BCTC: báo cáo tài chínhCBTT: công bố thông tin CP: cổ phiếu CTCP: công ty cổ phần DN: doanh nghiệp DNNN: doanh nghiệp nhà nước HASTC: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội HCM: Hồ Chí M
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tiến sĩ Trần Thị Mộng Tuyết
TP Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dungnghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất cứ công trình nào.
TP.HCM, ngày 12 tháng 12 năm
2011Tác giả
Tạ Thu Huyền
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG……… 1
1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán……….1
1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán……… 1
1.1.2 Chức năng của thị trường chứng khoán……… 2
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán……….3
1.1.4 Thành phần tham gia thị trường chứng khoán……….4
1.1.4.1 Nhà phát hành………4
1.1.4.2 Nhà đầu tư……… 4
1.1.4.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán………5
1.1.4.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán……… 5
1.2 Hệ thống thông tin của thị trường chứng khoán……….5
1.2.1 Chức năng của thông tin trên thị trường chứng khoán……… 6
1.2.2 Vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán……… 6
1.2.3 Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán……….10
1.2.3.1 Thông tin về tổ chức niêm yết……… 10
1.2.3.2 Thông tin về tổ chức kinh doanh……… 11
1.2.3.3 Thông tin thị trường……….11
1.2.3.4 Thông tin về quản lý……….11
1.3 Tổng quan về thông tin bất cân xứng……….11
1.3.1 Khái niệm thông tin bất cân xứng……… 11
1.3.2 Các chủ thể góp phần tạo ra thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán……… 13
Trang 4chứng khoán……… 14
1.3.5 Nguyên nhân của sự bất cân xứng thông tin……… 15
1.3.5.1 Nguyên nhân chủ quan……….15
1.3.5.2 Nguyên nhân khách quan……….17
1.4 Một số kinh nghiệm thực tiễn từ ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đến rủi ro của nhà đầu tư tại các thị trường chứng khoán trên thế giới………17
1.4.1 Thị trường chứng khoán Đài Loan……… 17
1.4.1.1 Diễn biến……… 17
1.4.1.2 Những lý do chính khiến các doanh nghiệp rời khỏi sàn niêm yết…… 17
1.4.1.3 Bài học kinh nghiệm……….18
1.4.2 Thị trường chứng khoán Nhật Bản……….18
1.4.2.1 Diễn biến……… 18
1.4.2.2 Bài học kinh nghiệm……….19
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn ở các thị trường chứng khoán trên thế giới………19
Kết luận chương 1……… 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM.……… 21
2.1 Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam……… 21
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển……… 21
2.1.1.1 Quá trình hình thành……….21
2.1.1.2 Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam…… …22
2.1.2 Qui định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam….30 2.1.3 Thực trạng công bố thông tin trên SGDCK TP.HCM……… 32
2.1.3.1 Thực trạng công bố thông tin của các công ty niêm yết……… 32
Trang 52.2 Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của thông tin bất cân xứng đối với nhà
đầu tư trên SGDCK TP.HCM….……… 38
2.2.1 Mục đích nghiên cứu………38
2.2.2 Đối tượng khảo sát……… 38
2.2.3 Phạm vi khảo sát……… 38
2.2.4 Mẫu chọn……… 38
2.2.5 Phương pháp chọn mẫu……… 38
2.2.6 Nội dung khảo sát……… 38
2.2.7 Đánh giá chung về thực trạng thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư cá nhân trên SGDCK TP.HCM dựa vào kết quả khảo sát… ……… 38
2.2.7.1 Thực trạng thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư cá nhân trên SGDCK TP.HCM thông qua khảo sát……… …………39
2.2.7.2 Đánh giá kết quả khảo sát………51
2.3 Đánh giá chung về thực trạng thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM trong thời gian qua……….52
2.3.1 Kết quả đạt được……… ……….52
2.3.2 Hạn chế……… 54
2.3.3 Nguyên nhân của tồn tại……… 55
Kết luận chương 2……… 56
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM……… 57
3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp……….………57
3.2 Các giải pháp giúp giảm thiểu thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM……… ……… ……….58
Trang 63.2.1.2 Các cơ quan giám sát tăng cường kiểm tra và thực thi pháp luật, xử phạt nghiêm minh các giao dịch nội gián và các hành vi khác gây ra thông tin bất cân
xứng……… 59
3.2.1.3 Hệ thống kế toán, kiểm toán phải được tăng cường cải thiện hơn …… 60
3.2.2 Phát triển các kênh công bố thông tin……… 61
3.2.2.1 Các công ty niêm yết……….61
3.2.2.2 Các công ty chứng khoán……… 63
3.2.2.3 Các tổ chức trung gian chứng khoán………64
3.2.3 Nâng cao năng lực của giới truyền thông….……… 65
3.2.4 Giải pháp về tiếp nhận thông tin……… 65
Kết luận chương 3……… ….67
KẾT LUẬN……… 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7BCTC: báo cáo tài chính
CBTT: công bố thông tin
CP: cổ phiếu
CTCP: công ty cổ phần
DN: doanh nghiệp
DNNN: doanh nghiệp nhà nước
HASTC: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
HCM: Hồ Chí Minh
HĐQT: Hội đồng quản trị
HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
NHTM: Ngân hàng thương mại
OTC: thị trường phi tập trung
SGDCK: Sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTBCX: thông tin bất cân xứng
TTCK: thị trường chứng khoán
TTGDCK: trung tâm giao dịch chứng khoán
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Upcom: thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty đại chúng chưa niêm yết
Trang 8Bảng 2.1: Qui mô của TTCK Việt Nam từ năm 2000 đến 2005
Bảng 2.2: Quy mô niêm yết cổ phiếu đến hết 31/12/2006
Bảng 2.3: Quy mô niêm yết cổ phiếu đến hết 31/12/2007
Bảng 2.4: Quy mô niêm yết cổ phiếu cuối năm 2008 và 2009
Bảng 2.5: Quy mô thị trường đến hết ngày 31/10/2010
Bảng 2.6: Quy mô thị trường đến hết ngày 07/06/2011
Bảng 2.7: Giới tính của nhà đầu tư
Bảng 2.8: Độ tuổi của nhà đầu tư
Bảng 2.9: Thời gian các nhà đầu tư tham gia TTCK Việt Nam
Bảng 2.10: Sàn chứng khoán
Bảng 2.11: Tổng số tiền đầu tư
Bảng 2.12: Tương quan giữa độ tuổi và tổng số tiền đầu tư
Bảng 2.13: Loại hình đầu tư
Bảng 2.14: Số mã cổ phiếu của nhà đầu tư
Bảng 2.15: Tần suất cập nhật thông tin của nhà đầu tư
Bảng 2.16: Phương tiện cập nhật thông tin chứng khoán
Bảng 2.17: Thông tin theo dõi nhiều nhất
Bảng 2.18: Hiệu quả đầu tư
Bảng 2.19: Nguyên nhân khiến TTCK biến động
Bảng 2.20: Số lượng DN công bố thông tin minh bạch
Bảng 2.21: Thông tin không kịp thời
Trang 9Bảng 2.24: TTCK Việt Nam có thông tin bất cân xứng
Bảng 2.25: TTBCX làm ảnh hưởng kết quả đầu tư
Bảng 2.26: Hiệu quả đầu tư tốt hơn nếu không còn TTBCX
Bảng 2.27: Thị trường chưa hiệu quả
Bảng 2.28: Giám sát chưa chặt chẽ
Bảng 2.29: Xử lý chưa nghiêm minh
Hình 2.1: Biểu đồ hiển thị diễn biến của Vnindex trong giai đoạn 2006 – 2007Hình 2.2: Biểu đồ hiển thị diễn biến của Vnindex từ năm 2010 đến nay
Trang 10Trong thời đại ngày nay, thị trường vốn là một bộ phận quan trọng không thểthiếu đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào Một trong những kênh huy độngvốn đóng vai trò chủ chốt hiện nay là thị trường chứng khoán.
Suốt hơn 10 năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung, cũng nhưSGDCK TP.HCM nói riêng, đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, docòn quá non trẻ, SGDCK TP.HCM không thể tránh khỏi những hạn chế về mặt luậtpháp, cơ cấu hoạt động cũng như các biện pháp quản lý Một trong những tồn tạikhông thể không nhắc đến là tình trạng thông tin bất cân xứng Thông tin bất cânxứng có thể xuất hiện ở rất nhiều lĩnh vực, nhưng đối với thị trường chứng khoán,tình trạng thông tin bất cân xứng gây ra nhiều thiệt hại nặng nề đối với niềm tin vàtài chính, tạo nên sự bất công xã hội khi một số cá nhân hoặc tổ chức được hưởnglợi từ sự thua lỗ của những cá nhân hoặc tổ chức khác Đây được xem là một vấnnạn gây nhức nhối cho các nhà đầu tư nói riêng cũng như toàn thể xã hội nói chung.Chính vì thế, mà hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải chuẩn bị một cách kỹ càng
cả về kiến thức cơ bản, thực trạng và các giải pháp cần thiết để hạn chế tình trạngthông tin bất cân xứng trên SGDCK TP.HCM hiện nay, với mục tiêu đưa thị trườngchứng khoán trở thành một kênh huy động vốn thực sự hiệu quả trong sự nghiệpphát triển kinh tế đất nước
Trên cơ sở đó, tôi hy vọng đề tài luận văn “Giải pháp giảm thiểu thông tin bấtcân xứng đối với nhà đầu tư trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM” có thể manglại những đóng góp cho sự phát triển của thị trường chứng khoán nước ta
Mục tiêu nghiên cứu
Tình trạng thông tin bất cân xứng là một hiện tượng phổ biến không chỉ trênSGDCK TP.HCM mà còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác trên toàn thế giới.Không chỉ mang lại kết quả thua lỗ cho các nhà đầu tư, đôi khi thông tin bất cânxứng còn gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho thị trường chứng khoán
Trang 11trường chứng khoán.
(2) Tìm hiểu những thực trạng hiện nay của thông tin bất cân xứng trênSGDCK TP.HCM và những đánh giá của nhà đầu tư cá nhân về vấn đề thông tin bấtcân xứng
(3) Gợi ý các giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được tập trung nghiên cứu là thông tin bất cân xứng, cụ thể là thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM
Khảo sát thực tế được thực hiện tại TP.HCM, dựa trên kết quả khảo sát của
100 nhà đầu tư cá nhân, trong thời gian từ ngày 30/06/2011 đến ngày 08/08/2011
Thời gian nghiên cứu được chọn từ khi thị trường chứng khoán nước ta thànhlập cho đến ngày 25/10/2011
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, phươngpháp tổng hợp, thống kê, phương pháp phân tích, đánh giá, đối chiếu, phương phápnghiên cứu định lượng, định tính…
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán nước ta đã được
đề cập đến nhiều lần Tuy nhiên, hiện tượng này vẫn không suy giảm mà ngày càng
Trang 12tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM.
Những điểm nổi bật của luận văn
Làm rõ thực trạng thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM trong thời gian qua
Phân tích các nguyên nhân tồn tại của tình trạng thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư
Đề xuất những giải pháp khả thi, thiết thực để giảm thiểu thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM trong thời gian tới
Kết cấu của luận văn
Nhìn chung, vấn đề thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên SGDCKTP.HCM vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà chức trách, cácdoanh nghiệp và nhà đầu tư trong thời gian qua Do vậy, để đáp ứng cả nhu cầu về
lý luận và thực tiễn, đề tài của tôi được trình bày gồm 3 phần như sau:
Chương 1: Lý luận chung về thông tin bất cân xứng và thị trường chứng
Trang 13CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán
Trước khi nghiên cứu các rủi ro của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu
tư khi tham gia thị trường chứng khoán (TTCK), chúng ta hãy cùng tìm hiểu sơlược về TTCK nói chung cũng như TTCK Việt Nam nói riêng
1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Theo Lê Văn Tề và cộng sự (2005, 139), TTCK là nơi giao dịch chứngkhoán Nghĩa là ở đâu có giao dịch mua bán chứng khoán thì đó là hoạt động củaTTCK Tuy nhiên, đó có thể là TTCK có tổ chức hoặc không có tổ chức, tập trunghay không tập trung
Theo Investopedia, TTCK là nơi các chứng khoán được phát hành và giaodịch thông qua sàn chứng khoán hoặc thị trường phi tập trung (hay còn gọi là OTC).TTCK là một trong những khu vực lớn nhất của nền kinh tế thị trường bởi nó giúpcác doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn, các nhà đầu tư có được quyền sở hữucông ty và có khả năng kiếm được lợi nhuận dựa trên họat động tương lai của côngty
Đặc điểm chủ yếu của TTCK:
Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và ngườicung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tàichính
Là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều tự dotham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên TTCK, mà giá cả ở đâyđược hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu
Trang 14 Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được pháthành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trườngthứ cấp TTCK đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họthành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn.
1.1.2 Chức năng của thị trường chứng khoán
Chức năng đầu tiên của TTCK là huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Vaitrò quan trọng đầu tiên của TTCK là thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân
để hình thành các nguồn vốn khổng lồ có khả năng tài trợ cho các dự án đầu tư dàihạn phát triển kinh tế cũng như tài trợ tăng vốn mở rộng sản xuất kinh doanh.TTCK là công cụ huy động vốn hết sức hữu hiệu không những trong nước mà cảnước ngoài Đối với nước ta, các nguồn vốn lớn còn tiềm tàng trong nhân dân chưađược đưa vào sản xuất kinh doanh, thì việc cần có một TTCK song hành với sự rađời của các công ty cổ phần là một chiến lược kinh tế trước mắt cũng như lâu dài
Kế đến là, TTCK cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng TTCK tạo ra
cơ hội thuận tiện khuyến khích mọi người dân tiết kiệm và biết cách sử dụng tiềntiết kiệm một cách tích cực mang lại hiệu quả qua việc đầu tư vào các loại chứngkhoán Khả năng sinh lời của các loại chứng khoán gây ra ý muốn tiết kiệm để đưatiền vào đầu tư Mỗi người trong xã hội chỉ có một số tiền tiết kiệm bé nhỏ, nhưngtổng số tiền tiết kiệm của cả xã hội sẽ to lớn hơn bất cứ tài sản của cá nhân nào Mặtkhác, trong xã hội cũng tồn tại các quỹ tiền tệ tập trung: ngân hàng đầu tư, ngânhàng thương mại, quỹ bảo hiểm…đều có mục đích khuyến khích tiết kiệm, nhưngcác quỹ tiền tệ này cũng chỉ phát huy hết tác dụng của nó khi có một TTCK tồn tạisong hành với nó
Bên cạnh đó, TTCK vận hành tạo nên tính thanh khoản cho các chứng khoán.Vai trò của TTCK bảo đảm cho việc nhanh chóng chuyển thành tiền mặt của cácchứng khoán có giá Đây chính là yếu tố quan trọng để thu hút các nhà đầu tư
Trang 15đến với TTCK, với một TTCK hoạt động càng hữu hiệu thì tính thanh khoản càngcao.
Ngoài ra, TTCK giúp đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh
tế Những thông tin doanh nghiệp (DN) cung cấp cho các nhà đầu tư trên TTCK quacác bảng phân tích đánh giá năng lực sản xuất của DN, triển vọng của DN trên thịtrường, khả năng sinh lợi của hoạt động sản xuất kinh doanh, xu thế phát triển của
DN trong thời kỳ tương lai từ 3 đến 5 năm đã phần nào lượng giá được tích sản của
DN một cách khách quan và khoa học Mặt khác, với tính chất đặc biệt nhạy béncủa TTCK, sự lên xuống của giá cả chứng khoán trên thị trường cũng nói lên sựbiến động của giá trị DN tại bất kỳ thời điểm nào
Chức năng cuối cùng của TTCK là tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiệnchính sách kinh tế vĩ mô TTCK còn làm giảm áp lực lạm phát, Ngân hàng Trungương với vai trò điều hành hệ thống tiền tệ sẽ tung ra nhiều trái phiếu kho bạc bántrên TTCK với lãi suất cao để thu hút bớt số tiền lưu hành, nhờ đó số tiền sẽ giảmbớt và áp lực lạm phát cũng giảm đi
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
TTCK hoạt động theo nguyên tắc công khai Tất cả các hoạt động trên TTCKđều phải đảm bảo tính công khai Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) công bố cácthông tin về giao dịch chứng khoán trên thị truờng Các tổ chức niêm yết công bốcông khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bấtthuờng xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, nguời quản lý, cổđông đa số Các thông tin càng đuợc công bố công khai minh bạch, thì càng thu hútđuợc nhà đầu tư tham gia vào TTCK
Bên cạnh đó, TTCK cũng tuân thủ theo nguyên tắc trung gian Mọi hoạtđộng giao dịch, mua bán trên TTCK đều đuợc thực hiện thông qua các trung gian,hay còn gọi là các nhà môi giới Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh củakhách hàng và hưởng hoa hồng Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các
Trang 16dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư.Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận với nhau
để mua bán chứng khoán Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặtlệnh Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh
Ngoài ra, TTCK còn vận hành dựa trên nguyên tắc đấu giá Giá chứng khoánđuợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán Tất cả cácthành viên tham gia thị truờng đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán đuợc hìnhthành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch
1.1.4 Thành phần tham gia thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành các nhómsau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán
1.1.4.1 Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK Nhàphát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK Bao gồm: (i)Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ vàtrái phiếu địa phương; (ii) Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu côngty; (iii) Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các tráiphiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
1.1.4.2 Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK.Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: (i) nhà đầu tư cá nhân là những người cóvốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích kiếm lời; (ii) nhàđầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với sốlượng lớn trên thị trường
1.1.4.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Trang 17Các tổ chức kinh doanh trên TTCK bao gồm: (i) Công ty chứng khoán: lànhững công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặcnhiều trong số các nhiệm vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh pháthành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh; (ii) Quỹ đầu tư chứng khoán: là nơiđược các nhà đầu tư tin tưởng và đưa các khoản tiền của họ vào nhằm có được yếu
tố đầu tư đa dạng và điều kiện quản lý chuyên nghiệp; (iii) Các trung gian tài chính:
là các tổ chức có hoạt động kinh doanh chủ yếu là cung cấp các sản phẩm, dịch vụtài chính cho khách hàng, có chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần vốn,các trung gian tài chính có thể là các ngân hàng, các hiệp hội cho vay, các liên hiệptín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính
1.1.4.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Bên cạnh đó, còn có sự góp mặt của các tổ chức có liên quan đến TTCK như:
(i) Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN): là cơ quan thuộc Chính phủ thựchiện chức năng quản lý Nhà nước đối với TTCK ở Việt Nam; (ii) Sở giao dịchchứng khoán (SGDCK): là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hànhnhững quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên cơ sở phùhợp với các quy định của luật pháp và Ủy ban Chứng khoán; (iii) Công ty dịch vụmáy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán; (iv)Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giánăng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điềukhoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể
1.2 Hệ thống thông tin của thị trường chứng khoán
Hệ thống thông tin của TTCK là những chỉ tiêu, tư liệu phản ánh bức tranhcủa TTCK và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội liên quan tại những thời điểm hoặcthời kỳ khác nhau
1.2.1 Chức năng của thông tin trên thị trường chứng khoán
Trang 18Hệ thống thông tin rất cần thiết cho mọi đối tượng tham gia thị trường Đốivới nhà đầu tư, thông tin là điều kiện cần để thành công trong đầu tư chứng khoán.Đối với người kinh doanh, thông tin là cơ sở để xây dựng kế hoạch kinh doanh, kếhoạch phát triển công ty Đối với các cơ quan quản lý, thông tin là cơ sở để điềuhành và quản lý, đảm bảo thị trường công bằng, công khai và hiệu quả, và là cơ sở
để hoàn thiện quy trình, quy chế
1.2.2 Vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán
Một là, nguồn thông tin trên TTCK là cơ sở cho quản lý nhà nước về chứngkhoán và TTCK, nhìn nhận những phản ứng của thị trường với cơ chế, chính sách,pháp luật hiện hành về chứng khoán và TTCK
Hai là, nguồn thông tin trên TTCK là căn cứ quan trọng để nhà nước đánhgiá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường, đồngthời cũng là cơ sở để nhà nước ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về chứngkhoán và TTCK
Ngoài ra, thông tin là yếu tố quan trọng làm nên một TTCK hiệu quả Trong
đó, thông tin có vai trò quyết định đến giá chứng khoán trên thị trường Thị trường
có thông tin minh bạch và đầy đủ sẽ hình thành nên giá chứng khoán hợp lý và tạođược niềm tin của công chúng vào TTCK
Sau đây ta sẽ xem xét vai trò của thông tin trong một thị trường vốn hiệuquả:
Một thị trường vốn hiệu quả là nơi mà giá chứng khoán điều chỉnh nhanhchóng mỗi khi xuất hiện thông tin mới và do đó, mức giá hiện tại của một chứngkhoán bất kỳ là kết quả phản ánh mọi thông tin liên quan đến nó Nói một cáchchính xác thì đây chính là thị trường hiệu quả về mặt thông tin
Các giả thuyết về thị trường vốn hiệu quả:
Trang 19- Giả thuyết tiền đề, và cũng rất quan trọng, của một thị trường hiệu quả rằng
nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường với mục tiêutối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán mộtcách hoàn toàn độc lập với nhau
- Giả thuyết thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bốtrên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểmcông bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau
-Giả thuyết thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách
điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng củathông tin Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể là không hoàn hảo, tuy nhiên nókhông hề ưu tiên cho một mặt nào Có khi sự điều chỉnh là quá mức, cũng có khi làdưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán được điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thờiđiểm xác định Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng là bởi sốlượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau
Hiệu quả kết hợp từ các giả thuyết này mang ý nghĩa mọi người đều hy vọnggiá sẽ thay đổi một cách ngẫu nhiên và độc lập Quá trình điều chỉnh này đòi hỏimột số lượng lớn các nhà đầu tư hướng theo những chuyển dịch của chứng khoán,phân tích tác động của các thông tin mới đối với giá trị của nó và tiến hành mua vàohoặc bán ra cho tới khi giá chứng khoán được điều chỉnh sao cho nó phản ánh chínhxác các thông tin Điều này có ý nghĩa rằng, thị trường thông tin hiệu quả yêu cầuphải có một số lượng tối thiểu các nhà đầu tư cạnh tranh thực hiện phân tích thôngtin rồi tiến hành giao dịch và một lượng lớn các nhà đầu tư cạnh tranh đặt lệnh muabán nhiều hơn có thể tạo ra những biến chuyển nhanh hơn về giá, tạo nên một thịtrường hiệu quả hơn
Cuối cùng, bởi tất cả các thông tin sẽ điều chỉnh giá chứng khoán, do đónhững mức giá này sẽ phản ánh tất cả các thông tin được công bố công khai tại bất
kỳ thời điểm nào Vì vậy, giá chứng khoán nào mà bất biến tại mọi thời điểm có thể
Trang 20là do kết quả phản ánh sai thông tin và có thể mang lại rủi ro với người sở hữuchứng khoán đó Vì lẽ này, trong một thị trường hiệu quả, thu nhập kỳ vọng ẩntrong mức giá hiện tại của chứng khoán cũng sẽ phản ánh rủi ro của nó.
Lý thuyết thị trường hiệu quả được trình bày thành ba giả thuyết thành phầnvới các dấu hiệu tương ứng
Giả thuyết thị trường thể yếu:
Giả thuyết thị trường kém hiệu quả giả định rằng giá chứng khoán hiện tại là
sự phản ánh đầy đủ mọi thông tin của TTCK, bao gồm các chuyển dịch liên tục củagiá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các thông tin chung khác như: muabán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ của các chuyên gia ngoại hối hay củacác nhóm độc quyền khác Với giả định rằng mức giá thị trường hiện tại này đãphản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giảthuyết này có nghĩa là tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các thông tin kháckhông có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độclập với nhau) Bởi vậy, nhà đầu tư có thể thu được thêm thu nhập khi ra quyết địnhmua hoặc bán chứng khoán dựa trên các thông tin về tỷ suất thu nhập hay các thôngtin khác của thị trường trong quá khứ
Giả thuyết thị trường thể trung bình:
Giả thuyết thị trường bán hiệu quả (hiệu quả trung bình) cho rằng giá chứngkhoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mứcgiá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai Giả thuyết bán hiệu quả baotrùm lên giả thuyết kém hiệu quả vì tất cả các thông tin trên thị trường đều phảiđược xem xét công khai dựa trên giả thuyết kém hiệu quả như là giá cổ phiếu, tỷsuất thu nhập, và khối lượng giao dịch Thông tin công khai cũng bao gồm tất cả cácthông tin phi thị trường như: các thông báo về thu nhập và cổ tức, hệ số giá trên thunhập P/E, tỷ lệ cổ tức trên thị giá D/P, tỷ lệ thư giá/ thị giá, chia cổ phần, các
Trang 21thông tin về kinh tế cũng như chính trị Giả thuyết này có ý nghĩa rằng các nhà đầu
tư khi ra quyết định dựa trên các thông tin mới sau khi nó được công bố sẽ khôngthu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình bởi mức giá chứng khoán này đã phảnánh mọi thông tin công khai đó
Giả thuyết thị trường thể mạnh:
Giả thuyết thị trường hiệu quả thực nói rằng giá chứng khoán là sự phản ánhtất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ Nghĩa là sẽ không có một nhóm đầu tưnào độc quyền tiếp cận được các thông tin liên quan đến việc định giá Do đó, sẽkhông ai thu được lợi nhuận vượt mức Giả thuyết thị trường hiệu quả thực là sựtổng hợp của cả giả thuyết kém hiệu quả và giả thuyết bán hiệu quả Hơn thế, giảthuyết thị trường hiệu quả đưa ra giả định về thị trường hiệu quả, trong đó giá chứngkhoán lên xuống mạnh theo các thông báo công khai, để nêu lên giả thiết về thịtrường hoàn hảo khi tất cả các thông tin đều miễn phí và sẵn có đối với mọi người ởcùng một thời điểm
Như vậy, thông tin là yếu tố quan trọng làm nên một TTCK hiệu quả Trong
đó, thông tin có vai trò quyết định đến giá chứng khoán trên thị trường Thị trường
có thông tin minh bạch và đầy đủ sẽ hình thành nên giá chứng khoán hợp lý và tạođược niềm tin của công chúng vào TTCK
1.2.3 Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
1.2.3.1 Thông tin về tổ chức niêm yết
Các tổ chức niêm yết cần công bố các thông tin như:
Bản cáo hạch: là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tinchính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết chứngkhoán của tổ chức phát hành Đối với công ty đã phát hành và xin đăng ký niêm yếtsau đó thì cũng phải chuẩn bị tài liệu giới thiệu tóm tắt về công ty, như báo cáo kết
Trang 22quả sản xuất kinh doanh trong hai năm gần nhất; báo cáo tổng kết tài sản; báo cáothu nhập và thu chi tiền mặt; ban giám đốc, hội đồng quản trị và có chi tiết từngngười; các cổ đông lớn của công ty…
Thông tin định kỳ: Công ty niêm yết buộc phải công bố công khai các thông
tin định kỳ theo quý, nửa năm và năm bao gồm: bảng tổng kết tài sản; báo cáo thu nhập; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo tài chính
Hiện nay báo cáo thu nhập tháng của công ty niêm yết cũng phải công bố công khai
Thông tin đột xuất: Mỗi khi xuất hiện thông tin đột xuất và nếu công bố ra sẽảnh hưởng đến giá chứng khoán của công ty đó thì công ty niêm yết phải công bốngay lập tức trong vòng 24 tiếng Ví dụ: ký được hợp đồng lớn, tài sản của công ty
1.2.3.2 Thông tin về tổ chức kinh doanh
Ngoài các loại thông tin trong bảng quyết toán quý, nửa năm, năm, đơn vịkinh doanh chứng khoán như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán cần cóbáo cáo về: số tài khoản được mở, số dư chứng khoán và tiền mặt, tình hình giaodịch của các tài khoản, các giao dịch lô lớn, tình hình mua bán ký quỹ chứngkhoán… Nếu do nhu cầu quản lý thì cơ quan quản lý như SGDCK, UBCKNN cóthể yêu cầu các đơn vị này có báo cáo chi tiết hơn ở một số ngày giao dịch, hoặctình hình giao dịch, số dư tài khoản chứng khoán của một số khách hàng
1.2.3.3 Thông tin thị trường
Trang 23Thông tin thị trường bao gồm thông tin về các loại chứng khoán, thông tin vềgiao dịch chứng khoán, về quản lý giao dịch và quy chế, nguyên tắc giao dịchchứng khoán Thông tin này thường xuyên thay đổi và cập nhật trên các websitehoặc các tờ thông tin chứng khoán.
1.2.3.4 Thông tin về quản lý
Thông tin về quản lý chủ yếu bao gồm thông tin về cơ quan quản lý, cơ cấu
tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và phối hợp công tác Ở Việt Nam, chủ yếu giới thiệu
về UBCKNN, SGDCK và các văn bản pháp quy Các thông tin này được công bốrộng rãi bằng văn bản hoặc dưới dạng bài viết trên các website, báo chí, phát thanh,truyền hình…
1.3 Tổng quan về thông tin bất cân xứng
1.3.1 Khái niệm thông tin bất cân xứng
Trong kinh tế học nói chung, tình trạng thông tin bất cân xứng (TTBCX)phát sinh khi trong một giao dịch, một trong các bên tham gia có nhiều thông tinhơn hoặc có thông tin tốt hơn các bên còn lại
Mô hình TTBCX trong kinh tế học giả định rằng có ít nhất một bên tham giagiao dịch phải có thông tin ở mức độ tốt hơn các bên còn lại Hoặc cũng có thể làtrường hợp một bên tham gia có khả năng áp đặt, tác động hoặc phản ứng lại mộthay một số điều khoản bị phá vỡ trong thỏa thuận mà các bên còn lại không có nănglực đó
TTBCX là nguồn gốc hình thành hai vấn đề "Rủi ro đạo đức" và "Lựa chọnđối nghịch"
Rủi ro đạo đức, xét trên góc độ kinh tế học, là khái niệm phản ánh khả năngviệc tái phân bổ rủi ro (chẳng hạn như trong hợp đồng bảo hiểm - rủi ro được
Trang 24chuyển từ người được bảo hiểm sang người nhận bảo hiểm - công ty bảo hiểm) sẽlàm thay đổi hành vi của người tham gia hoặc có liên quan Chẳng hạn khi mộtngười sở hữu xe hơi và mua bảo hiểm cho xe của mình khi bị trộm thì bản thânngười đó sẽ giảm đi ý thức khóa xe so với khi họ chưa mua bảo hiểm.
Vấn đề này liên quan đến cơ chế TTBCX ở điểm có một bên không thể hoặc
có rất ít khả năng giám sát, thu nhận những thông tin có tính chất quyết định tớigiao dịch Ở ví dụ về bảo hiểm, hiện tượng này thể hiện qua khả năng hạn chế trongviệc giám sát và thu nhận thông tin của công ty bảo hiểm về hành vi và hoạt độngcủa người được bảo hiểm
Với rủi ro lựa chọn đối nghịch, có một phía thiếu thông tin và kiến thức phục
vụ cho quá trình đàm phán thỏa thuận chung hay hợp đồng giao dịch Nó khác vớirủi ro đạo đức ở chỗ rủi ro lựa chọn đối nghịch phát sinh khi đàm phán để đạt đượcthỏa thuận công bằng, còn rủi ro đạo đức phát sinh khi một bên không đảm bảo thựchiện thỏa thuận từ trước hoặc có năng lực tác động, điều chỉnh hoặc phản ứng vớimột hoặc một số điều khoản bị sai lệch khỏi thỏa thuận ban đầu trong khi các bêncòn lại không thể làm được
Rủi ro lựa chọn đối nghịch phát sinh khi có tình trạng TTBCX giữa các bênkhi bắt đầu tham gia vào một giao dịch Lấy ví dụ thị trường điện thoại di động cũ
Có những điện thoại cũ chất lượng tốt và dĩ nhiên có những điện thoại cũ chất lượngkém Vấn đề ở chỗ người mua không thể biết trước khi vào cửa hàng mua một chiếcđiện thoại cũ thì cái nào là tốt và cái nào là không tốt Điều này làm cho người muabuộc phải giả định một mức chất lượng trung bình, từ đó tự đưa ra một mức giátrung bình mà họ chấp nhận mua Việc này dẫn đến một kết quả khác là trong quátrình giao dịch, những chiếc điện thoại cũ dù còn rất tốt cũng không thể được bánvới đúng giá cao thích hợp, còn những chiếc rất kém lại có thể được bán với mứcgiá cao hơn giá trị thực của nó
Trang 251.3.2 Các chủ thể góp phần tạo ra thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán
Trên TTCK nói chung, các chủ thể góp phần tạo ra TTBCX gồm có: (i) Công
ty niêm yết: các công ty này thuờng che giấu sự thật trong các tài liệu công bố thôngtin ra công chúng, cung cấp thông tin không đầy đủ, kịp thời, đúng định kỳ và đúngquy định của pháp luật, báo cáo sai sự thật, công bố các thông tin trái ngược nhauhoặc phủ nhận các thông tin đã được công bố trước đó, sử dụng thông tin nội bộ đểthực hiện các hoạt động trái pháp luật; (ii) Công ty chứng khoán, công ty quản lýquỹ đầu tư, tổ chức lưu ký chứng khoán cố ý không báo cáo hoặc báo cáo không kịpthời khi xảy ra các sự kiện bất thường có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khảnăng tài chính và hoạt động kinh doanh của chính họ; (iii) Các cơ quan quản lý nhưUBCKNN, SGDCK quản lý còn lỏng lẻo, hình phạt chưa thích đáng
1.3.3 Các hình thức của thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán
TTBCX là một hiện tượng rất phổ biến trong nền kinh tế nói chung cũng nhưTTCK nói riêng TTBCX có thể diễn ra với nhiều dạng:
Các nguồn của thông tin bất cân xứng: Trong TTCK, các nguồn TTBCX tồntại trong hai trường hợp Thứ nhất, đây là nơi mà những công ty niêm yết luôn cóthông tin tốt hơn các nhà đầu tư về tình hình kinh doanh của DN mình Thứ hai,công ty niêm yết là người phát hành ra cổ phiếu của chính họ, và điều này chắc chắn
sẽ ảnh hưởng đến lợi ích kinh doanh và chi phí giao dịch của họ
Sự bất cân xứng về thời gian nhận thông tin: Nhà đầu tư có được thông tinsớm hơn có thể đưa ra các quyết định đầu tư chính xác và chủ động hơn, những nhàđầu tư có được thông tin muộn hơn đương nhiên sẽ rơi vào thế bị động và thườngdẫn đến thua lỗ
Không đối xứng về số lượng thông tin: những nhà đầu tư có được số lượngthông tin khác nhau sẽ dẫn đến các quyết định đầu tư khác nhau, lời lỗ cũng khác
Trang 26nhau, đương nhiên người có được lượng thông tin nhiều hơn sẽ chiếm ưu thế trên thị trường.
Bất cân xứng về chất lượng của thông tin: do tính xác thực của thông tinkhác nhau, nhà đầu tư có những thông tin sai lệch sẽ gặp nhiều bất lợi hơn nhà đầu
tư có những thông tin chính xác
Thông tin nhầm lẫn: Một giá trị được quan sát bởi hai thông tin hòa trộn vớinhau thường không xác định được thành phần của thông tin một các gián tiếp, tạonên sự nhầm lẫn thông tin, gây khó khăn khi đưa ra các quyết định đầu tư Ví dụ:thu nhập trên mỗi cổ phiếu là một giá trị có thể quan sát được, nhưng nó có thể là sốliệu thời kỳ hoặc thời điểm
1.3.4 Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đến nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Trước hết phải xét đến các tác động mà TTBCX mang đến cho những nhàđầu tư trên thị trường Chính các nhà đầu tư là những người sử dụng thông tin đểđưa ra quyết định đầu tư của mình nên khi có một sự bất cân xứng thông tin nào xảy
ra trên thị trường thì họ là người gánh chịu hậu quả nhiều nhất Thông tin bất cânxứng là nguyên nhân gốc rễ gây ra sự sai lệch giá cả trên TTCK, trái với nguyên tắccông khai, minh bạch, làm giảm hiệu quả và dẫn đến thất bại thị trường Thông tinđược công bố một cách không đầy đủ và kịp thời, sự thiếu minh bạch trong thịtrường tài chính làm cho nhà đầu tư không thể nắm bắt được tình hình kinh doanh,tình trạng tài chính, cũng như nội bộ điều hành công ty Và kết quả là dựa trên lượngthông tin ít ỏi mà họ có được, việc định giá cổ phiếu, tính toán tỷ suất sinh lợi và rủi
ro từ việc đầu tư là không chính xác Những quyết định đầu tư sai lầm sẽ gây thiệthại cho họ
Bên cạnh đó, hệ thống các quy tắc công bố thông tin còn nhiều sơ hở Chưa
có sự phân loại thông tin rõ ràng cũng như việc diễn đạt thông tin còn mang tínhmập mờ khó hiểu của các tổ chức phát hành Bên cạnh những thông tin vi mô của
DN thì những thông tin vĩ mô về ngành, nền kinh tế còn thiếu và chưa chính xác,
Trang 27ảnh hưởng đến quá trình phân tích của nhà đầu tư khi họ không có cơ sở để so sánh
và dự báo mang tính vĩ mô
Những yếu tố trên đều góp phần làm cho quyết định của nhà đầu tư trở nênkhông hợp lý Bên cạnh sự thua lỗ của nhà đầu tư, tình trạng bất cân xứng về thôngtin sẽ tạo nên thị trường bong bóng và tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường
1.3.5 Nguyên nhân của sự bất cân xứng thông tin
1.3.5.1 Nguyên nhân chủ quan
Đầu tiên, cần xét đến lợi ích của các công ty niêm yết: Việc phát hành chứngkhoán có những yêu cầu và tiêu chuẩn cao, hệ thống kiểm tra nghiêm ngặt Một sốcông ty đáp ứng được những tiêu chuẩn niêm yết hoặc phát hành chứng khoán,nhưng chỉ về mặt hình thức Một số công ty, thường thông đồng với bên bảo lãnhphát hành chứng khoán, đơn vị kiểm toán và các cơ quan trung gian khác làm sailệch báo cáo tài chính, thao tác lợi nhuận nhằm tăng giá trị thực của cổ phiếu Mụcđích là để lừa gạt nhà đầu tư, che giấu tình hình thực tế của công ty, nhằm đạt đượcnhững lợi ích không đáng có
Thứ hai là, có sự tồn tại các giao dịch ngầm của công ty niêm yết: hiện tượng
cổ phiếu với những quyền lợi và cổ tức khác nhau thường dẫn đến việc các công tycon và công ty niêm yết liên kết thương mại, chẳng hạn như gây quỹ cho những dự
án đầu tư, phát hành cổ phiếu mới, tái cơ cấu tài sản, mua sắm, bán hàng và các lĩnhvực liên quan khác, giống như một hộp đen hoạt động kín mà nhà đầu tư không hềhay biết Kết quả chắc chắn dẫn đến TTCK có thông tin bất cân xứng Ngoài ra, cáccông ty niêm yết có thể thông qua các nhóm công ty con để tái cơ cấu lại tài sản,hợp thành một lợi ích thống nhất Những số liệu của các công ty niêm yết này tạo rathông tin không công bằng và hợp lý, tạo ra những bất lợi cho nhà đầu tư
Thứ ba là, sự xuất hiện của giao dịch nội gián: do những thiệt hại nặng nề củagiao dịch nội gián đối với TTCK, nhiều quốc gia, đặt biệt là các nước phát triển, giámsát giao dịch nội gián rất nghiêm ngặt Tuy nhiên, các giao dịch này thường rất khó đểxác định Đồng thời, lợi ích từ các giao dịch này thường lớn hơn hình phạt,
Trang 28gây ra sự bất cân xứng nghiêm trọng giữa lợi nhuận và chi phí Đồng thời, việc cốtình bóp méo thông tin nội bộ cũng gây ra thông tin bất cân xứng trên TTCK.
Thứ tư là, cơ quan quản lý chưa hoàn thành nghĩa vụ được giao: hoạt độngthanh tra, giám sát và quản lý của UBCKNN và SGDCK chưa chặt chẽ, chưanghiêm minh; các quy chế liên quan đến công bố thông tin trên TTCK chưa hoànthiện, còn nhiều khe hở, khung hình phạt chưa thỏa đáng cũng góp phần làm xuấthiện ngày càng nhiều thông tin bất cân xứng trên TTCK
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, đó là sự yếu kém của cáccông ty chứng khoán: một số nhân viên của công ty chứng khoán có đạo đức vànăng lực kém, cố tình báo cáo sai thông tin vì quyền lợi của bản thân hoặc DN niêmyết Kết quả dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại của TTBCX trên thị trường
1.3.5.2 Nguyên nhân khách quan
TTCK thiếu sự giám sát hiệu quả: các quy định và chính sách liên quan đếnTTCK thường được xây dựng bởi các phòng ban khác nhau, các phòng ban nàythường vì lợi ích riêng của ngành mà gây nhiều xung đột và thiếu phối hợp Chínhnhững quy định chưa hợp lý và giám sát chưa chặt chẽ đã tạo điều kiện phát sinhTTBCX
Bên cạnh đó, các công ty niêm yết bị giảm tín nhiệm: Do tín nhiệm của cáccông ty bị giảm sút, nhà đầu tư càng phải thu thập, phân tích thông tin nhiều hơn,làm mất nhiều thời gian và chi phí Vì vậy, tình trạng TTBCX dễ xảy ra khi một sốnhà đầu tư, đặt biệt là các nhà đầu tư vừa và nhỏ, không có điều kiện để tiếp cậnthông tin như các nhà đầu tư lớn
Ngoài ra, cũng phải kể đến nguyên nhân các công ty niêm yết quản trị doanhnghiệp kém: việc quản trị doanh nghiệp kém thường khiến các công ty niêm yết tiết
lộ thông tin tùy tiện hơn Rất khó khăn để đảm bảo tính xác thực của các thông tinnày
Trang 291.4 Một số kinh nghiệm thực tiễn từ ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đến nhà đầu tư tại các thị trường chứng khoán trên thế giới
1.4.1 Thị trường chứng khoán Đài Loan
1.4.1.1 Diễn biến:
Theo thống kê của TTCK Đài Loan, từ năm 1982 đến 2010, đã có 259 trong
số 1.200 DN tại đây bị gỡ bỏ niêm yết khỏi sàn giao dịch
1.4.1.2 Những lý do chính khiến các doanh nghiệp rời khỏi sàn niêm yết
Nguyên nhân trước tiên là, chu kỳ kinh tế khiến DN bất lực trong việc tìmkiến lợi nhuận: Trong quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế, những DN thuộccác ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn phải đối mặt với nguy cơ suy thoái nếukhông có phương án chuyển đổi phù hợp
Nguyên nhân thứ hai là do lãnh đạo DN giảm lượng nắm giữ cổ phần: Khiqui mô kinh doanh trở nên lớn hơn thông qua phát hành tăng vốn cổ phần, việc chiatách quyền sở hữu và quản lý sẽ gây nên các nguy cơ theo đuổi những phương ánkinh doanh nhiều rủi ro
Nguyên nhân thứ ba là do sự gian lận của lãnh đạo DN: Khi tình hình tàichính gặp khó khăn thì gian lận có thể xảy ra Một khi đã gian lận thì họ có thể tạo
ra nhiều điều dối trá khác để che giấu nó Một số DN có xu hướng đánh bóng thôngtin tài chính để giữ giá cổ phiếu ở mức cao, tạo thuận lợi cho họ trong các quan hệtài chính
Nguyên nhân kế tiếp là do đầu tư vào ngành nghề không cốt lõi: DN không
có ngành nghề nòng cốt, khi nền kinh tế trở nên xấu đi, sẽ rất khó để tồn tại
Nguyên nhân cuối cùng là do các DN không cẩn trọng khi mở rộng năng lựcsản xuất: Mở rộng năng lực sản xuất mà không tính toán kỹ qui mô thị trường vàkhả năng cạnh tranh, vay mượn quá đà nhằm mở rộng hoạt động có thể đặt DN vàonguy cơ mất khả năng kiểm soát
1.4.1.3 Bài học kinh nghiệm
Trang 30Thứ nhất, nhà đầu tư cần thu thập thông tin về DN từ nhiều nguồn, đặc biệtcần có các báo cáo có kiểm toán của các công ty kiểm toán có uy tín.
Thứ hai, cần phân tích kỹ các báo cáo tài chính, phân tích chu kỳ kinh doanhngành, phân tích các dự án đầu tư của công ty trước khi đưa ra các quyết định đầutư
1.4.2 Thị trường chứng khoán Nhật Bản
1.4.2.1 Diễn biến
Livedoor là một công ty kinh doanh cổng thông tin trên Internet Sau khi rađời (1997), Livedoor đã nhiều lần chia nhỏ cổ phiếu của mình để thu hút sự ưa thíchcủa đông đảo các nhà đầu tư nhỏ Livedoor mua cổ phiếu của chính mình thông quacác công ty thành viên trước mỗi đợt chia nhỏ cổ phiếu hoặc các thương vụ thâutóm và sáp nhập Sau khi kết thúc thương vụ thâu tóm và sáp nhập hoặc sau khicông ty có thông báo chia nhỏ cổ phiếu, các cổ phiếu này đã được bán r a thu vềnhững khoản lợi to lớn
Khi chủ tịch hội đồng quản trị bị bắt vì các tội danh giao dịch nội gián vàcông bố sai thông tin tài chính vào đầu năm 2006, nhiều nhà đầu tư hoảng loạn, tìmcách bán tháo cổ phiếu Livedoor mà họ đang nắm giữ Tổng giá trị cổ phiếuLivedoor trên thị trường đã sụt giảm nghiêm trọng từ 7 tỷ Đôla xuống chỉ còn dưới
1 tỷ Đôla
Hàng loạt nhà đầu tư tìm cách bán tống cổ phiếu, không chỉ riêng củaLivedoor mà của cả các công ty khác Với số lượng khổng lồ cổ phiếu Livedoor, hệquả của nhiều lần chia nhỏ, đã làm tê liệt Sàn giao dịch Chứng khoán Tokyo, buộcsàn này phải tuyên bố ngừng giao dịch
1.4.2.2 Bài học kinh nghiệm
Trước tiên, cần bảo đảm hiệu lực của hệ thống giám sát các chuẩn mực kếtoán
Tiếp theo là, hệ thống thiết bị kỹ thuật của sàn giao dịch phải tương thích vớiyêu cầu của thị trường
Trang 31Ngoài ra, cần có những hình phạt thích đáng cho những cá nhân cũng như
DN cố tình vi phạm nguyên tắc thị trường, tạo nên thông tin bất cân xứng gây thiệthại cho các nhà đầu tư khác
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn ở các thị
trường chứng khoán trên thế giới
Vai trò của công tác công bố thông tin trên thị trường tài chính nói chung,cũng như TTCK nói riêng, là vô cùng quan trọng, không thể coi nhẹ trong bất kỳhoàn cảnh nào Việc công bố thông tin không chính xác, không kịp thời hoặc chegiấu thông tin có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, khiến các nhà đầu tư bịthua lỗ và có khả năng gây ra thiệt hại nặng nề cho cả nền kinh tế
Các nhà đầu tư cần thu thập thông tin về DN từ nhiều nguồn, đặc biệt là chútrọng đến các báo cáo đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có uy tín Ngoài ra,các nhà đầu tư cũng nên quan tâm phân tích các dự án đầu tư của DN, chu kỳ kinhdoanh ngành…
Các công ty cần tăng cường công tác giám sát, kiểm toán nội bộ cũng nhưthuê các công ty kiểm toán có uy tín nhằm minh bạch hóa các số liệu, thông tin của
DN mình
Cần xây dựng mức phạt phù hợp và xử lý kịp thời, nghiêm minh các DN, cá nhân cố tình vi phạm các nguyên tắc công bố thông tin trên TTCK
Kết luận chương 1
Nội dung chương 1 đã nêu ra một số khái niệm và kiến thức sơ bộ về TTCK
và thông tin bất cân xứng, cùng với những bài học kiểm soát rủi ro đắt giá mà cácTTCK trên thế giới đã trải qua Thông tin bất cân xứng là một khái niệm không quámới ở nước ta nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng hiểu rõ và biết cách bảo vệmình trước tình trạng này Đối với TTCK nói chung và nhà đầu tư nói riêng, thôngtin bất cân xứng là một rủi ro có thể trở nên rất nghiêm trọng nếu không được kiểmsoát đúng mức và có các giải pháp kịp thời Giảm thiểu được
Trang 32tình trạng này sẽ giúp TTCK phát triển lành mạnh và hiệu quả hơn, tạo ra một sân chơi bình đẳng và hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Trang 33CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu về thực trạng của thông tin bất cân xứng đốivới nhà đầu tư trên SGDCK TP.HCM, chúng ta hãy cùng điểm lại những cột mốclịch sử của quá trình hình thành cũng như các giai đoạn phát triển của TTCK tại ViệtNam
2.1 Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1 Quá trình hình thành
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi, ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ
đã ký ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK cùng vớiquyết định thành lập hai Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh, chính thức khai sinh cho TTCK Việt Nam ra đời Trước đó, sự
ra đời của UBCKNN bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996 chính là sự chuẩn bị
mở đường cho TTCK Việt Nam
Được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20/07/2000, TTGDCK TP HCM đã chính thức khai trương đi vào vận hành Qua 7 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK thế giới , TTGDCK TP HCM đã chính thức được Chính phủ ký Quyết đinḥ số 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Ngày 08/08/2007, SGDCK TP.HCM đã chính thức được khai trương
TTGDCK Hà Nội, được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTgngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày8/3/2005 với các hoạt động chính là tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán niêmyết, đấu giá cổ phần và đấu thầu trái phiếu Sau 4 năm hoạt động với những bướctrưởng thành nhanh và mạnh, TTGDCK Hà Nội được chuyển đổi thành SGDCK HàNội theo Quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 34SGDCK Hà Nội chính thức ra mắt vào ngày 24/6/2009, kế thừa mọi quyền và nghĩa
vụ của TTGDCK Hà Nội và thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Luật Chứngkhoán, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ tổ chức và hoạt động của SGDCK Hà Nội vàcác quy định pháp luật khác có liên quan SGDCK Hà Nội có mức vốn điều lệ1.000 tỷ đồng
2.1.1.2 Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Giai đoạn 2000-2005
Đây được xem là giai đoạn khai sinh của TTCK Việt Nam Sự ra đời củaTTCK nước ta được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành TTGDCK TP.HCM ngày20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thời điểmlúc bấy giờ, chỉ có 2 DN niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷđồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch
Số lượng chứng khoán niêm yết đã tăng dần qua các năm Tuy nhiên, trongsuốt giai đoạn này, thị trường luôn ở trạng thái ảm đạm Trong 5 năm, chỉ số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến 130 điểm Lý dochính là ít hàng hoá, các DN niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng, không hấp dẫnnhà đầu tư trong nước
Ngày 8/3/2005 TTGDCK Hà Nội chính thức đi vào hoạt động Giai đoạnkhởi sắc dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoàiđược nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)
Nhìn chung, giai đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCKViệt Nam, giá trị vốn hóa TTCK trong giai đoạn này chỉ đạt trên dưới 1% GDP
Bảng 2.1: Qui mô của TTCK Việt Nam từ năm 2000 đến 2005
Năm
Trang 35Số công ty niêm yết
Trong giai đoạn này, TTCK Việt Nam phát triển nhanh chóng, tạo ra nhiều kỷ
lục và gây nhiều bất ngờ cho giới đầu tư trong cũng như ngoài nước
Kể từ đầu năm 2006, TTCK nước ta mang một diện mạo hoàn toàn mới với
hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 sàn: TTGDCK TP.HCM, TTGDCK Hà Nội và
thị trường OTC Cuối năm 2006, chỉ số VN-Index tại sàn giao dịch TP HCM
(Hostc) tăng 144% và tại sàn giao dịch Hà Nội (Hastc) tăng 152,4% so với năm
2005 Trong vòng một năm, chỉ số VN-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm
cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006 Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 44 công ty
năm 2005 đã lên tới 193 công ty Mức vốn hoá cổ phiếu cuối năm 2006 đã lên tới
220 nghìn tỷ đồng, tương đương với 13,8 tỷ USD (chiếm 22,7% GDP)
Bảng 2.2: Quy mô niêm yết cổ phiếu đến hết 31/12/2006
Số lượng công
Nguồn: www.vcbs.com.vn [6]
Tiếp theo đó, Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 có hiệu lực từ ngày
01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội
nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức
niêm yết được tăng cường Đây là giai đoạn TTCK nước ta thực sự bùng nổ Trong
Trang 36giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạt các cổphiếu từ blue-chip, penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn… Sau 3 thángđầu năm 2007, tất cả các cổ phiếu đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so vớimức giá giao dịch đầu năm 2007, trong đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởngtrên 100% như: STB (113,57%), REE (122,66%), ACB (197%),….
Tuy nhiên, do thị trường phát triển quá nóng, các cơ quan quản lý nhà nướccũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểmsoát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quánóng của thị trường như chỉ thị 03, luật thuế thu nhập cá nhân,… Phản ứng trướcđiều này, TTCK đã có những đợt điều chỉnh rõ rệt Giai đoạn điều chỉnh này ghinhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE và HASTC, tất cả các yếu tố của thị trườngđều giảm sút nghiêm trọng Thị trường xác lập mức đáy 883,9 điểm của VN-indexvào ngày 6/8/2007 và 247,37 điểm của Hastc-Index vào ngày 23/08/2007
Vào những tháng cuối năm 2007, thị trường cũng có những thời điểm phụchồi mạnh mẽ Kết thúc phiên giao dịch cuối năm 2007, VN-index đạt 927,02 điểm,tăng 23.3%; Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm, tăng 33.2% so với cuối năm2006
Bảng 2.3: Quy mô niêm yết cổ phiếu đến hết 31/12/2007
Nguồn: www.vcbs.com.vn [6]
Nếu như vào thời điểm cuối 2006, tổng giá trị vốn hóa TTCK Việt Nam đạthơn 22% GDP, thì đến cuối năm 2007, đã đạt hơn 40% GDP, vượt mục tiêu 25-30%GDP mà Thủ tướng đặt ra trong chiến lược phát triển của TTCK đến năm 2010
Trang 37Những thời kỳ tăng giảm, rớt điểm rồi lại phục hồi của VN-index trong giai đoạn 2006-2007 được thể hiện rõ nét hơn trong biểu đồ sau:
Hình 2.1: Biểu đồ hiển thị diễn biến của VN-index trong giai đoạn 2006 - 2007
Nguồn: www.cafef.vn [2]
Giai đoạn 2008-2009
Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế thế giới, TTCK Việt Nam sụt giảmmạnh vào năm 2008, nhiều mã cổ phiếu rơi xuống dưới mệnh giá Chỉ trong vòngnửa đầu năm 2008, VN-index đã mất đi gần 60% giá trị và trở thành một trongnhững thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới
Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đầu tư trong giai đoạn này chủ yếuxuất phát từ nội tại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát, chính sáchthắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, sự leo thang của giá xăng dầu và sức épgiải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK Ngoài ra, trongnăm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việc Chính phủ đẩymạnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chưa kể hàng loạt ngân hàng, công tychứng khoán, doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, dẫnđến tình trạng cung vượt cầu
Trang 38Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, ngày 04/03/2008,Chính phủ đã đưa ra nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trường Trong đó có những giảipháp chính như thu hẹp biên độ giao dịch, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốnNhà nước (SCIC) mua vào cổ phiếu, vận động các NHTM ngừng giải chấp, khuyếnkhích các tổ chức niêm yết mua vào cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ Tuy nhiên, phần lớncác biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn, và thị trường tiếp tục sụtgiảm Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này của VN-index là 286,85 điểm vào ngày10/12/2008 Kết thúc năm 2008, VN-index giảm mất 239,52 điểm, tương đương43,15%, còn 312,49 điểm.
Mặc dù trong những tháng cuối năm 2009, TTCK đã có điều chỉnh giảm dotác động của chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ nhưng nhìn chung thì cả năm
2009 TTCK Việt Nam có một năm tăng trưởng ấn tượng Đến cuối năm 2009, Index đã tăng thêm 171,96 điểm so với cuối năm 2008, từ 312,49 điểm lên đến494,77 điểm tương đương với mức tăng là 58%, với giá trị giao dịch đạt 423.299 tỉđồng
VN-Ngày 24/06/2009, sàn Upcom (thị trường giao dịch chứng khoán chưa niêmyết) chính thức đi vào hoạt động nhưng suy giảm mạnh và ít được quan tâm Do cònmột số hạn chế trong phương thức khớp lệnh nên sàn giao dịch này chưa thu hútđược sự quan tâm của nhà đầu tư Vì vậy, các công ty đại chúng không còn mặn màkhi niêm yết ở sàn giao dịch này Upcom-Index giảm từ 100 điểm khi thành lậpxuống 53,88 điểm (46,18%), khối lượng giao dịch chỉ trong khoảng 2-3 tỉđồng/ngày
Kết thúc giai đoạn 2008-2009, mức vốn hóa trên toàn thị trường là 620 nghìn
tỷ đồng, tương đương gần 38% GDP năm 2009
Bảng 2.4: Quy mô niêm yết cổ phiếu cuối năm 2008 và 2009
Năm
Trang 39Nguồn: www.cafef.vn [5]
Giai đoạn 2010 đến nay
Từ đầu năm 2010 đến nay, TTCK Việt Nam rơi vào tình trạng ảm đạm kéodài, các chỉ số Index chính đều suy giảm Nguyên nhân chính được đánh giá là dokinh tế vĩ mô trong và ngoài nước không thuận lợi, trong đó lạm phát được xem làyếu tố nhạy cảm nhất Với mục tiêu kiềm chế lạm phát, lãi suất trở thành công cụphản ánh chỉ số CPI Do lạm phát tăng cao, lãi suất cho vay trong giai đoạn này liêntục ở mức trung bình 14% - 20%, có khi trên 20%, gây khó khăn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Mặc dù các cổ phiếu có biến động rất lớn về giá, nhưng cả hai chỉ số Index và VN-index không có những đợt tăng đáng kể nào Gần nửa đầu năm 2010 làchu kỳ tăng của chỉ số VN-index, phần lớn thời gian còn lại của năm 2010, VN-index ở mức 450-500 điểm
HNX-Một số vấn đề về biến động tiền tệ như: đồng đô la Mỹ mất giá liên tục so vớinhiều đồng tiền khác nhưng tăng giá mạnh so với Việt Nam đồng; lạm phát cao vàlãi suất cao cũng khiến TTCK Việt Nam điều chỉnh mạnh vào quý III năm 2010.Nguồn cung cổ phiếu tăng nhanh cũng đã tạo áp lực quá lớn khi mà lực cầu có hạn.Rủi ro kinh tế vĩ mô khiến dòng tiền mới từ các thị trường khác không tìm đếnTTCK nhiều như trước, hầu như không có quỹ đầu tư mới nào có tên tuổi xuất hiệnhay có khoản tiền mới đáng kể nào được huy động đầu tư vào TTCK Ngoài ra,thông tư 13 của NHNN cũng làm giảm nguồn vốn từ các ngân hàng cũng như nhàđầu tư cá nhân vào TTCK
Kết thúc năm 2010, mức vốn hóa thị trường trên cả 2 sàn đạt 726 nghìn tỷđồng, tăng 17.1% so với năm 2009 , tương đương khoảng 39% GDP năm 2010
Bảng 2.5: Quy mô thị trường đến hết ngày 31/12/2010
Trang 40Nguồn: www.vcbs.com.vn [6]
Với bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái vì vấn đề nợ công của các nước châu
Âu và Mỹ, cùng với tình hình lạm phát cao trong nước buộc NHNN phải áp dụng
chính sách tiền tệ thắt chặt, TTCK Việt Nam từ đầu năm 2011 đến nay vẫn tiếp tục
sụt giảm
Theo số liệu của UBCKNN, tính đến đầu tháng 6, tổng giá trị vốn hóa trên cả
2 sàn Hose và HNX là 643.395 tỷ đồng, giảm 6,39% (hay 44.000 tỷ) so với 3 tháng
trước đó Nếu so với GDP năm 2010 tính theo giá thực tế được tổng cục thống kê
công bố là 1,98 triệu tỷ đồng thì tổng giá trị vốn hóa thị trường chỉ chiếm 32,495%
Bảng 2.6: Quy mô thị trường đến hết ngày 07/06/2011
Số lượng công tyniêm yết
Nguồn: www.ssc.gov.vn [1]
Tính đến ngày 7/6/2011, số lượng mã chứng khoán niêm yết trên HOSE là
284 cổ phiếu và 5 chứng chỉ quỹ, trên HNX là 384 cổ phiếu Vào thời gian này, khá
nhiều thông tin tích cực về kinh tế vĩ mô và TTCK đã xuất hiện Lạm phát đã có dấu
hiệu được kềm chế, lãi suất huy động và cả lãi suất cho vay bắt đầu có xu hướng hạ
dần, mở ra hy vọng cho dòng tiền vào kênh chứng khoán Thuế thu nhập cá nhân
của nhà đầu tư chứng khoán cũng được bộ tài chính đề xuất trình lên Quốc hội cho
miễn từ tháng 8/2011 đến hết năm 2012 Tuy nhiên, hầu hết thông tin tích cực đã
không cứu vớt được thị trường Lực cầu vẫn chưa nhiều và thị trường vẫn tiếp tục
ảm đạm