1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp hạn chế thông tin bất cân xứng trong thị trường bảo hiểm y tế tự nguyện , trường hợp tỉnh tiền giang

116 115 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vi phạm phổ biến là lạm dụng xét nghiệm, thuốc, hóa chất, vật tư y tế, kê đơn thuốc ngoài danh mục cho phép, kê khống tiền thuốc, bệnh nhân nằm ghép nhưng vẫn thanh toán 1 người/1

Trang 1

TRẦN CÔNG TRƯỜNG

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN:

TRƯỜNG HỢP TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh-Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN CÔNG TRƯỜNG

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN:

TRƯỜNG HỢP TỈNH TIỀN GIANG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60340102 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN NGÃI

Tp Hồ Chí Minh-Năm 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ: “Giải pháp hạn chế thông tin bất cân

xứng trong thị trường bảo hiểm y tế tự nguyện : Trường hợp tỉnh Tiền Giang” là công

trình nghiên cứu độc lập do chính tôi thực hiện với hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Văn Ngãi Các số liệu được khảo sát từ thực tế và được xử lý trung thực, khách quan

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài này

Tp Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2014

Tác giả

Trần Công Trường

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo hiểm y tế 7

2.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng 9

2.2.1 Giới thiệu sơ lược về thông tin bất cân xứng 9

2.2.2 Khái niệm về thông tin bất cân xứng 11

2.2.3 Hệ quả của thông tin bất cân xứng 11

2.3 Nghiên cứu thực nghiệm liên quan 17

2.3.1 Nghiên cứu hiện tượng lựa chọn ngược 17

2.3.2 Nghiên cứu hiện tượng rủi ro đạo đức 21

2.4 Mô hình nghiên cứu 22

2.4.1 Hiện tượng lựa chọn ngược 22

2.4.2 Hiện tượng rủi ro đạo đức 27

2.5 Phương pháp thu thập dữ liệu và chọn mẫu 32

2.6 Công cụ xử lý số liệu và hồi quy các mô hình 33

2.6.1 Công cụ hồi quy kiểm định mô hình lựa chọn ngược 33

2.6.2 Công cụ hồi quy kiểm định mô hình rủi ro đạo đức 34

Tóm tắt Chương 2 : 34

Trang 5

3.1 Tình hình t hực hiện thông tin tuyên truyền bảo hiểm y tế tại tỉnh Tiền Giang

37

3.1.1 Phương thức thông tin tuyên truyền 38

3.1.2 Nội dung thông tin tuyên truyền 38

3.2 Thực trạng tiếp nhận thông tin đối với bên mua thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện 39

3.3 Thực trạng thị trường bảo hiểm y tế tự nguyện tỉnh Tiền Giang 40

Tóm tắt Chương 3 : 45

CHƯƠNG 4 : THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN - TRƯỜNG HỢP TỈNH TIỀN GIANG 46

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu đã khảo sát 46

4.1.1 Thu nhập bình quân 47

4.1.2 Giới tính 47

4.1.3 Tuổi 47

4.1.4 Tình trạng hôn nhân 48

4.1.5 Mức độ tin tưởng đối với bảo hiểm y tế 48

4.1.6 Trình độ học vấn 49

4.1.7 Hiểu biết của người dân về chất lượng thuốc và bác sĩ nơi khám bệnh 50

4.2 Kết quả nghiên cứu 51

4.2.1 Kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược 51

4.2.2 Kiểm định hiện tượng rủi ro đạo đức 59

Tóm tắt Chương 4 : 66

CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KCB BHYTTN Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tự nguyện

Trang 7

Bảng 2.2 Tổng hợp các biến trong mô hình (2.2) 29

Bảng 3.1 Tình hình thực hiện thông tin tuyên truyền bảo hiểm y tế tự nguyện giai đoạn 2009-2012 38

Bảng 4.1 Tổng hợp số liệu điều tra về giới tính 47

Bảng 4.2 Tổng hợp số liệu điều tra về tình trạng hôn nhân 48

Bảng 4.3 Tổng hợp số liệu điều tra về sự tin tưởng đối với bảo hiểm y tế 48

Bảng 4.4 Tổng hợp số liệu điều tra về trình độ học vấn 49

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình 51

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình 60

Trang 8

Hình 2.1 Chi phí sức khỏe mong đợi 13 Hình 2.2 Tổn thất do tiêu dùng quá mức hàng hóa công Error! Bookmark not

defined

Hình 2.3 Q uy trình nghiên cứu 32 Hình 3.1 Số thẻ bảo hiểm y tế đã phát hành trong giai đoạn 2008-2012 41 Hình 3.2 Cân đối thu, chi Quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của tỉnh Tiền Giang 41 Hình 3.3 Chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tự nguyện của tỉnh Tiền Giang 42 Hình 3.4 Tần suất khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của hai nhóm tham gia bảo hiểm y tế 43 Hình 3.5 Chi phí khám chữa bệnh bình quân của một thẻ bảo hiểm y tế 44 Hình 4.1 Tổng hợp điều tra tiêu chí hiểu biết về thuốc và bác sĩ 50

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU

Về phía người bán, việc bưng bít thông tin trong giao dịch giúp họ bán được sản phẩm với mức giá cao nhất có thể trong khi chất sản phẩm thực tế không tương xứng, việc này trong một giai đoạn nào đó sẽ mang lại lợi nhuận cao nhưng một khi người mua biết rõ thông tin về sản phẩm mà họ đã phải mua nhầm thì hậu quả tất yếu là sản phẩm sẽ bị tất cả người tiêu dùng từ chối, lúc này hành vi của người bán

có thể được gọi là vô đạo đức Các biểu hiện đó chính là sự hiện diện của thông tin bất cân xứng trong thị trường hàng hóa

BHYTTN là một dạng hàng hóa được Chính phủ bán cho người dân để tạo điều kiện thuận lợi cho họ được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, nhằm mục đích đảm bảo an sinh xã hội Chính sách này được Chính phủ chính thức triển khai

từ giữa năm 2005 thông qua việc ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP với những quy định khuyến khích người dân mua BHYTTN Ngày 24/8/2006, liên bộ Tài chính-Y tế ban hành Thông tư liên tịch 22/2005/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn BHYTTN, trong đó có 2 điểm quan trọng: thứ nhất, quy định tỷ lệ tham gia BHYTTN tối thiểu của hộ gia đình là 10% tổng số thành viên trong hộ, 30% thành viên trong các hội, đoàn thể, và 10% số học sinh, sinh viên trong trường; thứ hai, mức phí BHYTTN được xác định chủ yếu trên khả năng đóng góp mà không dựa

Trang 10

trên cơ sở nhu cầu chi phí y tế của cộng đồng tham gia bảo hiểm Việc quy định tỷ

lệ tối thiểu và mở rộng đối tượng tham gia là các Hội có xác suất bệnh tật cao như Hội người cao tuổi, Hội người tàn tật…trong khi không có cơ chế đảm bảo cho các Hội khác gồm các thành viên khỏe mạnh tham gia để đảm bảo nguyên tắc chia sẻ cộng đồng, nghĩa là người khỏe mạnh chia sẻ chi phí cho người đau ốm Điều này tạo điều kiện cho việc người có bệnh mới mua thẻ, họ thường xuyên đi khám bệnh hơn, dẫn đến tình trạng bội chi Quỹ KCB BHYT

Báo cáo kết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT giai đoạn 2009-2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc sử dụng Quỹ BHYT đã đánh giá nhóm người tham gia BHYTTN có số chi phí KCB gấp 3 lần số tiền đóng BHYT do “ốm nặng mới mua BHYT” và “có tình trạng lạm dụng BHYT về phía cán bộ y tế cũng như người có thẻ BHYT Những vi phạm phổ biến là lạm dụng xét nghiệm, thuốc, hóa chất, vật tư y tế, kê đơn thuốc ngoài danh mục cho phép, kê khống tiền thuốc, bệnh nhân nằm ghép nhưng vẫn thanh toán 1 người/1 giường bệnh, lập hồ sơ bệnh án khống (như làm giả kết quả xét nghiệm), có nơi cán bộ y tế

ở bệnh viện sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người thân để làm thủ tục lấy thuốc ở bệnh viện, người có thẻ bảo hiểm y tế lạm dụng thông qua việc cho mượn thẻ, đi khám nhiều nơi trong ngày (nhất là các bệnh mãn tính), cho thuê thẻ bảo hiểm y tế

và thuê người bị bệnh mãn tính đi KCB để lấy thuốc (theo kiểm tra của BHXH Việt Nam), “có trường hợp thẻ BHYT ở tỉnh Đồng Nai được sử dụng 157 lần KCB trong năm”

Đó là thực trạng chung ở toàn quốc, riêng tại tỉnh Tiền Giang, từ năm 2006 đến nay liên tục có tình trạng vượt Quỹ KCB BHYT, trong đó, chi phí chi trả cho người có thẻ BHYTTN cao và liên tục bị mất cân đối thu chi Bên cạnh đó, số lần khám bệnh trung bình của người có thẻ BHYTTN cao hơn gấp 2 lần so với người

có thẻ BHYT bắt buộc (Bảng 3.4)

Sức khỏe tốt hay xấu chính là thông tin mà người bảo hiểm cần biết để quyết định xem liệu là họ có nên bán bảo hiểm hay không Để biết được thông tin này,

Trang 11

người bảo hiểm thường yêu cầu người được bảo hiểm phải kiểm tra sức khỏe, nếu sức khỏe người được bảo hiểm (người mua) là xấu thì người bảo hiểm (người bán)

sẽ từ chối cung cấp gói bảo hiểm để tránh rủi ro phải trả chi phí quá nhiều cho người mua Đó là việc mà các công ty bảo hiểm thương mại thực hiện

Tuy nhiên, đối với giao dịch mua bán thẻ BHYTTN, người bán là Chính phủ

mà đại diện là cơ quan BHXH, thông tin về sức khỏe của người mua hiện tại không được xem là điều kiện để người bán quyết định cho việc có nên bán thẻ hay không thì rõ ràng là có sự bất cân xứng thông tin trong giao dịch này, chỉ những người có đau bệnh mới mua BHYTTN, thị trường lúc này sẽ tồn tại cái gọi là hiện tượng lựa chọn ngược (adverse selection)

Sau khi được bảo hiểm rồi, người mua thường có xu hướng ỷ lại dù sao thì đã

có bảo hiểm gánh lấy rủi ro cho mình rồi, không phải lo nữa Đó chính là tâm lý ỷ lại, hay còn được gọi là rủi ro đạo đức (moral hazard) Một ví dụ điển hình là, trong bảo hiểm mất xe, người mua bảo hiểm sẽ ít quan tâm giữ gìn chiếc xe mình hơn so với trước khi mua bảo hiểm, nếu như xe mất cũng đã có bên bảo hiểm bồi thường Đối với người mua BHYTTN, sau khi có thẻ đã có hiệu lực sử dụng, họ ít quan tâm đến việc tự giữ gìn sức khỏe, khi có bệnh bất kể là bệnh gì họ cũng đi khám BHYT, làm cho số lần khám bệnh trung bình tăng cao, người bệnh mãn tính thậm chí không có bệnh cũng đến bệnh viện nhờ bác sĩ kê đơn, nhận thuốc về bán thu lợi, và còn nhiều hành vi mà bên bán rất khó để kiểm soát và ngăn chặn, thị trường lúc này sẽ tồn tại hiện tượng tâm lý ỷ lại hay còn gọi là rủi ro đạo đức

Hai hiện tượng trên là hệ quả của bất cân xứng thông tin trong thị trường BHYTTN

Từ thực trạng, hai câu hỏi mà tác giả đặt ra là:

1 Có phải tình trạng những người có sức khỏe không tốt mới mua BHYTTN xảy ra đối với tỉnh Tiền Giang?

Trang 12

2 Việc đi khám bệnh nhiều lần sau khi sở hữu thẻ BHYTTN thực sự diễn ra tại tỉnh Tiền Giang?

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, ở góc độ của nhà quản lý trong ngành BHXH, tác giả thực hiện kiểm định một cách khoa học về sự tồn tại của sự lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức trong thị trường BHYTTN tại một địa phương cụ thể (tỉnh Tiền Giang), từ đó đề xuất giải pháp thích hợp cho việc quản lý hoạt động của

thị trường này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định có tồn tại hay không hiện tượng lựa chọn ngược trong thị trường BHYTTN tại tỉnh Tiền Giang

- Xác định có tồn tại hay không hiện tượng rủi ro đạo đức trong thị trường BHYTTN tại tỉnh Tiền Giang

- Đề xuất, kiến nghị các vấn đề liên quan để hạn chế thông tin bất cân xứng trong thị trường BHYTTN tỉnh Tiền Giang, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của cơ quan BHXH

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giải pháp hạn chế thông tin bất cân xứng trong thị trường bảo hiểm y tế tự nguyện tỉnh Tiền Giang

Phạm vi của nghiên cứu giới hạn trong địa bàn tỉnh Tiền Giang Một địa phương có xảy ra tình trạng bội chi Quỹ KCB BHYT trong thời gian gần đây

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp định lượng dựa vào mô hình kinh

tế lượng của Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) nghiên cứu thông tin bất cân xứng trong thị trường BHYTTN của tỉnh Đồng Tháp gồm: mô hình kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược và mô hình kiểm định hiện tượng rủi ro đạo đức

Trang 13

Sử dụng kỹ thuật biến giả: trong hai mô hình này, một số biến là biến định tính nên để lượng hóa chúng dùng cho phân tích hồi quy mô hình kinh tế lượng, tác giả có sử dụng kỹ thuật biến giả có 2 thuộc tính: D=1 và D=0

Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện bằng cách phát phiếu điều tra số người đang khám chữa bệnh có BHYT tại Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang, Trung tâm y tế Thành phố Mỹ Tho và Trung tâm y tế huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, sau đó kết hợp kiểm tra trên hồ sơ thanh toán khám chữa bệnh của họ để đảm bảo tính chính xác cho các phiếu điều tra thu thập được Loại bỏ các phiếu điều tra ghi không đầy đủ thông tin cho đến khi đủ 150 mẫu theo yêu cầu cho phân tích hồi quy

1.5 Kết cấu của luận văn

Luận văn được chia thành 5 Chương:

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương này, tác giả nêu lên lý do chọn đề tài nghiên cứu là trong bối cảnh có sự vượt quỹ khám chữa bệnh từ khi BHYTTN được bán trên thị trường tỉnh Tiền Giang, từ đó đưa ra mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, trong chương này, tác giả trình bày lý thuyết nền, kết quả các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan và lựa chọn mô hình nghiên cứu cho luận văn Trình bày phương pháp chọn mẫu, dữ liệu

và cách xử lý dữ liệu và thực hiện đo lường tác động của hai hiện tượng: lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức nhằm mục đích chứng minh sự hiện diện của chúng trong thị trường BHYTTN tỉnh Tiền Giang

Chương 3: Thực trạng thị trường BHYTTN Tiền Giang: Chương này tác giả phân tích số liệu thứ cấp so sánh về BHYTBB và BHYTTN bằng các hình vẽ

Chương 4: Thông tin bất cân xứng trong thị trường bảo hiểm y tế tự Trường hợp tỉnh Tiền Giang: tác giả trình bày kết quả hồi qui kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức, từ đó đưa ra giải pháp cho nhà quản lý về lĩnh

Trang 14

nguyện-vực BHYTTN nhằm hạn chế thông tin bất cân xứng trong thị trường BHYTTN nói chung và cho tỉnh Tiền Giang nói riêng

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: tổng kết nghiên cứu, tóm lược lại những vấn đề đã đạt được và chưa được của nghiên cứu, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Lý thuyết kinh tế tân cổ điển giả định trong thị trường thì người bán và người mua có thông tin hoàn hảo về ba chủ thể: một là: đối tác bên kia trong giao dịch; hai là: chất lượng, đặc điểm của hàng hóa hay dịch vụ được trao đổi; và ba là cấu trúc của thị trường Nếu việc có được thông tin là dễ dàng thì giao dịch mua bán sẽ trở nên công bằng hơn, giá cả tương xứng với chất lượng Tuy nhiên, trong thực tế luôn tồn tại việc thông tin bị che đậy gây méo mó thị trường, ví dụ như trong thị trường hàng hóa, khi thông tin bị che đậy sẽ làm người mua khó phân biệt được giữa sản phẩm có chất lượng tốt với những sản phẩm có chất lượng xấu Trong thị trường lao động, người sử dụng lao động thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định kỹ năng và năng lực của người lao động trước khi tuyển dụng họ Còn trong thị trường bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải gánh chịu những khoản chi phí đền bù cho những rủi ro từ người được bảo hiểm Trong thị trường BHYT, đặc biệt là BHYTTN cũng vậy, do được cung cấp công cộng nên Chính phủ phải chịu gánh nặng bội chi Quỹ KCB BHYT bởi thông tin về sức khỏe của người mua không minh bạch Cơ sở lý thuyết về thông tin bất cân xứng được ứng dụng để nghiên cứu hiện tượng lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức trong thị trường BHYTTN tại tỉnh Tiền Giang được tác giả trình bày theo phần tiếp theo

2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo hiểm y tế

- Bảo hiểm y tế: là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc

sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của pháp luật.(Luật BHYT , 2008)

- Bảo hiểm y tế bắt buộc: là hình thức bảo hiểm y tế được thực hiện trên cơ

sở bắt buộc của người tham gia

Trang 16

Loại hình bảo hiểm này bắt buộc những người tham gia phải trích một phần

từ thu nhập được trả từ đơn vị mà họ làm việc, hoặc được Nhà nước hỗ trợ toàn bộ hay một phần chi phí bằng Ngân sách nhà nước để mua thẻ BHYT Do đó, trong loại hình BHYT bắt buộc, bao gồm cả người khỏe mạnh và người bệnh tật cùng tham gia nên rủi ro bội chi quỹ BHYT là thấp

-Bảo hiểm y tế tự nguyện: là hình thức bảo hiểm y tế được thực hiện trên cơ

sở tự nguyện của người tham gia

Người dân không thuộc đối tượng tham gia BHYTBB sẽ được mua thẻ BHYTTN theo mức phí được quy định riêng cho loại hình này Mỗi người trong hộ gia đình đều đươc quyền mua thẻ BHYTTN với mức phí giảm dần từ người thứ hai trở đi nếu những người này có cùng chung hộ khẩu Tuy mức cung về thẻ BHYTTN luôn đáp ứng cho cầu, nhưng do nhu cầu còn hạn chế nên tình trạng người mua đa

số là người có bệnh, thậm chí khi mắc bệnh phải nằm viện mới mua thẻ

- Bảo hiểm y tế toàn dân: là việc các đối tượng đều tham gia BHYT theo

quy định của Luật BHYT năm 2008

- Quỹ bảo hiểm y tế: là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo

hiểm y tế và các nguồn thu nhập hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả cho chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy cho tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế

-Quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế: là quỹ thành phần của quỹ BHYT,

quỹ này bằng 90% số tiền thu BHYT được để lại cho cơ quan BHXH tỉnh quản lý phục vụ cho khám bệnh, chữa bệnh

- Giám định bảo hiểm y tế: là hoạt động chuyên môn do tổ chức bảo hiểm y

tế tiến hành nhằm đánh giá sự hợp lý của dịch vụ y tế cho người tham gia bảo hiểm

y tế, làm cơ sở để thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Trang 17

2.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng

2.2.1 Giới thiệu sơ lược về thông tin bất cân xứng

Lý thuyết về thông tin bất cân xứng được Akerlof (1970), nhà kinh tế học

người Mỹ đưa ra trong The market for “Lemons”: Quality Uncertainty and The

Market Mechanism. Trong bài nghiên cứu này, Akerlof (1970) đề cập đến thị trường xe đã qua sử dụng ở Mỹ bằng ví dụ thực tế trong thị trường này bao gồm hai loại xe tốt và xe xấu (những quả chanh)

Người bán một chiếc xe đã qua sử dụng ra giá 10,000 USD Đặt giả thiết là cả người bán và người mua không hề biết thông tin về nhau và dĩ nhiên là người mua không biết giá trị thật của xe là tốt hay xấu nên chỉ chấp nhận mua xe ở mức giá trung bình là 5,000 USD

Với mức giá được người mua đưa ra như vậy, người bán biết rằng giá trị chiếc

xe của mình cao hơn 5,000 USD nên rút lui khỏi thị trường, lúc bấy giờ, trên thị trường chỉ còn lại những chiếc xe có giá trị dưới 5,000 USD

Đối với người mua, do không biết rõ thông tin về chiếc xe nên lại chỉ đưa ra mức giá trung bình là 2,500 USD, người bán sẽ rút lui khỏi thị trường vì xe của họ

có giá trị cao hơn 2,500 USD Cứ như thế, trên thị trường sẽ không còn tồn tại xe tốt, thay vào đó là những chiếc xe xấu nhất

Akerlof (1970) kết luận rằng: xe xấu đã đẩy xe tốt ra khỏi thị trường, thị

trường chỉ còn lại những quả chanh

Trong ví dụ này, người bán là người nắm lợi thế về thông tin, nghĩa là họ luôn biết rất rõ đặc tính của chiếc xe mình muốn bán.Trong khi đó, người mua, do không biết đặc tính chiếc xe họ muốn mua có phải là xe còn tốt hay không, nên họ có thể mua nhầm xe xấu

Nếu như Akerlof (1970) gọi chiếc xe kém chất lượng trong ví dụ trên là những quả chanh thì Nguyễn Hữu Ngọc (2001) ví nó như là “vật vô tích sự”, tức việc người tiêu dùng mua nó không những nhầm về giá mà còn không thể sử dụng được

Trang 18

Nguyên lý “vật vô tích sự” diễn tả hiện tượng thông tin không đồng bộ trong thị trường xe cũ: khi bán một chiếc xe cũ, thì người bán biết rõ hơn người mua về chất lượng thật sự của chiếc xe mà anh ta muốn bán Vì thế, người bán sẽ chấp nhận bán

xe ở mức giá sao cho không thấp hơn giá trị còn lại của chiếc xe, nếu bán nhiều xe

là mức giá bán trung bình Điều này có nghĩa là những xe chất lượng xấu sẽ tạo ra khó khăn cho việc bán xe chất lượng còn tốt với mức giá mong muốn

Akerlof (1970) giả định rằng: xác suất để mua xe tốt là q thì xác suất mua xe xấu là (1-q) (thị trường được phân loại xe tốt và xấu) Khi đó mức giá trung bình (P) được giả định mua xe là: P = P1q + P2(1-q)

Trong đó: P1là giá xe tốt; P2là giá xe xấu

Người mua xe tiềm năng xem mức giá của các loại xe tốt hay xấu là ngang nhau, vì họ không thể phân biệt đặc tính của xe nên họ chỉ có thể mua xe (bất kể tốt hay xấu) tại mức giá trung bình trên thị trường Thực tế, đối với xe tốt thì giá cao hơn mức giá trung bình Vì thế tại mức giá trung bình đó chỉ có những xe xấu được giao dịch Khi đó xác suất để mua xe tốt bây giờ là q’ < q Như vậy người mua thường là mua được những chiếc xe xấu, việc lựa chọn xe để mua trong trường hợp này gọi là sự lựa chọn ngược, vì họ có thể trả giá cao hơn đối với xe xấu và người bán lại không thể bán được do giá bán thấp hơn giá của xe tốt Một phương cách để giảm bớt thông tin bất cân xứng trên thị trường là thông qua các tổ chức trung gian trên thị trường Tổ chức trung gian này có thể giới thiệu rõ hơn thông tin sản phẩm đến với người mua như bảo hành, nhãn mác, thông số kỹ thuật… chính điều này đã làm cho các bên giao dịch cân bằng hơn về thông tin sản phẩm, khi đó giao dịch sẽ

dễ dàng thực hiện (Akerlof, 1970)

Trong thị trường lao động, thông tin bất cân xứng được thể hiện trong việc trước khi thuê mướn lao động, người thuê lao động không biết trước được khả năng sản xuất, trình độ tay nghề của người lao động đến đâu, việc tạo ra năng suất lao động sau khi được thuê là bao nhiêu (Spence, 1973)

Việc thuê lao động là một quyết định đầu tư không chắc chắn và khả năng

Trang 19

của con người phải qua đào tạo hay được chứng minh thông qua kinh nghiệm trước đây của họ Do đó, người thuê lao động có thể thuê được lao động hay không là phải biết trước được trình độ, năng lực của lao động thông qua xem xét bằng cấp, kiểm tra kinh nghiệm của người lao động Bằng cấp, kinh nghiệm được xem như là một cách người lao động phát tín hiệu để cho thấy rằng họ có năng lực đáng tin cậy

để làm tốt công việc Vì vậy, việc thuê mướn lao động được thực hiện dễ dàng hơn

do sự bất cân xứng thông tin giữa ông chủ và nhân viên được giảm bớt (Spence, 1973)

Bất cứ hàng hóa nào cũng đều có chất lượng, kiểu dáng khác nhau Để phân biệt thì cần phải có “cơ chế sàng lọc” chúng (Stiglitz ,1975) Đối với lao động cũng

có người có người có khả năng, tay nghề cao và lao động có khả năng, tay nghề thấp Vì vậy, không thể trả lương theo một mức lương cân bằng Đối với người có khả năng tạo năng suất lao động cao thì cần phải trả lương cao để khuyến khích họ Đối với người có khả năng thấp, việc cố gắng đạt được một mức năng suất sản xuất

để nhận được lương cao sẽ tốn chi phí rất lớn so với người có khả năng cao Vì vậy, việc phân nhóm lao động để trả lương là việc làm cần thiết để khuyến khích những người có khả năng nâng cao trình độ và mang lại hiệu quả cao cho xã hội (Stiglitz, 1975)

2.2.2 Khái niệm về thông tin bất cân xứng

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một bên khác Điển hình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đối với người mua hoặc ngược lại (Trang từ điển Wikipedia)

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó (Nguyễn Trọng Hoài, 2006)

2.2.3 Hệ quả của thông tin bất cân xứng

Khi người mua cân nhắc mua một hàng hóa trong cửa hàng, điều đầu tiên là

họ cần là nó phải mang lại sự hữu dụng như thế nào, nếu đây là mặt hàng họ đã

Trang 20

từng sử dụng qua thì điều này không còn quan trọng nữa, người mua sẽ chọn ngay

mà không phải suy nghĩ Giả sử đây là lần đầu tiên họ mua mặt hàng thì ngoài sự hữu dụng mà nó mang lại, người mua cần biết chất lượng, giá cả của nó như thế nào hay ít ra cũng cần biết địa chỉ nhà sản xuất ra hàng hóa đó ở đâu, khi biết được điều này, đồng thời qua các kênh thông tin sẵn có, người mua cũng có thể biết được nhà sản xuất ấy là ai, quy mô và đặc điểm của nhà sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền thuần tuý hay độc quyền nhóm

Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào thông tin giữa các bên trong giao dịch hàng hóa đều được minh bạch Muốn có được thông tin thì các bên giao dịch

có thể phải tốn rất nhiều chi phí, hoặc cần xoá bỏ những trở ngại trong việc cung cấp thông tin như là: yêu cầu việc cung cấp thông tin trước khi hoạt động mua bán diễn ra hoặc cần thay đổi chính sách cho phù hợp Việc mua bán thẻ BHYTTN cũng tương tự như các hoạt động giao dịch mua bán khác trên thị trường Bên bán BHYTTN là cơ quan BHXH, còn bên mua là người cần thẻ BHYT để khám và chữa bệnh Trong thị trường này, người bán biết rất ít thông tin về người mua, thông tin người mua chỉ gồm tên, tuổi, giới tính và nơi ở Sự bất cân xứng về thông tin của thị trường này dẫn đến hệ quả là lựa chọn ngược (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard)

2.2.3.1 Lựa chọn ngược

Lựa chọn ngược là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng (Nguyễn Trọng Hoài, 2006)

Lựa chọn ngược là xu hướng những người có nguy cơ về sức khỏe cao mong muốn có được bảo hiểm hơn người có nguy cơ về sức khỏe thấp Bởi vì, công ty bảo hiểm không biết người nào có nguy cơ về sức khỏe cao và người nào có nguy

cơ về sức khỏe thấp (Pauly, 2007)

Hiện tượng lựa chọn ngược là một vấn đề của thị trường liên quan đến BHYT Trong BHYT, thông tin cũng không đồng bộ giống như hiện tượng mua xe

Trang 21

cũ trong ví dụ của Akerlof (1970) Người mua bảo hiểm biết rõ bệnh tật của mình, hiểu biết về tình trạng sức khỏe của mình tường tận hơn là cơ quan bán BHYT Trong khi đó, cơ quan bán BHYT biết được phân bố của chi phí thông qua các dữ liệu thống kê nên họ thường đặt giá dựa trên chi phí trung bình của dịch vụ KCB mà không phải là chi phí cận biên (Nguyễn Hữu Ngọc, 2001)

Hình 2.1: Chi phí sức khỏe mong đợi

Giả sử có n người tham gia BHYT, thì 1/n là xác suất mua BHYT tương ứng với mỗi mức chi phí với giả thiết là đồng đều nhau

Mức hòa vốn của công ty bảo hiểm tương ứng với mức đóng bảo hiểm nhận được từ mỗi người mua đủ chi trả cho chi phí trung bình của dân số được bảo hiểm cộng với chi phí trung bình của các chi phí khác: tuyên truyền, quảng cáo, chi phí quản lý và các chi phí khác

Khi người mua BHYTTN nhận thấy mức trợ cấp bảo hiểm được hưởng thấp hơn mức chi phí cho sức khỏe mà họ cần đến thì họ có khuynh hướng tự lo cho sức khỏe bản thân mà không mua BHYTTN Vì thế, công ty bảo hiểm sẽ phải gánh chịu

Trang 22

chi phí để trả cho những người có nguy cơ về chi phí y tế cao Chính điều này tạo ra hiện tượng lựa chọn ngược làm gia tăng rủi ro trung bình và tăng chi phí cho những người tham gia bảo hiểm

Do đó, một trong những phương cách để làm giảm hiện tượng lựa chọn ngược là triển khai BHYT trên phạm vi rộng với càng nhiều người tham gia càng tốt, dĩ nhiên là không chỉ những người có rủi ro về sức khỏe tham gia mà cả những người khỏe mạnh cũng cần được khuyến khích (Nguyễn Hữu Ngọc, 2001)

Đặc tính nhân đạo trong chính sách BHYT của Nhà nước là việc mua bán thẻ BHYTTN không vì mục đích tạo ra lợi nhuận từ loại hàng hóa của nó - dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mà lợi nhuận chỉ được tạo ra từ việc đầu tư an toàn như mua trái phiếu chính phủ, cho các ngân hàng thương mại nhà nước vay nhằm mục đích bảo toàn và tăng trưởng Quỹ BHYT để phục vụ cho việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người mua thẻ Hơn nữa, việc cơ quan cung cấp BHYT không biết được hay không xem sự minh bạch thông tin về tình trạng có rủi ro cao trong sức

khỏe của người mua như là một điều kiện để bán thẻ như các công ty bảo hiểm thương mại Điều này có nguy cơ tạo ra điều kiện cho thông tin bất cân xứng luôn tồn tại trong thị trường BHYTTN

Trang 23

này không ảnh hưởng đến người khác Thứ ba, chi phí tăng thêm để tiêu dùng thêm một hàng hóa thường không đáng kể, hầu như bằng không

Chính vì BHYT được cung cấp công cộng nên khi sử dụng thẻ BHYT được miễn giảm đến 80% chi phí y tế sẽ dẫn đến hiện tượng lạm dụng do tiêu dùng quá mức cần thiết Bởi vì người tiêu dùng trả rất ít số tiền mà anh ta tiêu thụ hàng hóa,

do đó, anh ta sẽ tiêu dùng hàng hóa đó cho đến khi lợi ích cận biên mà anh ta nhận được hàng hóa đó là bằng không

Giả sử chi phí biên để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa là không đổi và bằng

MC, lợi ích từ việc tiêu dùng hàng hóa được thể hiện bằng đường cầu D

Nếu hàng hóa được cung cấp bởi tư nhân, nghĩa là người tiêu dùng sẽ trả một khoản tiền bằng với chi phí cận biên MC khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa thì sản lượng hàng hóa khi tiêu dùng sẽ là QE là mức sản lượng tiêu dùng hiệu quả

mà tại đó, lợi ích cận biên bằng với chi phí cận biên (MU=MC)

Tuy nhiên, nếu hàng hóa được Chính phủ cung cấp công cộng thì sản lượng hàng hóa được tiêu dùng sẽ lập tức tăng lên từ QE đến QA Trong khoảng tăng tiêu dùng này, lợi ích do việc tiêu dùng hàng hóa mang lại nhỏ hơn chi phí sản xuất hàng hóa làm xuất hiện tổn thất do tiêu dùng quá mức

Gọi Le là tổn thất do tiêu dùng, ta có Le bằng diện tích tam giác (EAQA)như biểu diễn ở hình 2.2:

Trang 24

Nguồn: Nguyễn Hữu Ngọc (2001)

Hình 2.2 Tổn thất do tiêu dùng quá mức hàng hóa công

Sau khi có thẻ BHYT, người được bảo hiểm có xu hướng ỷ lại rằng nếu họ

có bệnh thì sẽ được hưởng quyền lợi nên họ thường không chú trọng đến việc tự chăm sóc sức khỏe Do ỷ lại vào việc có thẻ BHYT sẽ được sử dụng dịch vụ bất cứ khi nào họ cần, điều này làm cho họ đi khám bệnh nhiều hơn, riêng đối với người mắc bệnh mãn tính, số lần sử dụng dịch vụ y tế của họ càng nhiều và do đó chi phí

mà Quỹ KCB BHYT phải trả cho họ cao hơn

2.2.3.3 Thất bại của thị trường

Begg và cộng sự (2005) cho rằng nguyên nhân gây ra thất bại cho thị trường

là do sự bóp méo làm cho thị trường không hiệu quả Khi đó, chi phí xã hội cận biên và lợi ích xã hội cận biên không bằng nhau Lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức

là hai trong những nguyên nhân bóp méo thị trường

Thị trường bảo hiểm được cho là đầy đủ và hoàn hảo nếu nó làm cho rủi ro

có thể dịch chuyển từ người không thích rủi ro sang người chấp nhận rủi ro ở một mức giá nào đó Giá cân bằng sẽ làm cho chi phí cận biên và lợi ích xã hội cận biên

Trang 25

bằng nhau Trong thị trường bảo hiểm, một khi xuất hiện hiện tượng lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức sẽ hạn chế việc tổ chức thị trường Vì thế, các gói bảo hiểm

có rủi ro khác nhau phải được bán ở mức giá khác nhau tương ứng với mức rủi ro, điều này sẽ hạn chế được rủi ro cho các công ty bảo hiểm (Begg và cộng sự, 2005)

Một cách nữa để hạn chế sự thất bại của thị trường do thông tin bất cân xứng gây nên là đảm bảo việc cung cấp thông tin cho các bên giao dịch mua bán Tuy nhiên, để có được thông tin là một việc rất tốn kém Đối với một sản phẩm có khả năng gây hại cho xã hội thì việc minh bạch thông tin về chúng sẽ giúp người mua mua ít sản phẩm này hơn để giảm tổn thất

Trên thực tế, việc có quá nhiều thông tin không phải là điều tốt nhất, và để có nhiều thông tin thì càng tốt kém hơn và việc tìm kiếm thông tin cũng không thể kéo dài mãi mãi Hãy tưởng tượng nếu ta dành cả cuộc đời để tìm một nơi để xây nhà vừa ý mình hay tìm một người bạn đời lý tưởng, điều này sẽ không tối ưu bằng ta tìm được một nơi và một người bạn đời “đủ tốt” Khi đó, người mua và người bán

sẽ chỉ dừng lại ở mức độ thông tin tối ưu vừa đủ để ra quyết định Đối với công ty bảo hiểm, giả sử rằng công ty bảo hiểm có được đầy đủ thông tin và biết chắc chắn khách hàng tiềm năng của mình ai là người khỏe mạnh, ai là người thường xuyên

ốm đau thì chắc chắn công ty bảo hiểm sẽ không bán bất cứ gói bảo hiểm nào cho bất kỳ ai Bởi vì, điều này chắc chắn gây tổn thất cho bên bán

2.3 Nghiên cứu thực nghiệm liên quan

2.3.1 Nghiên cứu hiện tượng lựa chọn ngược

Tình trạng bội chi quỹ chăm sóc sức khỏe diễn ra tại Croatia trong thời gian một thập kỷ là mục tiêu nghiên cứu thông tin bất cân xứng của Vukina và Nestic (2008) Giả định của nghiên cứu là hiện tượng lựa chọn ngược trong việc mua bảo hiểm bổ sung tồn tại trong thị trường bảo hiểm bổ sung được người dân mua hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố Theo Vukina và Nestic (2008), các nhân tố đó

là giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân đã kết hôn hay sống độc thân, khu vực sinh sống ở nông thôn hay thành thị, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập và tình

Trang 26

trạng sức khỏe của người mua tiềm năng Tất cả các yếu tố này ảnh hưởng đến việc mua hay không mua bảo hiểm bổ sung, được sử dụng làm các biến độc lập trong mô hình probit dùng kiểm định có hay không hiện tượng lựa chọn bất lợi

Kết quả nghiên cứu

Ở mức ý nghĩa 1%, tất cả các biến đều có ý nghĩa thống kê và dấu của hệ số ước lượng đều phù hợp với kỳ vọng ban đầu Đối với người nam, xác suất mua bảo hiểm bổ sung tăng 4,8% so với người nữ Người độc thân do góa bụa, do ly dị, ly thân thì khả năng mua bảo hiểm tăng 6% Người đã lập gia đình, khả năng mua bảo hiểm tăng tương đương 6% nhưng có cao hơn một chút so với người độc thân, ở góa hay đã ly dị Người dân thành thị và người có học vấn cao có thể mua BHYT

bổ sung nhiều hơn người dân nông thôn, người chưa tốt nghiệp phổ thông trung học Mức thu nhập của người dân tăng lên 1000 HRK (đơn vị tiền tệ của Croatia) thì khả năng mua bảo hiểm bổ sung tăng lên khoảng 3%

Thực hiện so sánh kết quả hồi qui khi có và không có biến thể hiện tình trạng sức khỏe, kết quả là không có sự biến động đáng kể ở mức độ giải thích ở 2 kết quả hồi quy, hay nói cách khác, sức khỏe tốt, khá tốt, xấu hay rất xấu ít tác động đến quyết định mua BHYT bổ sung của người dân Tác giả đã kết luận không tồn tại hiện tượng lựa chọn ngược trong thị trường

Kế thừa nghiên cứu của Vukina và Nestic (2008), Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) đã thực hiện nghiên cứu hiện tượng lựa chọn ngược trong thị trường BHYTTN tỉnh Đồng Tháp với phương pháp định lượng bằng mô hình probit để kiểm định sự tồn tại của hiện tượng này Tại tỉnh Đồng Tháp trong những năm qua, quỹ KCB BHYTTN liên tục bị bội chi, đặc biệt trong năm 2010, số lượng thẻ BHYTTN giảm xuống một nửa so với năm 2009 nhưng số tiền chi trả bảo hiểm tăng nhanh chóng Nguyên nhân chủ yếu là do những người có sức khỏe không tốt mua BHYTTN chiếm phần lớn trong tổng số người tham gia

Trang 27

Dựa trên mô hình nghiên cứu của Vukina và Nestic, Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) đã thực hiện kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược trong thị trường BHYTTN tại tỉnh Đồng Tháp

Mô hình kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược

Y=β0+β1TNBQ+β2GIOITINH+β3TUOI+β4KETHON+β5MUCDOTINTUONG +β6THCS+β7THPT+β8TRENTHPT+β9NONGDAN+β10THATNGHIEP

+β11NGHETUDO +β12TOT+β13TRUNGBINH +β14XAU+ β15RATXAU+ ε

Kết quả nghiên cứu

Kết quả hồi qui mô hình kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược, các biến sức khỏe trung bình, xấu và rất xấu đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%, và hệ

số ước lượng là dương, riêng biến sức khỏe tốt không có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ

có tồn tại hiện tượng lựa chọn ngược do người có sức khỏe không tốt có xác suất

mua BHYTTN nhiều hơn người có sức khỏe tốt

Nghiên cứu tìm ra mối quan hệ giữa “tự đánh giá sức khỏe” (SAHS), được định nghĩa như là sự “ rủi ro của sức khỏe biết trước” và nhu cầu của BHYT tư nhân.của Yong-Woo Lee (2012), trong Asymmetric Information and the Demand

for Private Health Insurance in Korea, nghiên cứu tìm ra mối quan hệ giữa “tự đánh giá sức khỏe” (SAHS), được định nghĩa như là sự “ rủi ro của sức khỏe biết trước” và nhu cầu của BHYT tư nhân Với mục tiêu nghiên cứu của mình, tác giả chỉ tham khảo phần nhu cầu mua BHYT tư nhân

Tác giả đã sử dụng mô hình probit và chạy mô hình từ đơn giản đến phức tạp Mô hình 1 chỉ gồm biến SAHS, mô hình 2 thêm vào biến đánh giá rủi ro sức khỏe (Health and Risk), mô hình 3 thêm vào biến nhân khẩu học gồm: Giới tính, tình trạng hôn nhân, khu vực sinh sống, giáo dục, nghề nghiệp và tổng tài sản

Kết quả nghiên cứu

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “tình trạng sức khoẻ” có ý nghĩa thống kê và tác động tiêu cực đến nhu cầu mua BHYT tư nhân Ở mức ý nghĩa 5%, biến sức khỏe

Trang 28

“bình thường” có ý nghĩa thống kê và tác động tiêu cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “giới tính” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “Khu vực sinh sống” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân, những người sống ở nông thôn có nhu cầu cao trong việc mua BHYT tư nhân ở Hàn Quốc

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “nghề nghiệp” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “tổng tài sản” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân Những người giàu có thường mua BHYT tư nhân hơn người nghèo

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “tình trạng hôn nhân” có ý nghĩa thống kê và tác động tiêu cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “giáo dục” có ý nghĩa thống kê và tác động tiêu cực lên nhu cầu mua BHYT tư nhân

Nghiên cứu nhân tố tác động đến quyết định mua bảo hiểm và sử dụng mô hình probit của Heckman để lượng hóa tác động của các nhân tố này đến việc mua

bảo hiểm của Bhat và Jain (2006): Factoring affecting the Demand for Health

Insurance in a Micro Insurance Scheme

Kết quả nghiên cứu

Ở mức ý nghĩa 10%, các biến “thu nhập của hộ gia đình”, “chi phí y tế trên tổng chi phí của hộ gia đình” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến quyết định mua bảo hiểm

Ở mức ý nghĩa 5%, các biến “tuổi”, “chi phí điều trị bệnh”, “kiến thức về bảo hiểm” đều có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên quyết định mua bảo hiểm Những người có tuổi thì mua bảo hiểm nhiều hơn người ít tuổi, chi phí chữa bệnh càng cao làm cho người bệnh cảm thấy nên mua bảo hiểm để hưởng quyền lợi mà

Trang 29

bảo hiểm mang lại, người càng có nhiều kiến thức về lợi ích khi tham gia bảo hiểm thì họ càng quyết định mua bảo hiểm

Ở mức ý nghĩa 1%, biến “chi phí bệnh tật kỳ vọng” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên quyết định mua bảo hiểm

Nghiên cứu sử dụng mô hình probit để đo lường các nhân tố ảnh hưởng lên nhu cầu mua BHYTTN ở châu Âu và so sánh tương quan hệ số các nhân tố ở thị

trường Mỹ.của Bolin et al (2010): Asymmetric Information and the Demand for

Voluntary Health Insurance in Europe.

Kết quả nghiên cứu (tại châu Âu so với Mỹ)

Ở mức ý nghĩa 5%, biến “tuổi” có ý nghĩa thống kê và có tác động tiêu cực đến quyết định mua BHYTTN, người càng lớn tuổi thì càng ít mua BHYTTN

Ở mức ý nghĩa 10%, biến “nơi sinh” có ý nghĩa thống kê và tác động tiêu cực đến quyết định mua BHYTTN, nếu là người sinh ra ở nước ngoài thì khả năng mua BHYTTN sẽ thấp

Ở mức ý nghĩa 10%, biến “trình độ giáo dục”, “giới tính”, “tình trạng hôn nhân”, biến “nghề nghiệp” có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực lên việc mua BHYTTN Nếu trình độ học vấn trên trung học cơ sở thì xác suất mua BHYTTN cao hơn hẳn so với chỉ có trình độ trung học cơ sở Nữ sẽ có xác suất mua BHYTTN cao hơn nam, người đã kết hôn mua nhiều hơn người chưa kết hôn Biến

“thất nghiệp” có ý nghĩa thống kê và tác động tiêu cực đến quyết định mua BHYTTN, người không có việc làm hay chưa tìm được việc làm thường ít quan tâm đến BHYTTN do họ không có thu nhập ổn định

2.3.2 Nghiên cứu hiện tượng rủi ro đạo đức

Nghiên cứu hành vi gây bất lợi cho nhà cung cấp bảo hiểm (rủi ro đạo đức) của người tiêu dùng sau khi mua bảo hiểm y tế bổ sung ở Croatia Vukina và Nestic (2008) cho rằng bên bảo hiểm (principal) không thể kiểm tra một cách đầy đủ những hành động của người mua bảo hiểm (agent), người có bảo hiểm sẽ có những

Trang 30

hành vi theo khuynh hướng khác đi so với khi anh ta hay cô ta không mua bảo hiểm, người có BHYT sẽ có xu hướng đi đến bác sĩ để khám bệnh nhiều hơn so với người không có Để có chính sách giá hợp lý thì các công ty bảo hiểm cần nhìn trước được sự thay đổi trong hành vi của người được bảo hiểm, nếu không thì tổng chi phí phải trả sẽ lớn hơn tổng số tiền thu được từ việc bán bảo hiểm

Vukina và Nestic (2008) đã so sánh số lần khám chữa bệnh ban đầu và số lần được bác sĩ giới thiệu đến cơ sở y tế giữa người có BHYT bổ sung và người được miễn phí mua BHYT với người có BHYT bắt buộc Kết quả hồi quy cho thấy số lần

đi bác sĩ và số lần đến cơ sở y tế của người có BHYT bổ sung đều cao hơn người chỉ có BHYT bắt buộc

Nghiên cứu hiện tượng rủi ro đạo đức thông qua hành vi bị che đậy sau khi

sở hữu thẻ BHYTTN của người mua, Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) đã sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) bằng mô hình Probit để kiểm định sự tồn tại của hiện tượng này trong thị trường BHYTTN tỉnh Đồng Tháp

Mô hình nghiên cứu

SOKB=β0+β1TUNGUYEN+β2BATBUOC+β3HUUTRI+β4TUOI+ε

Kết quả nghiên cứu

Kết quả hồi qui mô hình kiểm định hiện tượng rủi ro đạo đức cho thấy biến TUNGUYEN có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% và hệ số ước lượng là dương nghĩa là người có mua BHYTTN có xác suất đi khám bệnh nhiều hơn người không mua Hành vi đi khám bệnh nhiều lần của nhóm đối tượng này là nguyên nhân

chính gây bội chi Quỹ KCB BHYTTN tỉnh Đồng Tháp

2.4 Mô hình nghiên cứu

2.4.1 H iện tượng lựa chọn ngược

Người mua có nhu cầu dùng thẻ BHYTTN để khám, chữa bệnh Người bán không biết rõ về tình trạng bệnh tật của người mua thẻ trước khi bán Việc người

Trang 31

mua có mua thẻ BHYTTN hay không là hoàn toàn do chính họ quyết định và dĩ nhiên là với những người khác nhau sẽ có những suy nghĩ, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau và họ có quyết định khác nhau, ví dụ: người mua là nam cũng có thể có quyết định khác so với người mua là nữ, sự khác biệt về trình độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp, độ tuổi, khu vực sinh sống, mức độ hiểu biết về BHYTTN cũng là những nhân tố tác động đến việc mua thẻ Người mua BHYTTN không cần phải qua kiểm tra sức khỏe Người mua cũng căn cứ vào tình trạng sức khỏe hiện tại để quyết định liệu mình có mua hay không, thể trạng sức khỏe là tốt, trung bình, xấu hay rất xấu tác động đến việc mua BHYTTN chính là các biến được sử dụng trong

mô hình để kiểm định sự tồn tại hay không của hiện tượng lựa chọn ngược

Hiện nay, các nghiên cứu về thông tin bất cân xứng trong thị trường BHYTTN tại Việt Nam là rất ít Tại tỉnh Tiền Giang trong những năm qua có tình trạng bội chi Quỹ KCB BHYT, điều này cũng xảy ra tại Đồng Tháp, một tỉnh cùng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều điểm tương đồng với Tiền Giang về kinh tế, dân số, văn hóa, xã hội Do vậy, có thể áp dụng mô hình của Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) dùng cho nghiên cứu kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược trong thị trường BHYTTN tỉnh Tiền Giang

2.4.1.1 Mô hình kiểm định hiện tượng lựa chọn ngược

Y= β 0 + β 1 TNBQ+ β 2 GIOITINH+ β 3 TUOI+ β 4 KETHON+ β 5 MUCDOTINTUONG + β 6 THCS+ β 7 THPT+ β 8 TRENTHPT+ β 9 NONGDAN+ β 10 THATNGHIEP

+ β 11 NGHETUDO + β 12 TOT+ β 13 TRUNGBINH + β 14 XAU+ β 15 RATXAU+ ε (2.1)

Trang 32

Bảng 2.1 Tổng hợp các biến trong mô hình (2.1)

vọng dấu

Triệu đồng (-)

Giới tính GIOITINH Biến giả về giới tính

của người được khảo sát

kết hôn Rồi = 1 Chưa = 0 (+) Mức độ tin

tưởng MUCDOTINTUONG Mức độ tin tưởng của người dân vào việc

khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT

Số điểm (-)

Trung học

cơ sở THCS Biến giả thể hiện người có trình độ học vấn

trung học cơ sở (lớp 9)

6-Có = 1 Khác = 0

(+)

Trung học

phổ thông THPT Biến giả thể hiện người có trình độ học vấn

trung học phổ thông (lớp 10-12)

Có = 1 Khác = 0

(+)

Trang 33

Tên biến Ký hiệu Định nghĩa Đo lường Kỳ

vọng dấu

Có = 1 Khác = 0

(+)

Nông dân NONGDAN Biến giả thể hiện người

đang là nông dân Có = 1 Khác = 0 (+) Thất

nghiệp THATNGHIEP Biến giả thể hiện người đang trong tình trạng

thất nghiệp

Có = 1 Khác = 0

(+)

Tốt TOT Biến giả thể hiện người

có sức khỏe tốt Có = 1 Khác = 0 (+) Trung bình TRUNGBINH Biến giả thể hiện người

có sức khỏe trung bình Có = 1 Khác = 0 (+) Xấu XAU Biến giả thể hiện người

có sức khỏe xấu Có = 1 Khác = 0 (+) Rất xấu RATXAU Biến giả thể hiện người

có sức khỏe rất xấu Có = 1 Khác = 0 (+) Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Thông tin về tình trạng sức khỏe của người mua B HYTTN không được minh bạch Đó là hệ quả của việc khuyến khích người dân tham gia BHYT theo mục tiêu đã đề ra của Chính phủ Người có bệnh mong muốn có được thẻ BHYTTN hơn những người không có bệnh Bên bán không biết trước được liệu sức khỏe của người mua có tốt không trước khi giao dịch mua bán xảy ra Do vậy, thị trường có hiện tượng lựa chọn ngược

Trang 34

2.4.1.2 Cơ sở chọn biến và kỳ vọng dấu

Biến thu nhập bình quân (TNBQ) Thu nhập là yếu tố tác động tích cực đến quyết định mua BHYT, kết quả các nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới: Bhat and Jain (2006) ở Ấn Độ, Vukina và Nestic (2008) ở Croatia, cho thấy điều này Tuy nhiên, thu nhập của người dân các nước này là cao, hệ thống BHYT của họ hiện đại và hoàn chỉnh, Ấn Độ là quốc gia có sự phân hóa giàu nghèo lớn, những người mua BHYT chủ yếu là tầng lớp giàu có Ở Việt Nam, thu nhập người dân còn thấp, hệ thông y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh, sự phân biệt trong việc KCB và các yếu tố tiêu cực khác nên chưa thúc đẩy được người dân mua BHYTTN Kỳ vọng dấu (-)

Biến giới tính của người khảo sát (GIOITINH):Người nam thường ít quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe, ít quan tâm đến việc mua thẻ BHYTTN mặc dù họ

là những người có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người nữ Tuổi thọ trung bình của

người nam thấp hơn nữ, có nghĩa là nam mắc bệnh nhiều hơn nữ Kỳ vọng dấu (-)

Biến tuổi của người được khảo sát (TUOI): Những người càng lớn tuổi, khả

năng mắc bệnh tật càng cao do sự lão hóa của cơ thể, họ càng thường xuyên đi khám bệnh nhiều hơn, do đó người già cũng mua thẻ BHYTTN nhiều hơn Kỳ vọng

dấu (+)

Biến tình trạng hôn nhân (KETHON): Người đã kết hôn thường quan tâm

đến sức khỏe của chính mình và các thành viên trong gia đình nhiều hơn những người độc thân Nghiên cứu của Vukina và Nestic (2008) chỉ ra rằng người đã lập gia đình có xác suất mua BHYT bổ sung cao hơn người độc thân hoặc đã ly dị Kỳ vọng dấu (+)

Biến biểu diễn cho mức độ tin tưởng của người dân vào việc khám và chữa bệnh bằng BHYT (MUCDOTINTUONG): người dân có tin vào chất lượng của việc khám bệnh bằng BHYT thì họ mới quyết định mua thẻ, những yếu tố này được xem như sự cảm nhận chủ quan của họ vào dịch vụ BHYT Thực tế, đa số người dân khi

Trang 35

khám bệnh phải chờ đợi lâu, khả năng và thái độ phục vụ kém của y, bác sĩ thì đa số

ít tin tưởng vào BHYT Kỳ vọng dấu (-)

Biến thể hiện trình độ học vấn từ trung học sơ sở (THCS), trung học phổ

thông (THPT) đến trên trung học phổ thông (TRENTHPT):Những người học vấn

thấp (THCS), quyết định mua BHYTTN chủ yếu dựa theo tâm lý đám đông hoặc lợi

ích trước mắt cho chính bản thân họ (khi có bệnh mới mua) Người học vấn càng

cao thì họ biết cách hạn chế rủi ro bằng cách mua BHYTTN Kết quả nghiên cứu

của Vukina và Nestic (2008) cũng cho thấy người có học vấn cao mua BHYT nhiều

hơn người có học vấn thấp Kỳ vọng tác động sẽ tăng từ THCS đến TRENTHPT

(+)

Biến thể hiện nghề nghiệp gồm nông dân (NONGDAN), nghề tự do

(NGHETUDO), không có việc làm hay đang thất nghiệp (THATNGHIEP): Những

người này mua BHYTTN để được thanh toán chi phí KCB do họ không phải là đối

tượng tham gia BHYTBB Đa số họ khi xảy ra bệnh tật, đau ốm mới đăng ký tham

gia BHYTTN, ngoài ra, bởi vì họ không có việc làm nên có thời gian chờ đợi để

KCB Kỳ vọng dấu (+)

Biến thể hiện cho việc tự đánh giá tình trạng sức khỏe của người dân: sức

khỏe tốt (TOT), sức khỏe trung bình (TRUNGBINH), sức khỏe xấu (XAU) và sức

khỏe rất xấu (RATXAU): Sức khỏe không tốt làm cho người dân có xu hướng mua

BHYTTN hơn là những người có sức khỏe tốt Do đó, kỳ vọng tác động sẽ tăng dần

khi người dân có sức khỏe càng xấu Kỳ vọng dấu (+)

2.4.2 H iện tượng rủi ro đạo đức

Khi người dân sở hữu được thẻ BHYTTN, họ có tâm lý ỷ lại rằng mình luôn

được chi trả tiền bảo hiểm, vì vậy việc tự chăm sóc sức khỏe không được họ quan

tâm, dẫn đến việc số lần đi khám bệnh của họ nhiều hơn hẳn so với những người có

thẻ BHYTBB, điều này là do mục đích ban đầu của họ mua thẻ để khám bệnh và

chữa bệnh, nghĩa là những người mắc bệnh càng có động lực trong việc sở hữu thẻ

BHYTTN Đối với người mắc bệnh mãn tính thì việc khám chữa bệnh, điều trị lại

Trang 36

càng thường xuyên hơn làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh, gây nên tình trạng lạm dụng quỹ KCB BHYT

Có nhiều yếu tố tác động đến số lần KCB tại bệnh viện:

Yếu tố sức khỏe: tốt, trung bình, xấu hay rất xấu

Tuổi: tuổi càng cao thì số lần KCB càng nhiều do bệnh tật xảy đến khi cơ thể con người càng bị lão hóa

Nghề nghiệp: những người làm việc trong môi trường độc hại, ô nhiễm, ồn, thường xuyên tăng ca…thì dễ mắc bệnh hơn so với các công việc khác Và nhiều yếu tố khác cũng tác động đến số lần KCB: thời tiết, khí hậu thay đổi…Tuy nhiên, với mục tiêu kiểm định lý thuyết về hành vi mà người sở hữu thẻ BHYTTN thực hiện là việc dùng thẻ khám chữa bệnh với số lần đi khám bình quân cao hơn so với người sở hữu các loại thẻ BHYT khác trong một khoảng thời gian nhất định.Vì vậy,

mô hình để kiểm định hiện tượng rủi ro đạo đức được thiết lập là mô hình hồi quy dựa trên số lần KCB tại bệnh viện của các đối tượng có thẻ BHYT Do các biến giải thích là các biến định tính thể hiện việc sở hữu thẻ BHYT nên tác giả sử dụng kỹ thuật biến giả để lượng hóa các biến này

2 4.2.1 Mô hình kiểm định hiện tượng rủi ro đạo đức

SOKB= β 0 + β 1 TUNGUYEN+ β 2 NHANVIEN+ β 3 HUUTRI+ β 4 HONGHEO + β 5 CHINHSACH + β 6 HSSV + β 7 TUOI + ε (2.2)

Tần suất đi khám bệnh của người có thẻ BHYTTN cao hơn so với các đối tượng khác trong các loại hình tham gia BHYT Việc khám bệnh nhiều lần không chỉ do họ có bệnh mà còn là hành vi lạm dụng khi khám bệnh bất kể đó là bệnh nhẹ, thậm chí chỉ đi khám để lấy thuốc mang về bán kiếm lợi, điều này là sự vô đạo đức được gây ra bởi hành vi bị che đậy của người có thẻ BHYTTN

Trang 37

Bảng 2.2 Tổng hợp các biến trong mô hình (2.2)

Có = 1 Khác = 0

(-)

Hưu trí HUUTRI Biến giả thể hiện người

dân đang là cán bộ hưu trí

Có = 1 Khác = 0

(+)

Tuổi TUOI Tuổi của người dân Số năm (+)

Hộ nghèo HONGHEO Biến giả thể hiện người

dân có thẻ BHYT bắt buộc là người nghèo

Có = 1 Khác = 0

Có = 1 Khác = 0

Có = 1 Khác = 0

(-)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 38

2.4.2.2 Cơ sở chọn biến và kỳ vọng dấu

Biến phụ thuộc thể hiện việc người dân có mua hay không mua BHYTTN, đây là biến giả có 2 thuộc tính, nếu mua BHYTTN thì D=1, không mua D=0 Việc mua hay không mua phụ thuộc vào nhiều yếu tố, theo Vukina và Nestic (2008), các yếu tố ảnh hưởng đến việc mua BHYT bổ sung bao gồm các nhóm yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng hôn nhân, khu vực sống, trình độ giáo dục, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe

Biến giả thể hiện người có thẻ BHYTTN (MUABHYTTN) Những người có thẻ BHYTTN đa số là những người mắc bệnh, phần lớn họ mang bệnh mãn tính như suy thận, tiểu đường, là những bệnh bắt buộc họ phải đến bệnh viện thường xuyên hơn để khám và điều trị Ngoài ra, họ cũng là những người có thời gian chờ đợi khám bệnh BHYT Kỳ vọng dấu (+)

Biến giả thể hiện người có thẻ BHYTBB là những người đang làm việc (NHANVIEN) Những người đang làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức là những người ít có thời gian để đi khám bệnh BHYT, khi mắc bệnh nhẹ, họ sẵn sàng

đi đến hiệu thuốc để mua thuốc hay chờ đến khi hết thời gian làm việc tìm đến phòng khám tư nhân thay vì phải mất thời gian chờ đợi để KCB BHYT trong giờ làm việc Kỳ vọng dấu (-)

Biến giả thể hiện người có thẻ BHYT là những người đã hết tuổi lao động đang nghỉ hưu, hưởng trợ cấp (HUUTRI) Những người đã nghỉ hưu là những người tuổi đã cao (từ đủ 55 tuổi trở lên đối với người nữ, 60 tuổi trở lên đối với người nam), họ có điều kiện về thời gian chờ đợi để khám bệnh BHYT tại bệnh viện Bên cạnh đó, đa số người nghỉ hưu là người có chức vụ khi còn làm việc, trình độ từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, hiểu biết, nhận thức của họ về lợi ích của BHYT đầy đủ Kỳ vọng dấu (+)

Biến giả thể hiện người có thẻ BHYT là người nghèo (HONGHEO) Người nghèo được Ngân sách nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí mua thẻ BHYT, người nghèo mắc nhiều bệnh mãn tính : lao, suy thận, suy gan, tiểu đường, số lần đi khám

Trang 39

bệnh của người nghèo là khá nhiều là một trong những nguyên nhân gây mất cân đối quỹ BHYT (báo cáo của BHXH Tiền Giang) Kỳ vọng dấu (+)

Biến giả thể hiện người có thẻ BHYTBB là người có công với cách mạng được Nhà nước cấp thẻ BHYT (CHINHSACH) Tương tự như người nghèo, thẻ BHYT của họ được cấp miễn phí Tuy nhiên phần lớn những người này tuổi đã cao, khi có bệnh họ đi khám bác sĩ gần nơi cư trú, mặc dù họ được ưu tiên khám bệnh tại các bệnh viên lớn hoặc đi bác sĩ tư nhân do đã quen với thầy thuốc và ngại chờ đợi

Kỳ vọng dấu (-)

Biến giả thể hiện người có thẻ BHYTBB là học sinh và sinh viên (HSSV) Tuổi đời của đối tượng này còn trẻ, ít bệnh tật Họ cũng ít có thời gian chờ đợi khám bệnh tại bệnh viện Kỳ vọng dấu (-)

Trang 40

Hình 2.3 Q uy trình nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập dữ liệu và chọn mẫu

Dữ liệu thứ cấp: tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các biểu mẫu báo cáo của BHXH Tiền Giang, UBND tỉnh Tiền Giang

Dữ liệu sơ cấp: Phát phiếu điều tra trực tiếp bằng bảng câu hỏi với đối tượng điều tra là người dân đang khám chữa bệnh có dùng thẻ BHYT tại Bệnh viện đa

Lý thuyết về thông tin bất cân xứng, các nghiên cứu thực nghiệm trước

đây

Chọn mô hình kiểm định

hiện tượng lựa chọn ngược

Hồi quy kiểm định

hiện tượng lựa chọn

Giải thích kết quả và đề xuất

Ngày đăng: 17/09/2020, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w