đế chế Tần

Dựa trên những điều kiện căn bản cho sự ra đời Nhà nước sơ khai đã được địnhhình trong lịch sử như: kinh tế sản xuất, nguồn thu thuế lµ sản phẩm nông nghiệp, đã

Trang 4

xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và vũ khí; đã có sự phân chiađẳng cấp giữa tầng lớp thống trị thế tập với tầng lớp bị trị bình dân; đã có đủ các điềukiện về lãnh thổ về dân cư và sự liên minh Bộ lạc với vai trò của các thủ lĩnh quân sự.

Sử liệu cũng đã khẳng định sự ra đời của Nhà nước Văn Lang -Âu Lạc như sau: "Đến

đời Trang Vương nhà Chu (696 - 682)TCN ở bộ Gia Ninh cóngười lạ dùng ảo thuật

áp phục được các Bộ lạc, tự xưng là Lạc Vương (Hùng Vương) đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phát, chính sự dùng lối kết gút

(Việt sử lược)

Cũng theo các nguồn sử liệu “Hùng nhường ngôi choThục”“Hùng bị Thục

đánh đuổi mà lên thay”“ThụcPhán làcháu ngoại vua Hùng”Thục Phán có đủ sức

mạnh về quân sự để chống xâm lược Tần thắng lợi, sau dời đô về Phong Khê xâythành Cổ Loa là trung tâm Nhà nước Âu Lạc Thục Phán có các tướng văn võ tài năngnhư Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán Nhà nước Âu Lạc có quân đội hùng hậu, có vũ khí,

có kinh thành cố thủ còn lại di tích đến ngày nay Theo cổ sử Trung Quốc, năm (217 –

214) TCN đế chế Tần mở rộng xâm lược xuống phương Nam người Âu Việt ẩn mình

trong núi, họ dựa vào kẻ, chiềng, chạ và núi rừng hiểm trở chống xâm lược Tần thắng lợi Tướng Tần là Đồ Thư bị giết chết, quân Tần thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn Khảo cổ học cũng đã chứng minh thành Cổ Loa với thành cao, hào sâu và hàng

vạn mũi tên đồng là một căn cứ phòng thủ mang tính quân sự khá điển hình

Như vậy, trong khoảng 1000 năm trước công nguyên, xã hội Việt Nam thời cổđại đã có một bước phát triển mới với những điều kiện (nguyên nhân) cơ bản về kinh

tế xã hội cho sự ra đời Nhà nước sơ khai Tuy nhiên quá trình phát triển kinh tế và sựphân hoá xã hội diễn ra khá chậm chạp, kéo dài hàng nghìn năm và không triệt để.Thế lực kinh tế, quyền lực xã hội của tầng lớp quý tộc chưa tạo nên sự đối kháng giaicấp, chưa cách biệt hoàn toàn với các tầng lớp bình dân và nô tỳ Sự ra đời Nhà nướcVăn Lang - Âu Lạc còn do sự tác động của công cuộc trị thuỷ, làm thủy lợi trong nềnkinh tế nông nghiệp lúa nước và yêu cầu của công cuộc đấu tranh tự vệ chống xâmlược bảo vệ cộng đồng bộ lạc Những yếu tố này không những tác động trực tiếp đến

sự hình thành Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc mà còn ảnh hưởng đếnbản chất, hình

thức, chức năng của Nhà nước Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử Nhà nước Âu

Lạc trong thời đại Thục Phán An Dương Vương là một bước phát triển mới của Nhànước Văn Lang do sự tác động của công cuộc tự vệ chống xâm lược Sự ra đời Nhànước Văn Lang - Âu Lạc đã đặt nền móng vững chắc cho những giá trị cơ bản của quátrình hình thành phát triển Nhà nước và Pháp luật phong kiến Việt Nam sau này

3 Thời Văn Lang Âu Lạc ở Việt Nam chưa có Pháp luật thành văn (Đ)

Nhận định trên là Đ… bởi vì:

Qua sự phản ánh gián tiếp của truyền thuyết dân gian và sử sách cổ, có thể đưa ranhận định về Pháp luật của Nhà nước Văn Lang-Âu Lạc như sau:

- Pháp luật tập quán: Tập quán pháp giữ vai trò chủ đạo và phổ biến nhất Trước

hết, đó là một số tập quán vốn có từ thời nguyên thuỷ và được bảo đảm thực hiệnkhông chỉ bằng sự tự nguyện mà cả bằng biện pháp cưỡng chế của quyền lực nhànước Tập quán pháp này điều chỉnh nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, như quan hệ sởhữu, chiếm hữu và sử dụng ruộng đất, các quan hệ về trật tự an toàn xã hội Loại tậpquán thứ hai mà từ trước đến nay ít được nhắc tới là tập quán chính trị, được hình

Trang 5

thành trong quá trình vận hành bộ máy nhà nước và điều hành xã hội, như tập quántruyền ngôi của vua và các chức quan cho con cái, tập quán cống nạp, “ăn ruộng" Lệcủa công xã nông thôn cũng là một loại tập quán pháp, khi những lệ đó được nhà nướcmặc nhiên thừa nhận và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của tổchức công xã Công xã nông thôn vừa là cơ sở kinh tế-xã hội của nhà nước, vừa mangtính tự quản nên các lệ của công xã nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong đờisống chính trị xã hội bấy giờ

Về quan hệ hôn nhân gia đình và chế độ hôn nhân một vợ một chồng, các truyềnthuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử, Trầu cau cho thấy, hôn nhânđược cử hành qua hôn lễ, con gái được cưới về nhà chồng và cũng đã có việc tháchcưới, người con gái cũng có vai trò chủ động trong hôn nhân và vẫn được tôn trọngtrong gia đình Về quan hệ tài sản, qua tài liệu khảo cứu về mộ táng, người chết cũngđược chia tài sản, điều đó chứng tỏ người sống khi ra ở riêng đã được phân chia tàisản Về quan hệ sở hữu ruộng đất, ruộng đất thuộc quyền sở hữu chung của cả công

xã, còn các thành viên chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng Về hình phạt, người phạmtrọng tội có thể bị phạt lưu đày, sau khi thụ hình xong có thể được phục hồi quyền lợi(truyền thuyết Mai An Tiêm) hoặc có thể bị giết chết (truyền thuyết Mỵ Châu - TrọngThuỷ)

- Pháp lệnh khẩu truyền: (Lệnh miệng) Ý chí của người thống trị đối với xã hội

nhiều khi được ban ra bằng miệng và không được ghi bằng văn bản Trong truyềnthuyết dân gian có những câu: Vua truyền rằng , vua ban rằng Những mệnh lệnh đóđược đảm bảo thực hiện bằng cả sự cưỡng chế nên đó là luật pháp Cũng theo truyềnthuyết dân gian, những lệnh miệng của vua thường được sứ giả truyền đi các nơi Ởcác cấp chính quyền địa phương, hình thức pháp luật khẩu truyền thường được dùng

để giải quyết những vụ việc cụ thể hoặc đột xuất, như thăng quan bãi chức, xử tội, tổchức chống giặc Trong điều kiện tổ chức nhà nước còn đơn giản, việc điều hành bộmáy nhà nước còn chưa phức tạp, khi mà uy tín của vua và quý tộc quan liêu còn lớnthì hình thức pháp luật khẩu truyền chắc chắn là có hiệu lực và phổ biến Ngay đến cảsau này, trong thời kì phong kiến, tuy luật pháp thành văn được phát triển nhưng hìnhthức pháp luật khẩu truyền vẫn xuất hiện thường ngày từ vua chúa, quan lại

- Pháp luật thành văn: Người Việt cổ thời Văn Lang Âu Lạc chưa tìm thấy chữ

viết và Pháp luật thành văn Mặc dù hiện nay vẫn chưa rõ thời đại Hùng Vương đã có

chữ viết hay chưa, nên cũng chưa biết là thời bấy giờ có pháp luật do bộ máy cai trịban bố hay không Tuy nhiên, có thể giả định rằng, khi phạm vi lãnh thổ của nhà nước

đã được mở rộng hơn nhiều so với các thị tộc, bộ lạc thì nhất định phải có cách thứcthể hiện và truyền mệnh lệnh của người chỉ huy bằng các dấu hiệu đặc thù, ngắn gọn

và cụ thể Các hình thức biểu hiện đó có thể rất phong phú, sinh động và đó sẽ là đềtài thú vị cho sự nghiên cứu để tìm lời giải đáp

Về nội dung pháp luật của nhà nước Văn Lang-Âu Lạc cũng chỉ được phản ánhmột cách gián tiếp, mơ hồ trong truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, trong đó, giữaluật lệ và phong tục tập quán còn chưa được phân định rõ nét Tuy nhiên, qua cáctruyền thuyết dân gian và thư tịch cổ có thể thấy một số loại quan hệ cơ bản trong xãhội đã được pháp luật điều chỉnh như:

Tóm lại, Nhà nước Văn Lang-Âu Lạc đã có pháp luật nhưng đó là hình thức phápluật sơ khai và chủ yếu là tập quán pháp, còn mang đậm tàn dư của chế độ nguyên

Trang 6

thuỷ và như Việt sử lược nhận xét, đó là xã hội có "phong tục thuần hậu chất phác".

4 Nhà nước phong kiến Trung Quốc và Việt Nam đều thiết lập và tồn tại dựa trên chế độ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất ?

Nhận định trên là S… bởi vì:Nhà nước phong kiến Trung Quốc thiết lập và tồn tại

dựa trên chế độ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất Còn nhà nước phong kiến Việt Namthiết lập và tồn tại dựa trên chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất vừa và nhỏ - tiểu tư hữu

Phong kiến Trung Quốc: Chế độ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất và chế độ công

hữu đất đai là cơ sở tồn tại và phát triển của nhà nước trong suốt tiến trình lịch sử (221TCN – 1911) Từ thời Tây Chu, Đông Chu Xuân Thu chiến Quốc đã dần xuất hiện chế

độ tư hữu ruộng đất của các vương hầu quý tộc Trải qua các triều đại từ nhà Tần,Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, chế độ sở hữu tư nhân ở Trung Quốcluôn tồn tại và phát triển với quy mô lớn Nguyên nhân từ lãnh thổ rộng lớn, chínhsách ruộng đất của nhà nước và chế độ thừa kế theo nguyên tắc trọng nam, trọngtrưởng (Đích tử, Đích tôn) theo nội tộc Theo sử liệu, ruộng đất tập trung vào trong taycác điền trang vương hầu, quý tộc, đại địa chủ: thời Tần Hán Trương Vũ có hơn 400khoảnh đất (1 khoảnh = 100 mẫu đất), Lương Ký ruộng đất chu vi hơn 1000 dặm; thờiĐường Lý Tịch có 1000 khoảnh, Lư Tùng Nguyên được mệnh danh là “ông nhiềuruộng”, Lý Bành Niên là “ông nghiện đất”; thời Nguyên có chủ ruộng có tới 20 000khoảnh, ruộng tư chiếm đa số; thời Minh có sự can thiệp của nhà nước tập quyền, giớihạn ruộng đất “Hạn điền” theo biên độ sở hữu tư lớn là từ 100 khoảnh đến tối đa 1000khoảnh, song thực tế cuối Minh sang nhà Thanh sở hữu tư đại địa chủ lên đến 10000 -

20000 khoảnh Trải qua các triều đại, nhà nước pháp luật TQ bảo vệ sở hữu công tư vềruộng đất

Phong kiến Việt Nam:Chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất vừa và nhỏ (Điền sản - thổ

canh, thổ cư), cùng với chế độ công hữu đất đai của nhà nước và làng xã với lãnh thổquốc gia thuộc Bắc bộ, Trung bộ sau mở vào Nam bộ là cơ sở tồn tại và phát triển củanhà nước phong kiến Việt Nam (968 – 1884) Từ thời Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Mạc, Lê –Trịnh đến triều Nguyễn, chế độ sở hữu ruộng đất luôn được nhà nước điều chỉnh bằngmột số chính sách Thời Lý, nhà nước thừa nhận quyền sở ruộng đất với những quyđịnh về mua bán tài sản ruộng đất (Điển mại, đoạn mại, điển cố) Thời Trần, năm

1254, nhà nước quy định về “bán ruộng cho dân với giá mỗi diện là 5 quan tiền”.

Năm 1266, quy định về lập Điền trang tư, chủ điền trang là những người trong hoàng

tộc Năm 1400 – 1407, Hồ Quý Ly ban hành “Chính sách hạn điền” Năm 1428, Lê Thái Tổ ban “Phép quân điền” Đàng Trong mở rộng quyền sở hữu đất đai cho các

“Đại điền chủ”, với hàng trăm mẫu ruộng (1công đất Nam bộ = 10.000 m2; 1 sào Nam

bộ = 1000 m2) Triều Nguyễn thời Gia Long, Minh Mệnh thử nghiệm “Quân điền chế”

ở Quy Nhơn Bình Định, sau không thực hiện vì không hiệu quả Đơn vị đo lườngruộng đất thường tính theo mẫu, sào, thước, tấc Sở hữu điền sản công (nhà nước vàLàng xã) và tư (thổ canh, thổ cư), là cơ sở của chính sách thuế đinh điền Luật thừa kếquy định chia đều điền sản cho các con đã góp phần cùng với quân điền trong chế độruộng đất công làng xã kiềm chế sở hữu ruộng đất thời phong kiến ở Việt Nam luôn ởquy mô vừa và nhỏ

5 Nho giáo là cơ sở tư tưởng chính trị pháp lý duy nhất của nhà nước và pháp

luật PKVN.

Trang 7

(Nhà nước Phong kiến VN chỉ được thiết lập dựa trên cơ sở tư tưởng Nho

giáo) (S)

Nhận định trên là S… bởi vì: Bên cạnh Nho giáo còn có các tư tưởng chính trị

pháp lý khác phù hợp với dân tộc Việt Nam và được kết hợp hài hòa trong nghìn năm Quân chủ

Tư tưởng Nho giáo

Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ thế kỉ đầu Công nguyên và trong suốtthời kì Bắc thuộc Dưới thời Lý – Trần, cùng với Phật giáo, Nho giáo đã góp phầnhình thành đường lối cai trị “thân dân” của hai triều đại này Đến thời Hậu Lê, Nhogiáo giành được địa vị thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính trị - pháp lí chínhthống của nhà nước phong kiến Việt Nam Từ đó, những nội dung và quan điểm chínhtrị - pháp lí cơ bản của Nho giáo trở thành khuôn vàng thước ngọc để giai cấp phongkiến xây dựng các thiết chế chính trị và luật pháp

* Nội dung cơ bản của Nho giáo

Nho giáo là học thuyết chính trị - đạo đức Nội dung cơ bản về đạo đức của Nho

giáo trong hơn 2000 năm phát triển là Ngũ luân và Ngũ thường (luân thường) Trên ba

cấp độ quốc gia, gia đình, xã hội, Nho giáo đề cao Ngũ luân (vua tôi, cha con, chồng

vợ, anh em, bè bạn) và dùng thuyết âm dương để xác lập trật tự trên dưới giữa các chủthể trong các quan hệ đó Ngũ luân là quan trọng nhất trong đạo đức Nho giáo vàtrung hiếu là hai đức hàng đầu trong ngũ luân Ngũ thường là năm đức Nhân, Lễ,Nghĩa, Trí, Tín và đức Nhân được coi là gốc của Ngũ thường Vì vậy, Nho giáo rấtchú trọng tới việc tu thân theo đạo luân thường và coi đó là gốc của chính trị Tuthân là để tề gia, để thiết lập trật tự gia đình gia trưởng phong kiến làm cơ sở chođạo trị quốc và là tiền đề cho trật tự xã hội Như vậy, đạo đức Nho giáo đã xác lậpchế độ tông pháp gia trưởng làm cơ sở cho chế độ quân chủ chuyên chế

* Quan điểm chính trị - pháp lí cơ bản của Nho giáo

Trước hết, quan điểm Thiên mệnh của Nho giáo cho rằng Trời là đấng hoá công

sinh ra muôn vật, sinh ra dân: “Trời giúp kẻ hạ dân, dựng ra vua”.(1) Trời chọn ngườithông minh và có đức để trao cho mệnh trời, thay trời trị dân Người đó thường đượcgọi là Thiên tử Quan điểm thiên mệnh đã thần bí hoá vương vị và vương quyền, đặt

cơ sở cho sự kết hợp vương quyền với thần quyền Đồng thời, quan điểm thiên mệnhcũng đặt ra cho nhà vua trách nhiệm rất lớn trước dân chúng Nhận mệnh trời, nhàvua phải kính trời, kính trời thì phải yêu dân Ở khía cạnh này, quan điểm thiênmệnh có ý nghĩa tích cực và là yếu tố kiềm chế quyền lực của nhà vua

Thứ hai, quan điểm Tôn quân quyền của Nho giáo đề cao địa vị duy nhất, chí tôn

và thiêng liêng của nhà vua: “Trời không có hai mặt trời, trăm họ không có hai vuathiên tử”;(2) đề cao quyền uy tối thượng và đòi hỏi tập trung toàn bộ quyền lực nhànước và quyền lực nhà nước tối cao vào nhà vua: “Chỉ có vua có thể ban phúc, ra uy,ban bổng lộc”.(3)

Thứ ba, quan điểm chính danh của Nho giáo hàm chứa ba yêu cầu đối với mỗi cá

nhân trong bộ máy Nhà nước: Địa vị đạt được phải chính đáng, địa vị phải tương xứngvới tài đức, danh nào phận ấy Đồng thời, quan điểm chính danh cũng xác lập trật tự

1().Xem: Kinh thư, Nxb VHTT, Hà Nội, 2004, tr 285.

2().Xem: Mạnh Tử, in trong Tứ Thư, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003, tr 709.

3().Xem: Kinh thượng thư, Sđd, tr 297.

Trang 8

trên dưới theo danh phận rất nghiêm ngặt ở cả ba cấp độ gia đình, xã hội và quốc gia.

Thứ tư, quan điểm Pháp tiên vương của Nho giáo cho rằng các bậc quân vương

“nên theo phép cũ của các ông, cha mình mà ứng dụng theo thời Dân trị, hay loạn là ở

đó Hãy theo những việc đã làm của ông cha”.(4) Quan điểm này là lực cản làm Nhànước phong kiến Việt Nam chậm đổi mới đường lối cai trị cho phù hợp với xu hướngphát triển của thời đại

Từ những nội dung và quan điểm chính trị-pháp lí cơ bản đó, về phương thức caitrị, Nho giáo chủ trương Đức trị, lấy việc tu thân, giáo hoá dân bằng lễ nhạc là chủyếu Các triều đại phong kiến Việt Nam đều xuất phát từ tư tưởng Nho giáo để xâydựng các thiết chế nhà nước và pháp luật và hoạch định đường lối cai trị của mình.Dưới thời Nguyễn, vua Thiệu Trị đưa ra bốn phương châm cai trị là: Kính thiên,Pháp tổ, Cần chính, Ái dân

Bên cạnh Nho giáo là tư tưởng Pháp trị

Là học thuyết cai trị ra đời ở Trung Quốc từ thời kì Xuân thu – Chiến quốc, với bayếu tố Pháp, Thế, Thuật, nội dung cơ bản của học thuyết pháp trị thể hiện ở nhữngđiểm chính yếu sau: Dùng pháp luật làm công cụ trị nước, pháp luật phải phù hợp vớiđiều kiện xã hội, thực thi pháp luật phải nghiêm minh và công khai, mọi người đềubình đẳng trước pháp luật.Bậc làm vua phải củng cố địa vị độc tôn và đề cao uyquyền, phải thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước để bảo đảm cho pháp luật được thihành Bậc làm vua phải có thuật cai trị như thuật dùng người, thuật kiểm tra giám sát,thuật thưởng phạt…Tư tưởng pháp trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xây dựng cácthiết chế Nhà nước và pháp luật và hoạch định đường lối cai trị của Nhà nước phongkiến Việt Nam Lê Thái Tổ từng hạ lệnh rằng “Từ xưa đến nay, trị nước phải có phápluật, người mà không có pháp để trị thì loạn Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra phápluật…”(5) để dạy các quan và dân chúng chớ có phạm pháp Lê Thánh Tông đề cao tưtưởng thượng tôn pháp luật trong hoạt động cai trị của vua quan phong kiến: “Phápluật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi phải tuân theo”.(6)

Tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật cũng ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước Lý

Trần

Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ đầu Công nguyên và đến thế kỉ II, ở ViệtNam đã có tổ chức tăng đoàn và chùa tháp Tư tưởng luân hồi, giải thoát và từ bi hỉ xảcủa đạo Phật gần gũi với tín ngưỡng và nguyện vọng của cư dân Việt Trong hơn mườithế kỉ Bắc thuộc, Phật giáo đã có những đóng góp to lớn cho phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc Vào đầu thời kì phong kiến độc lập, với xu thế giải Hán hoá, đạo Phật

có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị-tín ngưỡng của các triều đại phong kiếnViệt Nam, giúp các triều đại thống nhất được tín ngưỡng, thống nhất nhân tâm – điềukiện cần thiết để thống nhất đất nước, xây dựng nhà nước tập quyền Tuy nhiên, ảnhhưởng của Phật giáo trong lĩnh vực chính trị còn ở mức hạn chế bởi giáo lí đạo Phật làhọc thuyết chủ yếu hướng tới thiền tâm cho con người

Các tư tưởng truyền thống dân tộc Việt Nam hình thành từ trong cội nguồn của

Lịch sử

Quy luật phát triển cơ bản của lịch sử Việt Nam là dựng nước đi đôi với giữ nước

4().Xem: Kinh thượng thư, Sđd, tr 360.

5().Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Nxb VHTT, Hà Nội, 2004, tập 2, tr 88.

6().Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 259.

Trang 9

đã hun đúc nên tư tưởng yêu nước truyền thống và độc lập tự chủ Tư tưởng truyềnthống đó luôn tương tác với tư tưởng chính trị pháp lí chính thống của Nhà nướcphong kiến Việt Nam Ở Việt Nam, trung quân phải ái quốc; đại nghĩa là phải biết đặtquyền lợi của dân tộc, của quốc gia lên trên quyền lợi của gia tộc, dòng họ Nhữnghành vi chính trị của Thái hậu Dương Vân Nga, của Quốc công Tiết chế Trần HưngĐạo… thể hiện sâu sắc điều đó Tư tưởng truyền thống ấy còn được thể hiện trong tưtưởng và chính sách cai trị nghiêm khắc của Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấcsông của ta không nên vứt bỏ Nếu… dám lấy một thước một tấc đất của Thái Tổ màđút mồi cho giặc thì phải tội tru di”.(7) Đồng thời với các tư tưởng truyền thống, cấutrúc xã hội truyền thống “nhà – làng – nước” đã góp phần hình thành thế ứng xử chínhtrị hoà đồng, mềm dẻo giữa làng và nước.

Như vậy, hình thành trên cơ sở kinh tế-xã hội có những đặc trưng riêng và luôn có

sự tương tác giữa tư tưởng chính pháp lí chính thống với các tư tưởng chính pháp lí truyền thống và phi chính thống khác, đường lối cai trị của Nhà nước phongkiến Việt Nam là đường lối cai trị kết hợp giữa đức trị với pháp trị Vua Gia Long đãtổng kết khái quát đường lối cai trị đó trong lời tựa của bộ Hoàng Việt luật lệ: “Bậcthánh nhân cai trị thiên hạ bằng hình phạt và đức hoá, hai việc ấy xưa nay chưa đểlệch lạc bao giờ”.(8)

trị-6 Nguyên tắc Tôn quân quyền được vận dụng một cách triệt để trong tổ chức và

hoạt động của bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam qua các triều đại ?

Nhận định trên là S… bởi vì:

Tôn quân quyền là một trong những học thuyết chính trị - pháp lý quan trọngcủa nhà nước phong kiến Trung Quốc có ảnh hưởng đến Việt Nam Học thuyết này doKhổng Tử đề xướng, Mạnh Tử phát triển thành một học thuyết hoàn chỉnh Học thuyếtcho rằng: quyền chủ tể của thiên hạ chỉ giành cho một người là Đế hoặc Vương Quânquyền ảnh hưởng tới cả thiên hạ nên người nắm quân quyền phải có chính nghĩa, thiệnthì được thiên mệnh, bất thiện thì mất thiên mệnh Nguồn gốc quân quyền của đếvương là do Thiên mệnh Nguồn gốc của Thiên mệnh là bởi hợp thời thế và được lòngdân Tôn quân quyền đã dần trở thành nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức và hoạt độngcủa các triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam

Tôn quân quyền thể hiện điển hình trong tổ chức và hoạt động của nhà nướcPKVN thời Lê Thánh Tông, Gia Long và Minh Mệnh Vua nắm giữ quyền tối cao vềlập pháp, hành pháp tư pháp, thống lĩnh quân đội, chủ trì lễ nghi tôn giáo, nắm cảvương quyền và thần quyền Mục tiêu cơ bản của cuộc cải tổ bộ máy nhà nước của LêThánh Tông là nhằm tập trung tuyệt đối quyền lực nhà nước vào trong tay nhà vuatheo nguyên tắc "Tôn quân quyền" của Nho giáo và tăng cường hiệu lực của bộ máyquan liêu, cũng là đề cao quyền lực của hoàng đế Thời Minh Mệnh đặt “Lệ tứ bất”

“Bát quyền”, với tư tưởng “Tôn quân đại thống nhất”, thể hiện điển hình quan điểmTôn quân quyền

Tuy nhiên nguyên tắc này trong từng thời kỳ có sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo

Các vị hoàng đế Đại Việt thời Lý - Trần dù đã nắm giữ toàn bộ vương quyền và

thần quyền nhưng việc thực hiện quyền lực đó còn chưa tới mức độ chuyên chế; họ

7().Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 344.

8().Xem: Cổ luật Việt Nam – Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr 173.

Trang 10

vừa là hoàng đế của nhà nước quân chủ vừa là thủ lĩnh của cả cộng đồng dân tộc; vừa

là người đại diện cao nhất của giai cấp thống trị nhưng vẫn mang dáng dấp “người cha

của số đông các công xã” Dưới quyền vua là Tể tướng trực tiếp điều hành đội ngũ

quan lại trong triều Tể tướng được gọi bằng nhiều chức danh khác nhau tuỳ từng thờikì: Thái sư, Tướng quốc, Tướng công, Phụ quốc, Bình chương quân quốc trọngsự, Thường chỉ có một Tể tướng nhưng có khi có đồng tể tướng (tả, hữu) Tể tướng

có chức năng giúp nhà vua điều hành toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước và cácquan chức trong triều, là người có rất nhiều quyền hành Thời Trần còn có cơ chế TháiThượng Hoàng chi phối uy quyền của nhà vua (Quan gia) Thậm chí Thượng hoàngcòn có uy quyền hơn nhà vua, như Thượng hoàng Trần Minh Tông

Trong mô hình “Lưỡng đầu chế” Lê – Trịnh, vai trò giữa vua và chúa là“Hoàng gia giữ uy phúc và trị vì, Vương phủ nắm quyền bính và cai trị” Đó cũng chính là

nguyên tắc cơ bản và chủ đạo chi phối toàn bộ thể chế Lưỡng đầu chế vua Lê - chúaTrịnh Trên danh nghĩa pháp lí, chỉ có Lê đế mới được coi là vị vua độc tôn duy nhấttrên toàn cõi Đại Việt và chỉ có vua Lê mới có niên hiệu, còn Trịnh Vương vẫn chỉ làbầy tôi của nhà vua nhưng là bầy tôi đặc biệt, vượt lên trên tất cả bầy tôi khác Vềdanh nghĩa, đế quyền - quyền lực nhà nước là của vua Lê, còn quyền của chúa Trịnh làquyền phái sinh bắt nguồn từ đế quyền của vua Chúa Trịnh nắm hầu hết quyền hànhcai trị đất nước, vua Lê chỉ tồn tại trên danh nghĩa, rất ít quyền lực nhưng vẫn lànguyên thủ, người đứng đầu dân tộc quốc gia Địa vị, chức tước và quyền lực củachúa Trịnh Nguyễn là cha truyền con nối, cũng như sự thế tập ngôi báu trị vì của nhàvua Điều đó trở thành tập quán chính trị bền vững của cơ chế lưỡng đầu Lê - Trịnh vàchi phối toàn bộ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, mối quan hệ của các cơ quan phụ tá chovua ở triều đình và phụ tá cho chúa ở Chánh đường, Ngũ phủ, Phủ liêu

Như vậy, trong một số giai đoạn, nguyên tắc “Tôn quân quyền” được vận dụngmột cách linh hoạt, mềm dẻo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phongkiến Việt Nam Nhà vua là biểu trưng cho khối đoàn kết tinh thần của quốc gia dântộc

7 Nhà nước phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê (1428 – 1788) là nhà nước quân chủ quan liêu chuyên chế ?

Nhận định trên là S… bởi vì: Nhà nước phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê là nhà

nước quân chủ trải qua hai giai đoạn: (i) Lê Sơ:quân chủ chuyên chế; (ii) Lê

-Trịnh:quân chủ hạn chế (còn gọi là quân chủ Lưỡng đầu chế hoặc Nhị nguyên

chế), trong giai đoạn này vua Lê chỉ tồn tại trên danh nghĩa còn thực quyền về hết phủ

Chúa Trịnh

Thời Lê Sơ (1428 – 1527): Điển hình Lê Thánh Tông là quân chủ chuyên chế Cảicách nhà nước Lê Thánh Tông: Tôn quân quyền, mọi quyền lực đều tập trung trongtay Hoàng đế

Thời Lê – Trịnh (1533 – 1599 – 1788) là quân chủ hạn chế thể hiện:

- Địa vị và quyền hạn giữa vua Lê và chúa Trịnh: Vua Lê là nguyên thủnhưng không nắm thực quyền; Chúa Trịnh được phong Vương với đầy đủnghi thức và danh vị; toàn quyền điều hành đất nước trong thực tiễn.Nguyên tắc là: “Hoàng gia giữ uy phúc, Vương phủ nắm quyền bính” ChúaTrịnh từng bước thâu tóm quyền lực của vua Lê: từ Tam phiên đến cácquyền về lập pháp, hành pháp, tư pháp, quân sự, an ninh, kinh tế ngoại giao,thần quyền; đối nội và đối ngoại

Trang 11

- Mối quan hệ triều đình vua Lê và Chánh đường phủ chúa: quyền hành vềhết phủ Chúa Trịnh (1599 – 1786)

- Mối quan hệ Lục bộ, Lục phiên: từ Tam phiên đến Lục phiên (1718) Lụcphiên từng bước thâu tóm hết quyền của Lục bộ

Phan Huy Chú nhận xét: "Nhà Lê từ thời Trung hưng về sau, chúa Trịnh chuyên

giữ chính sự, quyền hành về hết phủ chúa, nhà vua chỉ mang hư danh ở trên, gọi là còn phận vị chỉ có khác ở màu áo mặc và nghi vệ mà thôi" Như vậy, vai trò giữa vua

và chúa là Hoàng gia giữ uy phúc và trị vì, Vương phủ nắm quyền bính và cai trị Đócũng chính là nguyên tắc cơ bản và chủ đạo chi phối toàn bộ thể chế lưỡng đầu vua Lê

- chúa Trịnh

Nhìn chung lại, chúa Trịnh nắm hầu hết quyền hành cai trị đất nước, còn vua Lêchỉ tồn tại trên danh nghĩa, rất ít quyền lực Địa vị, chức, tước và quyền lực của chúađược cha truyền con nối, cũng như sự thế tập ngôi báu hư vị của vua Điều đó trởthành tập quán chính trị bền vững của cơ chế lưỡng đầu Lê - Trịnh và chi phối toàn bộ

cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, mối quan hệ của các cơ quan phụ tá cho vua ở triều đình

và phụ tá cho chúa ở phủ liêu Đây là loại cơ quan cơ bản của triều đình và của phủchúa, thể hiện rõ nhất sự phân định cơ cấu quyền hạn giữa hai bên vua và chúa

Nhà nước phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê là nhà nước quân chủ trải qua hai giaiđoạn quân chủ chuyên chế và quân chủ hạn chế còn gọi là quân chủ Lưỡng đầu chếhoặc Nhị nguyên chế: Vua Lê chúa Trịnh và chúa Nguyễn

[Thể chế nhà nước Lưỡng đầu chế chỉ xuất hiện ở VN thời Lê Trung Hưng?]

Nhận định trên là S… bởi vì:Thể chế nhà nước “Lưỡng đầu” còn gọi là “Nhị nguyên chế” nghĩa là có hai người cầm quyền đứng đầu nhà nước;phân biệt với “Nhất nguyên

chế”- Quyền lực tập trung trong tay một người đứng đầu Thể chế này không chỉ có ở

VN mà còn có ở một số quốc gia khác như: chế độ hai vua ở La Mã, chế độ ThiênHoàng & Mạc Phủ tướng quân ở Nhật Bản, chế độ Thái thượng hoàng trong lịch sử

PK Trung Quốc

Trong lịch sử quyền lực Việt Nam, một số thời kỳ có hai người cầm quyền:

Thứ nhất, thời Hai Bà Trưng (40-42): Sau khởi nghĩa Trưng Trắc, Trưng Nhị cùng lên

ngôi vương, lãnh đạo nhân dân Lạc Việt giành quyền tự chủ, xá thuế cho dân xâydựng chính quyền độc lập

Thứ hai, thời Trần với chế độ Thượng hoàng& Quan gia (1225 – 1400): Vua cha và

vua con cùng trị vì đất nước Khi Thái tử trưởng thành các vị vua Trần thường nhườngngôi cho con, lên chức Thái thượng hoàng, giúp vua trẻ điều hành nhà nước Vua chathường về ở phủ Tức Mặc thiên Trường, vua con ở Kinh đô Thăng Long Giúp việc cóTam Sảnh là Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh và Môn hạ sảnh Cơ chế này có ý nghĩa

cơ bản là: giúp vua trẻ tập sự trị vì đất nước; phòng ngừa sai lầm trong điều hànhchính sự Chính vậy nên độ tuổi làm vua nhà Trần rất trẻ thường từ 25 – 38 Cá biệtthời Trần Minh Tông, vì vua trẻ không điều hành được triều chính nên Thượng hoàngphải tham gia chính sự và là người trực tiếp nắm quyền lực và điều hành đất nước Cơchế này có ưu điểmphát huy năng lực tuổi trẻ của các vị vua

Thứ ba, Thời nhà Mạc (1527 – 1592) thời Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, vua

Mạc cũng áp dụng cơ chế này Song quy định về thẩm quyền của vua con còn hạn chế,

Trang 12

chưa rõ như thời Trần.

Thứ tư, thời Lê Trung hưng: Lưỡng đầu chế Lê Trịnh (1599 – 1786) Đây là cơ chế

Lưỡng đầu chế của hai dòng họ, khác huyết thống Để tạo sự liên kết dòng họ, cácchúa Trịnh thường lấy công chúa con của vua Lê Thể chế Lê Trịnh được luật hóa, xâydựng thành bộ máy công quyền: Triều đình vua Lê & Chánh đường Phủ chúa Vai trògiữa vua và chúa là “Hoàng gia giữ uy phúc và trị vì, Vương phủ nắm quyền bính vàcai trị” Vua Lê là nguyên thủ nhưng không nắm thực quyền; Chúa Trịnh được phongVương với đầy đủ nghi thức và danh vị; toàn quyền điều hành đất nước trong thựctiễn Chúa Trịnh từng bước thâu tóm quyền lực của vua Lê: từ Tam phiên (Hộ phiên,Binh phiên và Thủy sư phiên) đến Lục Phiên; nắm giữ các quyền về lập pháp, hànhpháp, tư pháp, quân sự, an ninh, kinh tế, ngoại giao, thần quyền; đối nội và đối ngoại.Cũng có khi chúa Trình thay vua Lê làm Lễ tế tại Điện Kính thiên & Đàn xã tắc Lưỡng đầu chế còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa chúa Nguyễn Đàng Trong

và vua Lê Năm 1744, chúa Nguyễn Phước Khoát mới xưng vương Tam chế còn có ởthời Ngô Xương Ngập, Ngô XươngVăn và Dương Tam Kha – Hậu Ngô Vương; ThờiQuang Trung, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ Còn phần lớn lịch sử quyền lực tập trungtrong tay nhà vua

8 Các Bộ luật Phong kiến VN đều là các bộ luật tổng hợp (S)

Xem GT và vở ghi

Bộ luật: Theo sử sách cổ còn lại cho biết, các triều đại của phong kiến Đại Việt đã

xây dựng được 5 bộ luật, bộ Hình thư đời Lý, bộ Hình thư đời Trần, bộ Quốc triều

hình luật đời Lê, bộ Quốc triều khám tụng điều lệ đời Lê, bộ Hoàng Việt luật lệ đời

Nguyễn Trong đó, Quốc triều hình luật là bộ luật tiêu biểu nhất Trừ bộ Quốc triều khám tụng điều lệ là Bộ luật chuyên ngành về tố tụng, các bộ luật khác đều là những

bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều ngành luật: Luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhângia đình, luật tố tụng Đa số các điều khoản trong phần Bản điều đều được trình bàydưới hình thức các quy phạm pháp luật kết hợp Xử lý vi phạm về Hành chính, chế tài

và xử lý vi phạm về Dân sự và Hình sự Phạm vi điều chỉnh của các bộ luật rất rộng,

nó tác động tới hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội Các bộ luật thường có hiệu lựcthời gian rất lâu dài Mỗi một triều đại thường chỉ ban hành một bộ luật tổng hợp,mang tính Hiến chương và nó có hiệu lực trong suốt thời gian tồn tại của triều đại đó.Điển hình về hiệu lực thời gian lâu dài là bộ Quốc triều hình luật triều Lê, trong hơn

ba thế kỉ Hoàng Việt Luật Lê có hiệu lực trong triều Nguyễn và được sửa định khithực dân Pháp đặt hệ thống Chính quyền và Luật lệ thực dân Đó là bộ “Hoàng ViệtTân định”, “Hoàng Việt Hình luật” và các bộ luật mới ra đời theo mục đích của chínhquyền thực dân Như vậy, Pháp luật PKVN đã đạt được nhiều thành tựu, thể hiện tínhdân tộc và thời đại, tiến bộ và đặc sắc Việt Nam

9 Bên cạnh Bộ luật, pháp luật PKVN còn có các bộ Hội điển và các VBQPPL đơn hành như: Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Lệ, Chuẩn; các văn bản pháp luật như Chế, Cáo, Biểu, Tấu, Sớ, Châu Bản (Đ) Xem GT và vở ghi

Trang 13

10 Hệ thống “Ngũ hỡnh” trong bộ Quốc triều hỡnh luật (QTHL) thời Hậu Lờ tiếp thu một cỏch chọn lọc, sỏng tạo hệ thống Ngũ hỡnh của phỏp luật phong kiến Trung Quốc ?

Nhận định trờn là Đ… bởi vỡ:Hệ thống Ngũ hỡnh trong bộ Quốc triều hỡnh luật

(QTHL) thời Hậu Lờ được biờn soạn trờn cơ sở của phỏp luật Lý Trần và phỏp luậtĐường Minh QTHL quy định Ngũ hỡnh khỏi quỏt tại Điều 1 và quy định chi tiết tỷ

mỷ ở hầu hết cỏc điều khoản Khi so sỏnh với Ngũ hỡnh trong QTHL với cỏc bộ luậtTrung Quốc, cú thể thấy cỏc quy định về khung hỡnh phạt và ỏp dụng hỡnh phạt đều cú

sự chọn lọc, sỏng tạo so với hệ thống ngũ hỡnh của phỏp luật phong kiến Trung Quốc Trong lịch sử pháp luật Trung Hoa, Ngũ hình có nguồn gốc từthời Tam đại Hạ - Thơng - Chu, đó là: Mặc (thích chữ), tỵ (cắtmũi), phị (chặt chân), cung (hoạn đối với nam, biệt giam đối với nữ),tịch (tử hình) Trải qua thời Tần, Hán đến thời Đờng, Ngũ hìnhTrung Hoa đã đợc xây dựng căn bản, giảm bớt Nội hình, tăng cờngChế tài khổ sai lao dịch và phạt tiền (Thục tội) Đến thời Minh -Thanh, hình phạt trong pháp luật PK Trung Quốc có nhiều cải cáchsong vẫn giữ lại Ngũ hình cổ điển Ngũ hỡnh là 5 hỡnh phạt chớnh:Xuy, Trượng, Đồ, Lưu, Tử

* Tiếp thu chọn lọcsỏng tạo về khung hình phạt của QTHL

Khung hình phạt của QTHL và PLTQ khác nhau chủ yếu ở đồ,

lu và tử hình

Về hình phạt đồ, QTHL quy định có 3 khung (bậc): Khung

1-Đồ làm dịch đinh, xã đinh, chủ yếu làm sai dịch ở địa phơng, có

sự phân biệt giữa nam và nữ, giữa dân thờng với quan chức và vợ

quan chức Khung 2- Đồ làm tợng phờng binh, chủ yếu phục dịch

trong quân đội, chăm sóc đàn voi chiến hoặc xay lúa giã gạo

Khung 3- Đồ làm chủng điền binh, phạm nhân phải lao động khổ

sai tại các đồn điền của Nhà nớc

Về hình phạt lu, QTHL quy định có 3 khung

Khung 1: Lu cận châu, đày ở Nghệ An, Hà Hoa

Khung 2: Lu ngoại châu, đày ở Quảng Bình

Khung 3: Lu viễn châu, đày ở Tân Bình (Thuận Hóa)

(Bản dịch lu khung 3 ở Cao Bằng, theo tác giả Vũ Văn Mẫu là chachính xác, so sánh với Lu viễn châu thời Lê Thái Tổ cũng đúng nhvậy)

PLTQ quy định Lu cũng có 3 khung nhng xác định theo đơn

vị chiều dài là dặm Khung 1: 2000 dặm; Khung 2: 2500 dặm;Khung 3: 3000 dặm

Về hình phạt tử, QTHL quy định có 3 khung (bậc) Khung 1:

giảo, trảm (treo cổ, chém đầu); Khung 2: trảm khiêu (chém bêu

đầu); Khung 3: lăng trì (tùng xẻo) PLTQ quy định có 2 khung:Khung 1: giảo (treo cổ); Khung 2: trảm (chém đầu) Hỡnh phạt Lăng trỡ

ỏp dụng từ thời Ngũ đại (907 - 979), được định hỡnh danh và ghi vào LuậtTrung Quốc thời Liờu (907 – 1125) Phỏp luật Minh, Thanh khụng quyđịnh Lăng trỡ

* Tiếp thu chọn lọcsỏng tạovề áp dụng hình phạt của QTHL

Trang 14

QTHL quy định không áp dụng hình phạt trợng đối với nữphạm nhân Chế tài đồ, lu và tử hình cũng có những quy địnhriêng áp dụng cho nam và nữ Nhìn chung QTHL đều thể hiện rõquan điểm giảm nhẹ hình phạt đối với phụ nữ Đây là một trongnhững nội dung tiến bộ của pháp luật triều Hậu Lê Hình phạt đồtrong QTHL áp dụng chủ yếu nhằm phục vụ nền kinh tế nôngnghiệp, phục dịch quân đội Hình phạt lu nhằm mục đích khaihoang và bảo vệ những vùng đất phía Nam là Nghệ An, Hà Tĩnh,Tân Bình, Thuận Hóa Nh vậy, việc áp dụng hình phạt trong QTHLlinh hoạt và dễ áp dụng trong thực tiễn

* Bên cạnh những điểm chọn lọc sỏng tạo về khung hình phạt, những quy định về áp dụng hình phạt, QTHL còn có một số điểm khác biệt với luật TQ nh: QTHL quy định về phạt tiền khá phổ biến

còn trong PLTQ quy định chủ yếu là chuộc hình phạt bằng tiền.Hình phạt trong QTHL thể hiện rõ tính dân tộc đặc sắc, kế thừa

hình phạt thời Lý - Trần QTHL không có phần giải thích hình phạt

nguồn gốc tự nhiên, xã hội, chính trị, pháp luật của hình phạt, giảithích về ý nghĩa, giá trị, mục đích của hình phạt cũng nh triết lý

về hình phạt QTHL còn có quy định về hình phạt Biếm t nhằm

đề cao t cách, đạo nghĩa của con ngời, trừng trị những vi phạm về

đạo đức, ân nghĩa, nhân phẩm của con ngời

Tóm lại, hình phạt trong QTHL và HVLL vừa có những điểm

t-ơng đồng vừa có điểm khác biệt song vẫn là hệ thống hình phạtNgũ hình cổ điển Hình phạt trong pháp luật phong kiến ViệtNam chịu ảnh hởng của pháp luật Trung Hoa song vẫn thể hiện sựsáng tạo độc đáo, phù hợp với truyền thống dân tộc, phự hợp với

đặc điểm kinh tế cũng nh yêu cầu, hoàn cảnh của đất nớc đơngthời

11 Tớnh phổ biến là một đặc điểm của hỡnh phạt trong phỏp luật phong kiến Việt Nam ?

Nhận định trờn là Đ… bởi vỡ:

Hỡnh phạt trong phỏp luật phong kiến Việt Nam là chế tài chung cho mọi sự viphạm, được quy định trong cỏc Bộ luật phỏp điển QTHL và HVLL, đú là Ngũ hỡnh vàngoài ngũ hỡnh Phạt tiền và chuộc hỡnh phạt bằng tiền cũng được ỏp dụng phổ biến,

đú là sự hoỏn đổi hỡnh phạt trong thời quõn chủ phong kiến VN

Tớnh phổ biến là một trong những đặc điểm cơ bản của hệ thống hỡnh phạt trong phỏpluật phong kiến Việt Nam Bởi theo quan niệm của cỏc nhà lập phỏp chủ trương phỏptrị, mọi vi phạm phỏp luật đều phải chịu chế tài Vi phạm nhẹ xử nhẹ: xuy, trượng,phạt tiền, biếm tư (tạp phạm, vi chế, khinh tội, vi cảnh, tiểu hỡnh), vi phạm nặng xửnặng: đồ, lưu, tử, trảm kiờu, lăng trỡ, lục thi (Thập ỏc, đạo tặc, nhõn mạng, trọng tội,đại hỡnh) Hỡnh phạt là chế tài phổ biến đối với những vi phạm trong cỏc lĩnh vực như:hỡnh sự, dõn sự, hành chớnh, hụn nhõn & gia đỡnh, tố tụng, quõn sự, đất đai, tài chớnh,quan chế, kể cả những vi phạm về luõn thường, đạo lý Hệ thống hỡnh phạt trong phỏp

luật phong kiến VN là Ngũ hỡnh và ngoài ngũ hỡnh Ngũ hỡnh là 5 hỡnh phạt chớnh: xuy, trượng, đồ, lưu, tử Ngoài ngũ hỡnh là cỏc chế tài: phạt tiền, biếm tư, thớch chữ,

Trang 15

giáng phẩm trật, giáng chức, bãi chức, tịch thu tài sản, đeo gông xiềng, sung vợ conlàm nô.

Tính phổ biến của hình phạtđược thể hiện qua các triều đại Lý Trần Lê Trịnh Nguyễn

và trong các Bộ luật pháp điển

Thời Lý - Trần, các hình phạt được áp dụng như: trượng, đồ, lưu, tử, phạt tiền,giáng chức, tịch thu tài sản đã được ghi lại trong các chiếu, lệnh Đến thời Lê -

Nguyễn, tÝnh phổ biến của hình phạt được thể hiện cơ bản trong hai bộ luật: Quốc

triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ (Điều 1 và khoảng trên 90% số lượng điều khoản

trong 2 bộ luật) Ví dụ: trong bộ Quốc triều hình luật có khoảng 662/722 điều trực tiếp

và gián tiếp quy định hình phạt Trong bộ Hoàng Việt luật lệ có khoảng 360/398 điều

quy định hình phạt.

Tính phổ biến của hình phạtđược thể hiện trong các lĩnh vực áp dụng

Trong lĩnh vực Hình sự, hình phạt là chế tài đặc trưng cho luật hình áp dụng với

những hình phạt rất chi tiết và cụ thể Ví dụ, Điều 466 – Tội đánh người, Điều 481 –

vợ đánh chồng, Điều 482 – chồng đánh vợ; Điều 411đến 464 các Tội mưu phản đạinghịch, giết người

Trong lĩnh vực D©n sù, chương Điền sản (32 điều), ví dụ, Điều 366 QTHL quy

định: “Những người làm thư chúc, văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viếtthay và chứng kiến thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ”

Trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình:Chủ yếu ở chương Hộ gia đình và Hôn nhân

gồm 58 điều Ví dụ, Điều 308- chồng bỏ lửng vợ, Điều 314 – kết hôn không đủ sính

lễ, Điều 322 – vợ cả, vợ lẽ tự tiện bỏ nhà chồng ra đi: Xử tội xuy, trượng, biếm, đồ

Trong lĩnh vực Tố tụng, các hành vi vi phạm trong tố tụng, xét xử cũng bị áp dụng

hình phạt, chương Đoán ngục QTHL gồm 65 điều, ví dụ như: Điều 671 QTHL quy

định: "Những quan xử án nếu dùng dằng để việcquá kỳ hạn 1 tháng thì xử tội biếm,quá 3 tháng thì bị bãi chức, quá 5 tháng thì bị tội đồ”

Trong lĩnh vực Hành chính, QTHL có 144 điều quy định về hình phạt, ví dụ điều 225 quy

định: “Những vị quan ty tự tiện sai khiến người đưa văn thư công đi làm việcriêng, đểchậm trễ ngày giờ, làm lỡ việc công thì bị phạt đánh 60 trượng, biếm hai tư " Theo phápluật hiện đại, những hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực hành chính là vi phạm hành chính,nghiêm trọng thì xử lý hình sự chứ không áp dụng hình phạt chung như pháp luật phongkiến

Trong lĩnh vực Quân sự An ninh, các vi phạm trong lĩnh vực quân sự cũng bị áp dụng

hình phạt Ngũ hình nhưng thường nghiêm khắc hơn những lĩnh vực khác Trong QTHL

có 43 điều, các hình phạt chủ yếu là trượng, đồ, lưu, và tử hình Ví dụ như: Điều 74

QTHL quy định tuyển binh vào quân đội mà lấy người hèn kém thì bị tội đồ làm khaođinh, từ 2 – 5 người thì bị tội đồ hoặc lưu, từ 6-9 người thì bị tội giảo

Tóm lại: Hình phạt Ngũ hình, ngoài Ngũ hình là chế tài chung cho mọi sự vi

phạm Hình phạt thể hiện tính phổ biến bởi quan niệm của các nhà lập pháp PKVN là

mọi vi phạm đều phải chịu chế tài Hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Namảnh hưởng bởi pháp luật phong kiến Trung Hoa song cũng có nhiều quy định sáng tạo,phù hợp với hoàn cảnh đất nước và đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp, thể hiệnđiển hình trong bộ QTHL thời Lê

Trang 16

12 Trọng nam, trọng trưởng, trọng đích là nguyên tắc cơ bản của luật thừa kế tài sản thờ cúng (Hương hỏa, Tự sản) trong pháp luật Phong kiến Việt Nam.

Nhận định trên là Đ… bởi vì: Theo quy định của pháp luật triều Lê QTHL, thứ tự

ưu tiên thừa kế hương hỏa là con trai trưởng của người vợ cả… (Xem phần thừa kế )

Phân tích chế định thừa kế trong PLPKVN.

Thừa kế - QTHL Có hai hình thức thừa kế

* Thừa kế theo di chúc

Qua các điều 354, 388, Bộ luật đã quy định về thừa kế theo di chúc như sau:

- Về hình thức của di chúc, có di chúc miệng và di chúc viết (chúc thư) Theo tinhthần và nội dung của Điều 366, người làm chúc thư (cha, mẹ) phải tự viết lấy (nếukhông biết chữ thì nhờ quan viên nào đó trong làng xã viết giùm) và phải có sự chứngkiến cũng của quan viên trong làng xã thì chúc thư mới hợp pháp

Nguyên tắc tự do lập di chúc của người gia trưởng được tôn trọng Trong gia đình,cha, mẹ là chủ tài sản nên chỉ có cha, mẹ mới có quyền lập di chúc Ở di chúc, ngoàiphần ruộng đất dành ra làm hương hoả, phần còn lại được chia cho các con Nhữngcon nào được hưởng thừa kế và được hưởng bao nhiêu đều do người lập di chúc quyđịnh Cha mẹ có thể truất quyền thừa kế của người con nào đó, thường là người conbất hiếu và đó cũng là một dạng từ con

* Thừa kế theo luật

Bộ luật quy định khi cha mẹ chết không có chúc thư hoặc chúc thư không hợppháp thì di sản được chia theo luật Các điều 374, 375, 376, 380, 388 và một số điềukhoản khác cho biết có hai hàng thừa kế: Hàng thừa kế thứ nhất là các con; hàng thừa

kế thứ hai là cha mẹ hoặc người thừa tự và vợ chồng

Quan hệ thừa kế trong hàng thừa kế thứ nhất chỉ phát sinh khi cả cha và mẹ đều đãchết Các con trong hàng này bao gồm cả con trai, con gái, con vợ cả, con vợ lẽ, connàng hầu (Điều 388) Con nuôi cũng được thừa kế khi trong văn tự nhận nuôi con cóghi rõ cho thừa kế điền sản (Điều 380) và không thất hiếu với cha nuôi (Điều 506).Theo tinh thần của các điều 374, 388 thì phần của các con vợ cả đều bằng nhau, phầncủa con vợ lẽ kém phần của con vợ cả và cũng bằng nhau Con nuôi được thừa kếbằng nửa phần của con đẻ; nếu không có con đẻ mà con nuôi ở cùng với cha mẹ nuôi

từ bé thì được hưởng cả, không ở cùng từ bé thì được hưởng gấp hai lần người thừa tựcủa cha mẹ nuôi (Điều 380) Người đã làm con nuôi họ khác và đã được hưởng thừa

kế từ cha mẹ nuôi vẫn được hưởng bằng nửa phần người ăn thừa tự của người tuyệt tựtrong họ cha mẹ đẻ (Điều 381) Trước khi chia thừa kế di sản của cha mẹ, các con phảidành 1/20 di sản làm hương hoả thờ cúng cha mẹ

Quan hệ thừa kế trong hàng thừa kế thứ hai chỉ phát sinh khi hôn nhân không cócon mà một người chết Quan hệ thừa kế trong hàng này được quy định trong batrường hợp cụ thể sau:

1) Trường hợp vợ chồng không có con mà một người chết trước thì nảy sinh quan

hệ thừa kế như sau (theo Điều 375): Nếu chồng chết trước: Ruộng đất do nhà chồng

đã cho (nhà làm luật gọi là phu gia điền sản) được chia làm hai phần bằng nhau Mộtnửa thuộc về người ăn thừa tự (bên họ chồng) để giữ việc tế tự, nửa kia người vợ đượchưởng suốt đời nhưng không được làm của riêng (nghĩa là không được bán), đến khingười vợ chết hoặc đi tái giá thì phần điền sản này lại thuộc về người thừa tự Nếu cha

mẹ hãy còn sống thì thuộc về cha mẹ cả Ruộng đất do hai vợ chồng cùng tần tảo làm

Trang 17

lụng mua được (tần tảo điền sản) được chia làm hai phần bằng nhau Vợ được nhậnmột nửa làm của riêng (vì thực chất đây là phần công sức của người vợ) nửa củangười chồng chết được chia làm 3 phần, cho vợ hai phần để hưởng suốt đời nhưngkhông được làm của riêng và khi vợ chết hay tái giá thì hai phần này để lại cho người

tế tự của chồng, cho người thừa tự của chồng một phần để giữ việc tế tự Phần về tế tựnếu cha mẹ chồng còn sống thì cha mẹ giữ, nếu cha mẹ chồng không còn thì mới giaocho người thừa tự giữ Nếu vợ chết trước, việc phân chia tài sản cũng tương tự nhưtrên, chỉ có khác là chồng đi lấy vợ khác vẫn được chiếm dụng một đời Như vậy,trong quan niệm của nhà làm luật, ruộng đất của vợ chồng gồm có các loại tần tảođiền sản, phu gia điền sản, thê gia điền sản và có hai người được hưởng thừa kế là vợ(hoặc chồng) còn đang sống, cha mẹ chồng (vợ) hoặc người thừa tự bên nhà chồng(vợ) (nếu cha mẹ chồng (vợ) chết)

2) Trường hợp vợ chồng có con, một người chết trước, con lại chết theo thì nảy sinh quan hệ thừa kế như sau (Điều 376):

- Nếu vợ chết trước: Nếu cha mẹ vợ còn sống thì thê gia điền sản được chia làmhai phần: Cha mẹ vợ được một nửa và chồng được một nửa nhưng người chồng chỉđược sử dụng mà không được bán Khi chồng chết, phần này phải hoàn về cha mẹ vợhoặc người thừa tự Nếu cha mẹ vợ đã chết thì thê gia điền sản được chia làm 3 phầnbằng nhau, để cho chồng 2 phần, người thừa tự 1 phần Trong luật không nói ngườichồng trong trường hợp này chỉ được sử dụng trong đời mình So sánh Điều 376 vàĐiều 375 ta thấy gần giống nhau ở điểm một trường hợp không có con và một trườnghợp con chết Song việc chia thê gia điền sản có sự khác nhau, Điều 376 dành chongười chồng nhiều quyền lợi hơn Điều 375 vì cuộc hôn nhân đã có con (mặc dù sau

đó con đã chết), mối liên hệ giữa người chồng với gia đình vợ mật thiết hơn

Tuy nhiên, Điều 376 không nêu ra việc giải quyết phu gia điền sản và tần tảo điềnsản Phải chăng nhà làm luật cho rằng có thể áp dụng tương tự Điều 375 mà khôngcần phải quy định lại ở Điều 376 "Nếu chồng chết trước thì vợ cũng thế, cải giá thìphải trả lại" (Điều 376): Như vậy, ở trường hợp chồng chết trước, người được hưởngthừa kế gồm vợ, cha mẹ chồng hoặc người thừa tự nhưng ngay cả khi không còn cha

mẹ chồng, người vợ cũng chỉ được chiếm dụng 2/3 phu gia điền sản một đời; nếu chếthoặc cải giá thì phải trả lại cho người thừa tự

3) Trường hợp vợ chồng có con, một người chết trước, người kia đi lấy kẻ khác, không có con ở lần hôn nhân này thì sau khi chết nảy sinh quan hệ thừa kế như sau (Điều 374):

Nếu vợ chết, người chồng lấy vợ khác nhưng không có con với người vợ sau, khingười chồng chết thì tài sản sẽ được phân chia giữa các con (của vợ trước) với người

vợ sau như sau:

Phu gia điền sản: Người vợ sau được sử dụng 1/3 (nếu người vợ trước chỉ có 1 con)

hoặc bằng phần của 1 người con (nếu người vợ trước có từ 2 con trở lên); còn bao nhiềuđều thuộc về con chồng Nếu người vợ sau đi tái giá hoặc chết thì phần điền sản thuộc

về con vợ trước

Tần tảo điền sản của chồng và vợ trước được chia 2 phần đều nhau: Một nửa thuộc

về các con vì thực chất đây là phần của vợ trước, nửa còn lại (thực chất là phần củachồng) được chia cho vợ sau và con chồng theo tỉ lệ như trên Tần tảo điền sản củachồng và vợ sau cũng được chia đôi, một nửa thuộc quyền sở hữu của người vợ sau,

Trang 18

nửa còn lại cũng được chia cho người vợ sau và con chồng theo tỉ lệ như trên nhưngphần này của vợ chỉ có quyền sử dụng, còn nếu tái giá hoặc chết đi thì thuộc về conchồng Nếu chồng chết trước thì vấn đề tài sản cũng được giải quyết tương tự nhưtrường hợp vợ chết trước Như vậy, ở trường hợp Điều 374, người được hưởng thừa

kế gồm con riêng của chồng (hoặc con riêng của vợ), người vợ sau (hoặc người chồngsau) Để bảo tồn tài sản cho con cái sau này thừa kế, nhà làm luật đã cấm người vợ khi

đi tái giá hoặc người chồng sau khi vợ chết và đi lấy vợ khác bán ruộng đất trong giađình của lần hôn nhân trước (theo Điều 377 và theo tinh thần của một số điều khoảnkhác)

Vấn đề ruộng đất hương hoả đã được Bộ luật quy định trong 13 điều luật Luật

hương hoả triều Lê thể hiện sâu sắc phong tục tập quán của người Việt, có nhiều điểmkhác với pháp luật Trung Hoa Thừa tự hương hoả là loại thừa kế đặc biệt Về sốlượng tài sản hương hoả, Điều 390 quy định là 1/20 di sản Sở dĩ có giới hạn như trên

là để tránh sự tích lũy hương hoả từ đời này sang đời khác tới diện tích quá lớn.Ruộng đất hương hoả chỉ được sử dụng vào việc trồng cây lấy hoa lợi để thờ cúng tổtiên và không được bán ruộng đất hương hoả (Điều 400) Theo Điều 399, ruộng đấthương hoả không truyền quá 5 đời, vì con cháu chỉ phải thờ cúng những người trongvòng 5 đời Luật quy định không được chia nhau ruộng đất vốn là hương hoả nhưng

để cho ai thì không nói tới Nếu theo phong tục tập quán, phần ruộng đất này chongười thừa tự cuối cùng hoặc nhập vào ruộng đất của dòng họ

Về trật tự truyền ruộng đất hương hoả, luật hương hoả đã dành phần lớn các điều

khoản quy định về trình tự những người được hưởng hương hoả Thông thường, việctruyền ruộng đất hương hoả phải triệt để thể hiện nguyên tắc trọng nam và trọngtrưởng Nhưng nhà làm luật triều Lê đã "mềm hoá" nguyên tắc này bằng cách quyđịnh như sau: Ruộng đất hương hoả được truyền cho con trai trưởng (hoặc cháu traitrưởng), nếu không có thì truyền cho con trai thứ, con trai không có thì truyền cho congái, con gái không có thì truyền cho người trong họ và không bao giờ để truyền sangdòng họ khác Người tàn phế hoặc bất hiếu không được nhận ruộng đất hương hoả.Nhìn chung, mục đích luật thừa kế triều Lê vừa nhằm củng cố sự trường tồn củadòng họ vừa nhằm giữ gìn sự hoà thuận, thương yêu nhau giữa anh chị em trong giađình Với việc cho người vợ có quyền quản lí tài sản trong gia đình sau khi ngườichồng mất, cho người phụ nữ có quyền thừa kế và phần của con gái bằng phần củacon trai (điều không thể tìm thấy trong các bộ luật phong kiến khác), luật thừa kế đãtrở thành định chế nổi bật nhất thể hiện những nét tiến bộ của luật pháp triều Lê

Thừa kế - HVLL triều Nguyễn

Nội dung được quy định tại các điều 76, 82, 83, 87 và được bổ sung bằng một sốđiều lệ Điểm khác biệt của Hoàng Việt luật lệ quy định về thừa kế là đề cao vai tròcủa trưởng nam, thừa nhận quyền thừa kế của con trai, con gái chỉ có quyền khi tronggia đình không có con trai Bộ luật quy định quyền tài sản của ông bà, cha mẹ khi lập

di chúc, không quy định quyền thừa kế của người vợ Tuy nhiên, trong một số trườnghợp, Luật Gia Long vẫn cho phép căn cứ vào “luật cũ" mà xử

- Thừa kế theo di chúc

Luật Gia Long quy định: "Nếu ông bà, cha mẹ đã di chúc chia của thì tôn trưởng

cũng không được đi thưa kiện" Về thời điểm mở thừa kế, Luật định rằng: "Đang lúc còn để tang cha mẹ mà anh em tách hộ khẩu, chia hẳn gia sản thì phạt 80 trượng”.

Trang 19

Như vậy, thời điểm phát sinh thừa kế theo Hoàng Việt luật lệ phải là sau khi để tangcha mẹ 3 năm.

- Thừa kế theo pháp luật:

Về thừa kế tự sản: Là thừa kế tài sản dùng để tế tự, thờ cúng tổ tiên và kế truyền

dòng dõi theo nội tộc Thứ tự ưu tiên là: Trưởng tử dòng đích, nếu trưởng tử chết thìcháu đích tôn thay cha thừa trọng để thờ cúng tổ tiên; con kế dòng đích; con dòng

nhánh; lập đích tử trong "Chiêu mục tương đương" (1) nếu không có con trai Luật cũngcho phép một người con được thừa kế tự sản hai nhà tông miếu Nếu vi phạm trật tựthừa kế trên phải chịu chế tài theo luật định (Điều 37) Nếu trong thân thuộc không cóngười đáng được thừa kế tự sản thì con gái được thừa kế (Lệ 2 Điều 83) Nếu ngườilập tự không bằng lòng với con lập tự hoặc có hiềm khích thì cho phép trình quan ti đểlập người khác

Thừa kế tài sản thông thường: Chủ yếu được quy định ở các điều 82, 83.

Về diện và hàng thừa kế: Chủ yếu là con trai với phần thừa kế bằng nhau, khôngphân biệt con vợ cả, con vợ lẽ, con nô tì (Lệ 1 Điều 83) Con nuôi hoặc con rể nếuđược cha mẹ yêu dấu có thể "châm chước cho tài sản", con thừa tự không được phépcan thiệp Nếu không có con thì hàng thừa kế thứ 2 là các thân thuộc trong gia tộc.Nếu không có con gái thì cho phép quan địa phương trình lên thượng ti tính toán hợp

lí việc sung công (Điều 83)

Như vậy, Luật Gia Long không ghi nhận quyền thừa kế của vợ và con gái nhưLuật Hồng Đức nhưng cũng không có quy định nào cấm con gái được hưởng thừa kế

13 Trong quy định của luật thừa kế triều Lê (QTHL), con gái trưởng được

quyền thừa kếHương hỏa Nhận định trên là Đ… bởi vì: (Xem phần thừa kế ở

trên)

Nhận xét và đánh giá:

Pháp luật QC PKVN bảo vệ ân nghĩa gia đình, dòng họ, tổ tiên từ quá khứ đếntương lai thông qua những định chế pháp lý trong Luật gia đình, Hôn nhân, hươnghỏa, Điền sản Những giá trị này còn lưu giữ bền vững đến tận thời nay, và luôn đượcngười dân tôn kính và tuân thủ Quyền và nghĩa vụ trách nhiệm của Trưởng nam luônđược coi trọng, chế định này phù hợp với quy luật gia đình, giới tính và phong tục.Trưởng nam với vị trí vai trò gánh vác trách nhiệm với dòng họ tổ tông, đoàn kết giatộc, theo nguyên lý Tề gia là sở cho đạo Trị quốc QTHL có nhiều điều khoản chi tiết,

cụ thể dễ hiểu và tiến bộ đặc biệt về Luật Hương hỏa Tôn trọng Quyền của người phụ

nữ trong nghi lễ thờ cúng tổ tiên Con gái trưởng - Trưởng nữ được thừa kế hương hỏadòng họ gia đình Quy định này thể hiện giá trị tinh thần tâm linh đặc sắc của dân tộc

VN, khác với PL TQ, Arập và PK Tây Âu thời Trung cổ

Sử giaPhan Huy Chú đã từng nhận xét rằng: Luật Hương hỏa qua mấy triều sửa định,

đến thời Lê Thánh Tông bổ sung để làm mực thước cho dân noi theo…Luật hươnghỏa sửa đổi phong tục, bồi đắp luân thường, đó chính là chỗ màu nhiệm của Pháp luật

(Lịch triều Hiến chương loại chí – Luật Hộ - Hôn) Luật gia Vũ Văn Mẫu khẳng định:

(1) (1) Chiêu mục tương đương: Là một cổ lệ có từ thời nhà Chu Trung Quốc, được ghi rõ trong sách Lễ Kí (Vũ

Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam thông khảo, tr 241)

Theo Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, "người nào không có con thì cho lấy cháu gọi bằng chú, bác "đồng tông" và về vai bậc, về thế tương đương làm người thừa kế" (Tập 11, tr 278).

Trang 20

Đó là những giá trị của Linh hồn trí não người xưa kết đúc lại cho chúng ta qua bao

lớp phế hưng của lịch sử đến nay vẫn chưa phai nhạt (Theo Lời tựa bản dịch – HồngĐức Thiện chính thư)

14 Tính dân tộc và tính xã hội nổi trội là một đặc điểm của Nhà nước & PL PKVN.

Nhận định trên là Đ… bởi vì:Cũng như những nhà nước phong kiến khác, Nhà

nước Đại Việt là thể chế chính trị bảo vệ quyền lực và quyền lợi của giai cấpphong kiến thống trị Trong đó vua là người nắm trọn quyền lực nhà nước, làchủ sở hữu tối cao ruộng đất công trong cả nước Ở thể chế chính trị đó có haimối quan hệ cơ bản: Vua - bầy tôi (quý tộc, quan lại), vua - thần dân Tuynhiên, do tác động của yếu tố chống xâm lược mà tư tưởng trung quân luôn gắnliền với tư tưởng yêu nước (trung quân ái quốc) Nhà nước phong kiến Đại Việtkhông chỉ đại diện cho lợi ích của nhà vua, của giai cấp thống trị mà còn đạidiện cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân

Tính dân tộc và tính xã hội được thể hiện trong tư tưởng chính trị pháp lý,

trong nguyên tắc Dân tộc độc lập và chính sách đoàn kết các dân tộc Việt Nam,tôn trọng phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc Tính xã hội trong cấu

trúc gia đình, xã hội làng xã và phân tầng xã hội trong quản lý dân cư Ví dụ,

chính sách thân dân, khoan thư sức dân, yên dân, ái dân; chính sách pháp luật

với người già, trẻ em, người tàn tật và phụ nữ; Ví dụ chính sách tôn trọng

quyền tự trị tự quản làng xã Luật định rằng: Nếu người dân tộc cùng phạm tộivới nhau thì theo phong tục của họ mà xét xử

Cùng với cơ sở kinh tế-xã hội, công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi và chống xâm lược

không chỉ là yếu tố thúc đẩy Nhà nước của người Việt cổ ra đời sớm và quy định cácchức năng đối nội, đối ngoại cơ bản của nhà nước phong kiến Việt Nam mà còn ảnhhưởng mạnh mẽ tới bản chất của nhà nước VN Thực hiện hai chức năng trên mộtcách chủ động và thường xuyên, nhà nước phong kiến Việt Nam không chỉ bảo đảmquyền và lợi ích thống trị của tập đoàn phong kiến cầm quyền mà còn bảo đảm lợi íchcủa toàn xã hội và của cộng đồng dân tộc Ý thức được sự đóng góp sức người, sứccủa của nhân dân là sức mạnh quyết định thắng lợi của công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi vàchống xâm lược nên các triều đại phong kiến Việt Nam không thể không điều tiết việchoạch định các chính sách cai trị, việc xây dựng các thiết chế nhà nước và pháp luậtnhằm đáp ứng ở mức độ nhất định các yêu cầu chính đáng về kinh tế, chính trị, xã hộicủa dân chúng Việc ban hành chính sách Quân điền và sự tôn trọng chế độ tự trị, tựquản làng xã… cho thấy ở nhà nước phong kiến Việt Nam, tính giai cấp không quásâu sắc và tính xã hội tính dân tộc có phần nổi trội

15 Chế độ sở hữu Nhà nước, làng xã và tư nhân luôn được coi trọng trong PLPKVN

Nhận định trên là … bởi vì:So với các quốc gia phong kiến Tây Âu, nhà nước

phong kiến Việt Nam thiết lập và tồn tại trên chế độ sở hữu không thuần nhất: sở hữucông và sở hữu tư nhân Sở hữu công là chế độ sở hữu giữ vai trò chủ đạo và thể hiệndưới 2 hình thức: Sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã

* Sở hữu nhà nước: Quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất từng bước được xác lập

trong tiến trình lịch sử Từ thế kỉ X với sự xuất hiện chế độ trung ương tập quyền, cácnhà nước thế kỉ X đã mặc định quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhà nước

Trang 21

Quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất dần trở thành tập quán chính trị bền vững đượcpháp luật các triều đại bảo vệ Khẳng định quyền sở hữu tối cao, nhà nước giữ lại 1 bộphận ruộng đất trực tiếp quản lí, sử dụng phần còn lại đã trao quyền quản lí sử dụngcho các chủ thể khác Đây chính là cơ sở hình thành chế độ sở hữu ruộng đất đa hìnhthức (sở hữu chồng – sở hữu kép).

Ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lí và sử dụng không lớn bao gồm: Tịch điền,ruộng sơn lăng, ruộng phong cấp, ruộng quốc khố, đồn điền, đất hoang… Dù trêndanh nghĩa hay là sở hữu thực tế, quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất đều là quyền sởhữu tối cao với đầy đủ 3 quyền năng

* Sở hữu làng xã (công điền, quan điền): Vừa là tàn dư của công xã nông thôn

vừa là kết quả của quá trình phong kiến hoá về ruộng đất nên sở hữu làng xã là sởhữu kép (danh nghĩa thuộc sở hữu nhà nước nhưng thực tế lại thuộc sở hữu làng xã)

Sự tồn tại của ruộng đất làng xã không những giúp nhà nước thực hiện được chínhsách đoàn kết dân tộc, duy trì, phát huy được truyền thống tự trị, tự quản làng xã màcòn đảm bảo được nguồn thu tô, thuế, lao dịch, binh dịch

Do vai trò quan trọng của ruộng đất làng xã, các triều đại phong kiến đều banhành chính sách ruộng đất nhằm quản lí và bảo vệ hình thức sở hữu này Nếu từ thế

kỉ X đến thế kỉ XIV nhà nước cho phép làng xã tự phân chia ruộng đất theo tập quánthì từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, làng xã buộc phải phân chia ruộng đất theo chínhsách quân điền do nhà nước ban hành Để bảo vệ ruộng đất công, ngoài việc nghiêmcấm hành vi bán ruộng đất khẩu phần (quân điền) của cư dân làng xã, nhà nước cònsẵn sàng can thiệp tới mức thô bạo khi ruộng đất công bị thu hẹp mà các biện phápcải cách hạn điền của Hồ Quý Ly và quân điền của Minh Mạng là minh chứng cụthể Sự quyết liệt trong việc bảo vệ ruộng đất công của các triều đại phong kiếnkhiến ruộng đất công luôn là bộ phận ruộng đất giữ vai trò chủ đạo, tới giữa thế kỉXIX ruộng đất công làng xã vẫn chiếm trên 50% diện tích đất canh tác

* Chế độ sử hữu tư nhân: Nguồn gốc của ruộng đất tư khá đa dạng bao gồm mua

bán, khai hoang, nhà nước ban cấp hoặc do chấp chiếm biến công vi tư Xét về quy

mô, do tập quán chia đều ruộng đất thừa kế cho các con và chính sách giới hạn tích tụruộng đất tư của nhà nước, sở hữu tư nhân Việt Nam thời phong kiến luôn dừng ở mứcnhỏ và vừa Ruộng đất tư chỉ bao gồm đất ở và đất canh tác và không có sự tập trungtại một địa bàn mà thường xen kẽ với ruộng đất thuộc sở hữu công Dù thừa nhậnquyền sở hữu ruộng đất tư song nhà nước luôn tìm cách can thiệp vào sở hữu tư nhân.Khi ruộng đất tư phát triển, Nhà nước điều tiết bằng hàng loạt chính sách, trong đótịch thu sung công thông qua chính sách hạn điền mà nhà Hồ, nhà Nguyễn thực hiệnđược tính là cực đoan nhất

Sở hữu tư nhân về ruộng đất ở Việt Nam khác hẳn so với sở hữu tư nhân về ruộngđất ở Trung Quốc và phương Tây thời phong kiến Ở phương Tây thời phong kiến, cáclãnh địa thuộc quyền sở hữu của các lãnh chúa Trung Quốc thời phong kiến, chỉ tồntại 2 hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân trong đó sở hữu nhà nước

có xu hướng bị thu hẹp, sở hữu tư nhân từng bước được xác lập Tình trạng địa chủkiêm tính ruộng đất xảy ra khá phổ biến trong lịch sử Trung Quốc Ngoại thích Lương

Ký thời Hán đã sở hữu vùng đất có chu vi 1000 dặm Thời Đường, Tống, Minh,Thanh phong cấp ruộng đất cho công thần, quý tộc lên tới hàng vạn khoảnh

Như vậy, từ thế kỉ X tới giữa thế kỉ XIX, nhà nước phong kiến Việt Nam được

Trang 22

hình thành và phát triển trên chế độ sở hữu đa hình thức trong đó sở hữu công giữ vaitrò chủ đạo

* Tính chất của nền kinh tế: Kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc là điểm khá tương

đồng trong tính chất của nền kinh tế thời phong kiến cả ở phương Đông và phươngTây trong giai đoạn sơ kì Tuy nhiên, tính chất tự cấp tự túc sớm bị phá vỡ ở Tây Âuphong kiến khi thành thị xuất hiện, sản xuất nông nghiệp ở các trang viên phong kiếnchuyển sang tính chất hàng hoá Chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp nhưngkhông ức thương, từ rất sớm ở Trung Quốc, trong cơ cấu kinh tế của mình đã có sự gópmặt của thủ công nghiệp và thương nghiệp Ở Việt Nam, nhà nước phong kiến chỉ chútrọng phát triển kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp còn thương nghiệp luôn bịkiềm chế Do manh mún trong chế độ sở hữu và chiếm hữu ruộng đất nên nôngnghiệp được canh tác theo hộ gia đình, năng suất lao động thấp Cho tới thế kỉ XV,Đại Việt chỉ có một trung tâm sản xuất thủ công nghiệp và giao thương đó là thànhThăng Long (Kẻ Chợ) Thời kì Đàng Trong và Đàng Ngoài một số trung tâm giaolưu buôn bán mới xuất hiện như Phố Hiến ở Đàng Ngoài, Hội An ở Đàng Trong Thủcông nghiệp, thương nghiệp tiếp tục bị khống chế khi triều Nguyễn bế quan, toảcảng Với nền kinh tế tiểu nông Việt Nam thời phong kiến không xuất hiện nhữngthế lực có tiềm năng kinh tế lớn đe doạ tới chính quyền trung ương và làm cho sựcách biệt giữa các tầng lớp xã hội không quá lớn, tính giai cấp của nhà nước và phápluật do vậy cũng không sâu sắc

Chế độ sở hữu và tính chất của nền kinh tế tạo cơ sở vững chắc xác lập nhà nướcquân chủ chuyên chế với hình thức cấu trúc trung ương tập quyền

18 Nguyên tắc Bát nghị, chiếu cố đối với người già, trẻ em, người tàn tật, người dân tộc là một giá trị tiến bộ của cổ luật Việt Nam

Nguyên tắc chiếu cố:

Nguyên tắc này được thể hiện ở một số loại người được chiếu cố và nội dungchiếu cố

Một là sự chiếu cố theo địa vị xã hội: Điều 3 quy định Tám hạng người được nghị

xét giảm tội (Bát nghị), gồm: + Nghị thân: Là họ tôn thất từ hàng đản miếu (họ hàngnhà vua trong 5 thế hệ) trở lên, họ hoàng thái hậu từ hàng phải để tang ti ma (hạng để

tang 3 tháng), họ hoàng thái hậu từ tiểu công (hạng để tang 5 tháng trở lên) + Nghị

cố: Là những người cố cựu (chỉ những người cũ, đã theo giúp vua lâu ngày hoặc

những người giúp vua từ triều trước) + Nghị hiền: Là những người có đức hạnh lớn +

Nghị năng: Là những người có tài năng lớn.+ Nghị công: Là những người có công

huân lớn + Nghị quý: Là những quan viên có chức sự từ tam phẩm trở lên, những

quan viên tản chức (chức quan nhàn tản, như chức học quan, hàn lâm) có tước từ nhị

phẩm trở lên.+ Nghị cần: Là những người cần cù chăm chỉ.+ Nghị tân: Là con cháu

các triều vua trước

Nội dung nghị giảm được quy định cụ thể ở các điều 4, 5, 8 và 10 Theo đó, nhữngngười thuộc diện Bát nghị, trừ khi phạm tội thập ác, còn nếu phạm vào tội tử thì các

quan nghị án phải khai rõ tội trạng và hình phạt nên xử thế nào, làm thành bản tấu

dâng lên để vua quyết định, nếu phạm từ tội lưu trở xuống thì được giảm một bậc;

những người thuộc nghị thân được miễn tội đánh roi, đánh trượng, thích chữ vào mặt

(riêng họ hoàng hậu thì phải dùng tiền để chuộc) Nếu người phạm tội mà được hưởng

Trang 23

nhiều bậc nghị giảm thì chỉ được giảm theo bậc giảm nhiều nhất chứ không đượcgiảm cả Bát nghị là chế định của luật pháp Trung Hoa, ở Đại Việt lần đầu tiên đượcvận dụng vào Bộ luật của triều Lê (nếu theo các văn bản cổ luật hiện còn).

Hai là sự chiếu cố theo tuổi tác và đối với người tàn tật, phụ nữ: Điều 16 quy định

những người từ 70 tuổi trở lên, từ 15 tuổi trở xuống hoặc người bị tàn phế, phạm từ tộilưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, trừ khi phạm thập ác Từ 80 tuổi trở lên, 10tuổi trở xuống hoặc bị ác tật, nếu phạm tội phản nghịch, giết người đáng tội chết thìcũng phải tâu để vua quyết định, nếu ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộcbằng tiền, còn ngoài ra thì không bắt tội Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu bị tộichết cũng không hành hình, nếu có kẻ nào xui xiểm thì bắt tội kẻ đó, nếu ăn trộm có

tang vật thì kẻ nào chứa chấp tang vật ấy phải bồi thường Theo Điều 17, người già cả

hoặc bị tàn tật trước đây phạm tội đến khi già cả tàn tật mới bị phát giác hoặc người

khi còn bé phạm tội đến khi lớn lên mới bị phát giác thì đều được xử theo luật già cả,

tàn tật, trẻ nhỏ Trong lượng hình hoặc thi hành hình phạt đối với nữ phạm nhân, nhà làm luật đã dành cho một số ưu đãi Ví dụ: Theo Điều 1, khi phạm tội đồ hoặc lưu, nam phạm nhân bao giờ cũng bị đánh thêm trượng, còn nữ phạm nhân chỉ phải chịu

tội roi Theo Điều 680, nữ phạm nhân tội tử, tội xuy mà đang có thai thì phải đủ 100

ngày sau khi sinh con mới bị đem ra hành hình hoặc đánh roi Tội trộm cướp đượcgảm nhẹ (Điều 429 - QTHL)

Như vậy, nếu như việc chiếu cố về địa vị xã hội thể hiện bản chất giai cấp của Bộluật thì sự chiếu cố đối với người già, trẻ em, người tàn tật, phụ nữ biểu hiện tính nhânđạo của nhà làm luật Theo HVLL, các trường hợp chiếu cố đều được chuộc bằng sốtiền giảm nhẹ, trừ tội Thập ác, giết người, đánh người thành thương tật, thông gian.Việc quy định mức tiền chuộc tội đối với các quan tuỳ theo phẩm trật, vì nhà làm luậtquan niệm người có quan tước phải chịu trách nhiệm cao hơn dân thường, chức tướccàng cao, tiền chuộc càng lớn Thập ác là những trọng tội nên không được chuộc.Trong luật cũng không quy định việc chuộc tội đánh roi, vì theo quan niệm cổ luật, tộiđánh roi có mục đích răn bảo, dạy dỗ người phạm tội biết xấu hổ Nguyên tắc chuộctội bằng tiền cũng thể hiện tính nhân đạo đối với người già, trẻ em, người tàn tật vàphụ nữ Là sự tiến bộ của cổ luật cần nghiên cứu học tập trong cơ chế thị trường

19 Nguyên tắc chịu trách nhiệm hình sự liên đới là một trong những nguyên tắc cơ bản của cổ luật Việt Nam

Trách nhiệm hình sự liên đới là một trong những điểm đặc trưng của cổ luật Nguyên

tắc này được quy định trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và đồng cư Điều đó

được thể hiện ở hai khía cạnh Một là khi phạm vào một số loại tội, người thân thích

trong gia đình phải chịu tội thay cho kẻ phạm tội Quy định này có từ thời Lý Trần,sang thời Lê và triều Nguyễn

Theo khoản cuối của Điều 35 - QTHL, nếu tất cả người trong nhà cùng phạm tộithì chỉ bắt tội người tôn trưởng

Điều 38 – QTHL quy định, con cháu phải thay thế ông bà, cha mẹ chịu tội đánhroi, đánh trượng và được giảm một bậc Những quy định này nhằm đề cao trách nhiệmcủa người gia trưởng và đạo hiếu của con cháu

Hai là, đối với một số trọng tội, Thập ác tội mưu phản, mưu đại nghịch không những

phạm nhân mà cả vợ con cũng phải chịu trách nhiệm hình sự Theo các điều 411 và

412 – QTHL và 223 - HVLL, những kẻ phạm tội mưu phản, mưu đại nghịch thì không

Trang 24

những kẻ phạm tội bị chém đầu, mà cả vợ con và điền sản đều bị tịch thu sung công.Việc liên đới chịu trách nhiệm hình sự còn được thể hiện qua nhiều điều khoản kháccủa Bộ luật Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo Điều 16 người từ đủ 8 tuổi trởlên đến dưới 90 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm của mình tuy

có phân biệt ở mức độ và phạm vi khác nhau

Phần Tự luận – Lý thuyết

1 CUỘC CẢI TỔ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Trải qua mấy chục năm, từ Lê Thái Tổ đến Thái Tông, Nhân Tông, nếu kể cả NghiDân là 4 đời vua, xã hội Đại Việt đã có nhiều biến đổi Đất nước Đại Việt yên bình,vững chắc và giai cấp địa chủ phong kiến đã trưởng thành lên một bước mới, đòi hỏi

và đã có đủ điều kiện xây dựng bộ máy cai trị tương xứng Thời điểm này xuất hiệnmột nhân vật đầy tài năng và có hoài bão chính trị lớn lao, gánh vác được trọng trách

ấy, người đó là Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông lên ngôi ở tuổi 18, làm vua được 37 năm và mất lúc 55 tuổi

Cuộc cải tổ bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông là một trong những cuộc cải tổlớn nhất và thành công nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Mô hình nhànước thời Lê Thánh Tông trở thành mẫu mực cho những đời vua và các triều đại sau

mô phỏng theo Trên cơ sở học tập các triều đại trước, nghiên cứu về cải cách nhànước triều Minh thời Chu Nguyên Chương, Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cáchtoàn diện bộ máy nhà nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốcphòng Lần đầu tiên trong lịch sử, bản đồ Hồng Đức được ban hành trên cơ sở tổngkết về địa dư hành chính trong cả nước Nước Đại Việt thời Lê Thánh Tông gồm có

13 đạo xứ thừa tuyên, 178 phủ huyện, 50 châu, 6851 xã và Kinh đô là Phủ trung đô(Đông kinh – Đông quan)9

Mục tiêu cơ bản của cuộc cải tổ bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông là nhằm tậptrung tuyệt đối quyền lực nhà nước vào trong tay nhà vua theo nguyên tắc "tôn quânquyền" của Nho giáo và tăng cường hiệu lực của bộ máy quan liêu, cũng tức là nângcao sự thể hiện và hiệu quả quyền lực của hoàng đế

Biện pháp chủ yếu mà cuộc cải tổ này thực hiện là:

- Bỏ bớt một số chức quan, cơ quan và cấp chính quyền trung gian để bảo đảm sựtập trung quyền lực vào nhà vua

- Các cơ quan giám sát, kiểm soát lẫn nhau để loại trừ sự lạm quyền và nâng caotrách nhiệm

- Không tập trung quá nhiều quyền hành vào một cơ quan mà tản ra cho nhiều cơquan để ngăn chặn sự tiếm quyền

Cuộc cải tổ bộ máy nhà nước được Lê Thánh Tông tiến hành trong suốt cả quãngđời làm vua của ông Trong đó, đỉnh điểm là vào năm 1471, khi nhà vua ra đạo Dụhiệu định quan chế mà sử sách thường gọi văn bản này là Hoàng triều quan chế Đạo

dụ này đúc kết và phát triển công cuộc cải tổ đã bước đầu được tiến hành trong nhữngnăm trước đó, đặt cơ sở pháp lí cho cả quá trình cải tổ

Lê Thánh Tông đã tiến hành cải tổ bộ máy nhà nước một cách toàn diện cả ở trung

9Triều Nguyễn có 30 tỉnh, Phủ thừa thiên, 78 phủ, 252 huyện, 39 châu,

Trang 25

ương và địa phương, cả ngạch dân sự và quân sự, cả quan chế và thiết chế nhà nước.

Cải cách LTT ở Trung ương

Lê Thánh Tông cải cách bộ máy nhà nước trung ương theo nguyên tắc“Tôn quân

quyền”, thông qua ba biện pháp cơ bản là: (i) Xóa bỏ một số chức quan, cơ quan có

khả năng có khả năng lấn át quyền lực tối cao, xây dựng các cơ quan và văn phònggiúp việc; (ii) Thiết lập hệ thống cơ quan giám sát quyền lực nhà nước từ trung ươngđến địa phương; (iii) Kết hợp nguyên tắc tập quyền với phân quyền và tản quyền trongvận hành bộ máy nhà nước, đảm bảo quyền lực tối cao thuộc về triều đình trung ươngđứng đầu là nhà vua

Biểu hiện: (Xem thêm GT)

Thứ nhất, xóa bỏ Tể tướng, Tướng quốc, Tướng công, Đại Hành khiển, Đại đô

đốc, Tam thái, Tam thiếu, Tam tư; Xây dựng 5 cơ quan văn phòng giúp việc: Hàn lâmviện, Đông các viện, trung thư giám, …; Xây dựng Lục Bộ, Lục khoa, Lục tự; Các cơquan chuyên môn, cơ quan thông tin, cơ quan kinh tế; Xây dựng cải cách quân đội

‘Ngũ phủ quân”, xây dựng Luật quân sự (122 điều quân lệnh); xác lập chủ quyền xâydựng bản đồ Hồng Đức; …

Thứ hai, Thiết lập hệ thống cơ quan giám sát quyền lực nhà nước: Lục khoa, Ngự

sử đài; Giám sát Lục Bộ, quan chức, từ trung ương đến địa phương

Lục khoa…

Ngự sử đài…

Thứ ba, Kết hợp nguyên tắc tập quyền với phân quyền và tản quyền trong vận

hành bộ máy nhà nước, đảm bảo quyền lực tối cao thuộc về triều đình trung ươngđứng đầu là nhà vua:

Cơ quan văn phòng và xây dựng pháp luật: Hàn lâm viện

Tại các bộ,…

Ngũ phủ quân: Tả hữu đô đốc có quyền ngang nhau…

Tóm lại, BMNN Lê Thánh Tông thể hiện nguyên tắc Tập quyền thống nhất, là mô

hình nhà nước mẫu mực điển hình trong chính thể quân chủ PKVN

Nguyên tắc “Tôn quân quyền” và công cuộc cải cách nhà nước của Hoàng đế

Lê Thánh Tông(1460-1497)

Nguyên tắc “Tôn quân quyền” ra đời trong thời kỳ hỗn loạn của nhà Chu, nguyên tắc

“Tôn quân quyền” là ước vọng ổn định trật tự xã hội và quyền lực của Khổng Tửtrong thời đại này “Tôn quân quyền” là sự tôn trọng quyền lực của nhà vua Nói cáchkhác là phải phục tùng một cách vô điều kiện sức mạnh của nhà vua Bởi quyền uycủa vua xuất phát từ thuyết “Thiên mệnh” và nguyên tắc “Chính danh” của Nho giáo

Với thuyết “Thiên mệnh”, Khổng Tử muốn thần thánh hóa quyền lực và sức mạnh của Hoàng Đế Với nguyên tắc “Chính danh”,Khổng Tử muốn người trong nhân gian phải sống theo “tam cương”, “ngũ thường”, sống với những nguyên tắc, qui định nghiêm

khắc để trở thành người quân tử

Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, thế kỷ X nền độc lập của dân tộc Việt Nam đã đượcxác lập trở lại Trong thời kỳ đầu, khi mới giành được độc lập nguyên tắc “Tôn quânquyền” chưa trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy Nhà nước Đại Việt.Đến thời Lê Thánh Tông cùng với 3 biện pháp cải cách bộ máy Nhà nước, nguyên tắc

Trang 26

“Tôn quân quyền” được đề cao trong hệ tư tưởng chính trị pháp lý kết hợp Đức trị vàPháp trị Nhà nước thời Lê Thánh Tông đã được củng cố và hoàn thiện, bảo đảm sựtập trung quyền lực Nhà nước vào trong tay nhà vua.

Lê Thánh Tông(1460 – 1497) lên ngôi từ năm 19 tuổi, ông là một trong những

vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Việt Nam với 37 năm Ông đã có những đóng góp tolớn vào sự phát triển rực rỡ về mọi mặt của quốc gia Đại Việt Công cuộc cải tổ bộ máyNhà nước của Lê Thánh Tông là một trong những cuộc cải tổ lớn nhất và thành côngnhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Mô hình Nhà nước Lê Thánh Tông trởthành mẫu mực cho những triều vua và các triều đại sau này học tập mô phỏng noitheo Mục tiêu cơ bản của cuộc cải tổ bộ máy Nhà nước của Lê Thánh Tông là nhằmcủng cố và hoàn thiện nền quân chủ chuyên chế phong kiến Nói cách khác mục tiêutập trung tuyệt đối quyền lực vào trong tay nhà vua theo nguyên tắc “Tôn quân quyền”của Nho giáo đã được Lê Thánh Tông áp dụng một cách khá triệt để và sáng tạo, vừa

kế thừa truyền thống của các tiên vương, vừa học tập kinh nghiệm cải cách bộ máy

Nhà nước của nhà Minh Nhà vua nắm trong tay cả thế quyền và thần quyền.Thế

quyền của vua được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự, vănhóa, giáo dục

Thứ nhất, trong lĩnh vực chính trị, vua Lê Thánh Tông nắm trong tay cả ba

quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Về lập pháp: Vua Lê Thánh Tông là người

duy nhất có thẩm quyền ban hành pháp luật Nhà vua là người quyết định việc biênsoạn, ban hành hoặc bãi bỏ pháp luật Ý chí của vua dù thể hiện qua văn bản hay khẩutruyền đều trở thành pháp luật Các bản án điển hình muốn trở thành tiền lệ phải được

vua phê duyệt Dù thừa nhận lệ làng, luật nước vẫn có hiệu lực tối cao Về hành pháp:

Vua Lê Thánh Tông là người đứng đầu nền hành chính quốc gia Vua là người quiđịnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống cơ quan hành chính Nhànước, quyết định việc bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động các quan chức Vua là người

đưa ra quyết định cao nhất và cuối cùng về quản lý hành chính Nhà nước Về tư pháp:

Vua Lê Thánh Tông vai trò là một vị thẩm phán quyền lực tối cao Các vụ án lớn đều

do vua trực tiếp xét xử chung thẩm Khi vua đưa ra phán quyết với một vụ án thìkhông cơ quan nào được phép xử lại Vua là người duy nhất có quyền quyết định đại

xá, ân xá tù nhân, tội nhân

Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế, vua Lê Thánh Tông là người có quyền lực kinh

tế lớn nhất Mọi đất đai, tài nguyên trong thiên hạ là của vua Để khẳng định quyền sởhữu của mình, nhà vua là người duy nhất có quyền phong cấp, thu hồi đất đai, banphát tài sản của đất nước, quyết định chế độ Quân điền và Lộc điền Nhà vua có quyềnquyết định luật thuế, ban cấp bổng lộc cho quan chức, hoàng tộc

Thứ ba, trong lĩnh vực quân sự, vua là tổng tư lệnh quân đội, nắm quyền thăng

giáng, bổ nhiệm, bãi nhiệm hệ thống võ quan Quyền điều động quân đội do vua trựctiếp thâu tóm

Thứ tư,trong lĩnh vực giáo dục, thi cử, ngoại giao,chỉ thời Lê Thánh Tông vua

mới định ra phép thi Hương, sửa phép thi Hội, thi Đình, là giám khảo chấm thi Đình,

là người xét duyệt tư cách của các sĩ tử để đạt qua khoa cử Ngoài ra, Lê Thánh Tông

còn ban hành 24 điều giáo hóa dân chúng, sửa đổi các phong tục tập quán cho phù

Trang 27

hợp với pháp luật, phổ cập tam cương ngũ thường tới dân chúng Nhà vua là ngườiquyết định đối nội và đối ngoại, thế quyền và thần quyền Nhà vua là người chủ lễ tếtrời đất và quyết định tôn giáo quốc gia.

Như vậy, quyền lực của vua Lê Thánh Tông được củng cố theo xu hướng tăngcường chuyên chế Các cơ quan Nhà nước được lập ra là để giúp nhà vua quản lý vàđiều hành bộ máy Nhà nước một cách đồng bộ kịp thời Nguyên tắc “Tôn quânquyền” trong bộ máy Nhà nước thời Lê Thánh Tông được đề cao, quyền lực tập trungcao độ vào trong tay Hoàng đế Sử sách cũ đã ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về côngcuộc cải cách của ông Tìm hiểu một cách toàn diện và thấu đáo cuộc cải tổ bộ máyNhà nước của Lê Thánh Tông sẽ giúp chúng ta hình dung được một cách khá đầy đủ

và cụ thể về mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến ĐạiViệt trong tiến trình lịch sử

Ba biện pháp cải cách bộ máy nhà nước và những cải cách hệ thống cơ quan Lục

bộ dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 -1497) [ Kết hợp vở ghi và GT]

Nguyên tắc “Tôn quân quyền” trong bộ máy Nhà nước thời Lê Thánh Tông được

đề cao, quyền lực tập trung vào trong tay Hoàng đế Các cơ quan Nhà nước được lập

ra là để giúp nhà vua quản lý và điều hành bộ máy Nhà nước một cách đồng bộ kịpthời Lê Thánh Tông củng cố Nhà nước theo xu hướng tăng cường hiệu lực quản lý từtrung ương đến địa phương cơ sở

* Cuộc cải tổ bộ máy Nhà nước của Lê Thánh Tông được thực hiện dựa trên 3 biện pháp

Biện pháp thứ nhất, bỏ bớt một số chức quan, cơ quan cao cấp và các chức quan trung

gian để đảm bảo sự tập tủng quyền lực vào trong tay nhà vua Xây dựng một hệ thống

cơ quan giúp việc cho Hoàng đế bao gồm các cơ quan Văn phòng, Lục bộ, Lục khoa,Lục tự, các cơ quan chuyên môn, cơ quan kinh tế, cơ quan thông tin với chức năngnhiệm vụ quyền hạn rõ ràng Biện pháp này được thực hiện từ trung ương đến địaphương

Biện pháp thứ hai, không để tập trung quá nhiều quyền hành vào một cơ quan

mà được tản ra cho nhiều cơ quan, chức quan để ngăn chặn sự tiếm quyền, độc quyềncủa các cơ quan và các chức quan trọng yếu trong bộ máy Nhà nước Biện pháp nàyđược thực hiện từ trung ương đến địa phương

Biện pháp thứ ba, các cơ quan giám sát, kiểm soát lẫn nhau để tăng cường hiệu

lực quản lý, loại trừ sự lạm quyền và nâng cao trách nhiệm công cụ Hệ thống cơ quangiám sát được xây dựng từ trung ương đến địa phương, giám sát cả hành chính, tưpháp xét xử và quân sự an ninh

Với các biện pháp đồng bộ, mục tiêu tập trung quyền lực Nhà nước vào trongtay nhà vua theo nguyên tắc “Tôn quân quyền” Nho giáo, tăng cường hiệu lực của bộmáy quan liêu thời Lê Thánh Tông đã đạt được những thành tựu căn bản

* Thời Lê Thánh Tông cùng với 3 biện pháp cải cách bộ máy Nhà nước, nguyên tắc

“Tôn quân quyền” được đề cao trong hệ tư tưởng chính trị pháp lý kết hợp Đức trị và

Trang 28

Pháp trị Nhà nước thời Lê Thánh Tông đã được củng cố và hoàn thiện, bảo đảm sựtập trung quyền lực Nhà nước vào trong tay nhà vua Lê Thánh Tông cải cách tổng thểnhà nước và pháp luật, trong đó ông coi trọng cải cách hệ thống hành pháp mà trung

tâm là hệ thống Lục bộ Dụ “Hiệu định quan chế” là một trong những văn bản quy

phạm pháp luật quan trọng quy định rõ về tổ chức, chức năng nhiệm vụ quyền hạn củaLục bộ và quan chức Lục bộ

- Lục bộ là sáu bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công Trong đó Bộ Lại chủ yếu phụtrách về quan chức và lại viên Bộ Hộ phụ trách về dân sự, ruộng đất và tàichính Bộ Lễ phụ trách về lễ nghi, giáo dục thi cử và ngoại giao Bộ Binh chủyếu phụ trách về quân sự an ninh Bộ Hình phụ trách hình án, tư pháp xét xử

Bộ Công phụ trách về quản lý và xây dựng các công trình công cộng như cungđiện, đền đài, cầu cống, đường sá, đê điều

- Quá trình cải cách Lục bộ: Lục bộ được lập ra từ thời Lý - Trần nhưng trong sửsách chủ yếu nói đến bộ Lại, Bộ Binh và Bộ Hình Đến Lê Nghi Dân lập đủ sáu

bộ Sự nghiệp cải cách Lục bộ đến Lê Thánh Tông mới từng bước hoàn thiện

Mô hình Lục bộ Lê Thánh Tông trở thành khung chuẩn cho hệ thống cơ quanhành pháp ở trung ương trong chính thể Quan chủ phong kiến Việt Nam

- Cải cách về tổ chức của Lục bộ (xem giáo trình)

- Quan chức Lục bộ Thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Lục bộ

Tầm quan trọng của Tư vụ sảnh và các Thanh lại ty (xem giáo trình)

- Lục khoa cơ quan giám sát Lục bộ Lục tự bổ trợ cho công vụ của bộ Lễ và bộHình (xem giáo trình) Tầm quan trọng của Lục bộ trong bộ máy Nhà nước? Sovới thời Lý - Trần, thời Lê - Trịnh, triều Nguyễn và Lục bộ của Trung Quốc

Ý nghĩa của công cuộc cải tổ Lục bộ của Lê Thánh Tông?

Cải cách Lê Thánh Tông ở chính quyền địa phương

Trong cuộc cải tổ chính quyền địa phương, Lê Thánh Tông đã bỏ tên gọi đơn vịhành chính lộ và trấn; cả nước đổi thành các Đạo – Xứ thừa tuyên, dưới đạo là Phủthường là trung tâm của một vùng, dưới phủ là cấp Huyện, cấp hành chính châu đặtngang cấp huyện ở các vùng núi xa Cấp Xã là cấp cơ sở, Lê Thánh Tông rất coi trọngviệc cải cách cấp xã Công cuộc cải tổ cấp địa phương được thực hiện trong suốt quátrình ông trị vì, từ năm 1462 (Lệ đặt xã trưởng), 1464 (xây dựng Hương ước), 1465,

1466, 1471(cải cách BMNN TW và quan chế),1483, 1487, 1488, 1496 (cải tổ cấp xã,tiêu chuẩn hóa xã trưởng, tránh tệ bè đảng) Qua cuộc cải tổ này, Đại Việt đã củng cốđược những cấp chính quyền địa phương sau đây:

Phân tích và chứng minh 3 biện pháp cải cách bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông được thể hiện ở Địa phương (1460-1497) [ Vở ghi & GT]

* Biện pháp thứ nhất, bỏ bớt một số chức quan đứng đầu đơn vị hành chính địa

phương để ngăn ngừa khả năng tập trung quyền lực vào trong tay một người Xây

dựng ba hệ thống cơ quan Thừa, Đô, Hiến, thường gọi là Tam ty ở cấp Đạo - Xứ thừa

tuyên Tăng cường quản lý Tam ty với chức năng nhiệm vụ quyền hạn rõ ràng Biện

pháp này được thực hiện tại cấp Xã với việc bỏ chức xã quan, lập chức xã trưởng, xã

giám, xã sử, xã tư Tiêu chuẩn hóa xã trưởng, do dân bầu trực tiếp Cấp xã thống nhất

Trang 29

chia thành 3 loại xã: đại xã, trung xã và tiểu xã Xây dựng Hương ước là luật chung

của làng xã Ba biện pháp cải cách được thực hiện đồng bộ và thống nhất từ cấp Đạo

– Xứ đến cấp xã

* Biện pháp thứ hai, không để tập trung quá nhiều quyền hành vào một người

mà được tản ra cho nhiều cơ quan, chức quan để ngăn chặn sự tiếm quyền, độc quyềncủa các cơ quan và các chức quan trọng yếu trong bộ máy Nhà nước Tại cấp Đạo –

Xứ quyền lực được xác định cụ thể trong ba cơ quan: Thừa ty, Đô ty, Hiến ty (Xem vởghi và Giáo trình) Biện pháp này cũng được thực hiện ở cấp hành chính địa phương

từ cấp Đạo – Xứ đến cấp xã, cấp hành chính cơ sở trực tiếp quản lý dân cư

* Biện pháp thứ ba, tăng cường các cơ quan giám sát, kiểm soát lẫn nhau để

đảm bảo hiệu lực quản lý, loại trừ sự lạm quyền và nâng cao trách nhiệm công vụ Hệthống cơ quan giám sát được xây dựng từ trung ương đến địa phương, giám sát cả cảhành chính, tư pháp xét xử và quân sự Chánh Hiến sát sứ có quyền giám sát Đô, Thừa

đó là Thừa chánh sứ, Thừa phó sứ, Đô tổng binh và Phó Đô tổng binh Sáu ty Giámsát Ngự sử giám sát 13 Đạo - Xứ thừa tuyên Cấp xã đặt dưới sự giám sát của cấphuyện, phủ và còn được hội đồng Hương hào và người dân kiểm xét (Xem vở ghi vàGiáo trình)

Với các biện pháp đồng bộ, mục tiêu tập trung quyền lực Nhà nước vào trong tay vua

theo nguyên tắc “Tôn quân quyền” Nho giáo và tăng cường hiệu lực của bộ máy quan

liêu thời Lê Thánh Tông đã đạt được những thành tựu căn bản Công cuộc cải tổ bộmáy Nhà nước của Lê Thánh Tông là một trong những cuộc cải tổ lớn nhất và thànhcông nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Mô hình Nhà nước Lê ThánhTông từ trung ương đến địa phương đã trở thành mẫu mực cho những triều vua và cáctriều đại sau này học tập mô phỏng noi theo

Biểu hiện ở Cấp đạo - Xứ thừa tuyên

Đối với cấp đạo, Lê Thánh Tông thực hiện ba biện pháp:

Một là chia cả nước thành 13 đạo – Xứ thừa tuyên Tên gọi của các đơn vị hành

chính xứ thừa tuyên dần ổn định như: xứ Hải dương, Kinh bắc, Sơn nam, Nghệ An,Thanh hoa,…

Hai là xây dựng ở cấp đạo 3 cơ quan hành chính, quân sự, tư pháp là Tam ty: Thừa

ty, Đô ty và Hiến ty Cơ chế này nhằm phân nhiệm quyền lực, tản quyền, để tránhquyền hành ở cấp đạo tập trung vào tay một người

Ba là giám sát chặt chẽ cấp đạo Sự phân lập quyền hành ở địa phương như vậy

nhằm ngăn ngừa khuynh hướng cát cứ và tăng cường quyền lực của trung ương

Ngoài ra, để tăng cường hơn nữa sự giám sát của trung ương đối với cấp đạo, Ngự

sử đài ở triều đình đã đặt 6 ty Giám sát ngự sử để kiểm soát các đạo Mỗi ty Ngự sửgiám sát hai hoặc ba đạo Ty Ngự sử không phải là cơ quan địa phương mà là cơ quancủa Ngự sử đài ở trung ương Đứng đầu mỗi ty Ngự sử là chức quan Giám sát ngự sửmang hàm chánh thất phẩm

Riêng Phủ Trung Đô (Kinh đô – Phủ Phụng Thiên) quan đứng đầu là Phủ doãnmang hàm chánh ngũ phẩm, chức phó là Thiếu doãn với hàm chánh lục phẩm Nhưvậy, tuy Phủ Trung Đô là đơn vị hành chính tương đương với cấp đạo nhưng là Kinh

Trang 30

đô cả nước nên có hình thức tổ chức chính quyền khác các đạo xứ thừa tuyên.

Cải cách cấp Xã là cấp hành chính cơ sở.

Lê Thánh Tông rất chú trọng cải tổ cấp xã, vì xã là nơi cung cấp sức người, sứccủa (thuế, sưu, lính) cho nhà nước quân chủ Điều đó được thể hiện không chỉ ở chỗnhà vua ban hành rất nhiều văn bản pháp luật về cấp xã mà quan trọng hơn là đã thựchiện thống nhất ba biện pháp để cải tổ cấp xã:

Một làphân định lại các xã Đến thời Thánh Tông, quy mô của xã được phân định

lớn hơn Theo một Sắc chỉ năm 1483,(1) đại xã từ 500 hộ trở lên, trung xã từ 300 hộ,tiểu xã có trên dưới 100 hộ Như vậy, nếu so với đầu Lê sơ, dân số của từng loại xã ởthời Thánh Tông lớn gấp 5 - 10 lần Các xã không phải là cố định, bất biến mà có sựtách xã cũ, lập xã mới Theo lệnh về lệ tách xã(2) năm 1490, nếu ở một xã nhỏ mà số

hộ tăng lên đến 300 thì được gọi lại là xã vừa, trung xã mà số hộ tăng lên đến 500 thìđược gọi lại là xã lớn, đại xã mà số hộ tăng lên đến 600 thì tách 100 hộ lập thành một

xã nhỏ

Hai làđặt ra các tiêu chuẩn của xã trưởng Lê Thánh Tông đổi gọi xã quan là xã

trưởng Xã trưởng gồm các chức: Xã chính, xã sử, xã tư Theo Sắc chỉ năm 1483, đại xã

có 5 xã trưởng, trung xã có 4 người, tiểu xã có 1 - 2 người (tiểu xã dưới 60 hộ có 1 xãtrưởng) Lê Thánh Tông tuy vẫn để cho xã bầu ra các xã trưởng của mình và đưa lênchính quyền cấp trên chuẩn y nhưng mặt khác, nhà vua đã đặt ra các tiêu chuẩn của xãtrưởng Có lẽ đây là lần đầu tiên, nếu theo sử sách còn ghi lại được, nhà nước phongkiến Đại Việt quy định các tiêu chuẩn của xã trưởng Theo Lệ bầu đặt xã trưởng banhành năm 1462, Lệ giảm bớt xã trưởng ngoài lệ năm 1483, Lệnh giảm bớt xã trưởngkhông biết chữ 1487, Lệnh xét đặt xã trưởng 1488, Lệnh về chọn đặt xã trưởng1496 (3)xã trưởng phải có những tiêu chuẩn sau đây:

- Bầu chọn trong số những người già, giám sinh, sinh đồ (người đang theo họctrường quốc học) tuổi cao, con em nhà hiền lành 30 tuổi trở lên, không vướng vào việcquân, biết chữ và có hạnh kiểm tốt

- Anh em thân thích không được có hai người cùng làm xã trưởng, để bỏ tệ nạnđồng đảng, bè cánh

- Thải loại những xã trưởng gian tham hoặc già lão ốm yếu, hoặc kém năng lực không kham nổi công việc

Ba làhạn chế và kiểm duyệt Hương ước Để hạn chế tính tự trị của các làng xã,

cùng với việc đặt ra các tiêu chuẩn của xã trưởng là sự hạn chế và kiểm duyệt hương

ước (“bộluật của làng" thể hiện tính tự trị, tự quản, phù hợp với đặc điểm riêng của

từng làng xã) Một đạo dụ đã được ban hành năm 1464, có nội dung gồm 5 điểm sauđây:(10)

- Các làng xã không nên có khoán ước riêng, vì đã có pháp luật chung của nhà vua

- Làng nào có những tục khác lạ thì có thể cho lập khoán ước và đặt ra những lệcấm

- Trong trường hợp đó, việc thảo ra hương ước phải là những người có học thức, có

(1) (1) , ( 2 ).Xem: Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỉ XV - XVIII, tr 234, 240, 234, 236.

(3) (3).Xem: Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỉ XV - XVIII, tr 241, 242.

10().Xem: Hồng Đức thiện chính thư, bản dịch của Nguyễn Sĩ Giác, Nam Hà ấn quán, Sài Gòn, 1959, tr 103,

104.

Trang 31

đức hạnh, có chức phận chính thức và có tuổi tác.

- Thảo xong, khoán ước phải được quan trên kiểm duyệt và có thể bị bác bỏ

- Khi đã có khoán ước rồi mà vẫn còn có những người không chịu tuân theo, cứnhóm họp riêng thì những kẻ ấy sẽ bị quan trên trị tội

Với những biện pháp cải tổ trên đối với cấp xã, Lê Thánh Tông không chỉ nhằmtăng cường hiệu lực của chính quyền cấp cơ sở mà quan trọng hơn là tìm cách canthiệp sâu vào làng xã nhằm hạn chế tối đa tính tự trị của làng xã, qua đó góp phầnthống nhất quản lý địa phương cơ sở trong cả nước, củng cố nền quân chủ chuyên chế

Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nhà nước phong kiến can thiệp một cáchquy mô vào công việc nội bộ của làng xã Cuối thời Hồng Đức có 6851 xã

Nhìn chung lại, trong việc cải tổ đối với chính quyền địa phương, Lê Thánh Tông

đã chú trọng nhất tới cấp đạo (cấp dưới trực tiếp của triều đình) và cấp xã (đơn vịhành chính cơ sở), qua đó nhằm tăng cường sự chi phối của triều đình và hạn chếquyền lực địa phương.Trên cơ sở đó, năm 1469 Lê Thánh Tông đã cho tiến hành điềutra địa hình, giới hạn, phong thổ, sản vật ở các đạo để xây dựng bản đồ cả nước Bản

đồ đó được hoàn thành và được ban hành vào năm 1490 mà sử sách thường gọi là

“Bản đồ Hồng Đức”, xác định chặt chẽ lãnh thổ, cương vực của quốc gia Đại Việt.

Đây là bộ bản đồ nổi tiếng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Như vậy, với những cải tổ về quân sự của Lê Thánh Tông, quân đội của Nhà nước

Lê sơ trở thành một quân đội hùng mạnh, có tổ chức quy củ và chặt chẽ, có kỉ luậtcao, là công cụ trọng yếu bảo vệ nền thống trị của giai cấp phong kiến, giữ gìn vữngchắc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia Đại Việt Đồng thời, qua đó tăng cường mộtbước quyền lực của nhà vua, củng cố chính thể quân chủ chuyên chế

Nhìn lại toàn cục, cuộc cải tổ bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông tuy có môphỏng theo mô hình nhà nước và quan chế của nhà Minh (Trung Quốc) nhưng đókhông phải là sự dập khuôn Cuộc cải tổ đó đã xuất phát từ tình hình thực tế của xãhội Đại Việt thế kỉ XV Qua cuộc cải tổ đó, tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến

đã được củng cố toàn diện và đạt tới mức hoàn bị, vừa thể hiện tính chuyên chếcủa nhà vua, vừa thể hiện hiệu lực và hiệu quả cai trị của nhà nước Cuộc cải tổ đóđáp ứng được nhu cầu phát triển của lịch sử bấy giờ, nên nó mang tính tích cực lớnlao Nó không chỉ củng cố nền thống trị của giai cấp phong kiến, mà còn góp phần

to lớn thúc đẩy sự phát triển của dân tộc và quốc gia Đại Việt

Nhà nước phong kiến Đại Việt thời Lê Thánh Tông đã trở thành mô hình kinh điểncho các đời vua và nhiều triều đại sau này Chính Lê Hiến Tông - vị vua kế tiếp Thánh

Tông đã cho rằng:"Thái Tổ ta gây dựng trung châu, hoàng phụ ta trong trị ngoài dẹp,

quy mô đã định, ta không có việc gì phải thay đổi, chỉ tuân giữ phép cũ, làm rộng thêm và sáng tỏ ra, để tỏ rõ đức của tổ khảo ta mà thôi".(1) Phan Huy Chú, khi khảoxét về thể chế các đời, cũng nhiều lần nhận xét tương tự như vậy Và thực tế lịch sửcủa nhiều triều đại sau này đã chứng thực điều đó

Có thể nói, Lê Thánh Tông là hiện tượng hiếm hoi và đặc sắc trong lịch sử nhà

nước và pháp luật phong kiến Việt Nam."Nước Việt Nam ta mở nước bằng văn hiến,

các bậc vua hiền đời trước đều có, duy Lê Thánh Tông thì không phải đời nào cũng

(1) (1).Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, tập IV, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr 38.

Trang 32

có Những phép hay chính tốt chép cả ở trong sách sử".(2) Người nhìn nhận Lê ThánhTông là một vị vua có những phép hay, chính tốt, chính là vua Minh Mạng thờiNguyễn sau này.Cải cách nhà nước từ trung ương đến cấp Đạo – Xứ thừa tuyên và cấp

Xã của Lê Thánh Tông đã từng bước tạo nên một thể chế nhà nước thống nhất và ổnđịnh lâu dài bền vững trong lịch sử quốc gia dân tộc Việt Nam

2 Phân tích đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam.

Hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam chủ yếu có ba đặc điểm cơ bảnsau:

* Đặc điểm 1: Hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam thÓ hiÖn tính hà khắc, dã man, tàn bạo.

Hình phạt là hình thức áp dụng các biện pháp, các chế tài nặng hoặc nhẹ củachế độ pháp luật Nhà nước đối với những hành vi vi phạm pháp luật được pháp luậtquy định Trong pháp luật phong kiến Việt Nam, đặc điểm này được thể hiện rất rõqua các triều đại phong kiÕn

Trong Đại Việt sử ký toàn thư có một số ghi chép về pháp luật thời Ngô - Đinh

- Tiền Lê Theo đó năm 968, Đinh Tiên Hoàng: “Muốn dùng uy chế ngự thiên hạ bèn

đặt vạcdầu lớn ở sân triều, nuôi hổ d÷ trong cũi, hạ lệnh rằng: kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạcdầu chohổ ăn" mọi người đều sợ không dám phạm Ngoài ra theo Tống

sử thời Tiền Lê, quan lại “Tả hữu cólỗi nhỏ cũng giết đi", hoặc đánh từ 100 roi đến

200 roi Bọn quan giúp việc, ai hơi cóviệc gì làm phật ý cũng đánh từ 30 đến 50 roi".

Các triều đại sau, đặc điểm này được thể hiện ở các hình phạt như: thích chữ,chém bêu đầu, lăng trì Trong pháp luật phong kiến hệ thống hình phạt là ngũ hình vàhình phạt ngoài Ngũ hình, những hình phạt thuộc Ngũ hình là thể hiện rõ nét nhất đặcđiểm này Hệ thống Ngũ hình là sự kế thừa Ngũ hình Trung Quốc, bắt đầu xuất hiệnthời Lý - Trần nhưng chưa được quy định cụ thể, sau trở nên hoàn chỉnh trong phápluật Lê – Nguyễn Đó là: Xuy hình, Trượng hình, §å h×nh, Lu h×nh vµ Tö h×nh

Hình phạt tử là sự thể hiện rõ nét nhất sự dã man, tàn bạo của hình phạt trong phápluật phong kiến Các bậc của hình phủ không những đều tước đoạt mạng sống của tộinhân mà còn đánh vào đời sống tinh thần và tâm linh của con người ở những mức độkhác nhau, vừa trừng trị tội phạm vừa răn đe kẻ khác Trong luật Gia Long, từ hình gồm

hai bậc giảo và trảm, ngoài ra còn quy định thêm phép “Nhuận tử”(giết hai lần) gồm:

Lăng tr× (xẻo chậm – Tùng xẻo), Trảm kiêu (chém bêu đầu), và Lục thi (chặt xác chết)

Trong các án có quy định xử “Trảm quyết”, “Giảo quyết”(thi hành án không theo thủ tục

giam chờ) người phạm tội nhiều khi phải phơi thây một cách thê thảm

Như vậy, sự hà khắc, dã man của hình phạt trong pháp luật phong kiến không chỉthể hiện trong những quy định về hình phạt mà còn thể hiện ở cách thi hành hình phạt và sựtác động của nó đến người phạm tội cũng như những người khác

* Đặc điểm 2: Hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam là chế tài chung cho mọi sự vi phạm thể hiện tính phổ biến của hình phạt

Theo quan niệm của luật hình sự hiện đại, hình phạt là chế định đặc trưng riêngcủa luật hình và chỉ áp dụng đối với tội phạm Nhưng c¸c nhµ làm luật phong kiến đã

có quan niệm rất rộng về hình phạt Hình phạt là chế tài phổ biến đối với các vi phạmtrong lĩnh vực quân sự, hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình, luân thường,

(2) (2).Xem: Đại Nam thực lục chính biên, Tập X, Nxb Sử học, Hà Nội, 1963, tr 203.

Trang 33

đạo lý Thời Ngụ - Đinh - Tiền Lờ, như Đinh Tiờn Hoàng tuyờn bố: “Kẻ nào trỏi phộp

phải chịu tội bỏ vạcdầu, cho hổ ăn” bất kỳ hành vi"trỏi phộp” nào nếu cú một cỏch

xử phạt chung như vậy, dự hành vi đú thuộc quõn sự, dõn sự, hành chớnh hay hụn nhõngia đỡnh

Thời Lý - Trần, một nguyờn tắc cơ bản của luật là vi phạm phỏp luật đều bị trừngtrị bằng hỡnh phạt Trong 27 điều luật lệnh cú quy định ỏp dụng hỡnh phạt được thống

kờ dưới thời Lý - Trần thỡ cú 17 vi phạm thuộc lĩnh vực hỡnh sự, 5 vi phạm thuộc lĩnhvực dõn sự, 2 vi phạm thuộc lĩnh vực hụn nhõn và gia đỡnh, cũn lại là những vi phạmthuộc lĩnh vực quản lý, hành chớnh và cỏc lĩnh vực khỏc

Đến thời Lờ - Nguyễn, tính phổ biến của hỡnh phạt được thể hiện rừ trong hai bộluật: Quốc triều Hỡnh luật và Hoàng Việt luật lệ Trong đú nhúm tội Thập ỏc được quyđịnh tại Điều 2 của bộ luật, cú 4 tội bảo vệ vương quyền (mưu phản, mưu đại nghịch,mưu bạn, mưu bất kớnh), 5 tội bảo vệ hụn nhõn gia đỡnh (ỏc nghịch, bất hiếu, bất mục,bất nghĩa, nội loạn) và một tội trừng trị những hành vi phạm tội vụ cựng dó man tàn ỏc(giết người dó man) xõm hại nghiờm trọng một trong những tiờu chớ đạo đức hàng đầucủa con người, tất cả đều bị ỏp dụng hỡnh phạt tăng nặng Vớ dụ như:

Trong lĩnh vực hỡnh sự,hỡnh phạt là chế tài đặc trưng cho luật hỡnh ỏp dụng

những hỡnh phạt rất chi tiết và cụ thể Vớ dụ: Trong nhúm tội nhõn mạng (quyển 14)Hoàng Việt luật lệ và Quốc triều hỡnh luật bao gồm cú 20 điều như điều 1 quy định:

"Phàm người phạm mưu kế giết người, khi tra xột quả cú nguy kế, õm mưu mới lấy chỗ cố ý, thuộc tội chộm và cúsự trợ lực khiến bị thương mới buộc tội cúsự gúp sức,

xử treo cổ”.

Trong lĩnh vực dân sự điều 320 QTHL quy định: “Những người

làm thư chỳc, văn khế mà khụng nhờ quan trưởng trong làng viết thay

và chứng kiến thỡ phải phạt 80 trượng phạt tiền theo việcnặng nhẹ.

Trong lĩnh vực hụn nhõn và gia đỡnh:“ Ngời kết hôn mà không

đủ sính lễ đến nhà cha mẹ ngời con gái (nếu cha mẹ chết cả thì

đem đến nhà trởng họ, hay là ngời trởng làng) để xin mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì theo lệ sang hèn phải biếm một t, bắt phải nộp tiền tạ, ngời con gái phải phạt 50 roi” (Điều 314 QTHL)

Trong lĩnh vực tố tụng, cỏc hành vi vi phạm trong khi xột xử cũng bị ỏp dụng

hỡnh phạt, vớ dụ như: Điều 671 QTHL quy định: "Những quan xử ỏn nếu dung dằng

để việc quỏ kỳ hạn 1 thỏng thỡ xử tội biếm, quỏ 3 thỏng thỡ bị bói chức, quỏ 5 thỏng thỡ bị tội đồ

Trong lĩnh vực hành chớnh, điều 225 QTHL quy định: “Những vị quan ty tự tiện sai

khiến người đưa văn thư cụng đi làm việcriờng, để chậm trễ ngày giờ, làm lỡ việc cụng thỡ

bị phạt đỏnh 60 trượng, biếm hai tư " Theo phỏp luật hiện đại, những hành vi vi phạm

thuộc lĩnh vực hành chớnh là vi phạm hành chớnh chứ khụng ỏp dụng hỡnh phạt như phỏpluật phong kiến

Trong lĩnh vực quõn sự,cỏc hành vi vi phạm cũng bị ỏp dụng hỡnh phạt như những

lĩnh vực khỏc Vớ dụ như: Điều 74 QTHL quy định về tuyển binh “Trong khi tuyển đinh

trỏng làm quõn đội mó xó quan bỏ người bậc nhất, bậc nhỡ để lấy người quỏ kộm vàhốnyếuxung quõn, nếu lấy một người lớnh như vậy thỡ bị tội đồ làm khao đinh, từ 2 – 5 người thỡ bị tội đồ hoặc lưu, từ 6-9 người thỡ bị tội giảo”.

Túm lại: Hỡnh phạt Ngũ hỡnh, ngoài Ngũ hỡnh là chế tài chung cho mọi sự vi

phạm mang tớnh phổ biến trờn nhiều lĩnh vực

Trang 34

* Đặc điểm 3: Hình phạt trong phâp luật phong kiến Việt Nam được quy định cụ thể, chi tiết, tû mû ®ỉi víi từng hănh vi phạm tội trong tõng điều luật.

Câc nhă lăm luật phong kiến có quan niệm quâ cứng nhắc vă chi tiết về hình phạt.Luật hình ngăy nay thường quy định cho mỗi loại tội phạm mức hình phạt nhẹ nhấtvới mức hình phạt tương thích với từng tội cụ thể trong giới hạn luật định Nhă lămluật thời xưa quy định tỉ mỉ từng hình phạt cụ thể cho từng hănh vi phạm tội Ví dụ:

Điều 466 Quốc triều Hình luật quy định: "Đânh người gêy răng, sứt tai, sứt mũi, chột

một mắt, gêy ngón chđn, ngón tay thì xử tội đồ lăm khao đinh Đânh gêy hai răng, hai ngón tay trở lín thì xử tội đồ lăm tượng phường binh Lấy gươm, giâo đđm chĩm, bị thương mă thănh cố tật hay đânh đứt gđn chđn tay, mù một mắt thì phải chịu tội lưu

đi chđu xa Nếu đânh bị thương hai thứ trở lín vă nhđn bị thương mă thănh cố tật hay đânh đứt lưỡi, huỷ hoại dương vật đều xử tội giảo.

Hình phạt còn được quy định tỉ mỉ, chi tiết, cố định trong điều luật căn cứ văochủ thể, khâch thể, công cụ, phương tiện phạm tội, nhđn thđn người phạm tội, địa vị

trong gia đình vă xê hội của người phạm tội vă người bị hại như: diện Bât nghÞ, ông

bă, cha mẹ phạm tội đối với con châu, gia trưởng phạm tội với nô tì, chồng phạm tộiđối với vợ Ví dụ: cùng lă mưu giết người nhưng phâp luật chia thănh nhiều trường

hợp theo địa vị gia đình, xê hội của nạn nhđn Điều 415 - QTHL: "Những kẻ mưu giết

người, lă những bậc tôn trưởng văo hạng cơthđn, ông bă ngoại, chồng vẵng bă, chamẹ chồng, đều phải tội chĩm Cũng trong bộ luật năy, Điều 427 quy định: "Đânh quan nhị phẩm, kẻ đânh nếu ngang phẩm hăm thì xử biếm 2 tư; kĩm 1 bậc thì xử biếm batư Không cóquan chứcthì xử tội lưu” Đ iÒu 481quy định: “Vợ đânh chồng thì xử

lưu đi chđu ngoăi, đânh bị thương, quỉ, gêy thì lưu đi chđu xa Vợ lẽ phạm tội trín thì

xử nặng hơn một bậc, nếu vợlẽ mă đânh vợ cảthì xử tội như đânh chồng" Điều 482

quy định: “Chồng đânh vợbị thương, quỉ trở lín thì đều bịxử nhẹ hơntội đânh người

thường 3 bậc đânh vợlẽ bị thương thì xử nhẹ hơn tội đânh vợ hai bậc” Điều 138 quy

định: "Quan Ty lăm trâi phâp luật mă ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử tội biếm hay

bêi chức, từ 10 đến 19 quan thì xử tội đồhay lưu,từ 20quan trở lín thì xử tội chĩm”.

Đặc biệt trong một số lĩnh vực quan trọng, phâp luật phong kiến còn coi lă tội

phạm ngay khi chủ thể có "Mưu” phạm tội: Tội mưu phản (Điều 411- QTHL, 223

HVLL, mưu giết người (Điều 416 - QTHL, 251 - HVLL) (Mưu theo Hoăng Việt luật

lệ, phải có 2 người dự băn thì gọi lă “mưu”, mưu phản, mưu lăm việc đại nghịch)

Đối với trường hợp một người phạm nhiều tội, thì việc lượng hình cũng được

quy định rõ Điều 3 QTHL quy định: “Người năo phạm hai tội trở lín cùng phât hiện

ramột lúc thì theo tội nặng mă định tội,còn tội nhẹ hơn giảm 1 bậc Nếu tội phât hiện trước chưa định mă tội sau lại phât hiện ra thì cứ theo hai tội cùng phât hiện mă xử

ân, kể tang vật mă định tội”.

Câc quy định năy thể hiện rõ tính cụ thể vă phđn hoâ cao trong luật, khiến quanlại khi xĩt xử không thể tự ý tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, góp phần nđng caohiệu quả âp dụng hình phạt, hạn chế khả năng phât sinh những hănh vi tự ý tăng nặnghoặc giảm nhẹ hình phạt của quan xĩt xử

Bín cạnh đó, còn một số đặc điểm khâc như: Hình phạt phâp luật phong kiến

Việt Nam ảnh hưởng bởi phâp luật phong kiến Trung Hoa, song vẫn thể hiện sự sângtạo độc đâo, phù hợp với hoăn cảnh kinh tế xê hội vă điều kiện đất nước Hình phạtđược quy định khâ thống nhất giữa câc bộ luật, âp dụng hình phạt mỗi thời đại đều cósửa định bổ sung, phạt tiền được âp dụng rất phổ biến

Trang 35

1 Hình phạt xuy (đánh roi) có 5 bậc: 10 roi, 20 roi, 30 roi, 40 roi, 50 roi Mắc tội

này còn có thể kèm theo phạt tiền, biếm chức Xuy hình áp dụng cho cả đàn bà và đànông Hình phạt đánh roi không chỉ làm đau về thể xác, mà còn làm cho phạm nhân xấu

hổ răn chừa

2 Hình phạt trượng (đánh bằng gậy), có 5 bậc, 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng,

90 trượng và 100 trượng Tội trượng chỉ áp dụng cho đàn ông, đàn bà được thay bằngtội xuy Trượng cũng là chính hình nhưng cũng có khi là phụ hình đối với các tộibiếm, đồ, lưu

3 Hình phạt đồcó 3 bậc, tuỳ theo công việc nặng nhọc mà phạm nhân phải làm,

mỗi bậc lại phân biệt công việc của đàn ông và của đàn bà Bậc nhẹ là dịch đinh vàdịch phụ: Dịch đinh là hình phạt áp dụng đối với đàn ông và kèm đánh 80 trượng.Dịch đinh có nhiều hạng: Thuộc đinh (quan chức phải làm những việc phục dịch ở cácviện), quân đinh (làm phục dịch ở các sảnh), khao đinh (phục dịch trong trại lính), xãđinh (nếu là dân thì làm phục dịch ở bản xã) Dịch phụ là hình phạt áp dụng đối vớiphụ nữ và đánh 50 roi Dịch phụ cũng có nhiều hạng, nếu phạm tội nhẹ thì dân đồ làmthứ phụ ở làng (phục dịch mọi công việc ở làng), còn vợ các quan chức đồ làm viênphụ (làm công việc trong vườn), nếu phạm tội nặng thì bị đồ làm tang thất phụ (phụcdịch ở nơi nuôi tằm) Bậc hai nặng hơn, làm trượng phường binh (đối với đàn ông) vàxuy thất tì (đối với đàn bà) Tượng phường binh: Quét dọn chuồng voi, đánh 80trượng và thích vào cổ 2 chữ Xuy thất tì: Nấu cơm nuôi quân, đánh 50 roi và thích vào

cổ 2 chữ

Bậc ba nặng nhất, làm chủng điền binh và thung thất tì: Chủng điền binh dành chođàn ông, làm lính lao động ở đồn điền của Nhà nước đồng thời bị kèm đánh 80trượng, thích vào cổ 4 chữ, bắt đeo xiềng Thung thất tì dành cho phụ nữ, phải xaythóc giã gạo trong các kho thóc thuế của Nhà nước, đánh 50 roi và thích vào cổ 4 chữ

4 Hình phạt lưu: Lưu đày phạm nhân đi nơi xa, có 3 bậc: Lưu cận châu (châu gần)

đày đi làm việc nặng ở Nghệ An Hình phạt phụ: Thích vào mặt 6 chữ và đàn ông bịđánh 90 trượng, bắt đeo xiềng, đàn bà bị đánh 50 roi Lưu ngoại châu (châu ngoài) lưuđến Bố Chánh (Quảng Bình) Phụ hình: Đàn ông bị đánh 90 trượng, thích vào mặt 8chữ và đeo xiềng 2 vòng, phụ nữ chịu phụ hình như ở bậc cận châu Lưu viễn châu(châu xa): Đày lên Cao Bằng Phụ hình đàn ông bị đánh 100 trượng, thích vào mặt 10chữ và đeo xiềng 3 vòng, phụ hình của đàn bà như hai bậc trên.Về thời hạn thụ hìnhcủa hình phạt lưu, trên danh nghĩa là lưu đày vĩnh viễn nhưng trong thực tế, sau mộtthời gian sống tại nơi lưu đày, phạm nhân có thể được ân xá nếu có hạnh kiểm tốt và

đã khai khẩn được 3 - 5 mẫu đất Sau khi được ân xá, phạm nhân trở về quê quán nhưngười dân tự do hoặc ở lại nơi lưu đày và được sử dụng số ruộng đất mà mình đã khai

Ngày đăng: 05/09/2019, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w