1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đóng góp của dòng họ mạc đối với sự phát triển của vùng đất tây nam bộ (thế kỷ xvii – xviii)

224 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những đóng góp của dòng họ Mạc đối với sự phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ (thế kỷ XVII – XVIII)
Tác giả Trần Duy Khánh, Nguyễn Huỳnh Minh Sang, Hoàng Vũ Anh, Ừng Tuyết Danh, Phùng Thị Hồng
Người hướng dẫn T.S. Lưu Văn Quyết
Trường học Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về lịch sử khẩn hoang vùng Tây Nam Bộ nói chung, đóng góp của dòng họ Mạc đối với sự phát triển của vùng đất Hà Tiên nói chung, từ trước tới nay đã thu hút sự quan tâm của nhi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Khoa L ịch Sử

TRƯỜNG (NĂM HỌC 2016 – 2017)

ĐỀ TÀI: Những đóng góp của dòng họ Mạc đối với

XVIII)

Chủ nhiệm đề tài: Trần Duy Khánh

MSSV: 1356040033

Chuyên ngành: L ịch sử Việt Nam

TP H ồ Chí Minh, tháng 04 năm 2017

Trang 2

Các thành viên tham gia nghiên c ứu khoa học:

1) H ọ và tên chủ nhiệm đề tài: Trần Duy Khánh

L ớp, Khoa/Bộ môn: Lịch sử Việt Nam K39

MSSV: 1356040033

- Các thành viên tham gia:

2) Nguy ễn Huỳnh Minh Sang Lớp, Khoa/Bộ môn: Lịch sử Việt Nam K39 MSSV: 1356040067

3) Hoàng Vũ Anh Lớp, Khoa/Bộ môn: Lịch sử Việt Nam K39

Trang 3

M ỤC LỤC

D ẪN LUẬN 1

1 Lý do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Ngu ồn tài liệu 8

6 Đóng góp của đề tài 9

7 B ố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH ĐỊNH CƯ CỦA HỌ MẠC TRÊN VÙNG ĐẤT TÂY NAM B Ộ 10

1.1 Khái quát v ề vùng đất Tây Nam Bộ 10

1.1.1 V ề không gian 10

1.1.2 V ề chủ thể 14

1.2 Quá trình định cư của họ Mạc trên vùng đất Tây Nam Bộ 19

1.2.1 B ối cảnh lịch sử 19

1.2.2 H ọ Mạc định cư trên vùng đất Tây Nam Bộ 20

1.2.3 M ạc Cửu “dâng” đất cho chúa Nguyễn 22

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HỌ MẠC ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM B Ộ THẾ KỶ XVII – XVIII 26

2.1 Thi ết lập nền hành chính dựa trên cơ chế tự trị để quản lý vùng đất m ới 26

2.1.1 Sự cần thiết trong việc tổ chức nền hành chính trên vùng đất mới 26

2.1.2 Cơ chế “tự trị” trong nền hành chính họ Mạc 31

2.2 T ổ chức lưu dân khai phá, mở rộng đất đai 41

2.2.1 Chiêu t ập lưu dân để tổ chức khai khẩn đất hoang 41

2.2.2 Thành quả khai hoang của lưu dân dưới sự quản lý của chính quyền họ Mạc 47

2.3 Góp ph ần phát triển và vận hành nền kinh tế vùng Tây Nam Bộ 56

2.3.1 Phát tri ển nền kinh tế nông nghiệp 57

2.3.2 Phát tri ển các loại hình kinh tế lâm, ngư nghiệp và sản xuất thủ công nghiệp 70

2.3.3 Phát tri ển thương nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của các trung tâm thương mại trong đó nổi bật là cảng thị Hà Tiên 79

Trang 4

2.4 Chú tr ọng việc phát triển văn hóa – xã hội trên vùng đất Tây Nam Bộ

98

2.4.1 H ọ Mạc khuyến khích phát triển giáo dục, tạo lập một không gian văn hóa trên vùng đất mới 99

2.4.2 Thúc đẩy, mở rộng giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân 107

2.5 Góp ph ần giúp chúa Nguyễn bảo đảm an ninh quốc phòng và bảo vệ ch ủ quyền trên vùng đất Tây Nam Bộ 123

2.5.1 H ọ Mạc chú trọng củng cố quốc phòng 124

2.5.2 Giúp chúa Nguy ễn giữ vững đất đai, bảo vệ vùng biển đảo Tây Nam Bộ .133

CHƯƠNG 3 MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ ĐÓNG GÓP CỦA H Ọ MẠC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ 155

3.1 H ọ Mạc có công lớn trong việc định hình vùng đất mới qua đó thúc đẩy nhanh quá trình “Nam ti ến” của người Việt xuống vùng Tây Nam Bộ 155

3.2 Không ch ỉ giữ vai trò trong việc quản lý, họ Mạc cùng với các Hoa thương khác còn giữ vai trò trong việc định hướng và dẫn dắt vùng đất mới đi vào quỹ đạo của một nền kinh tế ngoại thương phát triển 163

3.3 Góp ph ần tạo dựng một nền văn hóa đa dạng trên vùng đất Tây Nam Bộ 167

K ẾT LUẬN 171

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 177

PH Ụ LỤC 184

Trang 5

D ẪN LUẬN

1 Lý do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ Việt Nam bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ XVII, nhiều nhóm người Việt nghèo khổ, lánh nạn chiến tranh (chúa Trịnh – chúa Nguyễn) từ

miền Trung đi thuyền dọc theo bờ biển tiến vào đất Đồng Nai khai phá đất đai, sinh cơ

lập nghiệp Nam Bộ lúc này còn hoang sơ, ruộng đồng mênh mông, cư dân thưa thớt Năm 1679, hai tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch- quan Tổng binh của Quảng Đông cùng phó tướng là Hoàng Tiến và Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) cùng phó tướng

là Trần An Bình- Những người không chịu đầu hàng nhà Thanh, đã dẫn theo 3.000 binh

sĩ và gia thuộc đi trên 50 chiến thuyền tới cửa bể Tư Dung (Đà Nẵng) xin yết kiến chúa Nguyễn và xin tỵ nạn tại Việt Nam Sau đó Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) được chùa Nguyễn Phúc Tần cho phép hợp lực với lực lượng của hai tướng người Việt là Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên Phái kéo nhau vào Nam Bộ khai hoang lập ấp Hai tướng nhà Minh cũ chia quân làm hai toán theo đường biển tiến vào Nam Bộ

Cũng trong khoảng thời gian này, Mạc Cửu (còn gọi là Mạc Kính Cửu), quê ở xã

Lê Quách, huyện Khang Hải, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông Ông là một nhà buôn, thường đi lại buôn bán trên các tuyến đường biển từ Trung Quốc đến Philippine, Batavia (Indonesia) và cộng tác chặt chẽ với Trịnh Thành Công ở Đài Loan trong công cuộc chống lại nhà Thanh Năm 1680, Mạc Cửu đem gia đình và những người thân tín lên thuyền rời Phúc Kiến1 Sau những ngày lênh đênh trên biển, đoàn người do Mạc Cửu dẫn đầu đã đổ bộ lên một vùng đất hoang trong khu vực vịnh Thái Lan Khi biết vùng đất này thuộc Chân Lạp, phái đoàn tìm đến Oudong để xin tị nạn Sau khi đến Chân Lạp, Mạc Cửu đã xin Quốc Vương Chân Lạp cho ra trấn thủ ở đất Mang Khảm (Hà Tiên), “Lúc bấy giờ, Quốc Vương Chân Lạp nghe tâu rằng, nếu được ra Mang Khảm, Thái Công sẽ lo chiêu tập người buôn kẻ bán khắp bốn phương, thu lợi cho quốc gia không phải là nhỏ, bèn vui vẻ chuẩn y ngay, lại còn phong cho Thái Công làm Ốc nha Thái Công ngày đêm

1 Trịnh Hoài Đức Gia Định thành thông chí NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2005 tr.79

Trang 6

lo chiêu tập người ở khắp hải ngoại đến buôn bán, tàu thuyền ra vào rất nhộn nhịp, người Việt, người Đường, người Liêu, người Man đua nhau kéo đến trú ngụ, hộ khẩu ngày một đông, tiếng tăm của Thái Công ngày một lừng lẫy”2

Tuy thời gian sinh sống và quản trị trên vùng đất này không lâu do những biến đổi

thời cuộc, nhưng dòng họ Mạc đã để lại những dấu ấn của mình thông qua những đóng góp tích cực đối với sự phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ Những đóng góp đó được

thể hiện trên nhiều mặt từ kinh tế cho đến văn hóa, trong việc khẩn hoang cũng như bảo

vệ đất đai lãnh thổ trong mối quan hệ chặt chẽ của họ Mạc với chính quyền chúa Nguyễn

Nghiên cứu về lịch sử khẩn hoang vùng Tây Nam Bộ nói chung, đóng góp của dòng họ Mạc đối với sự phát triển của vùng đất Hà Tiên nói chung, từ trước tới nay đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều công trình đã được xuất bản Là

những sinh viên năm cuối học chuyên ngành lịch sử Việt Nam, với đam mê tìm hiểu về vùng đất Tây Nam Bộ, trên bước đường tập sự nghiên cứu, nhóm chúng tôi quyết định

chọn đề tài “Những đóng góp của dòng họ Mạc đối với vùng đất Tây Nam Bộ (thế kỷ

XVII – XVIII)” làm đề tài nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa những công trình đi trước, cộng với những kiến thức tích lũy được trong 4 năm học tập, thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến các mục đích sau:

- Làm rõ quá trình định cư của dòng họ Mạc trên vùng đất Tây Nam Bộ

- Chỉ ra những đóng góp của dòng họ Mạc trong việc khẩn hoang, phát triển kinh

tế, xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng trên vùng đất Tây Nam Bộ

- Đánh giá và nhìn nhận những công lao và hạn chế của họ Mạc trong tiến trình phát triển của vùng đất Tây Nam bộ trong các thế kỷ XVII - XVIII

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, nghiên cứu về lịch sử Nam Bộ nói chung, Tây Nam Bộ nói riêng đã được nghiên cứu khá nhiều trên mọi bình diện Trong hơn 300 năm hình thành và phát triển, vùng đất mới Tây Nam Bộ đã trở thành đề tài có tính thời sự của đông đảo giới nghiên cứu, đặc biệt từ sau của thế kỷ XX trở lại đây

2Vũ Thế Dinh, Mạc thị gia phả, Nguyễn Khắc Thuần (dịch), Nxb Giáo dục, tr.15

Trang 7

Một trong những tài liệu sớm ghi chép về khu vực mà nay là Nam Bộ là cuốn

Nguyên đến Angkor – kinh đô Cao Miên dưới thời vua Cindravarman (1295-1307), trong

đó có ghi lại những điều tác giả chứng kiến về vùng đất và con người mà nay là Nam Bộ, nơi mà cuộc hành trình đoàn sứ thần đã đi qua

Tác phẩm tiếp theo nghiên cứu và nhắc đến Nam Bộ là Phủ Biên tạp lục (Tạp ghi

về việc vỗ yên dân ở vùng Biên ải) của Lê Quý Đôn, hoàn thành khoảng năm 1776 Bộ sách ghi chép về kinh tế - xã hội của Đàng Trong, chủ yếu là xứ Thuận Hóa - Quảng Nam trong gần 200 năm từ cuối thế kỷ XVI đến thời Lê Quý Đôn làm quan Hiệp trấn xứ Thuận Hóa Tuy nhiên tác giả đề cập đến Nam Bộ còn chưa đáng kể

Chỉ tới khi triều Nguyễn được thành lập những tư liệu về vùng đất này mới được các sử gia triều Nguyễn đề cập tương đối rộng rãi:

Tài liệu quan trọng của Quốc sử quán triều Nguyễn phải kể đến là Đại Nam nhất

thống và quan trọng nhất của triều Nguyễn, ghi chép lại những sự kiện liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; về quá trình

mở cõi phương Nam của dân tộc Việt Trong những tác phẩm này, chúng ta sẽ được tiếp

cận về vị trí địa lí, địa hình, những sản vật phong phú, quá trình khai phá và phát triển

của vùng đất Hà Tiên

Tác phẩm quan trọng nhất được đánh giá ghi chép về vùng đất Nam Bộ phải kể

đến là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức Nhờ tác phẩm của ông, chúng ta có

thể tìm hiểu về vùng đất Hà Tiên đầy đủ nhất Tác giả đã phác họa cho chúng ta một cách khá rõ nét đặc điểm vị trí địa lí (cương vực chí), văn hóa - xã hội (phong tục chí), kinh tế (sản vật chí) của Hà Tiên Đó là những tư liệu vô cùng quý giá, cho phép những người nghiên cứu sau này hình dung được những nét lớn về bộ mặt của vùng đất Tây Nam Bộ vào thế kỷ XVII – XIX

Tiếp sau đó là những tài liệu biên soạn về Nam Bộ khi người Pháp đến đây, nhưng trong phạm vi giới hạn về Tây Nam Bộ vào thế kỷ XVII – XVIII chúng tôi xin không đề

cập đến

Trang 8

Một số tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn trong đó cuốn Đại Nam thực lục

(được vua Minh Mạng cho biên soạn vào năm 1821, gồm 2 phần tiền biên và chính biên)

chúa Nguyễn, dâng đất Hà Tiên xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam và những hoạt động khác của Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích trong việc xây dựng, phát triển, bảo vệ trấn thị Hà

Tiên cũng được nhắc rất nhiều Chúng ta có thể tìm hiểu thêm trong sách Đại Nam liệt

được chia thành các mục: hậu phi, hoàng tử, công chúa, chư thần; trong đó các nhân vật quan trọng của vùng đất Hà Tiên như Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích được phản ánh khá rõ

Tác phẩm tiếp theo để tìm hiểu về họ Mạc và vùng đất Hà Tiên là Mạc thị gia phả

của Dinh Đức hầu Vũ Thế Dinh Tác giả là con nuôi của Mạc Thiên Tích và là người trong cuộc, chứng kiến mọi bước phát triển và những biến cố thăng trầm của Hà Tiên,

nên M ạc thị gia phả có thể nói là nguồn sử liệu đáng tin cậy Tác giả đề cập đến nhiều dữ

kiện quan trọng để giúp chúng ta hiểu đúng hơn về họ Mạc và đất Hà Tiên Và tuy Mạc

thị gia phả vẫn còn rất nhiều hạn chế do sự sai lệch về các mốc thời gian đưa ra hoặc do được nhìn nhận dưới vai trò là gia phả nên nhiều điều còn chép hơi thi vị hóa nhưng ta có

thể khẳng định đây là cuốn sử sinh động nhất về vùng đất Hà Tiên Thậm chí, Trịnh Hoài

Đức cũng từng tham khảo cuốn sách này để viết lên cuốn Gia Định thành thông chí

Bên cạnh nguồn sử liệu gốc còn một số sách thông sử và công trình biên khảo cũng đề cập đến Nam Bộ và vùng đất Hà Tiên trong giai đoạn này; có thể nêu một số công trình tiêu biểu như sau:

Một số bài viết được tổng hợp trong các tập Nam bộ đất và người;

phẩm, tác giả trình bày một cách rõ nét quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX Nội dung sách

có đề cập đến vùng đất Hà Tiên trong quá trình khai hoang vùng đất Tây Nam Bộ

buôn bán qua lại và mối quan hệ ngoại giao của Hà Tiên với các nước lúc đó

Trang 9

Các tác phẩm của Sơn Nam như: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Tìm hiểu đất Hậu

Tiên; đồng thời cũng đào sâu về vấn đề khẩn hoang đất đai của các cư dân trên vùng đất này Đây là những tài liệu biên khảo quan trọng khi muốn tìm hiểu về vùng đất Tây Nam

Bộ

Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt có nhiều công trình nghiên cứu về Hà Tiên, đặc

biệt là tác phẩm Nghiên cứu Hà Tiên do Tạp chí Xưa và Nay cùng Nxb Trẻ ấn hành năm

2008 Đây là công trình chuyên khảo rất có giá trị về vùng đất Hà Tiên với tập hợp gồm

35 bài khảo cứu - đính chính tư liệu liên quan đến Hà Tiên được viết từ năm 1990 đến nay

Một công trình khác rất đáng kể tới như tác phẩm Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn,

nguồn tài liệu quý giá là 35 tập, gồm 144 quyển địa bạ của tỉnh Hà Tiên được triều Nguyễn lập năm 1836, Nguyễn Đình Đầu làm rõ địa lí lịch sử Hà Tiên, địa bàn từng huyện của tỉnh, thống kê diện tích điền thổ của các xã thôn Địa bạ tỉnh Hà Tiên đã đóng góp căn bản vào việc tìm hiểu tình hình kinh tế - xã hội của Hà Tiên ở thế kỷ XIX Qua

đó chúng ta có thể đối chiếu và so sánh nó trong bối cảnh phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ thế kỷ XVIII

Các hội thảo khoa học về vùng đất Nam Bộ như Hội thảo 2010 về Một số vấn đề

Các nhà nghiên cứu đã có nhiều bài viết và đánh giá về công cuộc Nam tiến của người

Việt, công lao của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong công cuộc mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam

Hay Hội thảo khoa học vào năm 1986: 250 năm Tao Đàn Chiêu Anh Các

nhận nền văn học Chiêu Anh Các một nền văn học xuất hiện sớm nhất trên vùng đất Nam

Bộ thế kỷ XVIII Đồng thời nói riêng Tao Đàn Chiêu Anh Các chúng ta thấy Chiêu Anh

Trang 10

Các không chỉ là nơi sáng tác, đàm luận văn thơ, mà còn giúp“ca ngợi quê hương, bảo vệ

đất nước, vừa là nơi đào tạo nhân tài”3

Ngoài ra còn có các luận văn, luận án, báo cáo của các tác giả nghiên cứu về Hà

Tiên như:

Trần Nhất Linh với Quá trình hình thành và phát triển trấn Hà Tiên từ năm

1708-1771, luận văn Thạc sĩ lịch sử Đề cập đầy đủ về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, hành chính của vùng đất Hà Tiên trong giai đoạn này

Luận văn thạc sĩ sử học của Trần Việt Nhân Lịch sử hình thành và phát triển của

thương cảng Hà Tiên (thế kỷ XVII-XIX) đề cập một cách tập trung hoạt động kinh tế

ngoại thương của Hà Tiên

Lâm Trần Thứ với luận văn thạc sĩ Lịch Sử nghiên cứu về Vùng đất Hà Tiên thế kỷ

Mạc cai quản và cho tới thời Nguyễn

Bên cạnh các nhà nghiên cứu trong nước, một số tác giả nước ngoài cũng đã quan tâm nghiên cứu về Hà Tiên Họ Mạc và chúa Nguyễn ở Hà Tiên (Văn hóa Á Châu số 7, tháng 10 – 1958) của Trần Kinh Hòa (Chen Ching Ho) là một ví dụ Ngoài ra, còn phải

kể đến một số tác phẩm viết bàng tiếng Pháp nghiên cứu về Hà Tiên như Un Chinois des

Tiên) của Emile Gaspardone… Các tác phẩm nghiên cứu của Litana như Xứ Đàng Trong

– L ịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18

Nhìn chung, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hà Tiên nói riêng và Nam Bộ nói chung được công bố, nhưng điểm qua lịch sử nghiên cứu về họ Mạc ở Hà Tiên, hay vùng đất Hà Tiên trong giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII, chúng tôi thấy vẫn chưa

có ai đặt vai trò của họ Mạc trong không gian nghiên cứu của sự phát triển toàn diện của vùng đất Tây Nam Bộ Cũng như có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và

tập trung về vùng đất Tây Nam Bộ ở các mặt kinh tế, văn hóa - xã hội, hành chính, ngoại giao… dưới sự quản lý của họ Mạc

3

Xem Nhiều tác giả, 250 Tao đàn Chiêu Anh Các (1736 – 1986), Sở văn hóa Thông tin Kiên Giang, Nhà in Chiến

Th ắng, 1987, tr 19

Trang 11

Vì vậy, cần có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về vấn đề này Dẫu

biết rằng, đây là một vấn đề khó, đòi hỏi nhiều công sức để đầu tư nghiên cứu nhưng trên

cơ sở thừa hưởng thành quả của những người đi trước, cùng với sự tìm tòi nghiên cứu của

bản thân, chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ vấn đề đặt ra

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đóng góp của dòng họ Mạc đối với sự phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ (thế kỷ XVII – XVIII)

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Vùng đất Tây Nam Bộ, trong đó được giới hạn trong phạm vi là trấn Hà Tiên xưa Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, trấn Hà Tiên xưa bao gồm tỉnh Kampong Som (hiện thuộc Campuchia) dài xuống Rạch Giá, Long Xuyên, ven biển từ Lũng Kỳ (khu vực giữa Réam và Sré Cham, phía tây bắc đảo Phú Quốc) kéo dài đến Cà Mau Trấn Hà Tiên được tạm chia thành hai vùng: phía trên từ Rạch Giá, Long Xuyên đến Bạc Liêu… phần nam sông Hậu có đồng bằng lớn, thuận tiện cấy cày; phía biển từ Phú Quốc chạy đến mũi Cà Mau hợp đánh bắt thuỷ hải sản, đặc biệt

là giao thương với các nước xung quanh

Thời gian nghiên cứu của đề tài được xác định từ thế kỷ XVII và XVIII tức là từ khi Mạc Cửu đặt chân lên Hà Tiên cho tới cuối thế kỷ XVIII khi chính quyền Đàng Trong bị Tây Sơn lật đổ và họ Mạc cũng bị thất thế và mất đi vai trò của mình

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật

biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Từ đó vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ

bản của khoa học lịch sử, là phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic,

thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:

- Thu thập, sưu tầm, nghiên cứu, xử lí các nguồn tài liệu thành văn để rút ra các sự

kiện, những tư liệu cần thiết cho đề tài

- Trên cơ sở đó, khôi phục, miêu tả lại bức tranh tương đối đầy đủ, có hệ thống về Tây Nam Bộ vào các thế kỷ XVII – XVIII, làm cơ sở nghiên cứu đóng góp của dòng họ

Mạc đối với sự phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ

Trang 12

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để từ đó có cái nhìn toàn diện về vấn

đề nghiên cứu

5 Ngu ồn tài liệu

Trong quá trình hoàn thành đề tài, chúng tôi đã tham khảo được một số danh mục tài liệu nghiên cứu cần thiết Đối với các nguồn tài liệu đã xử lý qua, chúng tôi đã chia làm 2 loại như sau:

Ngu ồn tài liệu sơ cấp (cấp 1): Chủ yếu là các tài liệu (đã dịch) của Quốc sử quán

triều Nguyễn: Đại Nam thực lục (tiền biên), Đại Nam Liệt Truyện, Minh Mạng chính yếu,

Đại Nam nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt

Các tác phẩm của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu thời bấy giờ như Trịnh

Hoài Đức – Gia Định thành thông chí, Lê Quý Đôn – Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến

chương loại chí – Phan Huy Chú, Mạc Thị gia phả của Vũ Thế Dinh Đây chính là

nguồn tài liệu gốc mà chúng tôi dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện, niên đại liên qua đến vùng đất Tây Nam Bộ

Ngu ồn tài liệu thứ cấp:

+ Các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, trong đó có đề

cập đến vùng đất Hà Tiên với nhiều khía cạnh khác nhau Và những tác phẩm chuyên

khảo về Hà Tiên của một số ít các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Những tác phẩm này, bên cạnh việc dựa vào các tư liệu gốc trình bày về lịch sử vùng đất Hà Tiên, đã đưa

ra nhiều kiến giải quan trọng, làm cơ sở để chúng tôi hiểu rõ hơn vấn đề đặt ra

+ Các tài liệu của các nhà nghiên cứu thế kỷ trước hoặc mới gần đây như: Phan

Khoang – Vi ệt Sử xứ Đàng Trong, Trương Minh Đạt - Nghiên cứu Hà Tiên, Nguyễn

Đình Đầu - Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, Sơn Nam - Lịch sử khẩn hoang miền Nam

Lê Xuân Diệm, , Nguyễn Phan Quang… hay Huỳnh Lứa với nhiều tác phẩm nghiên cứu

về vùng Nam Bộ như: Nam Bộ đất và người, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Góp

phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII, XVIII, XIX…

Trang 13

+ Các bài viết trên tạp chí khoa học như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí xưa và nay Các bài báo cáo trong các hội thảo khoa học về vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX Các bài viết đăng trong kỷ yếu - 250 năm Tao đàn Chiêu Anh Các cũng được

chúng tôi tham khảo kỹ càng

+ Cùng một số luận văn, luận án cũng được chúng tôi tìm hiểu như:, Việc khẩn

Một số tài liệu của các tác giả nước ngoài như: Chân Lạp phong thổ ký – Chu Đạt Quan; X ứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế và xã hội thế kỷ 17 và 18 của Li Tana, Văn hóa Á

Cùng các bài viết đăng trên các báo có uy tín Đặc biệt, chúng tôi đã sử dụng kho

tư liệu đồ sộ trên Internet, trên cơ sở so sánh, đối chiếu và chọn lọc kỹ càng

6 Đóng góp của đề tài

- Phục dựng bức tranh về vùng đất Tây Nam Bộ trong các thế kỷ XVII – XVIII; qua đó thấy được vị trí, vai trò cũng như những đóng góp của dòng họ Mạc đối với sự phát triển của vùng đất Nam Bộ trong các thế kỷ XVII-XVIII

- Tập hợp, hệ thống hoá các nguồn tư liệu viết về Tây Nam bộ nói chung, dòng họ

Mạc nói riêng

- Đề tài hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên quan tâm, tìm

hiểu về vùng đất Tây Nam Bộ và dòng họ Mạc

Chương 3: MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ MẠC

Trang 14

CHƯƠNG 1 B ỐI CẢNH ĐỊNH CƯ CỦA HỌ MẠC TRÊN VÙNG ĐẤT TÂY

NAM B Ộ 1.1 Khái quát v ề vùng đất Tây Nam Bộ

Lịch sử tạo thành tiểu vùng Tây Nam Bộ gắn liền hữu cơ với toàn vùng Nam Bộ Thuật ngữ Nam Bộ ra đời là sự địa danh hóa đối với các đơn vị lãnh thổ cấp độ vùng gắn

với quá trình cấu trúc lại lãnh thổ quốc gia4 Nam Bộ thời Nguyễn gọi là Nam kỳ (1834),

thời Pháp thuộc vẫn giữ nguyên tên gọi đó Từ sau năm 1945 đổi thành Nam Bộ, chính

quyền Bảo Đại gọi là Nam Việt (từ 1949), thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là Nam Phần (1954) và sau năm 1975 thống nhất gọi là Nam Bộ

Vùng Tây Nam Bộ (hay còn gọi là vùng đồng bằng sông Cửu Long) nằm trong khu vực Nam Bộ5, hiện nay gồm có 12 tỉnh và 1 thành phố: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ Tây Nam Bộ có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía đông nam là Biển Đông Diện tích Tây Nam Bộ khoảng 39.739 km2

tục là một đồng bằng phù sa ngọt lớn nhất nước do hệ thống sông Cửu Long bồi đắp lên Tây Nam Bộ được hình thành từ những trầm tích phù sa ngọt cổ, được bồi đắp dần qua

những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển, kéo theo sự hình thành những giồng cát chạy

dọc theo bờ biển

Địa hình Tây Nam Bộ có độ cao trung bình thấp nhất nước Phần lớn đất đai ở đây

có cao độ trung bình từ 0,7-12 m Dọc theo biên giới Campuchia có địa hình cao hơn cả sau đó thấp dần đến trung tâm đồng bằng, thấp nhất ở khu vực giáp triều, ven biển Vùng

4 Doãn Hùng (2010), Phát tri ển xã hội và quản lý xã hội vùng Tây Nam Bộ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB

Chính tr ị Quốc gia, Hà Nội, tr 74-75

5 Vùng Nam B ộ hiện nay bao gồm 2 tiểu vùng: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Tuy nhiên, đây là cách phân vùng

l ịch sử - văn hóa, còn phân vùng kinh tế theo cách chia của Tổng cục Thống kê nước ta thì Đông Nam Bộ bao gồm

cả Ninh Thuận, Bình Thuận Theo Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê năm 2006, Nxb Thống Kê, Hà Nội,

2007, tr 17.

Trang 15

Đồng Tháp Mười, hạ lưu sông Cái Lớn – sông Cái Bé và U Minh Thượng, U Minh Hạ là

những vùng đất thấp hơn cả luôn bị ngập úng khi triều lên, nước mưa nội đồng và nước

ngập về từ thượng nguồn6

Hiện nay đồng bằng Nam Bộ vẫn tiếp tục phát triển mạnh về phía Tây Nam (mũi

Cà Mau), hàng năm lại có hiện tượng biển lấn Địa hình ở đây thấp nên nước biển có năm xâm nhập tới 1/3 diện tích7

V ề đất đai, đây là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu của

Đông Nam Á và thế giới (trong đó đất phù sa chiếm 29,7% diện tích toàn vùng,đất phèn chiếm 40%, đất mặn chiếm 16,7%, đất xám và các loại đất khác chiếm 13.6%),

Tây Nam Bộ được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích dầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Những vùng đất thấp và gần biển, khi

thủy triều lên, nước biển chảy ngược vào sông, tạo nên những vùng đất bị nhiễm mặn với

mức độ khác nhau

Riêng ở vùng thấp trũng thì môi trường biển và nước lợ tạo nên các lớp đất phèn

và trầm tích đầm mặn Các vùng rừng ngập mặn ven biển với những loài thực vật, động

vật đặc thù phong phú cũng tạo nên sắc thái riêng nổi bật của vùng Tây Nam Bộ Có thể nói, vùng Tây Nam Bộ có một hệ sinh thái rất đa dạng: ngọt, lợ, mặn đan xen Bên cạnh

rừng ngập mặn ven biển, vẫn có cả cảnh quan rừng nguyên sinh (ở Phú Quốc), rừng Tràm (Đồng Tháp Mười)

một vùng nhiệt đới ẩm Chế độ gió mùa đã tạo ra hai mùa mưa và mùa khô

Trang 16

Mùa mưa ở Tây Nam Bộ diễn ra từ tháng năm đến tháng mười, tập trung 90% lượng mưa cả năm Trong mùa mưa có gió mùa tây nam từ Ấn Độ Dương thổi vào mang theo hơi ẩm; thời gian gió thổi mạnh nhất từ tháng sáu tới tháng tám

80%-Mùa khô ở Tây Nam Bộ diễn ra từ tháng mười một đến hết tháng tư năm sau Lượng mưa thời gian này không đáng kể Trong thời gian mùa khô có gió mùa đông bắc hình thành từ Siberia mang theo không khí lạnh di chuyển về phía nam thành từng đợt, khi thổi vào Tây Nam Bộ giúp cho khí hậu ở đây dễ chịu hơn Riêng gió mùa thổi từ hướng đông và đông nam vào ven biển phía đông vùng Tây Nam Bộ thổi ngược hướng dòng sông Tiền, sông Hậu nên còn gọi là “gió chướng”

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 25-270C; số giờ nắng trung bình trong năm cao:khoảng 2000 – 2200 giờ (6,7giờ/ngày) Lượng mưa dồi dào trung bình từ 1.700-2.000 mm/năm Từ ven biển phía tây với vùng sông Tiền và sông Vàm Cỏ lượng mưa

giảm dần

Đặc điểm tự nhiên nổi bật và ít có trên cả nước của Tây Nam Bộ là vùng có gần

một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm, vừa có mặt hạn chế đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của dân cư nhưng đồng thời cũng tạo nhiều thuận lợi đối với việc khai thác nguồn lợi từ thủy sản, tăng độ phì nhiêu cho đất

trồng trọt và làm sạch môi trường

V ề sông ngòi và chế độ thủy văn

Hệ thống sông Cửu Long hàng năm trung bình cung cấp trung bình khoảng 4.000

tỷ m3 nước Ước tính khối phù sa ngọt lắng đọng hàng năm tại đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng 1 tỷ m3nước, gần gấp 13 lần khối phù sa ngọt ở đồng bằng sông Hồng

Đặc trưng Tây Nam Bộ có tính sông nước đậm đặc Nhờ vào một hệ thống thủy đạo với các sông ngòi, kinh rạch dày đặc hình thành chủ yếu trên cơ sở của hệ thống sông

Cửu Long hay còn gọi là sông Mê-kông Dòng chính sông Mê-kông chảy vào Việt Nam được gọi là sông Tiền đi qua các tỉnh và đến vùng Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia thành

bốn con sông đổ ra biển bằng sáu cửu Sông Bassac vào Việt Nam với tên gọi là sông

Hậu (hay Hậu Giang), chảy qua thị xã Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), qua thành

phố Cần Thơ, qua phía đông bắc tỉnh Sóc Trăng rồi đổ qua ba cửa Định An, Thanh Đề,

Trang 17

cửa còn lại là Ba thắc bị bồi lấp (những năm 70 của thế kỷ XX) cho nên Cửu Long xưa nay chỉ còn tám cửa

Ngoài hệ thống sông Cửu Long, ở Tây Nam Bộ còn nhiều sông và hệ thống sông khác Hệ thống sông Vàm Cỏ gồm hai nhánh Vàm Cỏ Đông từ Campuchia qua Tây Ninh

rồi chảy vào Long An, Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ Campuchia cũng chảy về Long An Hệ

thống sông Cái Lớn – Cái Bé hoàn toàn là các sông vùng triều, xuất phát từ trung tâm bán

đảo Cà Mau rồi đổ ra biển qua của Cái Lớn Sông Giang Thành xuất phát từ vùng núi phía Tây Nam Campuchia chảy vào khu vực Hà Tiên và nối với kênh Vĩnh Tế8

Ngoài ra còn rất nhiều các sông, rạch khác khau như sông Măng Thít, sông Cần Thơ, Sông Châu Đốc, rạch Cần Lố, rạch Cần Chông, rạch Hồng Ngự

Bề mặt nước của các kênh rạch và sông hợp lại cũng là một nguồn cung cấp ẩm

cực lớn Kênh rạch có một chiều dài đến hơn 4900km, chúng cắt xẻ mạnh bề mặt châu

thổ thành những ô vuông làm cho giao thông trong vùng chủ yếu bằng đường thủy Kênh đầu tiên đào bằng tay là kênh Đông Xuyên – Kiên Giang trên cơ sở mở rộng một con ngòi nhỏ (năm 1817), rồi kênh Phụng Hiệp dài 150 km (chạy qua Cần Thơ, Rạch Giá, và

Bạc Liêu), kênh Vĩnh Tế (năm 1819) dài 100 km nối liền Châu Đốc và Hà Tiên qua đầm

Cà Âm

Nhìn chung các sông ngòi, kênh rạch trong vùng tạo thành một hệ thống mở, biến

nhịp với chế độ thủy văn Hoạt động hỗn hợp của sông ngòi kênh rạch và biển cả đã hình thành nên những vùng đất phù sa ngọt phì nhiêu và những giồng cát dọc theo ven sông, ven biển

V ề tài nguyên thiên nhiên

Rừng thực sự của Tây Nam Bộ đều là rừng ngập mặn Dù là rừng đước hay rừng chàm Chúng đều mọc và nuôi dưỡng bởi nước mặn và vì vậy, đều là những rừng mọc ven biển

Rừng ngập mặn ở Tây Nam Bộ chiếm một diện tích rộng đến 300 nghìn ha và chỉ đứng sau rừng nước mặn ở sông Amazone (Brazil) và Philipines Sự phân bố của các loài cây khác nhau và trật tự sắp xếp của chúng từ biển vào đất liền Cây Mấm đen có nhiệm

8 Trần Ngọc Thêm (CB), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Nxb Văn hóa Văn nghệ, Tp HCM – 2013, tr 72

Trang 18

vụ củng cố nền đất lỏng, Cây Đước mọc ở nơi bùn mỏng, cây Vẹt thì những nơi đất cứng, cây Đà thì mọc ở đầm phá

Rừng cũng giữ lại ở trên các đảo ở ngoài khơi và nhiều chủng gỗ quý hiếm như

dầu, trắc, bời lời, song mây, móc

Biển vùng Tây Nam Bộ đa dạng, phân biệt phía đông và tây Ở phía đông, do bên trong là đồng bằng châu thổ với mạng lưới kênh rạch và hệ thống sông Mê-kông bồi đắp cho nên biển phía đông khá nông, cả việc đánh bắt cá và giao thông đều không thuận tiện

Phía Tây của vùng Tây Nam Bộ, do không có sông lớn chảy ra nên không có phù

sa bồi đắp ở cửa biển, do vậy mà vùng biển bên ngoài tương đối sâu, hải sản phong phú, giao thông hàng hải thuận tiện Các hệ thống đảo và quần đảo ở đây tương đối nhiều như Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Khoai, Hòn Tre, có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển quản lý vùng biển, giữ gìn an ninh quốc phòng

Có thể nói đồng bằng châu thổ sông Cửu Long có những điều kiện tự nhiên phong phú, nhưng điều đó không có nghĩa là con người ở đây chỉ sống bằng sự độ lượng của tự nhiên9 Mỗi quãng đường trên đồng bằng châu thổ rộng lớn đó đều như nói lên không

biết bao nhiêu công sức, mồ hôi và nước mắt tổ tiên ta đã đổ ra, để biến một tự nhiên hoang vu thành một miền đất như chúng ta nhìn thấy ngày hôm nay

Ở vị trí Tây Nam Bộ hiện nay, ngày xưa là một địa hào lớn tồn tại từ sau nguyên đại Cổ Sinh Hai địa lũy giới hạn nó về phía Đông Bắc (Đông Nam Bộ - Nam Trường Sơn) và về phía Tây Nam (dãy núi Đậu Khấu và các đảo tây Cà Mau) Địa hào này chịu

một vận động sụt lún từ từ, làm cho biển tiến vào, biến nó thành một vịnh rộng mênh mông trên lãnh thổ của đồng bằng Nam Bộ và Campuchia ngày nay, trong khi các địa lũy

lại được dâng cao10

Những công cuộc khảo sát địa chất cho thấy trên nền đá granit có phủ gián đoạn

những lớp đá cát Inđôxiniat Trung sinh dày đến hơn 8000m (quanh đảo Thổ Chu), làm

chứng cho sự tồn tại của vịnh biển đó Người ta cũng tìm thấy dấu vết của hệ thống đứt

9

Lê Bá Thảo (2001), Thiên nhiên Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr 255

10 Lê Bá Th ảo (2001), Sđd, tr 256

Trang 19

gãy xuyên bán đảo Đông Dương như đã nói ở trên chạy song song theo hướng tây bắc – đông nam, đồng thời cũng phát hiện được một hệ thống đường đứt gãy lớn hướng bắc – nam, chạy từ Huế đến vĩ độ của Sài Gòn trên thềm lục địa kế cận Hai hệ thống này cắt qua nhau và vì vậy có thể nói rằng châu thổ sông Cửu Long tương ứng với một địa thế trũng sụt (địa hào)

Vào thời kỳ có vận động tạo núi Himalaya, toàn bộ bán đảo Đông Dương được nâng lên làm cho sông Cửu Long ở thượng lưu và trung lưu cũng như các sông Vàm Cỏ

và Đồng Nai tăng cường xâm thực của chúng Các sông này vận chuyển một khối lượng phù sa khổng lồ và phối hợp với hiện tượng trầm tích sông hồ, lấp đầy vịnh biển để tạo ra đồng bằng Campuchia và đồng bằng châu thổ Nam Bộ hiện nay Các trầm tích sông hồ

nằm ngay trên tầng đá cát Inđôxiniat, xếp theo chiều nghiêng thoai thoải từ miền Đông sang miền Tây Nam Bộ, nói lên sự bồi đắp mạnh mẽ đó

Quá trình hình thành vùng lịch sử - tộc người Nam Bộ gắn liền với quá trình cấu trúc lại lãnh thổ lục địa Đông Nam Á Dựa trên kết quả nghiên cứu của khảo cổ học, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng trên vùng đất Tây Nam Bộ đã sớm xuất hiện con người Trên vùng đất này, vào khoảng đầu công nguyên đã hình thành nên vương quốc Phù Nam mà ngày nay người ta biết nó qua khai quật di chỉ khảo cổ Óc Eo (ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang)

Lớp cư dân bản địa đầu tiên này thuộc nhóm nhân chủng Indonedien hay Nguyên

Mã Lai Từ thời đá mới, lớp cư dân Indonedien đã có mặt trên lãnh thổ Việt Nam và là thành phần chính tạo ra người Việt cổ Đồng thời, họ cũng là lớp cư dân sớm nhất và chủ nhân đầu tiên của vùng đất này gắn với quá trình hình thành và phát triển của đế quốc cổ Phù Nam Theo sách Tấn thư mô tả thì những người này “đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần,

đi đất, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, không trộm cắp Ngoài ra còn có người Môn, Mã lai, Ấn Độ, Trung Á”11

Một số ý kiến khác như Lương Ninh thì lại cho rằng chủ nhân

của vương quốc này là đa tộc người, trong đó vai trò chủ thể là cư dân nói ngôn ngữ Malayo-Polinesien

11 Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 171.

Trang 20

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ VII sau công nguyên, Phù Nam từ vương quốc phát triển thành đế chế, buộc hầu hết các tiểu quốc xung quanh thần phục Theo các chứng tích còn sót lại trên lãnh thổ nam Việt Nam, nền văn minh Phù Nam được xác định là nền văn hóa bản địa với trung tâm là nền văn hóa Óc Eo Các chứng tích khác hiện đã phát hiện được nằm rải rác từ Cát Tiên (Lâm Đồng) tới Tây Ninh, Sài Gòn, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Cà Mau đều thuộc niên đại và loại hình văn hóa này Theo Malleret, Óc Eo là một đô thị rộng lớn, một thương cảng phồn vinh, một trung tâm kinh

tế sống động với mối giao thương Âu - Á khá rộng rãi Óc Eo cũng là một đô thị tiêu biểu cho nền văn minh của một quốc gia cổ hình thành sớm nhất ở Đông Nam Á

Trong khoảng hơn sáu thế kỷ, Óc Eo không chỉ là một trung tâm văn hóa rực rỡ, là

nền tảng của văn hóa Phù Nam, mà còn có nhiều ảnh hưởng đến các nền văn hóa Đông Nam Á Tuy nhiên, vào thế kỷ VII, vương quốc Phù Nam suy tàn và bị Chân Lạp thôn tính Nguyên nhân chính của nó vẫn còn là điều bí ẩn và tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau, trong đó có nguyên nhân được khảo xét là tai biến môi trường do biển tiến

Thế kỷ thứ VII, vùng đất này bị người Chân Lạp thôn tính Nhưng thôn tính xong thì Chân lạp lại rút về vùng cao (vùng Biển Hồ) sinh sống vì họ không quen với kinh tế biển, không biết canh tác ruộng thấp (ruộng lầy lụt), vì thế Nam Bộ bị người Khmer bỏ hoang Từ thế kỷ VII - cho đến cuối thế kỷ XVII, trên danh nghĩa vùng đất Nam Bộ thuộc Chân Lạp nhưng phụ thuộc một cách lỏng lẻo, chưa có chính quyền Chân Lạp trực

tiếp cai trị với lý do: dân số ít, sở trường canh tác ruộng trũng không có nên Chân Lạp có

xu hướng phát triển về phía Tây Nam “Đối với họ, vùng hạ lưu sông Cửu Long cận biển

đất này, mãi cho đến khi người Việt tràn đến”12

Vì ít dấu chân người, Tây Nam Bộ từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XVI dân cư rất thưa thớt, đất đai chưa được khai phá nhiều Chu Đạt Quan, một sứ thần nhà Nguyên trên đường sang kinh đô Ăngkor vào khoảng năm 1296, đã miêu tả cảnh Thủy Chân Lạp

trong sách Chân L ạp phong thổ ký như sau: “Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu hết là rừng

12Trương Minh Đạt (2008), Nghiên cứu Hà Tiên, NXB Trẻ, Tp HCM, tr 31

Trang 21

th ấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um

r ộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi” 13

Bước sang đầu XVII, nội chiến Trịnh – Nguyễn nổ ra khốc liệt, kéo dài gần nửa thế kỷ Cục diện chiến tranh đã thúc đẩy họ Nguyễn nhanh chóng mở rộng lãnh thổ về phía Nam, mục tiêu là vùng đất Nam Bộ Trong gần 2 thế kỷ, bằng nhiều biện pháp khác nhau: lợi dụng các lớp người Việt, Hoa phiêu tán, phá sản dưới các hình thức khác nhau

mở rộng khai khẩn vùng đất Nam Bộ; lợi dụng lực lượng “có vật lực” ở miền Thuận – Quảng chiêu mộ dân nghèo vào khai phá đất hoang; sử dụng quân đội đồn trú; kiến tạo quan hệ đồng minh dưới nhiều hình thức với triều đình Chân Lạp… các chúa Nguyễn nhanh chóng khẩn hoang, lập làng, xác lập và khẳng định chủ quyền trên vùng đất Nam

Bộ

Như vậy, trong thế kỷ XVII, người Việt di cư vào sinh sống, khai thác vùng đất Nam Bộ, cuối thế kỷ XVII có thêm người Hoa Với trí tuệ và khả năng lao động phi thường, chính quyền họ Nguyễn và các cộng đồng cư dân Việt – Hoa – Khmer… không chỉ mở mang tạo dựng cơ nghiệp trên vùng đất hoang hóa, sình lầy để mưu sinh mà còn làm thay đổi lớn lao diện mạo của vùng đất mới Lợi thế về tự nhiên cộng với kinh nghiệm tích hợp được của cộng đồng cư dân Việt, Khmer trong sản xuất nông nghiệp, khả năng thiên phú của cộng đồng người Hoa trong phát triển thương mại, đã sớm đưa

Nam Bộ trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp phát triển mang đặc tính của nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa ngay từ đầu thế kỷ XVIII Nam Bộ trở thành nơi cung cấp hàng hóa nông sản cho miền Trung Việt Nam, Chân Lạp, Xiêm, Các nước thuộc khu vực hải đảo Đông Nam Á và nam Trung Quốc

Sau đó là quá trình chuyển nhượng chủ quyền giữa người Khmer và người Việt –

trở thành cơ sở lịch sử cho sự định hình tính pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ Năm 1757, được xem là mốc hoàn thành công cuộc xác lập chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, được thực hiện bằng phương pháp hòa bình14

13Chu Đạt Quan (2006), Chân Lạp phong thổ ký, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.45

14 Xem: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: Lược sử vùng đất Nam Bộ, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2008

Trang 22

Hiện nay, vùng Tây Nam Bộ dân cư đa số là người Kinh, người Khmer, người Chăm Người Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng và người Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang Một lượng trung bình người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh

Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17,33 triệu người vào năm 2011 Dân

số vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng chậm trong những năm gần đây, chủ yếu do di

cư đi nơi khác

Vùng Tây Nam Bộ có mức đô thị hoá thấp Cả vùng có 5 thành phố (Cần Thơ, Long Xuyên, Mỹ Tho, Cà Mau, Cao Lãnh), 13 thị xã và 109 thị trấn Trung bình cứ 414 km2 mới có một điểm đô thị Đô thị gọi là lớn ở vùng này chỉ bằng hoặc thậm chí nhỏ hơn đô thị loại hai ở miền Đông (như Biên Hoà) Cần Thơ chỉ có 34 vạn dân; Long Xuyên 26,2 vạn; Mỹ Tho và Cà Mau khoảng 17-18 vạn Tỷ lệ dân số nội thị là 16%, cao nhất là Cần Thơ cũng chỉ có 41%15

Tóm lại, so với nhiều vùng đất khác trong cả nước thì Nam Bộ là một vùng đất mới có lịch sử khai phá mới chỉ hơn 300 năm nhưng từ lâu vùng đất này đã có rất nhiều

cư dân sinh sống Sau khi Phù Nam bị xóa tên trên bản đồ Đông Nam Á, thì hầu hết diện tích Nam Bộ không có người sinh sống Vùng đất cao ở miền Đông tiếp tục do người Mạ

và người Stiêng chiếm ngụ Họ là những người dân bản địa đã sinh sống ở nơi đây từ thời tiền sử và là dân cư của nước Phù Nam Còn người Khơme từ Chân Lạp di cư đến rất ít

và tập trung chủ yếu ở vùng miền Tây Nam Bộ như Trà Vinh, Sóc Trăng, Châu Đốc, Kiên Giang…Vùng đất Nam bộ chỉ thực sự trở thành “một miền đất hứa” khi lưu dân người Việt đến đây khai phá vào đầu thế kỷ XVII cùng với di dân người Hoa, Chăm…Như vậy, quá trình hình thành các cộng đồng cư dân trên vùng đất Nam Bộ thực chất là quá trình hợp cư bởi các lớp di dân qua các thời kỳ lịch sử Đây là một đặc điểm hết sức nổi bật của quá trình khai mở vùng đất Nam Bộ Cho đến cuối thế kỷ XVIII, những lớp cư dân Việt - Hoa - Khmer đã sớm thích ứng với điều kiện tự nhiên, xã hội của

15

Lê Thông (2004), Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr 541-543

Trang 23

vùng, chung lưng đấu cật khai phá vùng đất mới, biến vùng đất hoang sơ, sình lầy, thú dữ trở thành vùng kinh tế phát triển và chứa đựng nhiều tiềm năng của khu vực và đất nước

1.2 Quá trình định cư của họ Mạc trên vùng đất Tây Nam Bộ

Giữa thế kỷ XVII nhà Minh bị suy yếu và nhanh chóng sụp đổ trước các cuộc nổi dậy của nông dân Nhân cơ hội đó hậu duệ của tộc người Nữ Chân là người Mãn đã từ biên giới nhà Minh kéo vào tiêu diệt thế lực của triều Đại Thuận (Lý Tự Thành) và lập ra nhà Thanh (1644-1911) Lúc này, người Hán không phục dưới ách cai trị của ngoại tộc, nên nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống nhà Mãn Thanh đã xảy ra trong khắp lục địa Trung Hoa Tuy nhiên, đều không đem lại kết quả Nhà Nam Minh (1644 – 1664) nổi lên

ở Nam Kinh, rồi cũng nhanh chóng lụi tàn trước sự đàn áp của nhà Nhà Thanh

Lúc này, nổi lên cuộc khởi nghĩa “phản Thanh phục Minh” dưới sự lãnh đạo của Trịnh Thành Công (Kosinga), một vị tướng Minh triều cũ gốc Triều Châu, ông tiếp tục kêu gọi dân chúng nổi lên chống lại nhà Thanh nhưng cũng đều bị đánh bại, tất cả các làng xã của người Tiều ở Triều Châu và vùng ven biển Hạ Môn bị quân Thanh thiêu rụi Tàn quân của họ Trịnh phải chạy ra đảo Đài Loan để tiếp tục cuộc kháng chiến còn dang

dở

Sự kiện lịch sử quan trọng này xảy ra ở Trung Quốc, đã khiến cho nhiều tướng sĩ

cũ nhà Minh, thương gia, trí thức vì giữ gìn khí tiết của mình (không chịu đầu hàng) nên đã chạy ra nước ngoài tỵ nạn và đưa đến tình trạng di dân hàng loạt Một trong số đó

đã chạy đến Việt Nam Vào năm 1679, “ Quan Tổng binh thủy lục trấn thủ các xứ ở

được vào Kinh bằng hai cửa Tư Dung và Đà Nẵng Triều đình (chúa Nguyễn – Đàng

tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) làm ăn, gắng sức khai thác đất đai Mặt khác,

Trang 24

không x ảy ra chuyện ngoài ý muốn”16 Đợt di dân này trở nên rầm rộ và có vai trò quan

trọng đối với lịch sử Việt Nam vào thế kỷ XVII

Mạc Cửu, quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, đi theo Trịnh Thành Công kháng chiến Năm 1671 thấy chống không nổi quân Thanh, Mạc Cửu mang cả gia đình, binh sĩ

và một số sĩ phu khoảng 400 người rời khỏi Phúc Kiến bằng đường biển Mạc Cửu cùng gia quyến sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đã cập thuyền vào đảo Koh Tral (Phú Quốc), rồi đổ bộ lên một vùng đất lạ (được gọi là Panthaimas) trong Vịnh Thái Lan Mạc Cửu dò hỏi và được biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng của vương triều Chân Lạp Phái đoàn Mạc Cửu đến Oudong gặp Nặc Ông Thu (Chey Chettha IV) và ở lại hợp tác cho đến

năm 1681 Sử nước ta cũng chép về sự kiện này như sau: “Mạc Cửu Người Lôi Châu

Mạc Cửu là người thông minh, hoạt bát, khéo ăn nói lên khi ra mắt vua Chân Lạp, khi hay số phận của kẻ vong quốc, thì được vua Chân Lạp tin tưởng và thu dụng ngay

Ông giúp vua Cao Miên được nhiều việc “bày cách chiêu thương cho dân ngày càng

đông, khai khẩn đất hoang cho đất đất ngày càng rộng Việc nước gặp hồi khó liệu, hỏi ông, ông ch ỉ cho đều được xong suốt”18 Làm quan cho triều đình Chân Lạp, được đối đãi cũng tử tế, nhưng Mạc Cửu liệu có lẽ chẳng vui sướng gì vì lòng vẫn khôn nguôi nhớ về

cố quốc mà chẳng hẹn ngày về Ông chẳng bằng lòng với công việc hiện tại bởi việc suốt ngày “vào luồn ra cúi” Cái sự nghiệp kinh bang tế thế của đấng nam nhi chưa thành, đã

vậy ở cái đất này một kẻ ngoại tộc như ông ra làm quan trong triều cũng không ít kẻ đố

Trang 25

vì nơi này thương thuyền qua lại rất đông Quan quân Chân Lạp vì bận rộn với những cuộc nội chiến và không đủ khả năng bảo vệ vùng đất này đã bỏ trống mặc cho hải tặc lập căn cứ Hơn nữa đây là vùng đất sình lầy phèn chua nước mặn, đầy muỗi mòng không ai dám đến lập nghiệp, chỉ một số dân phiêu lưu đến ở Thời này đất Panthaimas chỉ có độ mươi nóc gia của người Khmer làm nghề săn bắn và đánh cá Mạc Cửu đã nhanh chóng xin vua Khmer cho khai khẩn vùng đất sình lầy Panthaimas (Banteay Meas tức Sài Mạt)

Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt thì sự kiện Mạc Cửu: “Đem của đút lót với

khách thương các nước đến buôn bán, để làm lợi cho nước nhà” xảy ra dưới triều đại

Ang Em (Nặc Yêm) trị vì lần thứ I (1699 – 1701), vị vua này “tính tình hời hợt và hơi đần”; vợ ông ta lại là con gái quốc vương Nặc Thu (Ang Saur), có thế lực đối với quần

thần Cuộc mua chuộc cảm tình vua Ang Em về sau còn có lợi cho Mạc Cửu, khi Ang

Em trở lại ngôi vua năm 1710 “nhờ Triều đình Huế che chở và giúp về mặt quân sự, (Nặc Yêm phó thác việc phòng thủ các tỉnh Peam (Hà Tiên), Kampot và Kompong Som, cả cù lao Phú Quốc cho Mạc Cửu

Như vậy, được phép vua Chân Lạp cho khai thác vùng bờ biển gần Phú Quốc Sau

đó Mạc Cửu đến mở mang vùng Mang Khảm (Hà Tiên) Tuy còn trẻ nhưng Mạc Cửu cũng là một tay giang hồ giỏi tổ chức Trong suốt thời gian lênh đênh trên biển cả ông đã

chiêu tập được một số binh sĩ Minh triều cũ đang hành nghề hải tặc dưới trướng “Hồi 17

Trên hai mươi năm lưu lạc nơi đất khách để tìm cơ lập nghiệp đã đem lại cho Mạc Cửu nhi ều kinh nghiệm già dặn”19

Mạc Cửu rất thành công trong việc mở mang vùng Hà Tiên, sau khi chiêu mộ thêm nhiều người Trung Hoa (cùng hoặc khác tiếng nói) và cả người Việt Nam và người Cam Bốt

Mạc Cửu thấy ở đây: “Có nhiều người buôn các nước tụ họp, bèn mở sòng gá bạc

để thu thuế gọi là hoa chi, lại được hố bạc chôn nên thành giàu Nhân chiêu tập dân xiêu

19Sơn Nam (2004), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXB Văn nghệ, Tp HCM, tr 41

Trang 26

Hà Tiên) l ập thành 7 xã thôn”20 Thông tin trên cho ta biết hai việc, thứ nhất là việc thu thuế hoa chi tại đất Sài Mạt (thủ phủ là Tuk Méas, gần núi Sóc Mẹt) cộng với việc đào được hầm bạc khiến Mạc Cửu phát tài, đây là số vốn ban đầu cho những dự tính phát triển công việc thương mại sau này Thứ hai Mạc Cửu đã lập nên 7 xã thôn Đó là Mang

Khảm (hay Mán Khảm, Peam), Lũng Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (hay Vũng Thơm, Kompong Som), Linh Quỳnh (Kiri Vong) và Phú Quốc (Koh Tral) Đây là

những xã thôn đầu tiên được đặt dưới sự cai quản hành chính của chính quyền Mạc Cửu trên vùng đất mới

Sau biến cố năm 1679 tại Chân Lạp, sự bất hòa giữa chính vương Ang Saur (Nặc Thu) và phó vương Nặc Nộn khiến Ang Saur cầu viện Xiêm và xảy ra chiến tranh ở Chân

Lạp, vùng đất của Mạc Cửu cũng bị liên lụy và bị tàn phá nặng nề “Gặp lúc người Xiêm

sang đánh lấn Chân Lạp, người Chân Lạp vốn ươn nhát, nghe giặc đến là chạy Tướng

Mặc dù được người Thái đối đãi rất trọng thị nhưng ông chỉ lấy lễ để đáp lại Ông được đưa ra sống ở vùng Vạn

Tuế Sơn nhưng thực chất là bị quản thúc

Về sau nước Xiêm có nội biến, Mạc Cửu bèn lén quay về vùng Lũng Kỳ22

Lo sợ

sự quay trở lại của người Xiêm, Mạc Cửu yêu cầu vua Chân Lạp bảo vệ nhưng không được thỏa mãn vì lúc này Chân Lạp cũng đang bị Xiêm La khống chế Từ đây, ông không còn mấy tin vào sự che chở của triều đình Cao Miên nữa

Trong những thời khắc còn đắn đo, trăn trở, Mạc Cửu được một thương gia người Minh Hương tên Tô Quân hiến kế Họ Tô cho biết xa hơn về phía Tây Bắc, những người Hoa tị nạn khác được chúa Nguyễn cho định cư tại miền Đông đang phát triển nhanh

20 Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (tập 1), Viện Sử Học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 122

21 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Liệt truyện (tập 1), Sđd, tr 201

22 Theo Trương Minh Đạt thì sự kiện Mạc Cửu sang Xiêm là để tỵ nạn do Mạc Cửu gặp phải phong trào chống đối người Hoa của nhân dân Khmer (sự kiện Hoàng Tiến) chứ không phải vì người Xiêm mang quân xâm lược Do đó, ông ph ải theo các tướng Xiêm, thuộc cánh vua Chân Lạp Ang Saur (Chay chetta IV), tìm đường lánh nạn qua Xiêm

và được người Xiêm lưu giữ ở lại Vạn Tuế Sơn Hải Tân Sau đó, Xiêm La gặp phải biến loạn do phong trào nổi lên

c ủa nông dân và những cuộc phiến loạn cát cứ phong kiến Cho nên Mạc Cửu mới đưa gia đình quay lại Lũng Kỳ năm 1699, và khi đó mới thành lập ra 7 xã thôn đã nói trên, trước khi tới Mang Khảm khoảng năm 1700, khớp với

s ự kiện “Mạc Cửu mở mang đất Hà Tiên, tính đến năm 1736 là trên 30 năm” Chúng tôi xin dẫn ra để tham khảo

(Xem Trương Minh Đạt, Nghiên cứu Hà Tiên, Nhà xuất bản trẻ & Tạp chí xưa và nay, Tp Hcm, 2007, tr 76)

Trang 27

chóng Thêm vào đó, quân của chúa Nguyễn đang làm chủ miền Tây đất Chân Lạp và đang đối đầu với quân Xiêm La Thần phục quốc vương Đàng Trong chỉ trăm lợi mà không hại Mạc Cửu đã nhanh chóng đưa ra quyết định như lời vị mưu sĩ đã đề xuất, vì

thực chất điều này cũng hợp với suy nghĩ của ông: “Sự bỏ mặc của triều đình Chân Lạp

Năm 1708 Mạc Cửu sai hai người thân tín, Trương Cầu và Lý Xá, ra Huế xin được

sự che chở của Chúa Nguyễn, sứ giả họ Mạc cũng bày tỏ nguyện vọng của chủ mình sẽ dâng đất đai cho triều đình và chấp nhập làm con dân của Đại Việt Chúa Nguyễn vui vẻ chấp nhận và phong họ Mạc chức Tổng binh cai trị đất Hà Tiên Năm 1711, Mạc Cửu có dịp ra Huế bái kiến Minh vương Nguyễn Phúc Chu sự kiện này đã tạo nên một mối quan

hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đàng Trong và vùng đất Hà Tiên kể từ đây

Qua sự kiện Mạc Cửu lấy đất đai mà ông cai quản vốn thuộc Chân Lạp, đem dâng lên cho Chúa Nguyễn, chúng ta nên khách quan mà nhìn nhận một cách đầy đủ những nội tình bên trong:

Trước nhất, Mạc Cửu đã tự nhận thấy thế lực của Chân Lạp không thể đối phó với Xiêm La Trong khoảng thời gian này Xiêm La luôn dòm ngó và có ý đồ xâm lược Chân

Lạp, triều đình Chân Lạp lo bản thân chưa xong không có gì bảo đảm cho sự an ninh của

Hà Tiên Như thế, nếu tiếp tục nương tựa Chân Lạp thì chỉ tự chuốc lấy phiền não mà thôi Xiêm La không xa Hà Tiên, lại là một nước hùng mạnh, và đã có lúc vua Xiêm coi

trọng Mạc Cửu, mặc dù Xiêm mạnh nhưng lại cho quân đội của mình tổ chức cướp bóc,

có ý đồ xâm lược Chân Lạp Với bản chất trung hậu, ông không thể nào chấp nhận một

nền văn hóa xa lạ mang tính bạo lực mà ông đã chứng kiến khi quân Xiêm tấn công, cướp bóc và đốt phá Hà Tiên Có lẽ đó là lý do thuyết phục nhất để giải thích tại sao Mạc Cửu không đầu phục Xiêm La Còn chính quyền chúa Nguyễn có thể trở nên dư lực để làm

23Lê Trung Dũng (cb), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia, NXB Khoa học xã

h ội, tr.98

Trang 28

đối trọng với Xiêm trong bất cứ tranh trấp nào trong khu vực Mặt khác, quyền minh chủ đang tồn tại của Chúa Nguyễn đối với triều đình Chân Lạp không cho phép Chân Lạp có

thể có phản ứng quyết liệt trong trường hợp Mạc Cửu ly khai và thần phục Đàng Trong

Việc đầu nhập vào Chúa Nguyễn là kế sách vẹn toàn và lâu dài

Nhưng nếu chỉ có vậy thì ta thấy Mạc Cửu chỉ là “kẻ gió chiều nào che chiều ấy”

Ta cũng nên nhìn nhận cái khó cho một người lãnh đạo như ông Trước sức ép tinh thần

rất nặng nề, đó là việc phải chăm lo cho những người dưới quyền và nhân dân một khu

vực đã từng xem ông là người thủ lĩnh, Mạc Cửu phải tìm một kế vẹn toàn cho họ Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sức ép tinh thần chứ không phải sức ép chính trị, bởi lẽ

nếu từ chối trách nhiệm về tinh thần, Mạc Cửu có thể chọn cho mình một con đường khác để có thể làm kinh tế, kinh doanh, xây dựng cơ đồ riêng tư như biết bao người Hoa tha hương cầu thực khác Biết bao người trên một dải đất rộng lớn đã gởi gắm cuộc sống

và sinh mạng của họ cho ông Nếu không giữ vững Hà Tiên, phó mặc cho số phận thì

những con người đó sẽ ra sao? Là một người Hoa, Mạc Cửu thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, lấy nhân, lấy đức làm đầu, và cũng cần phải nói rằng đối với những người như Mạc

Cửu, cái nền văn hóa Trung Hoa là nền văn hóa tốt đẹp nhất, do đó, ông phải chọn cho mình và cho nhân dân trong khu vực một chỗ gửi gắm sao cho phù hợp với tư tưởng nhân văn theo kiểu Trung Hoa Mạc Cửu không chỉ biết phát huy thế mạnh của Hà Tiên, biết tin tưởng vào khả năng của cư dân Hà Tiên mà còn có một quyết định rất sáng suốt khi nương nhờ vào chúa Nguyễn Giáo sư Emile Gaspardone đã viết về thời khởi nghiệp ban

đầu của Mạc Cửu như sau: “Với ý định này, ông tin tưởng vào một số nông dân tại đất

nước ông và những nước xung quanh, rồi ông khởi sự tìm kiếm lấy cho mình, với nghệ thu ật và tài năng, sự bảo vệ của các ông vua mạnh nhất trong vùng, để bảo vệ cho ông ”24

Chúng ta cũng cần phải thấy rằng, vào thời điểm đầu thế kỷ XVIII, các tụ điểm dân cư hình thành trên vùng đất Nam Bộ ngoài người Khmer chủ nhân cũ của vùng đất này, phần lớn là người Việt và người Hoa và cũng chính họ có vai trò rất lớn trong việc

24 Emile Gaspardone (1952), Un Chinois des Mers du Sud le Fondateur de Ha Tien (Người Trung Hoa ở biển Nam, người sáng lập Hà Tiên), Tạp chí journal Asiatique Bản dịch, Trương Minh Đạt hiệu đính, tr 368

Trang 29

khai thác, mở mang vùng đất này Điều đó đã khiến Mạc Cửu phải chọn cho mình và dân

cư một chốn nương thân gần gũi với nền văn hóa gốc của họ, và Đại Việt với Chúa Nguyễn ở Đàng Trong lúc bấy giờ là phù hợp nhất kể cả về kinh tế, chính trị và văn hóa Chúa Nguyễn có thể bảo vệ cho Hà Tiên khỏi sự xâm lược của ngoại bang, tác động để phát triển kinh tế, nhưng quan trọng nhất là nền văn hóa Việt rất gần gũi với nền văn hóa Trung Hoa mà đạo Nho là gốc, là nền tảng Và theo chúng tôi, khi chứng kiến các di thần nhà Minh khác như Trần Thượng Xuyên (ở Biên Hòa) và Dương Ngạn Địch (ở Mỹ Tho) cùng dòng máu người Hoa như Mạc Cửu sẽ có sự cảm thông và tiếng nói chung với nhau hơn Nhân tố chủ quan này giúp ông quyết định về thần phục chúa Nguyễn Sự liên hôn hai nhà Mạc – Trần sau này là để củng cố mối quan hệ Hoa Kiều ở nước ngoài vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, quân sự lại có ý nghĩa về mặt tinh thần để cho vơi đi “niềm nhớ cố

quốc” Tuy vậy, sự trung thành của hai nhà Mạc – Trần với chúa Nguyễn thì không cần

phải bàn cãi Chẳng thế mà Mạc Cửu lại đi lấy vợ người Việt gốc ở Đồng Môn, Biên

Hòa

Tóm lại, cái đạo lý ở đời của người phương Đông xưa là tìm minh chủ mà thờ Xét tình thế nhà Minh không thể trung hưng được nữa Mạc Cửu ở lại Chân Lạp chăm lo buôn bán làm giàu, rồi lại được làm Ốc Nha ở nước này; song nội tình và khí chất của vương triều Chân Lạp không chinh phục được ông Ông xin về khai thác đất Mang

Khảm, chẳng bao lâu đất này trở nên trù phú sung túc thu hút nhiều thương nhân nước ngoài nước ngoài đồng thời cũng thu hút lòng tham của người Xiêm Thế là của cải bị người Xiêm cướp sạch Hai năm bị cầm chân ở Vạn Tuế Sơn (Xiêm), nhưng sức mạnh

của vương triều Ayuthaya không đủ sức thuyết phục ông Lại trốn về Lũng Kỳ rồi ra mở

mang đất Hà Tiên Nhưng “sức mạnh người Việt qua các chí và các khí của Quốc chúa

Hà Tiên, m ột bề tôi của chúa Nguyễn”25

25

Nguyễn Hữu Hiếu (2003), Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phương Nam, NXB Trẻ thành phố Hồ Chí

Minh, tr 89

Trang 30

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HỌ MẠC ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT

TÂY NAM B Ộ THẾ KỶ XVII – XVIII 2.1 Thi ết lập nền hành chính dựa trên cơ chế tự trị để quản lý vùng đất mới

Muốn tổ chức khai hoang, mở mang đất đai hay phát triển kinh tế thì phải có một chính quyền đứng ra quản lý và tổ chức thực hiện các vấn đề này Trước khi dòng họ

Mạc Cửu đặt chân đến vùng đất Mang Khảm, nơi đây cơ bản đã có sự tồn tại của một bộ

phận dân cư sinh sống lâu đời Ở Sài Mạt, Phú Quốc, Cà Mau đã tồn tại các làng Người

Việt cùng với những Phum, sóc của người Khmer và vài thôn của người Java (Chà Và)

Sự thưa thớt của cư dân và cách thức sinh sống phân bố biệt lập theo từng vùng, khiến cho mọi hoạt động của cư dân đều hết sức tự do, không tuân theo lề lối chung nào cả Theo ghi nhận của Trương Minh Đạt: “Trước lúc Mạc Cửu thành lập 7 xã thôn, dân cư

nơi đây có đủ mọi sắc tộc, đủ hạng người ở lẻ tẻ, rải rác, chưa hề có một chính sách quy dân l ập ấp”26

Từ một vùng đất tiềm năng được thiên nhiên ưu đãi nhiều, nhưng lại thiếu hụt đi nhân tố quan trọng nhất đó là một cá nhân, tổ chức có thể đứng ra điều hành công việc

hành chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân Sự thiếu hụt này “cho thấy một

(Chân L ạp) quản lý, ngay cả trên hình thức”27 khiến nơi đây không những trở lên hoang

dã, tiêu điều mà đời sống cư dân phát triển còn không đồng đều và hết sức chậm chạp Vì

thế cho đến cuối thế kỉ XVII, về cơ bản trong quá trình phát triển tự nhiên của mình, nơi đây chưa có những nét đặc sắc riêng trong từng lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội tình

trạng vô định hướng này trở thành quy luật phát triển chung cho vùng đất này suốt một

thời gian dài

26 Trương Minh Đạt (2008), Sđd, tr 430

27Dương Tấn Phát (1986), Tìm hiểu Kiên Giang, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Kiên Giang, tr 97

Trang 31

Nhận thức được vấn đề đó, họ Mạc xin vua Chân Lạp ra làm quan ở đây với quyết tâm cải tạo và biến vùng đất này trở lên trù phú, thịnh trị Muốn phát triển bền vững và đi vào ổn định, công việc đầu tiên họ Mạc cần chính là cắt đặt một nền hành chính để quản

lý vùng đất này đưa nó đi vào quy củ Mạc Cửu khi vừa tới đây không bao lâu, đã cho lập

7 xã, thôn trên cơ sở nhóm họp số dân đã định cư ở đây để bước đầu tiến hành quản lý hành chính Bảy xã được thành lập rải rác từ biên giới Xiêm đến mũi Cà Mau, đó là Phú

Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Hương Úc, Rạch Giá, Cà Mau, Hà Tiên Thời gian mở mang 7

xã thôn là một tiến trình dài từ khi ông ra Sài Mạt và trước khi ông dâng Hà Tiên lên chúa Nguyễn

Ban đầu khi Hà Tiên chưa sát nhập vào Đàng Trong, sự quản lý của họ Mạc về hành chính cũng chưa thật chặt chẽ Những buổi ban đầu đầy dẫy những khó khăn, Mạc

Cửu trong thời gian ngắn chưa đủ điều kiện gầy dựng đủ thực lực cho mình nên ban đầu

chỉ tập trung vào công việc phát triển xung quanh lị sở Hà Tiên mà thôi, những vùng xung quanh còn chưa được quan tâm đến nên chúng chỉ phụ thuộc trên danh nghĩa Mạc

Cửu cũng chưa đặt quan chức cai trị những khu vực đã lập như: Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau,… các xã thôn ở đây vẫn duy trì hình thức tự quản Bởi ông không thu thuế, không

thực hiện chế độ binh dịch, bắt lính nên tổ chức hành chính khá giản đơn vì không có quan lại cai quản, mà trên thực tế cũng rất khó đặt quan cai trị Quan hệ duy nhất đáng nói giữa dân chúng và Mạc Cửu là mối liên hệ về lợi ích đó là kinh tế Việc lập hộ khẩu cũng chưa thể thực hiện do dân chúng thường ở không cố định một chỗ, mà họ có thói quen dời đổi tự do, sống rày đây mai đó tùy theo sở thích dựa vào nguồn lợi tự nhiên cung cấp Do đó chúng ta cũng không nên đòi hỏi quá nhiều về điều này, vì để kiến thiết

và phát triển một vùng đất còn hoang sơ thì cần phải có một quá trình dài tới hàng chục năm trời Cho nên việc lập ra nền hành chính buổi đầu này, có ý nghĩa vô cùng to lớn, bước đầu đặt hệ thống tổ chức chính quyền cho việc quản lý dân cư về sau, về khách quan lại có lợi cho những người dân lưu tán từ nơi khác đến, dần dần đưa họ ổn định

cuộc sống trên vùng đất mới dựa vào sức mạnh của tổ chức cộng đồng

Từ những mối bận tâm trên, ta thấy sự cần thiết trong việc thiết lập nền hành chính cho một vùng đất mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc củng cố một chính

Trang 32

quyền còn non trẻ như họ Mạc Những thành tựu trong việc quản lý hành chính đã tạo ra

những biến đổi và thúc đẩy cho tất cả các phương diện khác có điều kiện phát huy Điều này gây dựng những uy tín nhất định mà qua đó tạo ra ảnh hưởng sâu rộng của chính quyền đối với người dân Chỉ có sự hợp tác chặt chẽ từ hai phía mới tạo những cơ hội phát triển cho vùng đất mới Sự quan trọng trong việc thiết lập nền hành chính đó đã được biểu hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội cụ thể là:

Trước hết, họ Mạc cần một chính quyền quản lý để vận hành và định hướng cho

nền kinh tế phát triển Như chúng ta đã biết mục tiêu đó là nhằm phát triển nền kinh tế thương mại Trước khi Mạc Cửu tới đây, vùng đất này đã rất nổi tiếng với công việc mua bán nhộn nhịp với bên ngoài, thuyền bè ngoại quốc đã sớm biết tới vùng đất này những

người Hoa trong việc buôn bán, một quan thương như Mạc Cửu đã có kinh nghiệm và lăn

lộn trên chốn thương trường khắp nơi Đồng thời thế mạnh sẵn có của vùng đất ven biển

chính là cơ hội phát triển cả thương nghiệp hàng hải, lẫn thương nghiệp lục địa “nhờ ba

v ị trí đặc biệt, có thể thông thương trực tiếp và mau chóng bằng đường biển với các nước

hướng Hà Tiên tới nền kinh tế thương mại Bản thân ông muốn làm giàu thì không có gì khó khăn, nhưng để làm giàu cho cả một vùng đất còn sơ khai quả là một chuyện không

hề đơn giản chút nào, nhất là đứng trên cương vị của một vị thương nhân làm quan trấn

thủ cả một vùng đất rộng lớn

Thứ đến, vai trò của các vị quan trấn thủ vùng đất mới thường rất tất bật, công việc

của họ ngoài việc phải bảo vệ trị an trong vùng để cho người dân có sự ổn định mọi bề để yên ổn làm ăn, đồng thời phải đưa ra chính sách chiêu mộ thêm lưu dân tha hương từ bốn

phương tới khai khẩn những nơi đất hoang, rừng vắng “Công cuộc khẩn hoang lập ấp ở

Trang 33

cơ sở do lưu dân tự phát tiến hành cũng có gắn bó với những vụ hành quân để bảo vệ biên gi ới và giữ gìn an ninh trật tự” 30 Đây là công việc vô vàn khó khăn mà người khởi nghiệp trên một vùng đất mới thường hay phải đối mặt Nhưng Mạc Cửu đã làm rất tốt

việc này, ông đã cho người dân những sự hứa hẹn thực tế đầy sức thuyết phục, đảm bảo cho chính sách khuyến dân và tập trung lưu dân phát huy công cuộc khai khẩn đất đai,

mở rộng diện tích canh tác, nhằm phục vụ cho việc phát triển đi lên của nền nông nghiệp còn yếu kém của trấn Một nền kinh tế muốn bền vững phải đảm bảo nhu cầu lương thực

dồi dào cho người dân, cho nên cần phải đặt mục tiêu vào phát triển nông nghiệpvà đổi

lại nền nông nghiệp này phải phục vụ cho nền kinh tế chủ đạo mà họ Mạc hướng tới đó là thương mại

Tiếp nữa, họ Mạc muốn xây dựng một chính quyền đủ mạnh để đương đầu với các

thế lực đe dọa đến nền an ninh vùng đất này như bọn thảo khấu, cướp biển hay đặc biệt là các thế lực phong kiến bên ngoài bằng chính đội quân của mình Và “ sau mỗi lần hành

quân l ại thấy những vụ kiến trí đơn vị hành chính và xây dựng thành lũy, đồn bảo, tất cả

cho nền kinh tế mà họ Mạc xây dựng không bị phá hoại từ chiến tranh Ngay sau khi họ

Mạc thần phục Chúa Nguyễn, Hà Tiên được sát nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, mặc dù được chúa Nguyễn bảo trợ nhưng họ Mạc vẫn tiếp tục phát triển lực lượng tự thân mình

nhằm phòng thủ và bảo vệ vùng đất của mình trước những cuộc công kích từ chính chủ nhân cũ của vùng đất này là Chân Lạp hay kẻ thù hùng mạnh từ phía tây là phong kiến Xiêm La

Cuối cùng là nhằm duy trì và ổn định trật tự xã hội, khi chính quyền ổn định, người dân chăm lo làm ăn, khi đó các vấn đề văn hóa, giáo dục, phong tục, tín ngưỡng

mới có điều kiện phổ biến đến toàn dân Ở đây một nền “văn hóa Hà Tiên” mang thương

hiệu họ Mạc trong buổi đầu sơ khai trên mảnh đất mới Tây Nam Bộ đã được tạo dựng:

Trang 34

như Tam Bảo, Phù Dung lại còn có miếu thờ Khổng Tử, nơi tế Thần Nông… Đặc biệt là

chỉ chú trọng ở kinh tế phát triển, thiên nhiên hiểm trở, được bố phòng cẩn mật, có tổ

chức quy củ, có lẽ họ Mạc chưa thể lấy làm hãnh diện lắm vì như vậy Hà Tiên sẽ như

một biên thùy xa xăm không ai muốn đến và người cai quản chẳng khác nào một vị tướng quân bị lưu đày “Hà Tiên trái lại, dưới mắt Mạc Thiên Tích không hoang vắng tiêu sơ,

Mạc Thiên Tích sáng tác lên Hà Tiên Thập Vịnh và gây dựng nền văn học Chiêu Anh Các nổi tiếng cho vùng đất Nam Bộ Ngoài nền văn hóa bác học từ giới thượng lưu thì

nền văn hóa dân gian ở địa phương cũng có điều kiện mở mang và phát triển, nhất là ở

một vùng đất đa sắc tộc vừa có văn hóa Hán, văn hóa Việt và văn hóa Khmer cùng tồn

tại

Cũng cần lưu ý rằng các vấn đề đặt ra này không phải Mạc Cửu đã ý thức ngay từ đầu, mà nó phải trải qua một thời gian dài cai trị và có sự tiếp nối giữa Mạc Cửu và con ông là Mạc Thiên Tích mới được định hình cụ thể Chẳng hạn như việc củng cố quốc phòng, ngay từ đầu Mạc Cửu chỉ lo phát triển kinh tế và không chú trọng lắm đến vấn đề này Sau mấy phen Hà Tiên bị xâm lược, ông nhận nhiều bài học cay đắng từ kẻ thù, khiến cho cho địa vị cũng như công sức của ông ít nhiều bị lung lay, cho nên ông bắt đầu quan tâm tới củng cố thực lực quân sự: “Mạc Cửu xây đồn đắp lũy, tổ chức quân sự

chính tr ị; dân chúng kéo đến tấp nập xin cư ngụ Việc mua bán được phồn thịnh”34 Nhờ

đó sau này Hà Tiên ngoài một nền kinh tế phát triển, lại có thành trì vững mạnh, pháo đài kiên cố và đội thủy binh hùng mạnh, thống trị ven vịnh Thái Lan khiến cho bao kẻ thù

phải khiếp hãi

Tóm lại từ những thôn ban đầu tiên định cư ven biển thế kỷ XVIII, hai cha con họ

Mạc đã tìm cách phát triển trấn Hà Tiên mạnh mẽ nhanh chóng cả về diện tích và dân số Đầu thế kỷ XIX Hà Tiên có 103 thôn xã địa bàn cư trú của cư dân cũng được mở rộng

32 Hu ỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, tr 50

Trang 35

sang đến tận sông Hậu các điểm tập trung dân cư trước dây đã phát triển thành những trung tâm phồn thịnh như Kiên Giang, Cà Mau, từ một tỉnh lị phát triển thêm 4 đạo: Trấn Giang, Trấn Di, Kiên Giang, Long Xuyên tất cả đều đặt quan cai trị từ những kết quả đó

đã đủ điều kiện cần thiết đảm bảo Hà Tiên phát triển dưới sự quản lý của họ Mạc Đồng

thời thúc đẩy quá trình tiến xuống Đồng bằng sông Cửu Long của người Việt vào cuối

thế kỷ XVIII cách nhanh chóng hiệu quả hơn

Trước khi đi vào tìm hiểu cơ chế “tự trị” mà họ Mạc thiết lập trên vùng đất Hà Tiên, thiết nghĩ ta cũng nên tìm hiểu cách thức tổ chức bộ máy hành chính ở đây trong giai đoạn này

Phân biệt cách thức tổ chức hành chính ở Hà Tiên với các nơi khác trong lãnh thổ Đàng Trong ta có thể thấy trong giai đoạn này cơ cấu hành chính Đàng Trong có nhiều điểm khác biệt so với Hà Tiên

Việc khác biệt này đến từ những cải cách hoàn chỉnh trong tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương của các chúa Nguyễn Trong quá trình cai trị, các chúa Nguyễn đã trải qua hai lần sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hành chính và giai đoạn hoàn

bị nhất là vào giai đoạn khi chúa Nguyễn xưng vương từ năm 1744 trở đi Cùng với việc xưng vương, chúa Nguyễn đã bắt đầu định lại lễ nghi, phẩm phục và củng cố bộ máy chính quyền

Võ vương Nguyễn Phúc Khoát chia Nam Hà thành 12 dinh và 1 trấn Đơn vị hành chính cấp cao nhất được gọi là Dinh được giữ nguyên, Dinh lại chia ra nhiều Phủ, Phủ lãnh nhiều Huyện, huyện gồm nhiều Tổng, tổng gồm nhiều Xã; ở những nơi rừng núi, ven sông, ven biển thì đặt thành Thuộc, cho các Phường, Thôn, Nậu lẻ tẻ Đứng đầu Dinh, chúa Nguyễn cho đặt chức Lưu Thủ quản lý chung, nắm quyền chỉ huy quân đội; dưới Lưu Thủ là viên Ký Lục đứng đầu Ty Xá sai coi việc văn án từ tụng; và viên Cai Bạ đứng đầy ty Tướng thần coi việc thu thuế, phát lương, phát tiền cho quan lại và binh lính

Trong khi ấy ở Hà Tiên, chúa Nguyễn không đặt là Dinh mà đặt nơi này làm Trấn Nguyên nhân vì sao gọi là Trấn thì có lẽ nó ám chỉ rằng đây là nơi biên ải tổ quốc, là nơi

Trang 36

hiểm yếu, cửa gõ của đất nước, phù hợp với bộ máy chính quyền Trung ương mang nặng tính quân sự như Đàng Trong

Ngay từ buổi đầu sau khi tháp nhập, Hà Tiên trở thành một trấn, Mạc Cửu được phong chức Tổng Binh và tiến hành cai quản vùng đất này Khi ấy toàn thể lãnh thổ Đàng Trong mới chỉ có 11 dinh giờ đã có thêm 1 trấn mới Đến năm 1733 chúa Nguyễn Phúc Trú mới lập thêm dinh Long Hồ Khi Mạc Cửu mất (1735), con là Mạc Sĩ Lân (Mạc Thiên Tích) thay cha quản lý, được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú phong làm Đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh Trấn Hà Tiên lúc này trực thuộc Long Hồ dinh Đến năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát sắp đặt lại việc cai trị mới chia thành 12 dinh và 1

trấn Chúa đem dinh Long Hồ dời từ xứ Cái Bè đến xứ Tầm Bào và đặt thêm ba đạo thuộc dinh Long Hồ: Đông Khẩu ở Sa Đéc, Tân Châu ở Tiền Giang và Châu Đốc ở Hậu Giang, do quan Trấn thủ Nguyễn Cư Trinh cai quản Một người có quan hệ khá đặc biệt

với Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên

Dưới đơn vị Trấn không phải là Phủ, Huyện mà là Đạo Đạo là khu vực quân sự và hành chính của 1 vùng, có đồn trại để cai trị và chỉ được lập ra từ thời Mạc Thiên Tích

Trấn Hà Tiên lúc này trưởng quản bốn đạo: đạo Kiên Giang ở Rạch Giá, đạo Long Xuyên

ở Cà Mau, đạo Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di ở Bãi Xàu (Bắc Bạc Liêu)

Dưới đạo là các xã, thôn, xóm, phố, sở, nậu, thuộc, sóc Xã, thôn thuộc Đạo nào thì đạo đó quản lý, riêng những làng xã ở xung quanh Hà Tiên và Phú Quốc thì Trực thuộc Trấn

Các đơn vị hành chính nhỏ nhất này được gọi theo tên tùy vào đặc điểm của cư dân sinh sống nơi đây Vùng người Việt ở thì gọi, xã, thôn, thuộc Họ tập trung chủ yếu ở vùng Rạch Giá và Cà Mau Với người Hoa thì hễ nơi nào có mặt họ thì nơi đó đều có một vùng gọi là Phố, Nậu, Sở, Điếm có thể kể đến ngoài Hà Tiên đại phố thì ở Gia Định còn

có Cù Lao phố (Biên Hòa), Mỹ Tho đại phố Ta biết rằng ở Trung Quốc chỉ có lý chứ không có xã, và cách tổ chức khác xa với xã thôn người Việt Khi Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập cơ sở hành chính thì cũng đặt cộng đồng người Hoa vào bối cảnh khuân khổ xã thôn của nước ta: “Con cháu người Tàu ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi

Trang 37

Phiên Tr ấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch”35 Như thế người Hoa được ghép vào xã, rồi sống theo pháp chế của chính quyền nước ta, các làng Thanh Hà, Minh Hương vì thế được hình thành Và những làng Minh Hương này được hình thành

do người Hoa đến đây ngày càng nhiều, nhất là khi Hà Tiên có người Hoa như họ Mạc đứng ra quản lý Ở vùng Hà Sơn sát trấn lị Hà Tiên có rất nhiều phố, sở của người Tàu

Với người Khmer thì gọi là Phum, Sóc Và nếu như ở Campuchia, Phum, Sóc là đơn vị hành chính, thì ở Nam Bộ, chúng chỉ tồn tại như các công xã nông thôn Những người đứng đầu Phum, Sóc đều do chính nhân dân trong Phum, Sóc lựa chọn Mọi việc Phum, Sóc đều tự lo liệu lấy Ở đây không hề có quan Ốc Nha (Oknha), một lãnh chúa địa phương, quan cai quản như ở Cao Miên Khi sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt, người Khmer vẫn giữ những tập quán của mình, nhưng hiển nhiên có sự khác biệt với người Khmer ở trên đất Chân Lạp Và vì đây là đất cũ của Chân Lạp nên các sóc Cao Miên được lập ra tương đối nhiều, tập trung ở vùng Trà Vinh, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng Theo thống kê thì ở các vùng Kiên Lương, Hòn Đất có khoảng 26 sóc Cao Miên

Đội là đơn vị tổ chức của người Chà Và Họ sống ở phía Bắc Trấn Trịnh Hoài

Đức miêu tả nơi núi Tô Châu ở bờ đông của sông, là cái gò chầu về trấn, chập chùng cây

đẹp, cây cối rờm rà, lạc thôn Chà Và phía Bắc36

Về hệ thống quan lại thì đứng đầu Trấn là chức Đô Đốc, nắm quyền Tổng binh; dưới Tổng trấn là quan Hiệp trấn; dưới Hiệp trấn là viên Cai Bạ coi việc văn án từ tụng;

một viên Tri bộ coi việc thu thuế của trấn; cùng các chức Tham tướng, Cai đội chỉ huy các đạo quân của trấn

Nhìn chung các chức quan đứng đầu trấn Hà Tiên do những người trong dòng họ

Mạc nắm giữ cả Mạc Cửu khi mất được truy phong là “Khai Trấn Thượng Trụ Quốc Đại

Tướng Quân Vũ Nghị Công” và họ Mạc được đời đời nối chức Tổng binh Đại Đô đốc

Điều này thể hiện mối quan hệ khá đặc biệt giữa Đàng Trong và vùng đất Hà Tiên Bởi vì

Trang 38

vùng đất này không phải do triều đình khai phá lập ra, mà là đất do Mạc Cửu tự nguyện dâng lên triều đình với ý định thần phục và chấp nhận sự che chở Mối quan hệ này khá

giống mối quan hệ thần thuộc của tiểu quốc, chư hầu với nước lớn hơn Chính vì lẽ đó các chúa Nguyễn cũng sẵn sàng bảo trợ Mạc Cửu để cho ông yên tâm cai quản vùng đất này Cho nên Hà Tiên mới có quyền tự trị so với các vùng khác ở Gia Định Sau khi Mạc

Cửu mất, giữa Mạc Thiên Tích và triều đình lại càng có sự gắn kết với nhau chặt chẽ hơn,

chức Hiệp trấn nói trên là sau này triều đình mới đặt ở Hà Tiên bên cạnh chức Tổng trấn

của Mạc Thiên Tích Nhưng dẫu vậy, các quan đứng đầu Hà Tiên đều do dòng họ Mạc đảm nhiệm mà không có quan viên triều đình nào cả, hơn nữa các sự vụ trong Trấn họ

Mạc vẫn toàn quyền quyết định không cần hỏi ý kiến của trung ương

Xem xét về Cơ chế tự trị hoặc bán tự trị 37 ở Hà Tiên Tựu chung ta thấy họ Mạc

có những đặc quyền sau:

+ Có quy ền xây dựng quân đội riêng Quân đội ở đây là quân của họ Mạc tự lập,

gồm các thân binh và quân ở các địa phương Việc trả lương hay tuyển mộ đều do họ

Mạc phụ trách, chúa Nguyễn có thể ra lệnh cho họ Mạc nhưng không có nghĩa là có thể

tự ý điều động quân đội của ông ta

+ Có quy ền xây dựng phố xá; xây đắp thành trì;

+ Thu hút cư dân đến khai hoang, lập ấp;

+ Có quy ền thu thuế; hàng hóa ra vào cảng họ Mạc được phép thu thuế cho công

cuộc chi dùng trong Trấn không phải nộp lên trên triều đình

mở cục đúc tiền để thông thương với nước ngoài

+ Th ực hiện chế độ tiến cống Chúa Nguyễn cấp cho Mạc Thiên Tích ba chiếc

thuyền môn bài được miễn thuế để thông thương Ngược lại cứ ba năm một lần họ Mạc

tiến cống lên chúa toàn những sản vật quý hiếm của địa phương Việc này xảy ra vào khoảng đầu những năm 40, 50 của thế kỷ XVIII: “Công tự nghĩ rằng: Thiên triều có dân

đông, vạn vật đều phong phú mặt lại thường được mưa thuận gió hòa nên được cường

37Dương Văn Huy, Chính sách của chinh quyền Đàng Trong Việt Nam đối với người Hoa thế kỷ XVI – XVIII, NC

ĐNÁ, số 2 – 2008, tr 52

Trang 39

th ịnh hơn, nay khắp thiên hạ đều là con dân của thiên triều, nếu mình không biết ơn huệ

c ủa triều đình mà tự ý chuyển hưởng lợi lộc là trái với đại đạo của kẻ bề tôi thờ thiên tử Nghĩ vậy, Công dâng biểu, tự trình bày thể lệ rằng sẽ xin phụng nạp đầy đủ lễ vật triều

Do đó, ta thấy chế độ cống

nạp ở đây cũng là trên cơ sở tự nguyện và lòng trung của họ Mạc

như triều đình Chân Lạp, Xiêm La, hay dùng đặc quyền này để mở rộng quan hệ thương

mại với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ hoặc các nước phương Tây

Chính những đặc quyền tương đối lớn này được chúa Nguyễn ban cho, đã không ít

ý kiến cho rằng Hà Tiên chính là một “tiểu quốc” thu nhỏ của Đàng Trong hay là một

quốc gia tự trị của họ Mạc

Một số tài liệu như Thanh Văn hiến Thông khảo cho rằng “Cảng Khẩu (Hà Tiên)

và họ Mạc là quốc vương ở đó Hoặc các thương nhân, nhà hàng hải nước ngoài đến đây ghi chép thường ngộ nhận theo cách gọi của người Trung Quốc đến đây buôn bán là Kangkou (Cảng Khẩu Quốc) dẫn tới hiểu nhầm đây là một đất nước lệ thuộc với Đàng Trong Số khác như Emile Gaspardone đã viết

rằng: “Hà Tiên được coi là một phần lãnh thổ của chúa Nguyễn nhưng mối liên hệ giữa

Theo như Emile Gaspardone nói thì ta thấy có người coi Hà Tiên là một tiểu quốc phụ

Nhà nghiên cứu Trần Kinh Hòa khi so sánh chính sách của chúa Nguyễn đối với

họ Mạc ở Hà Tiên với Mỹ Tho, Đồng Nai cũng nói rằng : “Ở đây, chúng ta được thấy

38Vũ Thế Dinh, Hà Tiên Trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả, bản dịch của Nguyễn Khắc Thuần, SĐD, tr 24.

39Đặng Hoàng Giang, Quan hệ Hà Tiên – Thuận Hóa thời kỳ khai thiết đồng bằng miền Tây (từ đầu đến nửa sau thế

k ỉ XVIII), Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, 6 – 2010, tr 74

40Thanh văn hiến thông khảo, dẫn theo Dương Tấn Phát (1986), Tìm hiểu Kiên Giang, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng

t ỉnh Kiên Giang xuất bản, tr 101

41 Emile Gaspardone, SĐD, tr 363

Trang 40

làm T ổng binh và Đô đốc của chúa Nguyễn, không bao giờ lập một chính quyền tự chủ,

Tác giả đã cho rằng về phương diện chính trị, họ Mạc ở Hà Tiên lúc nào cũng giữ được thực quyền của một tiểu bang - một chính quyền tự

chủ và hoàn toàn do họ Mạc Cửu tự cai trị và quản lý lấy, thậm chí đã từng đóng vai trò

“nước hoãn xung” giữa ba nước Việt Nam - Xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn, Xiêm La

và Chân Lạp43

Điều nay xem ra có lý vì chúa Nguyễn đã ban rất nhiều đặc ân cho Hà Tiên và

thực tế quyền tự trị của họ Mạc ở đây là không phải bàn cãi Hà Tiên là cơ sở đầu tiên

của nhà nước được cử thuyền đi buôn bán ở nước ngoài và là nơi xa nhất của triều đình chúa Nguyễn được nhận nhiệm vụ đúc tiền để lưu hành Những sự ưu ái ấy là cơ sở rất quan trọng để Hà Tiên phát triển và nó cũng cho thấy sự sáng suốt của chúa Nguyễn trong việc nhận thức vị trí của Hà Tiên khi trao cho họ Mạc những quyền tự trị rất lớn

Tuy nhiên, sự tự trị của họ Mạc ở đây không thể đánh đồng nó với một “quốc gia” được Sự biệt đãi của các Chúa Nguyễn giành cho họ Mạc so với các vùng đất khác của triều đình tuy khác nhau, nhưng điều này chỉ là thể hiện sự ưu đãi với công lao to lớn mà

họ Mạc đã mang lại cho triều đình mà thôi Triều đình luôn tỏ thái độ quan tâm và trọng

dụng đối với họ Mạc thể hiện qua mỗi lần khi Hà Tiên xảy ra biến cố Sau này vua Gia

Long cũng nói với quần thần và con cháu của họ Mạc rằng: “Hà Tiên vốn là bờ cõi của

c ấp cho chư hầu), không thể viện làm thế nghiệp được”44

Mặc dù điều này có phần chưa chuẩn xác nhưng đã nói lên mối quan hệ giữa chính quyền cũ (Chúa Nguyễn) và họ Mạc không phải là mối quan hệ đặc thù giữa “tiểu bang”

42 Trần Kinh Hòa (1958), Họ Mạc và chúa Nguyễn ở Hà Tiên, Văn hóa Á Châu, số 7, tr 34

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Long (2002), Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 - 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 -2000)
Tác giả: Ban tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Long
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Bùi Công Ba, Những đồng tiền cổ của dòng họ Mạc ở Hà Tiên, Báo Văn hóa, 20 – 27/6/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đồng tiền cổ của dòng họ Mạc ở Hà Tiên
3. Bùi Duy Tân (1999), Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (tập 1), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Bùi Duy Tân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
4. Cao Tự Thanh, Hà Tiên quá khứ & tương lai, Tạp chí Xưa & Nay, số 226, 12 -2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Tiên quá khứ & tương lai
5. Doãn Hùng (2010), Phát triển xã hội và quản lý xã hội vùng Tây Nam Bộ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển xã hội và quản lý xã hội vùng Tây Nam Bộ: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Doãn Hùng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
6. Dương Tấn Phát (chủ biên) (1986), Tìm hiểu Kiên Giang, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh KiênGiang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Kiên Giang
Tác giả: Dương Tấn Phát (chủ biên)
Năm: 1986
7. Dương Văn Huy, Chính sách của chính quyền Đàng Trong Việt Nam đối với người Hoa thế kỷ XVI – XVIII, NC ĐNÁ, số 2 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của chính quyền Đàng Trong Việt Nam đối với người Hoa thế kỷ XVI – XVIII
8. Đỗ Bang, Những chiến công chống ngoại xâm vùng biển dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Tạp chí Huế Xưa và nay, số57/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chiến công chống ngoại xâm vùng biển dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong
9. Đặng Hoàng Giang, Theo dấu đô thị cổ Hà Tiên , Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 10 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dấu đô thị cổ Hà Tiên
10. Đặng Hoàng Giang, Quan hệ Hà Tiên – Thuận Hóa thời kỳ khai thiết đồng bằng miền Tây (từ đầu đến nửa sau thế kỉ XVIII), Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 6 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Hà Tiên – Thuận Hóa thời kỳ khai thiết đồng bằng miền Tây (từ đầu đến nửa sau thế kỉ XVIII)
11. Đông Hồ, Hà Tiên Mạc thị sử , Báo Nam Phong 1929 , số 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Tiên Mạc thị sử
12. Đông Hồ (1970), Văn học Hà Tiên, NXB. Văn Nghệ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Hà Tiên
Tác giả: Đông Hồ
Nhà XB: NXB. Văn Nghệ
Năm: 1970
13. Hà Văn Thùy (2003), Trấn Hà Tiên và Tao đàn Chiêu Anh Các, Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trấn Hà Tiên và Tao đàn Chiêu Anh Các
Tác giả: Hà Văn Thùy
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2003
14. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ , Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
15. Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2011), Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX, NXB thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX
Tác giả: Hội khoa học lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB thế giới
Năm: 2011
16. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1987
17. Huỳnh Lứa (2001), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
19. Huỳnh Minh (2002), Cần Thơ xưa và nay , NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần Thơ xưa và nay
Tác giả: Huỳnh Minh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2002
20. Huỳnh Minh, Nghê Văn Lương (2003), Cà Mau xưa , Thanh niên, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cà Mau xưa
Tác giả: Huỳnh Minh, Nghê Văn Lương
Năm: 2003
21. Kỷ yếu hội thảo khoa học, Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm