1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiện tượng lao động việt nam bất hợp pháp tại hàn quốc từ cách tiếp cận lý thuyết trò chơi

74 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các cơ quan quản lý của Việt Nam không thể lên kế hoạch hay phân bổ lực lượng lao động này sang các thị trường khác như Đài Loan, Nhật Bản hay các nước Trung Đông mỗi k

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

-

NGUYỄN THỊ HỒNG DUNG

HIỆN TƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM BẤT HỢP PHÁP TẠI HÀN QUỐC TỪ CÁCH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP Hồ Chí Minh, năm 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

-

NGUYỄN THỊ HỒNG DUNG

HIỆN TƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM BẤT HỢP PHÁP TẠI HÀN QUỐC TỪ CÁCH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 60340402

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS VŨ THÀNH TỰ ANH

TP Hồ Chí Minh năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện Các số liệu và các đoạn trích dẫn tôi đã sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và độ chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ của tập thể các thầy cô giáo Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và tập thể MP8 Đặc biệt, tôi muốn dành lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, người đã truyền cho tôi cảm hứng nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và thực hiện nghiên cứu một cách khoa học, đồng thời kịp thời điều chỉnh, góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện để luận văn này được hoàn thiện nhất

Cuối cùng, tôi không thể hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu luận văn nếu không nhận được sự hỗ trợ tuyệt vời từ gia đình tôi, ba mẹ và chồng cùng các con tôi Các anh chị đồng nghiệp và lãnh đạo tại cơ quan cũng là nguồn động viên liên tục, giúp tôi hoàn thành chặng đường này và đạt được kết quả cao nhất trong khả năng của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của tất cả mọi người./

Trang 5

TÓM TẮT

Một tỷ lệ lớn người lao động Việt Nam làm việc bất hợp pháp tại Hàn Quốc, bất chấp việc chính quyền hai nước đặt ra các quy định nhằm giảm thiểu và xử phạt những trường hợp này Mặc dù giai đoạn nghiên cứu được giới hạn trong vòng 5 năm từ 2009 đến 2013 do hạn chế về số liệu, nhưng những phát hiện có thể giải thích cho một hiện tượng đã tồn tại qua một thời gian dài và chưa có hướng giải quyết

Những phân tích trong bài nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hệ quả tỷ lệ lao động bất hợp pháp cao đến từ cả ba phía: chủ lao động Hàn Quốc, người lao động Việt Nam và chính quyền hai nước Sử dụng lý thuyết trò chơi làm công cụ để mô hình hóa hiện tượng này, đề tài chỉ ra động cơ kinh tế của các bên cùng với những lỗ hổng thể chế hiện tại là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rất nhiều lao động Việt Nam tại Hàn Quốc đang làm việc bất hợp pháp Chủ lao động là tác nhân tạo nên nhu cầu đối với lao động bất hợp pháp Nếu chủ lao động tuyển lao động bất hợp pháp, phản ứng tốt nhất của người lao động là làm việc và cư trú bất hợp pháp Nếu người lao động làm việc và cư trú bất hợp pháp, phản ứng tốt nhất của chủ lao động là tuyển lao động bất hợp pháp

Đề tài thực hiện ước tính lợi ích của hai bên dựa trên xác suất bị bắt, các hình phạt

và lợi ích hàng tháng Các kết luận về bài toán cho thấy chủ lao động chỉ cần thuê tuyển 01 lao động bất hợp pháp trong vòng 0,7 ngày, lợi hơn ích của anh ta sẽ lớn hơn khi không thuê tuyển, cho dù người lao động đó có bị phát hiện hay không Người lao động cũng sẽ đạt đến điểm hòa vốn sau khi làm việc bất hợp pháp một thời gian không quá dài là 5,6 tháng Chính phủ Hàn Quốc do chịu sức ép từ khu vực doanh nghiệp và áp lực thiếu lao động trong nước, không thể mạnh tay với các chủ lao động vi phạm Các cơ quan liên quan phía Việt Nam cũng không thể giải quyết triệt để do thiếu cơ sở và biện pháp để cưỡng chế, bên cạnh thực tế là nhu cầu xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc vẫn rất lớn Trạng thái cân bằng của trò chơi là điểm “tuyển; trốn” của chủ lao động và người lao động chính là câu trả lời cho hiện tượng hàng loạt lao động bỏ trốn tại Hàn Quốc

Để giải quyết tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn tại Hàn Quốc, đề tài khuyến nghị các biện pháp khắc phục những điểm yếu về thể chế để từ đó làm giảm động cơ kinh tế của các bên Thứ nhất, chính phủ Việt Nam có thể xác lập lại vị thế khi đàm phán và gây sức ép ngược lại với chính phủ Hàn Quốc trong việc xử lý tình trạng này, tránh thế bị động như

Trang 6

hiện nay Theo đó, hướng xử lý hiệu quả nhất là đề nghị chính phủ Hàn Quốc kiên quyết trong việc xử lý các chủ lao động Hàn Quốc thuê tuyển người bất hợp pháp, cụ thể là tăng xác suất bị bắt và chế tài xử phạt, thay vì hướng vào người lao động Việt Nam như hiện nay Xác suất này có thể được tăng bằng cách quy định bắt buộc người lao động bất hợp pháp khi bị bắt phải khai ra chủ tuyển dụng của mình Thứ hai, cần phải giảm thu nhập kỳ vọng của người lao động Việt Nam bằng cách tăng khả năng bị bắt, hình phạt khi vi phạm và cưỡng chế thực hiện mạnh mẽ hơn so với hiện nay Ngoài ra, đối với việc tuyển dụng lao động, không nên tuyển tập trung ở một địa phương hay một khu vực cục bộ nào đó quá nhiều để làm tăng chi phí bỏ trốn của người lao động Cuối cùng, các cơ quan chức năng cần có biện pháp mở rộng thị trường XKLĐ hoặc ngừng đưa người sang những quốc gia có thị trường chợ đen về lao động

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

DANH MỤC KÍ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC PHỤ LỤC viii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC BẢNG viii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Vấn đề chính sách 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 5

1.5 Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 7

2.1 Lịch sử EPS 7

2 2 Các vấn đề về xuất khẩu lao động 9

2.3 Lý thuyết trò chơi 10

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 13

3.1 Xây dựng mô hình 13

3.1.1 Các giả định 13

3.1.2 Các giai đoạn trong mô hình 13

3.2 Thuyết minh mô hình 14

3.2.1 Các quyết định dưới góc nhìn của chủ lao động 15

Giai đoạn 1: chủ lao động quyết định tuyển hay không tuyển lao động BHP 15

3.2.2 Các quyết định dưới góc nhìn của người lao động: 17

Giai đoạn 2: Người lao động quyết định trốn hoặc không trốn 17

3.2.3 Tác động của chính quyền trong trò chơi 19

3.3 Ước tính lợi ích các bên 23

3.4 Kết luận về trò chơi 31

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34

4.1 Kết luận 34

4.2 Kiến nghị 35

Trang 8

4.3 Hạn chế của đề tài 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC 40

Trang 9

DANH MỤC KÍ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

Bộ LĐTB&XH Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

Trang 10

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Báo cáo của Văn phòng Quản lý Lao động EPS Việt Nam- Trung tâm Lao động

Ngoài nước- Bộ LĐTB&XH 40

Phụ lục 2 Danh sách các xã tạm dừng tuyển chọn lao động đi Hàn Quốc năm 2017 46

Phụ lục 3: Quy trình thực hiện chương trình EPS 54

Phụ lục 4: Tỷ lệ chi phí lao động gián tiếp trên tổng chi phí lao động của các ngành tại Hàn Quốc từ năm 2009 đến 2013 56

Phụ lục 5: Thông tin về chính sách miễn, giảm xử phạt đối với người lao động đang cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc 57

Phụ lục 6 Nội dung phỏng vấn chuyên gia 59

Phụ lục 7 Bảng câu hỏi phỏng vấn người lao động 62

Phụ lục 8 Bảng tổng hợp nội dung trả lời phỏng vấn 64

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Các thị trường XKLĐ lớn của Việt Nam năm 2014……….1

Hình 1.2 Tỷ lệ lao động Việt Nam đi Hàn Quốc trên tổng số lao động xuất khẩu 2

Hình 1.3 Ngành nghề làm việc của người lao động khi ở nước ngoài 2

Hình 1.4: Tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước theo chương trình EPS tính đến hết tháng 9/2015 4

Hình 3.1: Sơ đồ trò chơi của chủ lao động và người lao động 14

Hình 3 2 Chi phí lao động từ năm 2009 đến 2013 16

Hình 3 3 Sơ đồ các kết cục 25

Hình 3 4 Mô hình trò chơi với các ước tính lợi ích 31

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Xác suất bị bắt của lao động bất hợp pháp ở Hàn Quốc 20

Bảng 3.2 Bảng tính lợi ích của người lao động và chủ lao động bằng cách suy luận ngược 26

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Theo dòng chảy của xu hướng toàn cầu hóa, lao động từ các quốc gia có thể dịch chuyển từ nơi này qua nơi khác theo quy luật cung - cầu, tạo ra hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) Ở cấp vĩ mô, XKLĐ là hoạt động kinh tế chiến lược, đóng góp vào nguồn thu của quốc gia, giải quyết việc làm giúp xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, đồng thời góp phần phân phối nguồn lực lao động hiệu quả hơn Ở cấp vi mô, XKLĐ giúp nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, giúp họ tích lũy vốn để cải thiện chất lượng cuộc sống, chất lượng giáo dục và chăm sóc y tế nhờ vào nguồn kiều hối được gửi về trong nước

Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia nhận lượng kiều hối lớn nhất trên thế giới, với lượng kiều hối riêng năm 2010 đạt 8 tỉ USD (Ngân hàng Thế giới, trích trong IOM & Bộ LĐTB&XH, 2013), cho thấy XKLĐ là hoạt động có hiệu quả kinh tế cao của quốc gia Việt Nam đã bắt đầu đưa người đi XKLĐ từ những năm 1980, và đặc biệt đẩy mạnh từ sau năm

2000 Trong khoảng 3 năm trở lại đây, thị trường XKLĐ Việt Nam trở nên sôi động với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2014 Số lao động Việt Nam lần đầu tiên đạt kỷ lục khi vượt mức 100.000 lao động/năm, tức tăng trưởng 21,2% so với năm trước

Hình 1.1 Các thị trường XKLĐ lớn của Việt Nam năm 2014

Nguồn: Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

Trang 12

Hiện nay, Việt Nam đang XKLĐ sang 29 thị trường, trong đó 3 thị trường có số lượng tiếp nhận với quy mô lớn nhất là Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc Hình 1.1 cho thấy ba thị trường này chiếm tới hơn 83% tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam năm 2014 Tuy nhiên, nếu xét riêng thị trường Hàn Quốc, Hình 1.2 cho thấy từ năm 2011 đến 2015, tỷ lệ lao động Việt Nam mà Hàn Quốc tiếp nhận liên tục giảm từ 18% xuống 5%, mặc dù tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng

Hình 1.2 Tỷ lệ lao động Việt Nam đi Hàn Quốc trên tổng số lao động xuất khẩu

Năm

Tổng số

lao động xuất khẩu

XKLĐ theo thị trường Tỷ lệ lao động đi

Nguồn: Cục Quản lý Lao động Ngoài nước

Ngoài ra, theo thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước (QLLĐNN) (Hình 1.3), có tới 90% các lao động của Việt Nam đi làm việc ở các nước dưới dạng lao động phổ thông, chủ yếu làm công nhân trong các xí nghiệp sản xuất công nghiệp, giúp việc gia đình hoặc công nhân xây dựng Do XKLĐ sẽ vấn tiếp tục là hướng đi cho Việt Nam trong những năm tới, nhằm tận dụng nguồn lực lao động dồi dào và thu hút vốn cho nền kinh tế, cần thiết phải nghiên cứu về vấn đề này để cải thiện hiệu quả của hoạt động XKLĐ hiện nay

Hình 1.3 Ngành nghề làm việc của người lao động khi ở nước ngoài

Nguồn: Cục QLLĐNN trong IOM & Bộ LĐTB&XH (2013)

Trang 13

1.2 Vấn đề chính sách

Lao động Việt Nam có thể sang Hàn Quốc theo đường chính thức qua chương trình cấp phép lao động mới (EPS) hoặc phi chính thức, bằng cách kết hôn giả, đi du lịch rồi bỏ trốn để ở lại làm việc bất hợp pháp (BHP) Nếu lựa chọn EPS, lao động phổ thông chỉ có thể

đi XKLĐ thông qua Trung tâm Lao động Ngoài nước (TTLĐNN) Đây là đơn vị duy nhất được Bộ LĐTB&XH ủy quyền cho phép đưa người đi lao động tại Hàn Quốc Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả sẽ chỉ đề cập và phân tích thị trường lao động chính thức theo chương trình EPS

Theo báo cáo của Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc (Bộ VLLĐ), năm 2016, tại Hàn Quốc có hơn 277.000 người nước ngoài đang làm việc trong khuôn khổ chương trình EPS Trong đó, Việt Nam có tỷ lệ người lao động cao nhất với 40.483 người, tương đương 14.61%, bao gồm cả hợp pháp và BHP Tỷ lệ người lao động Việt Nam theo chương trình EPS cư trú BHP tại Hàn Quốc năm 2016 là 37.9%, cao nhất trong số các quốc gia phái cử Cụ thể, trong khi tỷ lệ trung bình là 14.5% thì Việt Nam cao gấp 2.5 lần, tiếp theo là Trung Quốc với 36.9%, Mông Cổ (29.6%) và Đông Timo (22%) (Phụ lục 1)

Lao động BHP hay lao động bỏ trốn, theo định nghĩa tại Quyết định 1465/QĐ-TTg ngày 21/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc, là những người lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc hết hạn hợp đồng không về nước đúng hạn

Từ năm 2012 cho đến nay, Hàn Quốc đã có những động thái mạnh tay hơn đối với vấn đề người Việt Nam cư trú BHP Năm 2012, Hàn Quốc không còn tiếp tục tổ chức thi để xét tuyển lao động Việt Nam theo chương trình EPS đối với 63 tỉnh thành do tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn hoặc cư trú BHP đã vượt quá 55% Hàn Quốc chỉ đồng ý tiếp nhận trở lại với

điều kiện Việt Nam có giải pháp để giảm tỷ lệ này Hình 1.4 cho thấy, giai đoạn từ quý IV

/2014 đến hết quý III/2015 chứng kiến sự sụt giảm về tỷ lệ lao động BHP do Hàn Quốc tăng cường truy quét mạnh và cả hai nước đều đưa ra các chính sách khoan hồng Phía Hàn Quốc đã khuyến khích người lao động nước ngoài tự nguyện về nước bằng cách miễn phạt tiền và không cấm tái nhập cảnh Đồng thời, chính phủ Việt Nam cũng cho phép miễn xử phạt các lao động Việt Nam đang cư trú BHP tại Hàn Quốc trở về nước trước 31/12/2015 theo Nghị quyết số 62/NĐ-CP ngày 7/9/2015 Sau nhiều nỗ lực, cuối cùng Hàn Quốc đồng ý ký kết

Trang 14

một thỏa thuận đặc biệt nhưng thời hạn chỉ còn một năm chứ không ký kết lâu dài như trước Tuy nhiên, năm 2016 và 2017, Hàn Quốc vẫn tiếp tục yêu cầu tạm dừng tuyển dụng lao động

từ các tỉnh thành có tỷ lệ bỏ trốn cao (Phụ lục 2) Điều này đồng nghĩa với việc hàng năm, hàng ngàn người lao động đã hoàn thành quy trình thủ tục nhưng mất cơ hội đi XKLĐ Hàn Quốc, gây lãng phí nguồn lực lớn

Hình 1.4: Tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước theo chương

trình EPS tính đến hết tháng 9/2015

Nguồn : Cục Quản lý lao động ngoài nước

Tình trạng lao động BHP cao gây thiệt hại về kinh tế và xã hội cho cả hai nước Đối với Việt Nam, việc một lực lượng lao động lớn hàng năm không được đi Hàn Quốc gây ra sự lãng phí nguồn lực một cách vô ích Các cơ quan quản lý của Việt Nam không thể lên kế hoạch hay phân bổ lực lượng lao động này sang các thị trường khác như Đài Loan, Nhật Bản hay các nước Trung Đông mỗi khi Hàn Quốc tạm dừng tuyển dụng Việt Nam cũng bị ảnh hưởng về mặt uy tín quốc gia và quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc khi để hiện tượng này kéo dài qua nhiều năm Đối với Hàn Quốc, việc lao động làm việc BHP thay vì hợp pháp sẽ gây thiệt hại kinh tế đối với những chủ doanh nghiệp đã bỏ chi phí thuê tuyển lao động hợp pháp Người lao động cũng không có bảo hiểm sức khỏe, thân thể và nghề nghiệp, khiến

Trang 15

thiệt hại mà chính phủ Hàn Quốc phải chịu khi rủi ro xảy ra là rất lớn Quan trọng hơn, tình trạng này gây ra những hệ lụy về mặt trật tự xã hội vì số lượng lao động BHP này không được quản lý bởi bất cứ cơ quan nào của Hàn Quốc

Hàn Quốc vốn là thị trường truyền thống của Việt Nam, và vẫn sẽ tiếp tục là thị trường tiềm năng trong những năm tới Những dự báo về dân số đều chỉ ra Hàn Quốc sẽ tiếp tục trong tình trạng thiếu hụt lao động trong ít nhất 30 năm tới, do vậy sẽ tiếp tục cần tuyển lao động nước ngoài để bù đắp cho nguồn cầu trong nước Hàn Quốc được dự báo sẽ có nhu cầu nhập khẩu khoảng 100.000 lao động mỗi năm và tổng cộng khoảng 1,5 triệu lao động từ

2030 đến 2050 (S Kim, 2014) Đặc biệt, so với các thị trường khác, Hàn Quốc có ưu điểm là tiền lương cao hơn, trung bình khoảng 1.000 đến 1.200 USD/tháng (IOM & Bộ LĐTB&XH, 2013) và Hàn Quốc cũng không quá “khó tính” trong việc sử dụng lao động nước ngoài Hàn Quốc là thị trường có tính đại diện cao, kết quả phân tích được kỳ vọng có thể lý giải hiện tượng lao động BHP ở các nước khác như Nhật Bản, Đài Loan và Malaysia, những nước Châu Á có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và pháp luật

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Trước những vấn đề nêu trên, nghiên cứu này có mục đích tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng lao động Việt Nam tại Hàn Quốc bỏ trốn kéo dài qua nhiều năm, khiến Việt Nam luôn ở thế thụ động mỗi khi bị chính phủ Hàn Quốc áp lệnh ngừng tuyển dụng Từ đó, nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị chính sách nhằm giải quyết và cải thiện tình trạng này, để hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt hiệu quả cao hơn

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu như trên, nghiên cứu sẽ tập trung trả lời hai câu hỏi chính có nội dung như sau:

(1) Tại sao mặc dù có nhiều biện pháp được thực hiện nhưng người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc vẫn bỏ trốn với tỷ lệ cao như hiện nay?

(2) Nếu vẫn muốn tiếp tục hoạt động XKLĐ với Hàn Quốc, chính phủ Việt Nam

phải làm gì?

Trang 16

1.5 Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ việc Hàn Quốc ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam ở các địa phương có

tỷ lệ bỏ trốn cao, đề tài sẽ áp dụng lý thuyết trò chơi để mô hình hóa nhằm lý giải tại sao trong điều kiện như hiện nay, luôn luôn tồn tại một tỷ lệ lao động bỏ trốn

Mô hình được thiết kế theo dạng thức trò chơi động với thông tin đầy đủ và hoàn hảo, bao gồm hai giai đoạn Hai người chơi chính là chủ lao động và người lao động đều biết trước hàm lợi ích của nhau, cũng như biết trước lịch sử của trò chơi Ở giai đoạn thứ nhất, chủ lao động là người ra quyết định với hai lựa chọn: tuyển lao động BHP hoặc không tuyển lao động BHP Người lao động ra quyết định ở giai đoạn thứ hai với hai quyết định: bỏ trốn để làm lao động BHP hay không bỏ trốn để duy trì trạng thái lao động hợp pháp Các khả năng có thể xảy ra dựa trên từng quyết định sẽ được lượng hóa thành lợi ích ròng của hai bên Đối với dạng thức bài toán này, phương pháp tìm điểm cân bằng sẽ là quy nạp ngược

từ kết cục cuối cùng Từ kết luận của bài toán, đề tài sẽ đưa ra các khuyến nghị nhằm thay đổi thế cân bằng của bài toán này

Bài nghiên cứu được cấu trúc gồm 4 chương Chương I giới thiệu tóm tắt về hoạt động XKLĐ của Việt Nam, bối cảnh làm nảy sinh vấn đề chính sách Chương này cũng trình bày về mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu để đạt được mục tiêu đã nêu Trong chương II, đề tài sẽ giới thiệu về nội dung chương trình EPS, đồng thời tóm lược các nghiên cứu đi trước về XKLĐ và lý thuyết trò chơi Chương 3 sẽ đưa ra mô hình và thuyết minh mô hình theo khung lý thuyết trò chơi để có được kết luận về bài toán Cuối cùng, chương 4 sẽ giành cho các kết luận tổng thể và khuyến nghị chính sách đối với vấn đề nghiên cứu của đề tài

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

2.1 Lịch sử EPS

Cuối những năm 1990, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu có sự phân mảng rõ rệt giữa ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghiệp thâm dụng lao động Lao động không kỹ năng hoặc kỹ năng thấp có xu hướng làm việc trong ngành dịch vụ hơn là ngành công nghiệp thâm dụng lao động Điều này khiến Hàn Quốc rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng, đặc biệt là với những công việc “3D” mang đặc điểm chung là dơ bẩn, nguy hiểm và khó khăn Doanh nghiệp Hàn Quốc hoặc phải sử dụng lao động nước ngoài, hoặc phải chuyển đến nơi có mức lương thấp hơn để tiếp tục tồn tại (Chang, Seok, & Baker, 2008)

Tiền thân của EPS là hai chương trình ra đời từ những năm 1990 nhưng cũng không thể kiểm soát số lượng lao động BHP Chương trình Thực tập sinh Công nghiệp ra đời năm

1991 với mục tiêu nâng cao tay nghề cho nhân viên của các công ty con của các tập đoàn Hàn Quốc ở nước ngoài, được đưa tới nước này thông qua Liên đoàn các Doanh nghiệp nhỏ Hàn Quốc Tới năm 1993, Hàn Quốc đưa ra Chương trình Đào tạo Công nghiệp và Kỹ thuật để nhập khẩu lao động

Chương trình EPS- Employment Permit System hay Hệ thống Cấp phép Việc làm, cho phép lao động nước ngoài làm việc tại Hàn Quốc, giúp họ được hưởng các chế độ bình đẳng như những người lao động Hàn Quốc chứ không còn là thực tập sinh như trước Chương trình này hướng tới bốn mục tiêu: (i) giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa; (ii) ngăn ngừa nhập cư không thường xuyên và nâng cao minh bạch trong thuê tuyển; (iii) đáp ứng nhu cầu của các chủ lao động; và (iv) bảo vệ nhân quyền của người lao động nhập cư Chương trình này được Quốc hội Hàn Quốc phê chuẩn năm 2003 và có hiệu lực năm 20041 EPS đã nhận được đánh giá tốt của cộng đồng quốc tế và giành giải nhất trong chuỗi giải thưởng dành cho các dịch vụ công tốt nhất trên thế giới của Liên Hợp Quốc năm 2011(Ishizuka, 2013)

Có thời điểm, do nhu cầu lao động cao, số lượng lao động BHP lên đến 87% tổng số lao động nước ngoài tại Hàn Quốc (Korea Labour Institute, 2003) EPS ra đời đã làm giảm đáng kể số lượng lao động BHP và giảm chi phí đi XKLĐ của người lao động Chi phí này

Trang 18

đã giảm từ mức trung bình 3,509 USD/người năm 2001 xuống mức 941 USD/người (Park, 2017)

Những nguyên tắc tương đối nghiêm ngặt của EPS đối với người lao động và chủ lao động đã góp phần mang lại nhiều lợi ích cho lao động nước ngoài nhưng đồng thời gây cản trở cho họ, trong khi vẫn không xóa bỏ được toàn bộ số lượng lao động BHP Theo quy định của EPS, các doanh nghiệp Hàn Quốc khi không tuyển được lao động trong nước mới được phép tuyển lao động nước ngoài và chỉ với số lượng nhất định Quy trình này trải qua nhiều giai đoạn và tốn nhiều thời gian của các chủ doanh nghiệp Việc giới thiệu và quản lý toàn bộ các vấn đề liên quan đến người lao động nước ngoài do Bộ VLLĐ Hàn Quốc thực hiện Bộ này sẽ ký Bản ghi nhớ với các nước phái cử để tiếp nhận lao động đến Hàn Quốc làm việc Việt Nam được chon là 1 trong 15 nước tham gia chương trình này

Theo quy định của EPS, người lao động Việt Nam chỉ được phép làm việc trong bốn lĩnh vực gồm sản xuất, xây dựng, đánh bắt và nông nghiệp Thời hạn hợp đồng thông thường là ba năm, nhưng nếu được gia hạn, tổng thời gian dài nhất mà một người lao động được phép lưu trú tại Hàn Quốc sẽ là 4 năm 10 tháng Khi visa hết hạn, người lao động phải rời khỏi Hàn Quốc và không thể tái nhập cảnh sau ít nhất 6 tháng Tuy nhiên, người lao động không thể tự do thay đổi nơi làm việc mà chỉ được chuyển việc trong một số trường hợp nhất định như doanh nghiệp giải thể, chậm trả lương, đối xử không công bằng hay vi phạm các điều khoản hợp đồng

Tại Việt Nam, Trung tâm Lao động ngoài nước (TTLĐNN) được Bộ LĐTB&XH giao nhiệm vụ là cơ quan phái cử lao động, có nhiệm vụ phối hợp tổ chức thi tiếng Hàn, tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký dự tuyển và đưa thông tin vào hệ thống của Hàn Quốc để giới thiệu cho doanh nghiệp Hàn Quốc Toàn bộ hoạt động này được thực hiện theo mục tiêu phi lợi nhuận, tạo điều kiện hỗ trợ tối đa cho người lao động Tương tự, Cơ quan Phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc (HRD) được Bộ VLLĐ giao nhiệm vụ là cơ quan tiếp nhận hồ sơ và giới thiệu cho doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động Người lao động đủ trình độ tiếng Hàn chỉ phải đóng một khoản phí khoảng 1.200 USD cho tất cả các chi phí cần thiết trước khi sang Hàn Quốc Từ năm 2013, người lao động bắt buộc phải ký quỹ 100.000.000 đồng tại Ngân hàng Chính sách và Phát triển Việt Nam trước khi đi để hoàn thành quy trình thủ tục

(Phụ lục 3)

Trang 19

2 2 Các vấn đề về xuất khẩu lao động

Về lý thuyết nền tảng của xuất khẩu lao động, nghiên cứu “Các quan hệ lao động và

người lao động nhập cư” (Seok, 2008) cho rằng đây là quá trình lao động dịch chuyển xuyên

biên giới và diễn ra đáp ứng lại sự thay đổi của các cơ hội làm việc trong hệ thống kinh tế toàn cầu, được thúc đẩy bởi thu nhập cao hơn, được tạo điều kiện bởi các chính sách xuất nhập cảnh (XNC) của nhà nước, được dàn xếp bởi các mạng lưới và thể chế nhập cư, và bị ảnh hưởng bởi sự điều chỉnh xã hội và kinh tế ở quốc gia đến Điều này cho thấy ở cấp vĩ

mô, nguyên nhân của XKLĐ là cơ hội việc làm thay đổi Ở cấp vi mô, đó là thu nhập cao hơn Ở cấp trung gian, phương tiện nhập cư, cụ thể là các mạng lưới và thể chế nhập cư chuyển các cơ hội nhập cư thành các động cơ nhập cư

Nghiên cứu trên đã cũng đã thực hiện khảo sát với 740 mẫu để tìm ra lý do bỏ trốn, bao gồm năm nhóm sắc tộc là người Trung Quốc gốc Hàn Quốc (122 người), Trung Quốc (108 người), Việt Nam (147 người), Indonesia (222 người) và Philippine (141 người) để tìm hiểu lý do người lao động chọn làm việc ở Hàn Quốc, quan hệ lao động và sự điều chỉnh về mặt xã hội của họ Lý do người lao động Việt Nam muốn ở lại Hàn Quốc là lý do liên quan đến thu nhập, khác với người Trung Quốc là vì cơ hội việc làm Lao động từ các nước Đông Nam Á muốn trở về nước hầu hết đều do “nhớ nhà hơn là do thu nhập”

Cũng tìm hiểu lý do bỏ trốn, nghiên cứu“Các nhân tố ảnh hưởng khiến lao động Việt

Nam làm việc bất hợp pháp tại Hàn Quốc” do Bộ LĐTB&XH thực hiện với sự hỗ trợ của

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã chỉ ra nhiều phát hiện quan trọng Theo kết quả phỏng vấn sâu 243 người lao động Việt Nam đã và đang làm việc tại Hàn Quốc, có bốn nhóm nhân tố chính dẫn đến tình trạng này Thứ nhất, do nhận thức và ý thức của người lao động còn hạn chế, bao gồm động cơ kinh tế là chênh lệch lương lớn giữa Hàn Quốc và Việt Nam, chi phí xuất cảnh cao, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật kém và ý thức về lợi ích tập thể kém Thứ hai, do còn tồn tại nhu cầu sử dụng lao động di cư không có giấy tờ hợp pháp của các chủ sử dụng lao động tại Hàn Quốc, quy trình tuyển dụng lao động mất thời gian và tốn kém, xử phạt nhẹ Thứ ba, công tác tuyển dụng và quản lý lao động của Việt Nam còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc pháp lý Cuối cùng, do các nhân tố liên quan đến môi

trường và thể chế, chính sách và công tác quản lý người lao động di cư của Hàn Quốc Đối với vấn đề lao động bỏ trốn, nghiên cứu “Xuất khẩu lao động quốc tế ở Việt Nam

và tác động của chính sách ở các nước tiếp nhận” (Ishizuka, 2013) chỉ ra rằng chi môi giới

Trang 20

bất hợp pháp, chi phí trước khi xuất cảnh cao và tình trạng thất nghiệp của lao động về nước là ba nhân tố khiến người lao động không nhận được nhiều lợi ích như kỳ vọng Hơn nữa, tiền đặt cọc không những không hiệu quả mà còn không công bằng Tiền đặt cọc làm tăng gánh nặng kinh tế đối với người lao động, và khiến cho nỗi lo sợ mất tiền đặt cọc của họ lớn hơn việc đòi hỏi quyền lợi, làm xuất hiện nghịch lý là gia tăng động cơ làm việc BHP của người lao động

Về các yếu tố xác định tiền lương của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc, nghiên

cứu “Thị trường lao động của người lao động nhập cư tại Hàn Quốc” (Sang, 2004) đã thực

hiện hồi quy OLS với 3,499 mẫu trong khu vực sản xuất và 817 mẫu trong khu vực xây dựng tại Hàn Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy lao động BHP có mức lương theo giờ cao hơn thực tập sinh hợp pháp là 24% Ngoài ra, đối với người lao động nước ngoài, trình độ giáo dục không ảnh hưởng tới mức lương, nhưng số giờ làm việc có ảnh hưởng lớn

Về nguyên nhân các chủ doanh nghiệp Hàn Quốc sử dụng lao động BHP, nghiên cứu

của Viện lao động Hàn Quốc năm 2003 với tiêu đề “Khảo sát về việc làm và quản lý người

lao động” đã có những phát hiện thú vị Thông qua khảo sát 846 doanh nghiệp Hàn Quốc,

bao gồm 600 doanh nghiệp sử dụng lao động hợp pháp và 246 doanh nghiệp sử dụng lao động BHP, nghiên cứu chỉ ra rằng động cơ chính yếu khiến doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài BHP là do: “khó tìm lao động trong nước”, tiếp đến là lý do “lao động nước ngoài chăm chỉ và trung thành”, “tiền lương thấp hơn”, “họ dễ bảo hơn”, “họ có thể làm việc nhiều giờ hơn” Khảo sát cũng cho thấy “rào cản ngôn ngữ” và “khác biệt văn hóa” là hai khó khăn ảnh hưởng lớn nhất đến việc hoàn thành các nhiệm vụ của lao động nước ngoài

2.3 Lý thuyết trò chơi

Lý thuyết trò chơi là một nhánh của toán học ứng dụng, một công cụ để nghiên cứu các tình huống ra quyết định hay chiến lược có liên quan tới nhiều bên, trong đó quyết định của mỗi bên ảnh hưởng tới lợi ích và quyết định của bên khác Nói cách khác, lý thuyết này nghiên cứu lựa chọn hành vi tối ưu của mỗi bên khi chi phí và lợi ích của mỗi chiến lược không cố định mà phụ thuộc vào chiến lược của người chơi khác Mục tiêu chính của lý thuyết trò chơi là để xác định chiến lược tối ưu cho mỗi người chơi Một chiến lược là một quy luật hay một kế hoạch hành động để người chơi có thể chơi trò chơi đó (Rubinfeld, 2014) Các quyết định mang tính chiến lược, tức là những quyết định có tính đến phản ứng và hành động của người chơi còn lại, sẽ mang đến lợi ích ròng cho người chơi Lợi ích này

Trang 21

được xác định từ giá trị kỳ vọng, giá trị được định nghĩa là bình quân gia quyền của giá trị

từ các kết cục có thể, với xác suất của các kết cục được sử dụng như các trọng số

Nếu căn cứ vào thông tin thì các trò chơi để phân loại, có thể chia thành trò chơi với thông tin đầy đủ hoặc không đầy đủ Trò chơi với thông tin đầy đủ là khi mỗi người chơi

có thể tính toán được kết quả của tất cả những người chơi còn lại Trò chơi được coi là có thông tin hoàn hảo nếu như tại mỗi bước phải ra quyết định, người chơi đó biết được toàn bộ lịch sử các bước đi trước của trò chơi Còn nếu căn cứ vào thời gian hành động của người chơi, trò chơi được chia thành hai loại, tĩnh và động Trong trò chơi tĩnh, những người chơi hành động đồng thời, và kết quả cuối cùng của mỗi người phụ thuộc vào phối hợp hành động của tất cả người chơi Trò chơi động diễn ra theo nhiều giai đoạn khác nhau, và ở mỗi giai đoạn chỉ có một người chơi hành động (Vũ Thành Tự Anh, 2012) Trong trò chơi động, dựa trên thông tin đầy đủ và hoàn hảo, điểm cân bằng sẽ được xác định bằng phương pháp quy nạp ngược, tức là bắt đầu từ điểm cuối cùng của trò chơi (Vũ Thành Tự Anh, 2013) Cân bằng Nash là một tập hợp các chiến lược (hay hành động) khiến cho mỗi người chơi nghĩ (một cách đúng đắn) rằng mình đang làm việc tốt nhất có thể làm khi đã biết các hành động của những đối thủ của mình Chiến lược tối ưu là chiến lược làm tối đa hóa lợi ích kỳ vọng của người chơi Chiến lược ưu thế là chiến lược tối ưu đối với một người chơi, bất kể đối phương làm gì (Rubinfeld, 2014)

Về mặt lý thuyết, trò chơi đạt đến trạng thái cân bằng khi “mỗi bên đã hành động phù hợp nhất với dự đoán của mình về điều mà bên kia mong đợi và những dự đoán đó là đúng” Thế nhưng, câu hỏi cần phải được trả lời nhất là điều gì khiến dự đoán của một bên về hành

vi của bên kia trùng khớp nhau Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thể chế, luật lệ nhà nước hoặc thông lệ xã hội là những yếu tố chính phối hợp kỳ vọng và dẫn dắt hành vi của các bên tham gia trò chơi (Lê Hồng Nhật, 2016)

Theo Thomas Schelling, trong trò chơi nào cũng sẽ có một điểm hội tụ Điểm này được hình thành do các tiền lệ, sự công bằng hay tính đối xứng, hoặc do tác động của người môi giới Cụ thể là, tiền lệ sẽ cho phép ta dự đoán được điểm hội tụ, tức là điểm mà kỳ vọng của các bên trùng khớp nhau Tới lượt nó, kỳ vọng lại định hướng hành động của người chơi và sau một thời gian, hành động đó lại trở thành tiền lệ Thomas Schelling gọi đây là

những hình mẫu Tuy nhiên, trước khi một thông lệ nào đó được hình thành, có vô số các

Trang 22

hình mẫu khác nhau tồn tại Những diễn biến trong xã hội khiến cho quan hệ xã hội thường bị chuyển dịch hay đẩy dần từ hình mẫu này sang hình mẫu khác Sau một thời gian, sẽ có một tiền lệ nổi lên như một “thể chế phối hợp kỳ vọng và cưỡng chế hành vi”( Lê Hồng Nhật, 2016)

Bài nghiên cứu sẽ sử dụng khung phân tích là lý thuyết trò chơi dưới dạng trò chơi động, cùng với các nguyên tắc cơ bản của trò chơi này để phân tích các tương tác chiến lược của các bên và kết luận về điểm cân bằng Các khuyến nghị sẽ được đưa ra dựa trên kết quả về cân bằng của bài toán

Trang 23

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 3.1 Xây dựng mô hình

3.1.1 Các giả định

Đề tài sử dụng lý thuyết trò chơi để mô hình hóa quá trình tương tác và ra quyết định của người lao động và chủ lao động Để quy nạp ngược, cần giả định rằng các bước đi trong tương lai đều hợp lý

Với giả định người chơi tối đa hóa thu nhập kỳ vọng, tác giả ước tính lợi ích ròng kỳ vọng của hai bên bằng cách tính chênh lệch giữa lợi ích và chi phí của mỗi bên theo giá cố định trong giai đoạn 5 năm từ 2009 đến 2013 Đối với chủ lao động, giả định lợi ích duy nhất mà họ nhận được là chênh lệch tổng chi phí lao động khi thuê tuyển lao động BHP so với khi không tuyển Chi phí của chủ lao động được tính dựa trên hình phạt của chính quyền Hàn Quốc khi phát hiện vi phạm Đối với người lao động, giả định lợi ích duy nhất mà người lao động nhận được là chênh lệch tiền lương hàng tháng, còn chi phí duy nhất mà họ phải trả là hình phạt theo quy định của hai nước khi bị bắt Với giả định là các lao động trong Chương trình EPS đều chi trả một mức như nhau để đi XKLĐ, đề tài không tính đến các chi phí không chính thức mà người lao động phải chi trả trước khi đi, vốn được nhắc đến rất nhiều trong các nghiên cứu về XKLĐ

3.1.2 Các giai đoạn trong mô hình

Mô hình được cấu trúc dưới dạng trò chơi động, bao gồm 2 giai đoạn Tại mỗi nút, chỉ

có 1 bên ra quyết định Không gian hành động của mỗi bên chỉ bao gồm hai lựa chọn Ở giai đoạn 1, chỉ có chủ lao động là người ra quyết định Không gian hành động của chủ lao động

là lựa chọn tuyển lao động BHP hoặc không tuyển lao động BHP Người lao động ra quyết định ở giai đoạn 2, với không gian chiến lược bao gồm lựa chọn bỏ trốn hoặc không bỏ trốn

Ở giai đoạn 2, nếu chủ lao động không tuyển người BHP, đồng nghĩa với việc họ tuyển lao động hợp pháp Người lao động khi đó chỉ có thể lựa chọn tiếp tục làm việc hợp pháp nếu còn hạn visa theo hợp đồng, hoặc về nước theo quy định nếu đã hết visa Còn nếu chủ lao động lựa chọn tuyển lao động BHP, người lao động có thể quyết định xem mình nên bỏ trốn để trở thành lao động BHP hay không bỏ trốn để tiếp tục làm việc như lao động hợp pháp

Trang 24

Hình 3.1: Sơ đồ trò chơi của chủ lao động và người lao động

Nguồn: Tác giả tự vẽ

3.2 Thuyết minh mô hình

Từ cuối những năm 1990, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu có sự phân mảng rõ rệt giữa ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghiệp thâm dụng lao động Hai ngành này có sự chênh lệch lớn về mức lương và những lao động không kỹ năng hoặc kỹ năng thấp có xu hướng làm việc trong ngành dịch vụ hơn là ngành công nghiệp thâm dụng lao động Điều này khiến Hàn Quốc rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng ở những ngành thâm dụng lao động, đặc biệt là những việc mang đặc điểm chung là dơ bẩn, nguy hiểm và khó khăn Đây là lý do khiến các doanh nghiệp Hàn Quốc hoặc phải sử dụng lao động nước ngoài, hoặc phải chuyển đến nơi có mức lương thấp hơn để tồn tại (Chang et al., 2008)

CHỦ LAO ĐỘNG

NGƯỜI LAO ĐỘNG

Không tuyển lao động BHP

Tuyển lao động BHP

NGƯỜI LAO ĐỘNG

Không trốn

Về nước

nếu hết

hạn visa

Tiếp tục làm việc nếu còn hạn visa

Trốn

Trang 25

Do quy trình tuyển dụng lao động nước ngoài phức tạp và mất nhiều thời gian, trong khi nhu cầu bổ sung nhân sự của các chủ lao động vẫn tăng và có tính cấp thiết, rất nhiều

chủ doanh nghiệp Hàn Quốc đã xem xét đến khả năng tuyển dụng lao động BHP

Toàn bộ diễn biến thể hiện đây là một trò chơi động với thông tin đầy đủ và hoàn hảo,

gồm nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn chỉ có một bên ra quyết định, trong đó chủ lao động là người ra quyết định trước tiên Các bên đều biết đến hàm thỏa dụng hay lợi ích của bên kia trong các trường hợp, đồng thời biết lịch sử của toàn bộ trò chơi Các phân tích dưới đây giải thích cho việc tại sao chủ lao động tiếp tục tuyển lao động BHP và người lao động sẽ tiếp tục làm việc BHP

3.2.1 Các quyết định dưới góc nhìn của chủ lao động

Giai đoạn 1: chủ lao động quyết định tuyển hay không tuyển lao động BHP

Chiến lược không tuyển

Chủ lao động có thể lựa chọn không tuyển lao động BHP do không thích rủi ro, lo sợ bị bắt, bị phạt và do vậy, chỉ sử dụng lao động hợp pháp trong doanh nghiệp của mình Đây là những người lao động đã được tuyển dụng chính thức qua Chương trình EPS và chủ lao động thực hiện toàn bộ trách nhiệm với người lao động, bao gồm trả lương và các chi phí bảo hiểm, thất nghiệp,… theo Luật Lao động Hàn Quốc Như vậy, chênh lệch chi phí và lợi ích so với khi tuyển lao động hợp pháp là 0

Những chủ lao động quyết định tuyển lao động BHP hầu hết đều do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, quy trình để tuyển dụng lao động nước ngoài rất mất thời gian, trong khi

nhiều chủ lao động cần lao động ngắn hạn hoặc cần bổ sung lao động ngay lập tức do có thay đổi về nhân sự đột ngột hoặc cần thêm nhân công do có đơn hàng mới Theo quy định của Luật Lao động Nước ngoài của Hàn Quốc, các chủ doanh nghiệp chỉ có thể thuê tuyển lao động nước ngoài khi có xác nhận của cơ quan chức năng rằng doanh nghiệp không thể thuê được lao động trong nước Mục đích của quy trình này là bảo vệ quyền lợi của lao động trong nước, tránh cạnh tranh không lành mạnh của lao động nước ngoài Tuy nhiên, chính quy trình phức tạp này lại khiến các chủ lao động ưu ái hơn cho các lao động BHP nước

Trang 26

ngoài Quy trình đăng ký thuê tuyển lao động nước ngoài phải được lên kế hoạch từ sớm và

sẽ mất ít nhất 75 ngày để tuyển được lao động nước ngoài theo quy định Mỗi năm, việc phân bổ lao động nước ngoài chỉ diễn ra khoảng từ ba đến bốn lần, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp thiếu hụt nhân sự và không được bổ sung kịp thời do lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước hạn hoặc do nhiều lý do khác (Y P & M Kim, 2015)

Thứ hai, về mặt kinh tế, việc tuyển lao động BHP tiết kiệm được đáng kể chi phí cho

chủ lao động vì họ không phải đóng các loại bảo hiểm theo quy định và giảm thiểu chi phí đào tạo cũng như chi phí hỏng sản phẩm Theo kết quả Điều tra Chi phí Lao động của Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc thực hiện trên 3.525 doanh nghiệp có quy mô từ 10 đến 99 nhân công cố định, chi phí lao động gián tiếp trung bình giai đoạn từ năm 2009 đến 2013 chiếm khoảng 19,8% tổng chi phí lao động của các doanh nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ, tức là có dưới 100 ngàn người lao động

Hình 3.2 Chi phí lao động từ năm 2009 đến 2013

Nguồn: Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc 2

2http://laborstat.molab.go.kr

Trang 27

Số liệu trên được tổng hợp hàng năm qua điều tra về chi phí lao động, chi phí bảo hiểm, lương hưu, giáo dục và đào tạo, các phúc lợi theo và không theo quy định của luật pháp3 Theo số liệu trên đây, chi phí lao động gián tiếp mà chủ lao động phải trả bao gồm chi phí tuyển người, chi trả tiền thôi việc, các phúc lợi được quy định theo luật và theo thông lệ, chi phí tuyển người và đào tạo người lao động Các chi phí này tương đương với 623 USD (tỷ giá tháng 12 năm 2013) (Phụ lục 1) Như vậy, nếu không tính đến phần chênh lệch lương trả cho người lao động, khi chủ lao động thuê tuyển một lao động BHP và không bị

phạt, chủ lao động được lợi 623 USD/người/tháng so với khi không tuyển lao động BHP

Thứ ba, các lao động BHP thường đã có kinh nghiệm và có ngoại ngữ nên năng suất

lao động cao hơn lao động mới Kết quả khảo sát do Viện Lao động Hàn Quốc thực hiện trên 846 mẫu cho thấy rào cản ngôn ngữ và khác biệt văn hóa là hai hạn chế lớn nhất với lao động nước ngoài trong việc hoàn thành nhiệm vụ được giao Ngoài ra, một lao động nước ngoài sẽ mất trung bình 3,6 tháng để nắm được những kỹ năng cần thiết cho công việc (Sang, 2004) Điều này cho thấy khi thuê tuyển lao động BHP, chủ lao động sẽ có nhiều lợi ích về chi phí, thời gian và hiệu quả công việc

3.2.2 Các quyết định dưới góc nhìn của người lao động:

Giai đoạn 2: Người lao động quyết định trốn hoặc không trốn

Người lao động có thể lựa chọn không bỏ trốn để tiếp tục làm việc và hoàn thành hợp đồng, trở về nước đúng thời hạn quy định vì các lý do sau:

Thứ nhất, người lao động vì lý do cá nhân hoặc nhớ nhà, muốn trở về khi hết thời hạn

làm việc Theo nghiên cứu Quan hệ lao động và người lao động nhập cư, lao động từ các

nước Đông Nam Á muốn trở về nước chủ yếu là do “nhớ nhà” chứ không phải lý do về thu nhập Những người lao động trở về nước hầu hết đều không so sánh lợi ích về kinh tế mà do muốn đoàn tụ với gia đình

dựng và sản xuất chế tạo, do đây là hai ngành có tỷ lệ lao động bất hợp pháp cao Giai đoạn được lựa chọn là

từ năm 2009 đến 2013 để phù hợp với giai đoạn nghiên cứu Chi phí gián tiếp bao gồm các chi phí ngoại trừ tiền lương cơ bản, lương làm thêm ngoài giờ và các khoản tiền thưởng khác mà người lao động nhận trực tiếp

Do hạn chế về nguồn dữ liệu, tác giả chưa thể tìm được ước tính tương tự đối với các doanh nghiệp dưới 10 nhân công

Trang 28

Thứ hai, người lao động muốn hoàn thành hợp đồng do lo sợ khi vi phạm pháp luật sẽ

bị bắt, bị phạt và trục xuất Đây là những người có thái độ sợ rủi ro hoặc ghét may rủi, nên sợ phải đối mặt với những hình phạt nếu bị bắt khi lao động BHP Giá trị thu nhập kỳ vọng

ở trường hợp không trốn cao hơn khi trốn, và người lao động đánh giá rủi ro bị bắt cao nên không mạo hiểm để làm việc BHP mà bảo toàn lợi ích bằng cách làm việc hợp pháp

Thứ ba, người lao động kết thúc hợp đồng đã nhận được lợi nhuận như kỳ vọng trước

khi đi và không có động cơ kéo dài thời gian làm việc Người lao động đã thu hồi những chi phí bỏ ra trước khi đi xuất khẩu lao động và có được một khoản tiền tích lũy sau thời gian làm việc tại Hàn Quốc, động cơ kinh tế của họ không đủ lớn để khiến họ mạo hiểm

Để hiểu nguyên nhân vì sao người lựa chọn bỏ trốn, sau khi thực hiện phỏng vấn (Phụ lục 6, 8) và tham khảo các tài liệu, tác giả xác định một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, người lao động có những mâu thuẫn không thể giải quyết với chủ lao động

Mâu thuẫn này có thể phát sinh do sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa hoặc kỷ luật làm việc

của hai bên Nguyên nhân này cũng được chỉ ra trong nghiên cứu “Các quan hệ lao động và

người lao động nhập cư” của Huyn-Ho Seok, trong đó kết luận “rào cản ngôn ngữ” và “khác

biệt văn hóa” là những cản trở lớn nhất đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ của lao động nước ngoài Công tác tuyển dụng và đào tạo trước khi xuất cảnh của Việt Nam còn lỏng lẻo, người lao động không được trang bị ngoại ngữ và kiến thức đầy đủ để phục vụ công việc (Bộ LĐTB&XH, 2013) Điều này khiến việc trao đổi thông tin giữa người lao động và chủ doanh nghiệp khó thông suốt và gây áp lực cho cả hai bên

Thứ hai, người lao động không muốn tiếp tục làm việc trong môi trường độc hại, thực

hiện những công việc mang tính chất nguy hiểm, dơ bẩn và khó khăn Nhiều người lao động đã phải chuyển việc khi sang tới Hàn Quốc và nhận công việc quá nguy hiểm hoặc độc hại,

do họ không có thông tin đầy đủ về công việc sẽ làm trước khi đi

Thứ ba, do mức chênh lệch lương khi bỏ trốn và khi không bỏ trốn quá lớn, khiến

người lao động có động cơ tối đa hóa lợi nhuận Chênh lệch này ở mức 24% (Sang, 2004) theo kết quả đã phân tích trên hơn 3,400 người lao động Như đã đề cập ở phần trước, chủ lao động có khả năng chi trả cao hơn và cũng có động cơ trả lương cao hơn cho lao động BHP so với lao động hợp pháp

Trang 29

Thứ tư, do người lao động quan sát thấy có rất nhiều trường hợp đã bỏ trốn trước đó

và không bị xử phạt, và các đợt ân xá vẫn diễn ra (Whan-woo, 2012) (Phụ lục 5) Trước năm

2013, Việt Nam không có quy định nào dành cho người lao động bỏ trốn tại Hàn Quốc Tất cả các trường hợp vi phạm sau khi trở về nước đều không bị xử phạt Thậm chí ngay cả khi có quy định xử phạt, việc thực hiện cưỡng chế cũng là bất khả thi Nguyên nhân của tình trạng này được lý giải rõ hơn ở phần xử phạt trên thực tế của chính quyền hai nước

Những nguyên nhân trên độc lập với nhau, nhưng không nhất thiết loại trừ lẫn nhau, nghĩa là một người có thể quyết định bỏ trốn do một tập hợp nhiều nguyên nhân

3.2.3 Tác động của chính quyền trong trò chơi

Sau khi chủ lao động đã tuyển lao động BHP, lúc này chính quyền Hàn Quốc có thể

mở các chiến dịch truy quét để bắt giữ, xử phạt và trục xuất những người lao động BHP, và các chủ lao động sử dụng lao động BHP tại Hàn Quốc Chính phủ Việt Nam cũng muốn giữ cam kết với nước tiếp nhận về việc quản lý chặt chẽ những người lao động nước mình đưa sang làm việc, có thể xử phạt người lao động Việt Nam khi họ vi phạm và trở về nước và kết hợp với Hàn Quốc để cấm người vi phạm tái nhập cảnh Hàn Quốc

Theo quy định của pháp luật Hàn Quốc, người lao động BHP hết hạn visa và làm việc BHP đã vi phạm Điều 18 Luật Xuất nhập cảnh sẽ bị trục xuất về nước và cấm nhập cảnh

Hàn Quốc trong vòng 5 năm, cùng với khoản phạt 1 triệu Won (tương đương 950 USD)

(Korea Immigration Service, 2016) Ngược lại, chủ lao động thuê tuyển người nước ngoài hết hạn cư trú tại Hàn Quốc sẽ bị xử phạt do vi phạm Điều 19 Luật XNC Hàn Quốc với mức phạt tối đa là 2 triệu won, tương đương với 1,900 USD năm 2013

Nếu người lao động còn hạn visa nhưng làm việc BHP thì đã vi phạm Luật Lao động

do không đăng ký thay đổi nơi làm việc, người lao động sẽ bị trục xuất và bị cấm nhập cảnh

5 năm Chủ lao động tuyển dụng lao động BHP cũng bị tước giấy phép thuê tuyển người

nước ngoài trong vòng 3 năm theo quy định của Luật Lao động

Để ước tính thu nhập kỳ vọng hàng tháng của người lao động, cần thiết phải ước tính xác suất bị bắt cùng với những hình phạt có thể có khi bị bắt Đối với xác suất người lao động bị chính quyền Hàn Quốc bắt giữ, tác giả tính toán dựa trên số liệu về số người vi phạm

Trang 30

Luật XNC và Luật Lao động qua các năm Dữ liệu thu thập được về số người vi phạm Luật Xuất nhập cảnh từ năm 2009 đến 2013 (giả sử tất cả những người vi phạm này là người lao động BHP) và tổng số người cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ Hàn Quốc trong giai đoạn này được tác giả tổng hợp như sau:

Bảng 3.1 Xác suất bị bắt của lao động bất hợp pháp ở Hàn Quốc

Năm 2009 2010 2011 2012 2013 Trung

bình Tổng số vụ vi phạm Luật

XNC xảy ra 3.023 2.733 1.706 1.330 1.565 - Số người bị bắt giữ 2.777 2.587 1.590 1.217 1.422

Tỷ lệ bắt giữ/số vụ XNC

Tội phạm lao động - - 1.584 1.391 1.721 -

Tổng số người cư trú BHP 177.955 168.515 170.614 174.058 183.106 -

Tỷ lệ bắt giữ/ tổng số người

vi phạm 1,6% 1,5% 1,9% 1,5% 1,7% 1,6%

Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu từ Cơ quan Dịch vụ Thống kê Hàn Quốc 4

Số liệu trên cho thấy, mặc dù Hàn Quốc đánh giá tỷ lệ người vi phạm Luật XNC bị bắt là trên 90% tổng số vụ vi phạm xảy ra, nhưng trên thực tế, con số này chỉ chiếm trung bình 1,2% tổng số người đang vi phạm mà chưa bị phát hiện trong giai đoạn 2009-2013 Nếu tính thêm số người bị bắt do vi phạm Luật Lao động qua ba năm từ 2011 đến 2013, tỷ lệ này

cũng không cao hơn đáng kể mà chỉ ở mức 1,6% Điều này có nghĩa là cứ 100 lao động bỏ

trốn thì có tới 98 người chắc chắn không bị bắt Cần lưu ý rằng tỷ lệ này trên thực tế có thể thấp hơn 1,6%, vì số liệu được đưa vào tính toán với giả định toàn bộ số người vi phạm Luật XNC và Luật Lao động là người lao động BHP, trong khi trên thực tế số người vi phạm này bao gồm nhiều hình thức vi phạm khác như nhập cư trái phép, xâm phạm biên giới hay vi phạm hợp đồng lao động

4 http://kosis.kr/eng/statisticsList/statisticsList_01List.jsp?vwcd=MT_ETITLE&parentId=B#SubCont

http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2011/10/117_97233.html

Trang 31

Quy định của Chính phủ Việt Nam

Trước tình trạng tỷ lệ lao động BHP tại Hàn Quốc vẫn ở mức cao, năm 2013, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra hai hình thức xử phạt Cụ thể, theo quy định tại Điều 35 của Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội, người lao động khi vi phạm sẽ bị phạt từ 80 đến 100 triệu (tương đương 3,793 đến 4,742 USD theo tỷ giá năm 2013) Bên cạnh đó, trước khi xuất cảnh, người lao động phải hoàn thành thủ tục ký quỹ 100 triệu đồng và nếu vi phạm, số tiền này sẽ được chuyển về Quỹ Giải quyết việc làm địa phương cấp tỉnh nơi người lao động cư trú hợp pháp trước khi đi Như vậy, nếu những quy định này được áp dụng, người lao động

xuất cảnh sau ngày 20/11/2013 nếu vi phạm sẽ bị phía Việt Nam xử phạt tối đa là 9,483

USD Tuy nhiên với những lao động xuất cảnh trước thời điểm này, Việt Nam không đưa ra

chế tài nào để xử phạt cụ thể

Động thái của chính phủ Việt Nam đối với vấn đề người lao động BHP từ trước tới nay, mặc dù về hình thức là có nhiều biện pháp khác nhau, nhưng trên thực tế không có hiệu quả giảm tỷ lệ này Bên cạnh việc thường xuyên đưa ra các đợt ân xá, miễn xử phạt để kêu gọi lao động về nước, Việt Nam cũng không cưỡng chế xử phạt các trường hợp vi phạm Trong vòng 2 năm sau khi Việt Nam đưa ra các chế tài xử phạt người lao động, chưa có bất cứ người lao động nào bị xử phạt (VTV, 2016)

Theo nội dung phỏng vấn với ông T.A.T, Phó trưởng đại diện Văn phòng Bộ LĐTB&XH Khu vực Phía Nam và phỏng vấn với người lao động, việc xử phạt này hoàn toàn bất khả thi vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, để xử phạt người lao động, cơ quan nhà nước cần có căn cứ để lập biên bản

vi phạm hành chính Thẩm quyền lập biên bản này thuộc về Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc công chức, viên chức đang thi hành công vụ và phát hiện ra hành vi vi phạm Tuy nhiên, do Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thường quan tâm đến việc bảo hộ và hỗ trợ công dân nhiều hơn là xử lý vi phạm, nên hầu như không lập biên bản

Thứ hai, ngay cả khi có đủ căn cứ để lập biên bản, việc tống đạt văn bản và cưỡng chế

xử phạt cũng gặp vô vàn khó khăn Vào thời điểm hợp đồng hết hạn và người lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc, nếu người lao động vẫn đang cư trú BHP tại Hàn Quốc thì biên bản

Trang 32

này sẽ chỉ tới tay người nhà Với lý do không có ràng buộc pháp lý, người nhà của họ hoàn toàn có quyền từ chối nộp phạt Nếu người lao động đang có mặt tại địa phương và nhận được biên bản, họ cũng từ chối nộp phạt với lý do không có tiền Chính quyền địa phương không thể cưỡng chế vì người lao động có thể chẳng có tài sản gì có giá trị trong nhà để tịch thu Những tiền lệ này đã trở thành thông lệ phổ biến, khiến việc cưỡng chế xử phạt hoàn toàn khó thực hiện

Ngoài ra, theo Quyết định số 1465/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS, người lao động phải ký quỹ 100 triệu đồng trước khi đi Tại khoản c), mục 2, Điều 1 có ghi:

“Người lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc hết hạn hợp đồng không về nước đúng hạn, ở lại cư trú và làm việc trái phép tại Hàn Quốc thì tiền ký quỹ của người lao động (bao gồm cả gốc và lãi) không phải hoàn trả lại cho người lao động Số tiền

ký quỹ này được chuyển vào Quỹ Giải quyết việc làm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để hỗ trợ công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật và các hoạt động khác nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động và giải quyết việc làm tại địa phương”

Trên thực tế, việc thực hiện ký quỹ cũng khó có hiệu quả vì hai lý do:

Thứ nhất, việc thí điểm này chỉ được áp dụng từ ngày 21 tháng 8 năm 2013, nghĩa là

những lao động xuất cảnh từ thời điểm này trở về trước và đang làm việc BHP không phải là đối tượng điều chỉnh của quy định này

Thứ hai, cho dù thực hiện nghiêm túc, số tiền này cũng không mang tính chất răn đe

Người lao động có thể chỉ mất từ 3 tháng để kiếm được số tiền tương đương, trong khi có thể làm việc BHP trong nhiều năm Do vậy, họ sẵn sàng chịu mất số tiền ký quỹ này để được

ở lại làm việc cho đến khi bị bắt hoặc đến khi nào họ mong muốn trở về

Thứ ba, việc thu tiền đặt cọc cao là đi ngược lại chủ trương XKLĐ của Đảng và nhà

nước Các giải pháp nhằm đối phó với tình trạng bỏ trốn hiện nay của các doanh nghiệp vô hình chung lại tạo điều kiện cho người có tiền đi XKLĐ và làm mất đi cơ hội của những người nghèo

Tóm lại, yêu cầu ký quỹ là không hiệu quả và việc xử phạt của chính phủ Việt Nam là không hiệu quả và không khả thi Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với kết quả được đưa ra

Trang 33

trong nghiên cứu “Xuất khẩu lao động quốc tế ở Việt Nam và tác động của chính sách ở các

nước tiếp nhận” Ishizuka (2013) về tính hiệu quả và công bằng của tiền đặt cọc

Về phía Hàn Quốc, Luật Lao động Hàn Quốc quy định chủ lao động khi vi phạm sẽ

bị tịch thu giấy phép thuê tuyển lao động nước ngoài trong 3 năm Tuy nhiên, điều luật này

cho đến nay không thể hiện được tính răn đe của nó, khi báo chí Hàn Quốc vẫn đưa ra thông tin giảm nhẹ hình phạt cho các doanh nghiệp, khi tình trạng thiếu hụt lao động lên cao Một ví dụ cụ thể là năm 2009, Bộ Tư pháp Hàn Quốc thông báo giảm nhẹ hình phạt từ ba năm xuống còn một năm cho các doanh nghiệp bị tịch thu giấy phép, mặc dù động thái này đi ngược lại nỗ lực giảm thiểu lao động BHP tại đất nước này (Si-soo, 2009) Hình thức này được áp dụng hồi tố, đã giúp cho hơn 3,000 doanh nghiệp vừa và nhỏ đang chịu mức phạt

ba năm được phép thuê tuyển lao động từ tháng 11 năm 2009

3.3 Ước tính lợi ích các bên

Hàm thu nhập kỳ vọng của người lao động có dạng như sau:

TNKV(NLĐ)= Chênh lệch lương* số tháng*(1- xác suất bị bắt)– xác suất bị bắt* mức phạt

Hàm thu nhập kỳ vọng của chủ lao động có dạng như sau:

TNKV(CLĐ)= Chênh lệch thu nhập*số tháng*(1- xác suất bị bắt)–xác suất bị bắt* mức phạt

Gọi số tháng là t, với t > 0

Về thu nhập hàng tháng, kết quả phỏng vấn và các báo cáo có được đều ủng hộ cho lập luận mức chênh lệch lương khi làm việc hợp pháp thấp hơn khi làm việc BHP là khoảng 24% (Sang, 2004) Thời gian từ năm 2009 đến 2013, mức lương trung bình của người lao động hợp pháp là khoảng 1.000 đến 1.200 USD/tháng (Bộ LĐTB&XH, 2013) Để đơn giản, tác giả sử dụng mức lương 1.000 USD/tháng đối với lao động hợp pháp và 1.200 USD/tháng đối với lao động BHP để ước tính thu nhập kỳ vọng mỗi tháng của người lao động Chênh lệch tiền lương khi bỏ trốn của người lao động là 1.200 – 1.000 = 200 USD/tháng

Chủ lao động được hưởng lợi ích khi tuyển 01 lao động BHP là: tổng lợi ích/tháng – chênh lệch tiền lương của người lao động/tháng = 623 – 200 = 423 USD/tháng

a Nếu người lao động chọn bỏ trốn, có các khả năng sau:

- Nếu lao động BHP bị bắt, anh ta có thể khai ra chủ đã thuê tuyển mình hoặc không khai

Trang 34

o Nếu khai ra chủ, cả hai cùng bị phạt theo Luật Lao động hoặc Luật XNC Hàn Quốc, tùy thuộc vào việc người lao động còn visa lưu trú hợp pháp hay không;

o Nếu không khai ra chủ, chỉ người lao động bị phạt theo một trong hai Luật trên

- Nếu lao động BHP không bị bắt hoặc được ân xá, cả người lao động và chủ được hưởng toàn bộ lợi ích mà không bị phạt

b Nếu người lao động không bỏ trốn, kết cục tương tự như trường hợp chủ lao động không tuyển lao động BHP Lợi ích và chi phí của các bên không có thay đổi so với khi lao động làm việc hợp pháp Do vậy, trên sơ đồ kết cục, nhánh người lao động không trốn được nối với nhánh chủ lao động không tuyển lao động BHP Số liệu được đưa vào mô hình là từ 2009 đến 2013, nhưng trên thực tế kết quả có thể lý giải cho tình trạng bỏ trốn phổ biến tồn tại suốt từ những năm đầu tiên thực hiện Chương trình EPS cho đến nay Lý do là vì từ 2013 đến nay, phía Việt Nam và Hàn Quốc không có thay đổi nào về mặt chế tài hay hình thức cưỡng chế Để thực hiện quy nạp ngược cho bài toán, các kết cục có thể xảy ra được biểu diễn trong Hình 3.3 và lượng hóa tương đối trong Bảng 3.1

Trang 35

Hình 3 3 Sơ đồ các kết cục

CHỦ LAO

ĐỘNG

LAO ĐỘNG BHP

NGƯỜI LAO ĐỘNG

Tuyển lao động BHP

Không tuyển lao động BHP

CHÍNH QUYỀN

200*t – 1.119)

Nguồn: Tác giả tự vẽ

NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.Trốn

2 Không trốn

Luật XNC

Luật XNC

Trang 36

Bảng 3.1 Bảng tính lợi ích của người lao động và chủ lao động bằng cách suy luận ngược

CÁC

NHÁNH TRẠNG THÁI HÌNH PHẠT CỦA

HÀN QUỐC

HÌNH PHẠT CỦA VIỆT NAM

LỢI ÍCH CỦA CHỦ LAO ĐỘNG

LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG XÁC SUẤT

KẾT

CỤC A

Khai chủ - người

lao động bị phạt

theo luật Lao động

do còn visa

1 Phạt chủ lao động:

tước giấy phép thuê tuyển người nước ngoài trong 3 năm

2 Phạt người lao động:

Trục xuất + cấm nhập cảnh Hàn Quốc trong vòng 5 năm

Sau 2013: Mất 100.000.000 đồng tiền đặt cọc

và phạt thêm 100.000.000 đồng

KẾT

CỤC B

Khai chủ- người

lao động bị phạt

theo luật XNC do

hết visa

1 Phạt chủ lao động: 2 triệu won

2 Phạt người lao động:

Trục xuất + cấm nhập cảnh Hàn Quốc trong vòng 5 năm + phạt 1 triệu won

Sau 2013: Mất 100.000.000 đồng tiền đặt cọc

và phạt thêm 100.000.000 đồng

KẾT

CỤC C

Không khai chủ -

người lao động bị

phạt theo luật Lao

động do còn visa

Phạt người lao động:

Trục xuất + cấm nhập cảnh Hàn Quốc trong vòng 5 năm

KẾT

CỤC D

Không khai chủ-

người lao động bị

Phạt người lao động:

Trục xuất + cấm nhập cảnh Hàn Quốc trong

Trang 37

phạt theo luật XNC

do hết visa

vòng 5 năm + phạt 1 triệu won

1.1.1 Lao động BHP bị

1.1.2

Lao động BHP bị

bắt- Không khai

NLĐ hợp pháp tiếp

tục làm công ty cũ

nếu còn visa

2.2

Người lao động

hợp pháp về nước

nếu hết visa

=200*t – 1.119

Ngày đăng: 28/10/2019, 00:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm