Trạng thái cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam giai đoạn 2010 2013 . Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh. Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh và càng sâu. Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương. Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam Nhật Bản, còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn WTO Plus, nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch vụ), đầu tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn kiện có hiệu lực đang áp dụng của WTO. Ngay sau khi gia nhập WTO vào cuối năm 2007 chúng ta đã phải đón nhận những hệ lụy gián tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 20072010. Cuộc khủng hoảng đã làm cho nền kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đi vào suy thoái, sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nguyên nhân trực tiếp là sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cán cân thanh toán quốc tế. Vậy sau cuộc khủng hoảng lớn ấy nước ta đã làm gì, có những sách lược như thế nào để khôi phục và bình ổn cán cân thanh toán quốc. Để có những cái nhìn chân thật nhất được nội dung trên chúng em xin được trình bày thông qua chủ đề trạng thái cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam 20102013. A. TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế: Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có. Vậy ta có thể hiểu rằng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam là môt tài liệu thống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầu phân tích những quan hệ kinh tế tài chính của Việt Nam với nước ngoài trong một thời gian xác định. Ngoài ra cán cân thanh toán quốc tế thì phải luôn trong trạng thái cân bằng dù cho các khoản mục của cán cân thanh toán quốc tế có sự thâm hụt hoặc thặng dư. 2. Cấu trúc của cán cân thanh toán quốc tế: 2.1 Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia.tài khoản vãng lai bao gồm: Cán cân mậu dịch: đo lường giá trị giao dich của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Cán cân dịch vụ: đo lường các giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ giữa các nước ( dịch vụ du lịch, y tế, hàng không…) Cán cân thu nhập: Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền, hiện vật người lao động nước ngoài chuyển về nước. Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đàu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và người không cư trú. Chuyển giao vãng lai: ghi nhận các khoản thanh toán phát sinh liên quan đến việc thay đổi quyền sở hữu một loại tài sản nào đó, tài sản thự hoặc tài sản tài chính. Bất kỳ các giao dịch nào có tính một chiều từ một quốc gia này với một quốc gia khác (Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật…) đề được phản ánh lên tài khoản vãng lai. 2.2 Tài khoản vốn – Tài khoản tài chính: Tài khoản vốntài chính đo lường tất cả các giao dịch kinh tế quốc tế liên quan đến tài sản tài chính. 2.2.1 Tài khoản vốn: Ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Thực tê cho thấy giá trị những giao dịch loại này chiếm một tỷ trọng nhỏ so với những phần còn lại của cán cân thanh toán. 2.2.2 Tài khoản tài chính: • Đầu tư trục tiếp ra nước ngoài (FDI): là hình thức mà nhà đầu tư nắm toàn bộ quyền kiểm soát tài sản hay hoạt động đầu tư • Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI): là hình thức nhà đầu từ không nắm quyền kiểm soát toàn bộ tài sản • Đầu tư khác 2.3 Sai số thống kê: Sai số thống kê phản ánh những sai sót trong tính toán và trong giao dịch vì trên thực tế các tài khoản thường không cân bằng do các dữ liệu lấy từ các nguồn khác nhau hay một số hạng mục hạch toán không đầy đủ. 2.4 Dự trữ ngoại hối: Tài khoản dự trữ ngoại hối đo lường toàn bộ khối lượng dự trữ chính thức của một quốc gia do ngân hàng TW nắm giữ. B. TRẠNG THÁI CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 20102013 1. Tài khoản vãng lai: Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai Ảnh hưởng của lạm phát: Khi lạm phát tăng dẫn dến mua hàng nước ngoài tăng, xuất khẩu sang nước khác giảm khiến cho cán cân tài khoản vãng lai giảm. Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng so với các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch thì tài khoản vãng lai của các quốc gia này sẽ giảm nếu các yếu tố bằng nhau. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái: • Tỉ giá hối đoái: Thâm hụt thương mại được xem xét trong mối quan hệ với tỷ giá hối đoái cho nên việc nâng giá hoặc giảm giá đồng tiền sẽ góp phần cải thiện cán cân thương mại. Từ cách tiếp cận trên có thể cho thấy thâm hụt thương mại có nguyên nhân trưc tiếp ở việc định giá cao đồng tiền trong nước. Việc thâm hụt sẽ càng tang khi đồng tiền trong nước lên giá mạnh. Đồng thời ở khía cạnh ngược lại, tình trạng thâm hụt càng lớn khả năng giảm giá đồng tiền càng cao mà mức độ lớn hơn là đồng tiền trong nước có thể bị phá giá để bảo đảm cán cân thương mại được cải thiện hay để lấy lại điểm cân bằng mới. Đây là biên pháp mà nhiều quốc gia đã từng áp dụng. Năm 1986, đồng Yên buộc phải nâng giá so với ngoại tệ khác đã làm cho hàng hóa Nhật Bản trở nên kém tính cạnh tranh hơn so với các hàng hóa nước khác. Cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ châu Á năm 1997 đã gây ra tình trạng phá giá hàng loạt đồng tiền, sau đó 11.5 năm, cán cân thương mại các nước đã được cải thiện đáng kể. Từ góc nhìn tỷ giá và thâm hụt thương mại, biên pháp phá giá đồng tiền được coi là giải pháp thường được lựa chọn hơn cả. Song trong điều kiện hiện tại, việc phá giá đồng tiền chịu tác động của nhiều loại ràng buộc khác nhau như khả năng trả đũa của các đối tác thương mại, năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu chưa hẳn đã được cải thiện đáng kể nhờ phá giá, các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau về thương mại và đầu tư và những mặt trái của hoạt động phá giá đối với nền kinh tế trong nước như việc tăng giá của các hàng hóa nhập khẩu gây ra lạm phát nhập khẩu… Đối với Việt Nam, việc phá giá đồng tiền chưa phải là sự lựa chọn tối ưu trong điều kiện hiện tại đặ biệt về khả năng kiểm soát tình hình giao dịch thương mại và đầu tư quốc tế sau khi ph
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh và càng sâu Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư,
40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc Đỉnh cao
về hợp tác kinh tế song phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản , còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn "WTO Plus", nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch vụ), đầu tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức
độ quy định trong các văn kiện có hiệu lực đang áp dụng của WTO.
Ngay sau khi gia nhập WTO vào cuối năm 2007 chúng ta đã phải đón nhận những hệ lụy gián tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2010 Cuộc khủng hoảng đã làm cho nền kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đi vào suy thoái, sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Nguyên nhân trực tiếp là sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cán cân thanh toán quốc tế Vậy sau cuộc khủng hoảng lớn ấy nước ta đã làm gì, có những sách lược như thế nào để khôi phục và bình ổn cán cân thanh toán quốc Để có những cái nhìn chân thật nhất được nội dung trên chúng em xin được trình bày thông qua chủ đề trạng thái cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam 2010-2013.
Trang 2A TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế:
Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịchkinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định.Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trútrong nước hay chính phủ của quốc gia đó Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hànghóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản Thời kỳ xem xét
có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm Những giao dịch đòi hỏi sựthanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vàobên tài sản nợ Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nướccho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có
Vậy ta có thể hiểu rằng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam là môt tài liệuthống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầuphân tích những quan hệ kinh tế tài chính của Việt Nam với nước ngoài trong một thờigian xác định
Ngoài ra cán cân thanh toán quốc tế thì phải luôn trong trạng thái cân bằng dùcho các khoản mục của cán cân thanh toán quốc tế có sự thâm hụt hoặc thặng dư
2 Cấu trúc của cán cân thanh toán quốc tế:
2.1 Tài kho n vãng lai: ả
Tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa vàdịch vụ của một quốc gia.tài khoản vãng lai bao gồm:
Cán cân mậu dịch: đo lường giá trị giao dich của hoạt động xuất nhập khẩu hàng
Trang 3Chuyển giao vãng lai: ghi nhận các khoản thanh toán phát sinh liên quan đến
việc thay đổi quyền sở hữu một loại tài sản nào đó, tài sản thự hoặc tài sản tài chính.Bất kỳ các giao dịch nào có tính một chiều từ một quốc gia này với một quốc gia khác (Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyểngiao khác bằng tiền, hiện vật…) đề được phản ánh lên tài khoản vãng lai
2.2 Tài kho n v n – Tài kho n tài chính: ả ố ả
Tài khoản vốn/tài chính đo lường tất cả các giao dịch kinh tế quốc tế liên quanđến tài sản tài chính
2.2.1 Tài kho n v n: ả ố
Ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản haytài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước vớingười cư trú ở quốc gia khác Thực tê cho thấy giá trị những giao dịch loại này chiếmmột tỷ trọng nhỏ so với những phần còn lại của cán cân thanh toán
2.2.2 Tài kho n tài chính: ả
Đầu tư trục tiếp ra nước ngoài (FDI): là hình thức mà nhà đầu tư nắm toàn bộquyền kiểm soát tài sản hay hoạt động đầu tư
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI): là hình thức nhà đầu từ không nắm quyền kiểmsoát toàn bộ tài sản
Đầu tư khác
2.3 Sai s th ng kê: ố ố
Sai số thống kê phản ánh những sai sót trong tính toán và trong giao dịch vì trênthực tế các tài khoản thường không cân bằng do các dữ liệu lấy từ các nguồn khácnhau hay một số hạng mục hạch toán không đầy đủ
2.4 D tr ngo i h i: ự ữ ạ ố
Tài khoản dự trữ ngoại hối đo lường toàn bộ khối lượng dự trữ chính thức củamột quốc gia do ngân hàng TW nắm giữ
Trang 4B TRẠNG THÁI CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 2010-2013
1 Tài khoản vãng lai:
Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai
- Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái:
Tỉ giá hối đoái:
Thâm hụt thương mại được xem xét trong mối quan hệ với tỷ giá hối đoái chonên việc nâng giá hoặc giảm giá đồng tiền sẽ góp phần cải thiện cán cân thương mại
Từ cách tiếp cận trên có thể cho thấy thâm hụt thương mại có nguyên nhân trưc tiếp ởviệc định giá cao đồng tiền trong nước Việc thâm hụt sẽ càng tang khi đồng tiền trongnước lên giá mạnh
Đồng thời ở khía cạnh ngược lại, tình trạng thâm hụt càng lớn khả năng giảm giáđồng tiền càng cao mà mức độ lớn hơn là đồng tiền trong nước có thể bị phá giá đểbảo đảm cán cân thương mại được cải thiện hay để lấy lại điểm cân bằng mới Đây làbiên pháp mà nhiều quốc gia đã từng áp dụng Năm 1986, đồng Yên buộc phải nânggiá so với ngoại tệ khác đã làm cho hàng hóa Nhật Bản trở nên kém tính cạnh tranhhơn so với các hàng hóa nước khác Cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ châu Á năm
1997 đã gây ra tình trạng phá giá hàng loạt đồng tiền, sau đó 1-1.5 năm, cán cân
Phá giá đồng tiền trong nướcgóp phần giảm thâm hụt thương mại
Trang 5thương mại các nước đã được cải thiện đáng kể Từ góc nhìn tỷ giá và thâm hụtthương mại, biên pháp phá giá đồng tiền được coi là giải pháp thường được lựa chọnhơn cả Song trong điều kiện hiện tại, việc phá giá đồng tiền chịu tác động của nhiềuloại ràng buộc khác nhau như khả năng trả đũa của các đối tác thương mại, năng lựccạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu chưa hẳn đã được cải thiện đáng kể nhờ phá giá,các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau về thương mại và đầu tư và những mặt trái củahoạt động phá giá đối với nền kinh tế trong nước như việc tăng giá của các hàng hóanhập khẩu gây ra lạm phát nhập khẩu…
Đối với Việt Nam, việc phá giá đồng tiền chưa phải là sự lựa chọn tối ưu trongđiều kiện hiện tại đặ biệt về khả năng kiểm soát tình hình giao dịch thương mại và đầu
tư quốc tế sau khi phá giá của Việt Nam còn rất hạn chế, các công cụ điều chỉnh tỷ giáchưa được thực tế khẳng định độ tin cậy và các giao dịch ngầm trong nền kinh tế cònrất lớn, tình trạng đô-la hóa còn nặng và khả năng kiểm soát khu vực tư nhân còn chưacao…
- Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân: Khi GDP tăng chúng ta sẽ có xu hướngnhập khẩu nhiều hơn Điều này ảnh hưởng mạnh mẽ đến cán cân thươngmại.Việc cắt giảm chi tiêu chính phủ và cắt giảm chi tiêu tư nhân là biện pháp
có tác động tới việc cải thiên cán cân thương mại Các khoản chi tiêu lớn chưathật cần thiết có thể điều chỉnh lại tiến độ giải ngân, hạn chế việc nhập khẩuhàng hóa tiêu dùng tư nhân xa xỉ…bằng các biện pháp tăng thuế hoặc hạn chếđịnh lượng song phải tuân thủ các quy định của WTO
Việc giải quyết cấn đề thâm hụt cán cân thương mại không đơn thuần chỉ giảiquyết bằng một biện pháp mà cần thực hiện trong một hệ thống các giải pháp đồng bộ
Trang 61.1 Cán cân thương mại:
Biểu đồ 1.Tổng giá trị hàng hóa xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại trong giai đoạn 2010-2013 (Triệu USD)
)
Năm 2010
Nhìn lại năm 2010 ta nhận thấy sự phục hồi của kinh tế thế giới đặc biệt là các thịtrường truyền thống, nhu cầu thế giới tăng trở lại tạo điều kiện tốt hơn cho hàng hóaxuất khẩu Việt Nam.Việt Nam đang trở thành một trong những quốc gia có độ mở lớnvới tỷ lệ tổng trị giá xuất nhập khẩu/GDP cao, đổi lại nền kinh tế Việt nam đang phảiđối mặt với bài toán về thâm hụt, đặt biệt vào năm 2010 Cán cân thương mại nước tathâm hụt khoảng 12,6 tỷ USD
Xuất khẩu :
Quy mô xuất khẩu năm 2010 đạt 72,23 tỷ USD, tăng 25.5% so với năm 2009 vàtăng 18% so với kế hoạch ( kế hoạch là 60.54 tỷ USD) Trong đó khu vực doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng xuấtkhẩu chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, kim ngạch của khu vực có vốn đầu tư nước ngoàiđạt 38.8 tỷ USD, chiếm 54% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.khu vực doanh nghiệp100% vốn trong nước đạt 32.8% tỷ USD chiếm 46% tăng 22,7% so với năm 2008
Về nhóm hàng xuất khẩu:
Trang 7Hình 1.Biểu đồ tỉ lệ các nhóm hàng xuất khẩu năm 2010
Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt 15,1 tỷ USD, chiếm 21% trong tổng
KNXK, tăng 22,9% so với cùng kỳ Xuất khẩu thuỷ sản mặc dù gặp nhiều khókhăn do rào cản thương mại từ các nước nhập khẩu, nhưng cũng tăng trưởng cao16,5% Tính chung nhóm hàng này tăng khoảng 2,8 tỷ USD so với năm 2009
Nhóm khoáng sản ước đạt 7,9 tỷ USD, chiếm 11,1% trong tổng KNXK Trong
nhóm này, lượng xuất khẩu của tất cả mặt hàng đều giảm lớn, tuy nhiên do đượclợi về giá xuất khẩu, nên tổng giá trị XK của nhóm chỉ giảm khoảng 8,4%.Tínhchung xuất khẩu nhóm khoáng sản giảm 731 triệu USD so với năm 2009
Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 38,5 tỷ USD, chiếm 53,8% trong tổng
KNXK, tăng 30% so với năm 2009 Đây là nhóm hàng tăng trưởng cao nhất và
là nhóm hàng chủ lực trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.Tính chungxuất khẩu của nhóm tăng hơn 8,8 tỷ USD
Về thị trường xuất khẩu: Năm 2010, xuất khẩu tăng trên tất cả các khu vực thị trường,trong đó thị trường châu Á ước tăng 32,6%, tiếp đó đến thị trường châu Mỹ ước tăng25,8%, thị trường châu Âu ước tăng 18,2%, thị trường châu Phi - Tây Á - Nam Á ướctăng 45% và thấp nhất là châu Đại dương ước tăng 13,6%
Trang 8
Nhập khẩu:
Với nhiều biện pháp tăng cường kiểm soát để hạn chế nhập khẩu những mặt hàngtiêu dùng xa xỉ hoặc trong nước đã sản xuất được, nhiều mặt hàng có khối lượng nhậpkhẩu giảm so với năm 2009, mặc dù một số mặt hàng vẫn còn có mức nhập khẩu cao Tổng kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hoá năm 2010 khoảng 84,83 tỷ USD,tăng 20,1% so với năm 2009, trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiước đạt 36,4 tỷ USD, chiếm 43% tổng KNNK cả nước, tăng 39,9%; kim ngạch nhậpkhẩu của khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 47,5 tỷ USD, chiếm 56%,tăng 8,3% so với năm 2009
Trong tổng nhập khẩu, nhóm hàng cần thiết nhập khẩu chiếm một tỷ trọng đáng
kể, chủ yếu để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, phục vụ chođầu tư xây dựng các công trình, dự án
Giá nhập khẩu hàng hoá khá ổn định kể từ đầu năm nhưng ở mức cao, tuy nhiên
từ 3 tháng trở lại đây, giá nhập khẩu lại có xu hướng tăng thêm dần, nhóm hàngnguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da giầy cũng gia tăng đã gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp nhập khẩu, đây cũng là yếu tố làm tăng KNNK
Một số mặt hàng nhập khẩu tính được về lượng, do lượng NK giảm đã làm giảmhơn 2,1 tỷ USD nhập khẩu, tuy nhiên do giá nhập khẩu tăng đã làm NK tăng lên hơn5,1 tỷ USD, bù trừ giữa tăng giá và giảm lượng của những mặt hàng tính được nàycũng đã làm tăng KNNK lên 2,98 tỷ USD
Cán cân thương mại: Nhập siêu năm 2010 ước tính là 12,6 tỷ USD, bằng
17,27% kim ngạch xuất khẩu Xét theo khối doanh nghiệp, thâm hụt thươngmại chủ yếu rơi vào khu vực các doanh nghiệp trong nước với 9,78 tỷ USD,chiếm 79% thâm hụt thương mại của cả nước Các doanh nghiệp FDI (không kểdầu thô) chỉ thâm hụt 2,6 tỷ USD, chiếm 21%
Như vậy có thể thấy rằng năm 2010 hoạt động xuất nhập khẩu các mặt hàng đềutăng so với năm 2009 Mặc dù cán cân thanh toán thâm hụt tới 12,6 tỷ nhưng theođánh giá của Bộ Công Thương, hoạt động xuất nhâp khẩu của Việt Nam năm 2010 đãtừng bước được cải thiện Nếu như hết quý I/2010, xuất khẩu chỉ tăng 1,6% trong khinhập khẩu tăng tới 40,2%: hết quý II xuất khẩu tăng 17%, nhập khẩu tăng 29,1%, thìhết quý III tốc độ tăng xuất khẩu đã cao hơn tốc độ tăng nhập khẩu (xuất khẩu tăng23,2%, nhập khẩu tăng 22,7%) Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn ThànhBiên, xuất khẩu đang có chuyển biến tích cực, bình quân mỗi tháng đạt 5,78 tỷ USD,cao hơn mức bình quân kế hoạch năm (kế hoạch năm 60,5 tỷ với mức bình quân 5,04
tỷ USD/tháng) Những kết quả khả quan này đạt được nhờ có sự chỉ đạo sát sao củaChính phủ, việc triển khai tích cực nhiều giải pháp của Bộ Công Thương nhằm đẩymạnh sản xuất, xuất khẩu
Trang 9Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm35,2% tỷ trọng, nhóm hàng công nghiệp nhẹ chiếm 40,6% còn nhóm hàng nông, lâm,thủy sản chiếm 21,9%, và vàng tái xuất chiếm 2,3% Trong cơ cấu hàng nhập khẩu,nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới 90,6%, nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 7,6%,
và nhóm vàng tăng 1,8% Theo đó, thâm hụt cán cân thương mại năm 2011 là 9,84 tỷUSD, và bằng 9,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Mức nhập siêu này thấp hơnmức mục tiêu 16% mà chính phủ đã đề ra, đồng thời là mức thấp nhất trong vòng 5năm và là năm có tỷ lệ nhập siêu thấp nhất so với kim ngạch xuất khẩu kể từ năm2002
Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu nổi trội gồm:
Hàng dệt may vẫn giữ vững ở vị trí đứng đầu về kim ngạch với 13,2 tỷ USD,tăng 17,9% so với năm 2010 Ba thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam baogồm: Hoa Kỳ đứng thứ nhất với 6,8 tỷ USD tăng 10,9%; Nhật Bản xếp thứ 2 với 1,7 tỷUSD tăng 52,7%; Hàn Quốc 807 triệu USD tăng 89,4% vươn lên vị trí thứ 3, tiếp theo
là Đức 599 triệu USD tăng 26,6%; Anh 448 triệu USD; Tây Ban Nha 399 triệu USD
Biểu đồ 2.Các thị trường nhập may lớn nhất cua Việt Nam
Trang 10 Kim ngạch xuất khẩu Dầu thô vươn lên vị trí thứ 2 với 7,2 tỷ USD, tăng 44%
so với năm 2010, tuy nhiên lượng dầu thô tăng không đáng kể 2,1% Thị trường tiêuthụ lớn nhất là Nhật Bản với kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh đạt 1,9 tỷ USD tăng729,4% so với 2010 Thị trường Úc đứng ở vị trí thứ 2 với 1,4 tỷ USD giảm 24,7%;Trung Quốc 1,1 tỷ USD tăng 189%; Hàn Quốc 983 triệu USD tăng 72%
Giầy dép đứng ở vị trí thứ 3 với 6,5 tỷ USD tăng 27,8% so với 2010 Điệnthoại các loại và linh kiện đạt 6,4 tỷ USD, vươn mạnh lên vị trí thứ 4 Hàng thuỷ sảnđạt 6,1 tỷ USD, tăng 21,8% Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt giá trị cao nhấtvới 1,2 tỷ USD, tăng 21,2%, Nhật Bản 1 tỷ USD tăng 13,6%, Hàn Quốc 490 triệuUSD tăng 25,9% Trung Quốc 247 triệu USD tăng 51,9%
Linh kiện điện tử và máy tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 29,9% (1 tỷ USD) Trong đóthị trường Trung Quốc 710 triệu USD tăng 105,8%, Nhật Bản 407 triệu USD, tăng32,1%; Mỹ 388 triệu USD (95%); Hồng Kông 333 triệu USD tăng 86,5%; Singapore177,7 triệu USD tăng 111,9%
Gạo đạt 7,1 triệu tấn, tăng 3,2%, kim ngạch đạt 3,7 triệu USD Thị trường nhậpkhẩu Gạo lớn nhất của Việt Nam là Indonesia với 1,9 triệu tấn tăng 17,4%, trị giá xuấtkhẩu đạt 1 tỷ USD tăng 195% Philipine 979 nghìn tấn giảm 33,6%, trị giá đạt 478triệu USD giảm 49,5% ; Malaixia 530 triệu tấn, tăng 33,2%, trị giá 292 triệu USD tăng64%; Singapore 386 nghìn tấn, giảm 29,1%, trị giá 198 triệu USD giảm 13,1%;Bangladest 340 nghìn tấn, giảm 5,5%, trị giá 180 triệu USD tăng 49,2%, Trung Quốc
309 nghìn tấn, tăng 147,6%, trị giá 161 triệu USD tăng 189%
Sản phẩm đá quí và kim loại quí giảm 5,5% so với năm 2010 Kim ngạch xuấtkhẩu sang thị trường Nam Phi vươn lên dẫn đầu với 1,5 tỷ USD, tăng 750% Thịtrường Thuỵ Sỹ đạt 884 triệu USD giảm 63,2%; Pháp 53 triệu USD giảm 2,9%
Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu đạt 106,7 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm
2010 Trong đó máy móc thiết bị và phụ tùng tăng 25,6% nguyên nhiên vật liệu tăng25% Tỷ trọng hàng chế biến hay đã tinh chế giảm từ 75,3% xuống 72,2%, kim ngạchnhập khẩu mặt hàng này năm 2011 đạt 77,1 tỷ USD, tăng 20,6% Nhìn chung hầu hếtcác mặt hàng đều tăng cả về lượng và trị giá so với năm 2010
Xăng dầu, vẫn là mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch cao nhất, tỷ trọng nhậpkhẩu mặt hàng này chiếm 9,3% tổng kim ngạch, lượng và kim ngạch tăng so với năm
2010 là: lượng 8,5% và kim ngạch 53,4% Singapore vẫn là nước cung cấp mặt hàngnày lớn nhất cho VIệt Nam với kim ngạch nhập khẩu năm 2011 đạt 4,4 triệu tấn, tăng22,8%, kim ngạch đạt 3,9 tỷ USD (tăng 78%)
Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng linh kiện điện tử, ti vi và máy tính vươn lên vịtrí thứ 2 đạt giá trị 7,9 tỷ USD, tăng 51,2%
Tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng tiêu dùng giảm từ 9,9% năm 2010 xuống 9,5%trong năm 2011, tuy nhiên kim ngạch tăng 20,9% Trong đó, nhóm hàng lương thực
Trang 11giảm 55,7%, nhóm hàng khác tăng tương ứng thực phẩm 30,7%, hàng y tế 21,2%,hàng tiêu dùng khác 14,3%.
Với kết quả này, nhập siêu cả năm là 9,844 tỷ USD, giảm khoảng 22% so với năm
2010 và bằng 10,15% kim ngạch xuất khẩu cùng thời kỳ
Năm 2012
Cán cân thương mại hàng hoá tháng 12 thặng dư gần 500 triệu USD Tổng kimngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2012 đạt gần 228,37 tỷ USD, tăng 12,1% so vớinăm 2011, trong đó xuất khẩu đạt 114,57 tỷ USD, tăng 18,2% và nhập khẩu là 113,79
tỷ USD, tăng 6,6%
Xuất khẩu:
Tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) trong năm qua là 124 tỷ USD, tăng 28,2% và chiếm 54% tổngkim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Trong đó, xuất khẩu đạt 64,05 tỷ USD, tăng33,8% và nhập khẩu là 59,94 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước
Nhóm hàng xuất khẩu
Điện thoại các loại & linh kiện: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này cả năm
2012 lên 12,72 tỷ USD, tăng 98,8% so với năm 2011 Các đối tác chính nhập khẩuđiện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam trong năm qua là EU với 5,66 tỷ USD,tăng 93% so với năm 2011 và chiếm 44,5% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của
cả nước, tiếp theo là Hoa Kỳ gần 1,5 tỷ USD, tăng gấp 3 lần; Nga: 771 triệu USD, tăng43,8%; Hồng Kông: 530 triệu USD, giảm 19,8%…
Hàng dệt may: Xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2012 đạt kim ngạch lênđến 15,09 tỷ USD, tăng 7,5% so với năm 2011 Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốctiếp tục là 4 đối tác lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam trong năm 2012 Tổng kimngạch hàng dệt may xuất sang 4 thị trường này đạt 12,96 tỷ USD, chiếm tới 86% tổngkim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước
Giày dép các loại: Tính đến hết năm 2012, xuất khẩu nhóm hàng này đạt 7,26 tỷUSD, tăng 10,9% so với năm 2012; hàng chủ yếu được xuất sang các thị trường như
EU đạt 2,65 tỷ USD, tăng 1,6% so với năm 2011; Hoa Kỳ đạt 2,24 tỷ USD, tăng17,6%; Nhật Bản đạt 328 triệu USD, tăng 31,9%; Trung Quốc đạt 301 triệu USD, tăng19,1%…
Thủy sản: kim ngạch xuất khẩu cả năm 2012 lên 6,09 tỷ USD giảm 0,3% so vớinăm 2011 Đối tác dẫn đầu nhập khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam trong năm 2012 làHoa Kỳ với 1,17 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ 2011, tiếp theo là EU: 1,13 tỷUSD, giảm 16,7%; Nhật Bản: 1,08 tỷ USD, tăng 6,8% và Hàn Quốc đạt 510 triệuUSD, tăng 4%…
Trang 12 Gạo: Lượng gạo xuất khẩu của cả nước tính đến hết năm 2012, lượng xuất khẩuđạt hơn 8 triệu tấn, tăng 12,7% và trị giá đạt 3,67 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% so với năm
2011 Trong năm nay, Trung Quốc là thị trường lớn nhất nhập khẩu gạo của Việt Namvới hơn 2 triệu tấn, tăng gấp gần 6 lần năm trước và chiếm 26% tổng lượng xuất khẩugạo của cả nước Tiếp theo là Philippin: 1,1 triệu tấn, tăng 14,2%; Inđônêxia: 930nghìn tấn, giảm 50,6%; Malayxia: 765 nghìn tấn, tăng 44,2%; Bờ Biển Nga: 480 nghìntấn, tăng 64,4%
hình 2.Tổng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam từ 2010 đến 2012 (nghìn tấn)
Hạt điều: Lượng hạt điều xuất khẩu cả năm đạt 221 nghìn tấn, tăng 24,7% và trịgiá là 1,47 tỷ USD, giảm 0,2% so với năm 2011 Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu vềtiêu thụ điều của Việt Nam, đạt 61 nghìn tấn, tăng 26,8% và chiếm gần 1/3 lượng điềuxuất khẩu
Cao su: Do đơn giá bình quân cao su xuất khẩu năm 2012 giảm tới 29,4% sovới năm 2011 nên dù lượng tăng cao (đạt hơn 1 triệu tấn, tăng 25,3%) nhưng kimngạch xuất khẩu năm 2012 chỉ đạt đạt 2,86 tỷ USD, giảm 11,6% so với năm trước Cácđối tác chính nhập khẩu cao su trong năm 2012 là Trung Quốc: 493 nghìn tấn, giảm1,8% so với năm 2011; tiếp theo là Malayxia: 200 nghìn tấn, tăng gấp 2,5 lần; Ấn Độ:
72 nghìn tấn, tăng 166%…
Nhập khẩu:
Nhóm hàng nhập khẩu
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: Kim ngạch nhập khẩu năm 2012 là 16,04
tỷ USD tăng 3,2% so với năm 2011, trong đó khối các doanh nghiệp FDI đạt 8,57 tỷ
Trang 13USD, tăng 30% và khối các doanh nghiệp trong nước đạt 7,47 tỷ USD, giảm 14,6%.Nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ Trung Quốc với 5,19 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2% sovới năm 2011; Nhật Bản: 3,37 tỷ USD, tăng 20,4%; EU: 2,05 tỷ USD, giảm 15,2%;Hàn Quốc: 1,74 tỷ USD; tăng 38,9%
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Nhập khẩu nhóm hàng này năm
2012 có kim ngạch là 13,1 tỷ USD, tăng 67% về số tương đối và tăng 5,26 tỷ USD về
số tuyệt đối so với năm 2011 Khối các doanh nghiệp FDI nhập khẩu gần 11,58 tỷUSD, tăng 78% và khối các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 1,53 tỷ USD, tăng4,1% Các đối tác Việt Nam nhập khẩu chủ yếu là có xuất xứ chủ yếu từ: Trung Quốc:gần 3,34 tỷ USD, tăng 41,2% so với năm 2011; Hàn Quốc: 3,29 tỷ USD, tăng mạnh71,4%; Nhật Bản: 1,69 tỷ USD, tăng 47,0%
Điện thoại các loại và linh kiện: Cả nước năm 2012 nhập khẩu 5,04 tỷ USD,tăng 85,3% so với năm 2011; hàng nhập khẩu chủ yếu từ các thị trường: Trung Quốc:3,43 tỷ USD, tăng 96,4% so với năm 2011 và chiếm 68% kim ngạch nhập khẩu của cảnước; Hàn Quốc: 1,33 tỷ USD, tăng 78,8%; Singapore: 76,4 triệu USD…
Xăng dầu các loại: Tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước năm 2012 là9,2 triệu tấn, giảm 13,8% so với năm 2011 với trị giá gần 8,96 tỷ USD, giảm 9,3%.Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nhóm hàng này từ các thị trường: Singapore: 3,78 triệutấn, giảm 14% so với năm 2011; Đài Loan: 1,29 triệu tấn, giảm 7,4%; Trung Quốc:1,25 triệu tấn, giảm 5,3%…
Nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: Kim ngạch nhập khẩu nhómhàng này trong năm 2012 đạt gần 12,49 tỷ USD, tăng 1,8% so với năm 2011, trong đónhập khẩu vải là 7,04 tỷ USD, tăng 4,6%; nguyên phụ liệu dệt may da giày 3,16 tỷUSD, tăng 7,1%; xơ sợi dệt là gần 1,41 tỷ USD, giảm 8,4% và bông là hơn 877 triệuUSD, giảm 16,7% Các thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trongnăm 2012 là: Trung Quốc: 4,38 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2011; Hàn Quốc: 2,21
tỷ USD, tăng 4,7%; Đài Loan: 1,92 tỷ USD, giảm 4,6%
Như vậy, năm 2012 Việt Nam xuất siêu 749 triệu USD với tỷ lệ nhập siêu/ xuấtkhẩu là -0,7% (trong khi năm 2011 nhập siêu 9,84 tỷ USD) Xuất nhập khẩu năm 2012đạt được kết quả như vậy là do có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và các Bộ, ngành,địa phương cũng như sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp cả nước
Năm 2013
Xuất khẩu:
Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 43,8 tỷUSD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 88,4 tỷ USD,tăng 22,4% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có
Trang 14vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 81,2 tỷ USD, tăng 26,8% so với năm trước Nếuloại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng 18,2%.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại
và linh kiện, hàng dệt may, giày dép Xuất khẩu của khu vực này trong những nămgần đây có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu: Năm 2011 chiếm 56,9% và tăng 41%; năm 2012 chiếm 63,1% và tăng 31,1%;năm 2013 chiếm 61,4% và tăng 22,4%
Trong năm 2013, nhiều sản phẩm thuộc nhóm hàng công nghiệp có kim ngạchxuất khẩu tăng mạnh như: Điện thoại và linh kiện đạt 21,5 tỷ USD, tăng 69,2%;hàng dệt, may đạt 17,9 tỷ USD, tăng 18,6%; điện tử máy tính và linh kiện đạt10,7 tỷ USD, tăng 36,2%; giày dép đạt 8,4 tỷ USD, tăng 15,2%; gỗ và sản phẩm
gỗ đạt 5,5 tỷ USD, tăng 17,8%; túi xách, ví, vali, mũ, ô dù đạt 1,9 tỷ USD, tăng27,6%; hóa chất tăng 32,4%; rau quả tăng 25,7%; hạt điều tăng 12,9%; hạt tiêutăng 13,4%
Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng khá là: Thủy sản đạt 6,7 tỷ USD,tăng 10,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 6 tỷ USD, tăng 9%;phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,9 tỷ USD, tăng 7,8%; sắt thép đạt 1,8 tỷUSD, tăng 8%; dây điện và dây cáp đạt 0,7 tỷ USD, tăng 10%; sản phẩm hóachất đạt 0,7 tỷ USD, tăng 5,2%
Kim ngạch xuất khẩu dầu thô, gạo, cà phê, cao su, than đá và xăng dầu giảm sovới năm 2012, trong đó dầu thô đạt 7,2 tỷ USD, giảm 11,9%; gạo đạt 3 tỷ USD,giảm 18,7%; cà phê đạt 2,7 tỷ USD, giảm 26,6%; cao su đạt 2,5 tỷ USD, giảm11,7%; xăng dầu đạt 1,2 tỷ USD, giảm 32,8%
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệpnặng và khoáng sản đạt 58,6 tỷ USD, tăng 21,5% và chiếm 44,3% (Năm 2012 đạt 48,2
tỷ USD và chiếm 42,1%) Nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 50,3 tỷUSD, tăng 16,3% và chiếm 38,1% (Năm 2012 đạt 43,3 tỷ USD và chiếm 37,8%).Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 16,5 tỷ USD, giảm 1,9% và chiếm 12,5% (Năm 2012đạt 16,8 tỷ USD và chiếm 14,7%) Nhóm hàng thuỷ sản đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,6% vàchiếm 5,1% (Năm 2012 đạt 6,1 tỷ USD và chiếm 5,3%)
Về thị trường:
EU tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuấtkhẩu năm 2013 ước đạt 24,4 tỷ USD tăng 20,4 % (tương đương 4,1 tỷ USD) sovới năm 2012, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng so với năm 2012như: Điện thoại các loại và linh kiện tăng 56% (2,75 tỷ USD); giầy dép tăng10,5% (245 triệu USD); hàng dệt may tăng 11,2% (243 triệu USD)