1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thể tài chân dung văn học trong văn học việt nam từ 1986 đến nay

171 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp liên ngành: Vì chân dung văn học là một thể tài có sự dung hợp giữa viết tiểu sử, văn sáng tác, phê bình văn học; vừa mang tính chất văn học, vừa mang tính chất báo chí; n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả

Hà Thị Kim Phượng

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới của luận án 4

6 Cấu trúc luận án 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Khái niệm thể tài, thể loại 6

1.2 Lịch sử nghiên cứu về chân dung văn học 8

1.2.1 Nghiên cứu chân dung văn học trên bình diện lý thuyết 8

1.2.2 Nghiên cứu chân dung văn học trên bình diện sáng tác 14

1.3 Quan niệm về thể tài chân dung văn học của tác giả luận án 18

1.3.1 Chân dung văn học - một dạng đặc biệt của phê bình văn học 18

1.3.2 Đặc trưng của thể tài chân dung văn học 21

1.4 Tiểu kết chương 1 29

Chương 2 SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỂ TÀI CHÂN DUNG VĂN HỌC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 30

2.1 Vài nét về sáng tác thể tài chân dung văn học ở nước ngoài 30

2.2 Chân dung văn học trong văn học Việt Nam trước 1986 35

2.2.1 Giai đoạn 1930 - 1945 35

2.2.2 Giai đoạn 1945 - 1985 42

2.3 Chân dung văn học trong văn học Việt Nam sau 1986 46

2.3.1 Bối cảnh xã hội, văn hóa, văn học giai đoạn sau 1986 46

2.3.2 Sự vận động và thành tựu của thể tài chân dung văn học sau 1986 48

2.4 Tiểu kết chương 2 58

Trang 5

CHÂN DUNG VĂN HỌC TỪ 1986 ĐẾN NAY 60

3.1 Đối tượng được dựng chân dung 60

3.1.1 Các nhà văn, nhà thơ 60

3.1.2 Các nghệ sĩ ở nhiều ngành nghệ thuật khác 64

3.2 Nội dung thể hiện trong các chân dung văn học 67

3.2.1 Chân dung nhà văn - đối tượng được dựng chân dung 67

3.2.2 Chân dung tác giả - người dựng chân dung 94

3.2.3 Môi trường sống và sáng tạo của nhà văn 97

3.3 Tiểu kết chương 3 101

Chương 4 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TRONG CÁC TÁC PHẨM THUỘC THỂ TÀI CHÂN DUNG VĂN HỌC TỪ 1986 ĐẾN NAY 103

4.1 Tiếp cận chân dung từ nhiều góc độ 103

4.1.1 Tiếp cận với tư cách bạn nghề 103

4.1.2 Tiếp cận với tư cách người thân 106

4.1.3 Tiếp cận với tư cách người phê bình 110

4.1.4 Xu hướng rút ngắn khoảng cách tiếp cận đối tượng 113

4.2 Sử dụng nhiều hình thức ký 116

4.2.1 Hình thức bút ký 116

4.2.2 Hình thức hồi ký 118

4.2.3 Hình thức chuyện trò, đối thoại 122

4.3 Tổ chức kết cấu linh hoạt 124

4.3.1 Kết cấu men theo dòng sự kiện 125

4.3.2 Kết cấu theo dòng hồi ức, liên tưởng 126

4.3.3 Kết cấu phối hợp, đan xen 128

4.4 Kết hợp nhiều điểm nhìn, nhiều sắc thái giọng điệu 130

4.4.1 Kết hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn 130

4.4.2 Xu hướng đa thanh trong giọng điệu 134

Trang 6

4.5.1 Ngôn từ giàu sắc thái trữ tình 142

4.5.2 Ngôn từ giàu sắc thái khẩu ngữ 145

4.5.3 Ngôn ngữ giàu sắc thái khảo cứu 146

4.6 Tiểu kết chương 4 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

DANH MỤC CÁC TÁC PHẨM CHÂN DUNG VĂN HỌC ĐƯỢC KHẢO SÁT TRONG LUẬN ÁN 162

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chân dung văn học - nhìn trên góc độ sáng tác có thể xếp vào thể

ký, có mục đích khắc họa cá tính, phong cách độc đáo của con người, trước hết là các nhà văn, nhà thơ, sau đó là giới nghệ sĩ nói chung Thể tài chân dung văn học chỉ có thể ra đời khi ý thức cá nhân đã phát triển cao trong đời sống xã hội và đời sống văn học Từ những năm 20 -30 của thế kỷ trước, cùng với ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây, ý thức về con người cá nhân ngày càng bộc lộ sâu sắc, tạo tiền đề cho nhiều xu hướng, nhiều thể loại văn học mới ra đời Đó cũng chính là tiền đề để thể tài chân dung văn học ở nước ta xuất hiện và nhanh chóng khẳng định vai trò của mình Đến năm

1986, sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, đất nước ta

có nhiều đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Sự đổi mới, bắt đầu từ đổi mới tư duy đã làm cho nền kinh tế từng bước phát triển, kéo theo đời sống tinh thần được nâng cao, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nhà văn sáng tác Tâm thế sáng tạo của người viết được “cởi trói” Nhiều tác giả, nhiều sự kiện của văn học quá khứ được nhìn nhận lại, không đơn giản, một chiều mà khoan dung, thấu tình đạt lý Đây là cơ hội tốt cho thể tài chân dung văn học lên ngôi, tạo được sự chú ý và quan tâm của bạn đọc Vì thế, nghiên cứu thể tài chân dung văn học sẽ góp phần hiểu rõ hơn về quy luật vận động và những thành tựu của văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn sau 1986

1.2.Văn nghệ sĩ là những con người đặc biệt, luôn được công chúng quan tâm Họ là những người có tài năng, có tâm hồn nhạy cảm, có khả năng nắm bắt nhanh nhạy mọi biểu hiện đa dạng, phong phú của đời sống Cuộc đời của họ thường có nhiều cung bậc phức tạp Số phận của họ cũng có nhiều biến động cùng với sự biến thiên của lịch sử xã hội Con người, tính cách của

họ là những hiện tượng khách quan, cần được văn học phản ánh và mảng hiện

Trang 8

thực này có sức hấp dẫn lớn với các ngòi bút dựng chân dung Hơn nữa, con người tác giả, cá tính sáng tạo của nhà văn luôn in dấu vào từng trang viết Chân dung văn học - một dạng đặc biệt của phê bình văn học sẽ giúp người đọc có thêm tư liệu, thâm nhập vào đời sống văn chương, giúp người đọc hiểu hơn đóng góp của các nhà văn, cũng như khám phá sâu hơn tác phẩm của họ

từ góc độ người sáng tạo, tâm thế sáng tạo

1.3 Chân dung văn học là một thể tài có sự dung hợp về thể loại Xét

về loại hình thì vừa là văn chương, vừa là báo chí Xét về thể loại thì vừa là

ký, vừa là truyện danh nhân, đồng thời là phê bình văn học Cho đến nay, còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về tính chất, đặc điểm của chân dung văn học Còn trên thực tế sáng tác, có rất nhiều tác phẩm được định danh là chân dung văn học nhưng thực chất chỉ nằm ở vùng giao thoa với thể tài này Vì thế, rất cần những nghiên cứu toàn diện, làm rõ hơn đặc trưng thể loại, những biến đổi, những đóng góp mới của nó trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam sau 1986

1.4 Hiện nay, một số tác phẩm chân dung văn học trong nước và ngoài nước đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông và đại học Vì thế tìm hiểu về thể tài chân dung văn học sau 1986 là một việc cần thiết và hữu ích phục vụ cho công tác giảng dạy ký, trước hết là giảng dạy các tác phẩm chân dung văn học có trong chương trình hiện nay

Đó là những lý do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài: Thể tài chân

dung văn học trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay ở cả hai phương diện nội dung (đối tượng, nội dung thể hiện) và nghệ thuật (góc độ tiếp cận, hình thức thể hiện, tổ chức kết cấu, giọng điệu, ngôn từ) Ở một mức độ nhất định, luận áncó sự đối sánh với

Trang 9

chân dung văn học các giai đoạn trước1986 để thấy sự kế thừa và bổ sung, phát triển của thể tài)

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài Thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam từ 1986

đến nay, chúng tôi muốn khẳng định những thành tựu, những đóng góp của thể

tài nàyđối với văn xuôi Việt Nam ở một giai đoạn phát triển sôi động.Đồng thời, đề tài cũng lý giải nhữngnguyên nhân dẫn đến sự phát triển của thể tài chân dung văn học sau 1986, từ đó góp phần soi sáng quy luật vận động có tính nội tại của thể tài này trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam đương đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở xác định đối tượng, mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Xác lập quan niệm về thể tài chân dung văn học (một khái niệm cho đến nay vẫn có những cách nhìn nhận khác nhau); Chỉ ra nguồn gốc, đặc điểm, sự vận động của thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam hiện đại

- Khảo sát cách tiếp cận đối tượng, nội dung biểu hiện, hình thức dựng chân dung trong các tác phẩm thuộc thể tài chân dung văn học sau 1986; Từ

đó góp phần khẳng định vị trí của chân dung văn học trong bức tranh văn xuôi Việt Nam sau 1986

Trang 10

- Lý giải nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của thể tài chân dung văn học sau 1986 Từ đó, luận án góp phần chỉ ra quy luật vận động của thể tài, cắt nghĩa sự đổi mới từ phía tư duy, tâm thế sáng tạo của nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp hệ thống: Xem xét sự vận động của thể tài chân dung

văn học trong sự vận động chung của văn xuôi Việt Nam sau 1986 Phương pháp này cũng đặt sự khảo sát thể tài chân dung văn học trong tính chỉnh thể, trong đó bức tranh chung của nó không phải là số cộng các tác phẩm riêng biệt mà có sự tác động qua lại, có sự phát triển theo qui luật nội tại và có sự tương tác với bối cảnh, môi trường văn học

- Phương pháp liên ngành: Vì chân dung văn học là một thể tài có sự

dung hợp giữa viết tiểu sử, văn sáng tác, phê bình văn học; vừa mang tính chất văn học, vừa mang tính chất báo chí; người được dựng chân dung vừa có nguyên mẫu ngoài đời, đồng thời là những hình tượng có ít nhiều hư cấu nên cần thiết phải sử dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu

- Phương pháp tiểu sử: Do chân dung văn học có nguồn gốc sâu xa từ

phê bình tiểu sử, do giữa các chân dung được dựng và “mẫu gốc” ngoài đời, do giữa các tác phẩm và người sáng tác ra chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết nên phương pháp tiểu sử sẽ được vận dụng trong những trường hợp cần thiết

- Phương pháp so sánh: So sánh đồng đại: so sánh nội dung, nghệ thuật

dựng chân dung giữa các tác giả viết chân dung giai đoạn sau 1986 So sánh lịch đại: so sánh các chân dung văn học trước và sau 1986

5 Đóng góp mới của luận án

Thể tài chân dung văn học hiện nay đang phát triển và được cả giới sáng tác và giới phê bình, các bạn đọc quan tâm chú ý Tuy nhiên, quan niệm

về tính chất, đặc trưng thể tài còn có những ý kiến khác nhau Thực tế sáng tác cho thấy có nhiều tác phẩm được định danh là chân dung văn học nhưng

Trang 11

thực chất chỉ nằm ở đường biên thể loại Luận án sẽ góp phần làm sáng rõ về mặt lý luận nguồn gốc, đặc trưng, mối quan hệ giữa chân dung văn học với các thể văn có quan hệ giao thoa, gần gũi khác

Từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về chân dung văn học, chỉ ra các đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, các gương mặt viết chân dung tiêu biểu Tuy nhiên, theo những gì chúng tôi được biết, hiện vẫn chưa

có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về thể tài này, đặc biệt

là sự vận động, những đóng góp của chân dung văn học trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 Luận án muốn góp một tiếng nói khẳng định, định vị lại rõ hơn vai trò của chân dung văn học trong bức tranh chung của văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung, văn xuôi đương đại nói riêng

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận án được triển khai trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Sự vận động của thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam hiện đại

Chương 3: Đối tượng, nội dung thể hiện của thể tài chân dung văn học

từ 1986 đến nay

Chương 4: Nghệ thuật thể hiện trong các tác phẩm thuộc thể tài chân dung văn học từ 1986 đến nay

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm thể tài, thể loại

Thể tài và thể loại cùng một thuật ngữ có gốc tiếng Pháp là genre

littéraire Tuy nhiên trên thực tế sử dụng vẫn cần thiết phân biệt hai thuật ngữ

này.Giáo trình Lí luận văn học (Phương Lựu -Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân

Nam - Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình), Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2006định nghĩa về thể loại: “Thể loại là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định, tạo cho tác

phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [81, tr.339] Lý luận văn học, vấn đề và

suynghĩ của Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

1995 nhận xét: “Loại và thể văn học là những hình thức tổ chức tác phẩm văn học Loại và thể văn học hình thành và phát triển một cách lịch sử trong các nền văn học dân tộc, do đó mang những đặc điểm lịch sử và dân tộc rõ nét”

[43, tr.76] Cơ sởLý luận văn học của Đỗ Văn Khang, Nxb Thông tin và

Truyền thông, 2013 xác định: “Loại thể văn chương ra đời là để xác định miền giới hạn thẩm mỹ của những tác phẩm được sáng tác theo các phương thức nghệ thuật đặc thù, nhằm truyền tải những giá trị thẫm mỹ tối ưu của nhà

văn tới công chúng” [58, tr.140] Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004 xác định thể loại là “dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [42, tr.299] Bàn về vai trò của thể loại trong tiến trình lịch sử, M Bakhtin có một nhận định nổi tiếng: “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡvà đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta nhìn thấy

Trang 13

vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những

nhân vật hạng nhì và hạng ba” [5, tr.28] Lý luận văn học của Phương Lựu

-Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam - Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình khẳng địnhchức năng và quy luật loại hình của thể loại: “Thể loại thể hiện một giới hạn tiếp xúc với đời sống, một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trường quan sát, một quan niệm đối với đời sống, đồng thời cũng là một nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật” [81, tr.345]

Khái niệm thể tài được nhắc đến ít hơn so với thể loại G.N Pospelov cho rằng khái niệm thể loại thiên về chỉ hình thức, phương thức biểu hiện đời sống như tự sự, trữ tình, kịch, còn khái niệm thể tài là chỉ về mặt nội dung, đề tài: “Các thể tài văn học (tiếng Pháp: genre - giống kiểu) là những kiểu tác phẩm hình thành trong quá trình phát triển của nghệ thuật ngôn từ… những đặc điểm của nội dung thể tài, nằm trong một số đặc tính chung của chủ đề tác phẩm, cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định tính chất của tác phẩm [110, tr.258] Và ông phân chia rất rõ ba loại thể tài phổ biến: thể tài

lịch sử dân tộc, thể tài thế sự, thể tài đời tư [110, tr.264, 265] Cuốn Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc (Phạm Thị Hảo tuyển dịch và

biên soạn) đã khái quát thể tài là “trỏ một loại tác phẩm văn học cụ thể biểu đạt nội dung nhất định nào đó Căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ khác nhau, thể tài được phân thành hai loại: văn vận và tản văn Căn cứ vào phương thức xây dựng hình tượng thì có ba loại: Tự sự, trữ tình và hí kịch Căn cứ vào đặc điểm khác nhau ở nhiều mặt tổng hợp như về phương thức kết cấu, xây dựng hình tượng, vận dụng ngôn ngữ và thư pháp biểu đạt thì phân thành nhiều loại: Thơ ca, tản văn, tiểu thuyết, văn học kịch, văn học phim ảnh…” [40,

tr.50] Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên) cho rằng: “Thể

loại là hình thức sáng tác văn học nghệ thuật được đặc trưng bằng phương

pháp phản ánh hiện thực, sự vận động riêng khác: các thể loại văn học, sự

Trang 14

khác nhau giữa thể loại tự sự và thể loại trữ tình Còn thể tài là hình thức nghệ thuật đặc trưng bởi đề tài, chủ đề phong cách” [139, tr.917] Từ điển Tiếng

Việt của Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa: “Thể loại là hình thức sáng tác văn

học, nghệ thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng

ngôn ngữ… Văn học có nhiều thể loại: tự sự, trữ tình, kịch… Thể tài chính là

hình thức, thể loại của một tác phẩm nghệ thuật được xác định bằng đề tài hoặc bằng những đặc trưng khác về chủ đề, phong cách” [108, tr.1555]

Như vậy, thể loại là khái niệm dùng để chỉ các loại hình, hình thức cụ thể trong sáng tác như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ… Còn khái niệm thể tài thích hợp với việc chỉ định các sáng tác có những điểm chung về nội dung, đề tài Ở đây các tác phẩm thuộc thể tài chân dung văn học hướng đến dựng chân dung nhà văn (và mở rộng là giới nghệ sĩ nói chung) với một diện mạo cụ thể,

có thật, sao cho truyền được cái thần thái sống động của người đó qua những đặc điểm riêng, độc đáo

1.2 Lịch sử nghiên cứu về chân dung văn học

1.2.1 Nghiên cứu chân dung văn học trên bình diện lý thuyết

Mặc dầu các chân dung văn học đã xuất hiện khá sớm (từ trước 1945) nhưng giới nghiên cứu chưa thực sự quan tâm tìm hiểu lý thuyết về thể tài này Ngay trong các giáo trình Lí luận văn họcgiảng dạy ở các trường đại học, cao

đẳng như Lí luận văn học của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương, 1995;

Lí luận văn học, tập 2 do Trần Đình Sử (chủ biên), 2008; Cơ sở lý luận văn học

của Đỗ Văn Khang, 2013 có phân chia tương đối rõ các thể loại kí cũng không

nhắc đến chân dung văn học Trong cuốn Lí luận văn học (Trần Đình Sử chủ

biên) nói trên, các tác giả phân chia thể kí gồm: ký sự, phóng sự, nhật kí, hồi kí, bút kí, tùy bút, du kí, tản văn… dựa trên tiêu chí về đặc trưng từng tiểu loại khá

kĩ lưỡng, nhưng cũng không bàn đến chân dung văn học [117; tr.375]

Hiện đang tồn tại khá nhiều quan niệm về chân dung văn học Trong bộ

sách Bách khoa văn học giản lược của Liên Xô gồm chín tập, các tác giả đã

Trang 15

khái quát về chân dung văn học như sau: “Một loại bút ký mang tính chất tư liệu, viết về nhà văn, họa sĩ, nhà hoạt động xã hội xuất chúng xây dựng trên

cơ sở trò chuyện với “nhân vật” đó Chân dung văn học hướng vào việc dựng lại diện mạo toàn vẹn (hình thể, tinh thần, sáng tác…) của nhân vật hoặc hướng vào việc khám phá nét chủ đạo của cuộc đời “nhân vật” ấy, có khi qua một lát cắt thời gian nhất định” [4]

Theo Tư ̀ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắ c Phi (đồ ng chủ biên) thì chân dung văn học “khác với hồi tưởng, ghi chép về một con người cụ thể, với tư cách là một thể loại văn học, chân dung văn học miêu tả con người cụ thể với một quan niệm xác định về nhân cách” [41, tr.54] “Phương pháp của chân dung văn học là phương pháp của thể kí

Nó không thiên về cốt truyện Nhà văn phát huy sở trường quan sát, lựa chọn chi tiết, cử chỉ, ngôn luận, kể cả tác phẩm, tư thế, hồi tưởng để dựng lại bộ mặt tinh thần của một con người, thường là nhà văn, nghệ sĩ hoặc các nhà hoạt động xã hội nổi tiếng” [41; tr.55] Như vậy, cả hai định nghĩa trên đều hiểu chân dung văn học theo nghĩa rất rộng, không chỉ dựng chân dung nhà văn, giới văn nghệ sĩ nói chung mà còn có thể dựng chân dung các nhà chính trị, hoạt động xã hội, những người xuất chúng…

Một số quan niệm khác lại hiểu chân dung văn học theo nghĩa hẹp hơn,

đó là các tác phẩm thể hiện chân dung nhà văn, nhà thơ hoặc rộng hơn một

chút là giới nghệ sĩ Trong công trìnhNghiên cứu văn học Việt Nam - Những

khả năng và thách thức, Đỗ Lai Thúy trong bài viết Phê bình văn học: nhìn nghiêng từ phương pháp cho rằng “chân dung văn học có gốc gác từ phê bình

tiểu sử” [131, tr.54, 55] Theo tác giả, phê bình tiểu sử là một trường phái phê bình trước hết xuất phát từ tiểu sử nhà văn, xem tiểu sử là căn cứ quan trọng

để phát hiện, giải mã tác phẩm, tìm kiếm những gì còn ẩn náu phía sau các sáng tác của nhà văn Phê bình tiểu sử được viết một cách văn chương thì có thể trở thành chân dung văn học Như vậy nhìn từ nguồn gốc, chân dung văn

Trang 16

học trước hết phải là một kiểu, một dạng sinh động của phê bình văn học.Như vậy có thể hiểu - từ cội nguồn - tiểu sử nhà văn là xuất phát điểm, phê bình nhà văn (nhận định, đánh giá) là đích hướng đến của chân dung văn học

Trần Đình Sử bàn về chân dung văn học như sau: “Chân dung văn học như tôi hiểu, là bức tranh chấm phá về phong cách nhà văn thu nhỏ, là thể loại văn học nằm giữa phê bình và truyện kí nhà văn Nó không còn là phê bình văn học thuần tuý, mà đã pha trộn phần sáng tác, bổ sung thêm các quan sát, nhận xét, tưởng tượng của bản thân nhà phê bình đối với con người nhà văn ngoài đời” “Đó là một thể loại có thể nói là đặc sản của phê bình văn học Việt Nam bắt đầu với Thiếu Sơn, Hoài Thanh từ trước năm 1945” [118]

Lại Nguyên Ân trong bài Xung quanh thể tài chân dung văn học (báo

Văn Nghệ, số 49, năm 2010) đã đưa ra một số ý kiến nhằm minh định nội hàm

của khái niệm chân dung văn học Theo ông, chân dung văn học phải đụng được đến cái “chân dung bên trong” “chân dung tinh thần”, “cái phần mà trách nhiệm là thuộc hẳn về người sáng tác”, là “lấy ngôn từ để vẽ một con người”

“Chân dung văn học phải chen chân với loại công trình nghiên cứu và phê bình

là vì nó cũng nhằm vào tác giả Có điều, nó sẽ miêu tả tác giả không chỉ thông qua tác phẩm mà phần nhiều còn trực tiếp từ các chi tiết thuộc tiểu sử tác giả,

từ con người thật của tác giả trong những ứng xử, nói năng, xúc tiếp cụ thể; nó chủ yếu vẽ ra tác giả ấy như một con người sống, giống như cách miêu tả nhân vật trong văn học, dù không quên rằng “nhân vật” ấy chủ yếu làm văn nghệ - viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn kịch… [4] Lại Nguyên Ân cũng nhấn mạnh chất văn học trong các chân dung: “Người viết ở đây cần xuất hiện với tư cách một nhà văn, in cái nhìn, cách cảm thụ và đánh giá cùng sự diễn đạt của nhà văn Đây là nét hơi tinh tế, không phải bất cứ độc giả nào cũng thấy ngay, nhưng có

lẽ là nét cốt yếu khiến cho chân dung văn học đúng là văn học, có chỗ đứng trong văn học… Chính chất văn học đã cho phép thể tài chân dung được phóng túng nhiều hơn so với lối viết tiểu sử hoặc nghiên cứu một tác giả” [4]

Trang 17

Nguyễn Đăng Mạnh, người viết thành công khá nhiều chân dung văn học cũng khẳng định: “Chân dung văn học là một dạng của phê bình văn học Đây là chân dung nhà văn chứ không phải loại người nào khác Đọc chân dung văn học phải được thấy ông ta là nhà văn chứ, nghĩa là phải hiểu được cái văn của ông ta ra sao chứ! Tôi cho viết chân dung, đây là chỗ khó nhất Phải nắm được cái thần của văn nghiệp người nghệ sĩ ngôn từ - đó mới là cái đích của chân dung văn học Nhưng đi đến cái đích ấy, hay nói đúng hơn, dẫn người đọc đến cái đích ấy lại phải thông qua những chi tiết trong đời thực của nhà văn Ở đây, chân dung văn học đặt ra yêu cầu: phải tìm được chỗ thống nhất giữa văn và người của mỗi cây bút Tất nhiên thống nhất ở bề sâu, ở bản chất chứ không phải ở bề ngoài” [176, tr.7] Đồng thời “Chân dung văn học là một thể văn hiện đại Nó ra đời khi trong giới cầm bút đã có sự thức tỉnh sâu sắc về ý thức cá nhân” [176, tr.6]

Vương Trí Nhàn bày tỏ quan điểm của mình khi viết chân dung văn học:

“Tôi nghĩ, ngoài đời có bao nhiêu kiểu người thì trong văn chương cũng có bấy nhiêu kiểu người cầm bút, có thánh thần lẫn ma quỷ Và trừ một số tài năng sáng chói, thì phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý Rồi điều quan trọng hơn, mỗi con người có một tư cách, một số phận Không phải chỉ những tài năng lớn mới có một cuộc đời thú vị, những nhà văn tạm gọi là bình thường cũng có cách phấn đấu riêng, những bi kịch riêng Những cuộc làm người của họ trong văn chương cũng rất đáng ghi chép lại ” [173, tr.7] Vì vậy “cách ghi chép” của Vương Trí Nhàn thường hướng theo điều mà ông tâm niệm Ông không chỉ quan tâm đến những tài năng lớn

mà cả một số nhà văn “bình thường”, cả “chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý”

Nguyên An, trong một công trình nghiên cứu khá dài hơi, có tên Chân

dung văn học (Nxb Hội Nhà văn, 2010) khái quát tương đối rõ diện mạo của

quá trình hình thành và phát triển của thể tài chân dung văn học, đồng thời đi sâu khảo sát một số tác giả viết chân dung Tác giả xác định chân dung văn

Trang 18

học có ba đặc trưng: 1 Chân dung văn học là một thể văn thuộc loại bút ký -

sáng tác văn chương 2 Chân dung văn học là một thể văn bộc lộ rõ nét chất chủ quan của người viết 3 Chân dung văn học là một dạng của phê bình văn học [1, tr.16] Ba đặc điểm trên là hoàn toàn xác đáng, tuy nhiên điều đáng

tiếc là tác giả không đi sâu vào mối quan hệ giữa các đặc điểm, đặc biệt là mối quan hệ giữa tính chất bút ký (viết tiểu sử) và hư cấu văn chương, không tiến hành thao tác phân lập để loại trừ những gì là “họ hàng” nhưng không hẳn là chân dung văn học Vì thế, nhắc đến lịch sử của thể tài chân dung,

người viết dẫn ra nhiều tác phẩm như Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam - thời kỳ cổ

cận đại của Huệ Chi (1983), Một số gương mặt văn chương và văn học nghệ thuật Việt Nam (2001) của Phong Lê… màtheo chúng tôi, tuy có yếu tố chân

dung, nhưng thực chất đây là những công trình nghiên cứu, phê bình tác giả Đồng thời, công trình của Nguyên An chỉ dừng lại ở các hiện tượng chân dung văn học xuất hiện đến khoảng năm 1990

Khẳng định sự bùng nổ và ưu thế của chân dung văn học sau 1986, Văn Giá cho rằng: “Sau khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới kéo dài suốt 15 năm, ngoài sự thành công về hàng loạt lĩnh vực, có một điểm được coi đặc biệt thành công, nằm trong trạng thái tinh thần xã hội, đó là ý thức dân chủ Chưa bao giờ, trên quy mô thể chế xã hội và ở các cá nhân riêng lẻ, nhu cầu xây dựng và thực thi tinh thần dân chủ lại trở nên thường trực và mạnh mẽ đến vậy Và để biểu đạt khát vọng này, không gì tốt hơn, trực diện hơn, rõ ràng hơn bằng/qua thể loại kí, trong đó có chân dung văn học”; “Thể chân dung văn học được coi là một thể kí đặc biệt, nơi đó có sự kết hợp giữa việc dựng chân dung tinh thần nhà văn (theo cách gần với sáng tác) và đánh giá, phân tích các sáng tác cũng như phong cách nhà văn (theo cách gần với phê bình văn học)” [34]

Không chỉ các nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm đến chân dung văn học

mà những nhà văn trực tiếp tham gia viết và thành công ở thể tài chân dung văn

Trang 19

học cũng đưa ra các ý kiến, nhận xét của mình Tô Hoài, tác giả của nhiều chân dung nổi tiếng về Nam Cao, Xuân Diệu, Vũ Bằng… quan niệm: “Chân dung văn học là việc dựng la ̣i những bóng dáng thần thái văn nhân, những câu nói cái cườ i, bước đi dáng đứng của ho ̣ mà mình từng thấy từng biết” [48, tr.72] Nhà văn Bùi Ngọc Tấn tâm sự: “Tôi muốn có bóng dáng thời đại chúng tôi đã sống trong những trang sách của tôi cũng như tôi hiểu được rằng viết chân dung, viết hồi ký là phải trung thực nếu không muốn mình là kẻ bịp bợm” [184; tr.6]

Sự phát triển mạnh mẽ của thể tài chân dung văn học giai đoạn sau

1986 nằm trong xu thế phát triển chung của các loại hình văn học - báo chí nói chung, kí nói riêng Ý thức cá nhân, nhu cầu tái hiện và nhìn nhận lại quá khứ, nhu cầu bộc lộ suy tư, cảm xúc về giới mình… là tiền đề để chân dung văn học trở thành một thể tài được nhiều người viết quan tâm

Chúng tôi cho rằng các định danh nêu trên đều có yếu tố hợp lý của nó Nhưng để có một định nghĩa sát thực hơn, cần thiết phải xem xét kỹ từ nguồn gốc, đặc trưng, chức năng của chân dung văn học, cả ở hai góc nhìn thể tài và thể loại, từ đó dễ dàng phân biệt nó với các thể văn có liên quan, tránh sự xóa nhòa ranh giới Nhìn dưới góc độ thể tài, chân dung văn học có nội dung cốt lõi là tái hiện sinh động gương mặt, thần thái nhà văn Cũng như trong hội họa, chụp ảnh, người viết cũng cần phải dựng chân dung sao cho đúng, cho giống (có những chân dung đẹp nhưng không giống), sau đó phải làm sao cho

nó sống động, thể hiện được thần thái, cốt cách của con người (bắt được

“thần” đối tượng) Nhìn dưới góc độ thể loại, chân dung văn học vừa là ký, vừa là truyện danh nhân, vừa là phê bình văn học Trên thực tế sáng tác, có những chân dung đậm chất phê bình, đánh giá, lại có chân dung nghiêng về tư liệu, tiểu sử Theo chúng tôi, để đạt đến sự thành công của một chân dung, cần một sự kết hợp hài hòa các bút pháp để qua người mà thấy văn, qua văn

mà hiểu thêm nhân cách, tài năng, sự nghiệp văn chương Những sự kiện, hoạt động trong cuộc đời nhà văn là những chi tiết bên ngoài, bề nổi, dễ nhận

Trang 20

ra Nhưng tìm ra những khoảnh khắc, những bước ngoặt, tìm ra cách thể hiện, văn phong phù hợp (như Gorky viết về L.Tolstoi, Chekhov, S.Yesenin; Stephan Zweig viết về Balzac, Dickens, Byron; Nguyễn Đăng Mạnh viết về Quang Dũng, Nguyên Ngọc; Vương Trí Nhàn viết về Tô Hoài; Tô Hoài viết

về Nam Cao… để cho người đọc thấy hiển hiện bản chất con người, tài năng, trí tuệ nhà văn lại là bút lực của người viết chân dung

Qua đó, có thể thấy rằng các nghiên cứu về thể tài chân dung văn học trên góc độ khái quát đặc trưng thể tài, đặc trưng thể loại, xem xét nguồn gốc, tiến trình vận động của nó… vẫn chưa tương xứng với thực tế sáng tác Vì vậy vẫn cần thêm những công trình đi sâu nghiên cứu chân dung văn học ở phương diện này

1.2.2 Nghiên cứu chân dung văn học trên bình diện sáng tác

Cùng với thực tế sáng tác chân dung văn học ngày càng sôi động, các công trình, bài viết bàn về nội dung và nghệ thuật viết chân dung của các tác

giả cụ thể cũng xuất hiện nhiều hơn, có thể kể đến: Văn Giá, Lời bạt, chân

dung văn học của Vũ Bằng, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2002; Phạm Ngọc

Luật, Thay lời giới thiệu, cảm nhận khi đọc lại “Bốn mươi năm nói láo” - trong sách: Vũ Bằng, Bốn mươi năm nói láo, Nxb Văn học, HN, 2011; Nguyễn Văn Thọ, Vài cảm giác với“Chiều chiều”, Văn nghệ trẻ, 30/4/2006;

Đỗ Thị Cẩm Nhung, Ngôn ngữ, giọng điệu độc đáo trong nghệ thuật khắc

họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa, tạp chí Non nước, Số 168, 07/

2011; Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Đăng Mạnh: chân dung và phong cách, tạp

chí Văn hóa Nghệ An, 13/05/2010; Dương Thị Thu Hiền, Đặc sắc nghệ thuật

viết chân dung văn học của Tô Hoài, tạp chí Văn hiến Việt Nam, ngày

17/04/2016… Các bài viết trên phần lớn là những cảm nhận bước đầu, những nhận xét tổng quát Tuy vậy, các nhận định, đánh giá nhìn chung chính xác, trung thực, ghi nhận đóng góp của các cây bút trong các tác phẩm chân dung văn học một cách tương đối rõ nét và đầy đủ

Trang 21

Trong Lời bạt, chân dung văn học của Vũ Bằng, Văn Giá cho loạt bài

chân dung văn học Vũ Bằng thể hiện là “chân dung hồi kí” và nhận xét rất rõ cách nhìn con người của nhà văn: “Với riêng Vũ Bằng, ông quan niệm nhà văn cũng là con người mà đã là con người thì bất kì ai cũng đều có mặt tốt, mặt xấu, cái hay cái dở” [152, tr.391] “Vũ Bằng có một cái nhìn chân thực về người văn, nghề văn Ông không bao giờ thần thánh hóa con người nghệ sĩ, hoặc thần bí hóa hoạt động sáng tạo của văn nghệ sĩ” [152, tr.394] Nhận xét

đó đã lí giải sự đặc sắc, rất riêng, đời thường, gần gũi của chân dung văn học của Vũ Bằng Trong qua trình nghiên cứu về cách viết chân dung Vũ Bằng, tác giả còn đối sánh với Tô Hoài Ông cho rằng: “Nhà văn Tô Hoài trong các tác phẩm hồi ký hoặc chân dung văn học của mình cũng rất quan tâm và hứng thú miêu tả các chi tiết đời tư có phần nhếch nhác của giới văn nghệ sĩ [152, tr.396] Nhưng Vũ Bằng khác Tô Hoài ở chỗ: “Những chân dung của Vũ Bằng bao giờ cũng được nội tâm hóa”, còn Tô Hoài “xây dựng chân dung theo hướng miêu tả khách quan”; “Khi viết chân dung, Tô Hoài vẫn cứ là một cây bút hiện thực, bám chặt vào “chất văn xuôi” của đời sống Trong khi đó, bao giờ Vũ Bằng cũng là cây bút trữ tình, đằm thắm chất thơ” [152, tr.397-399]

Phạm Ngọc Luật, Thay lời giới thiệu, cảm nhận khi đọc lại “Bốn mươi năm nói

láo” cũng từng ngợi ca sự biến hóa của cây bút Vũ Bằng trong việc khắc họa

chân dung: “Có thêm những trang viết thấu tình của ông về Nam Cao và Vũ Trọng Phụng, ta càng cảm phục và tiếc thương cho hai danh tài đích thực của văn học nước nhà… bên cạnh chất trào lộng, hài hước đã trở nên đắc dụng trong nhiều chương, đoạn Chất tình cảm nồng ấm đã thực sự là dòng mạch chính tạo công hiệu không nhỏ để tập sách đi vào lòng người” [9, tr.349]

Trần Đình Sử trong bài Nguyễn Đăng Mạnh và con đường nghiên cứu

chân dung, phong cách của nhà văn rất chú ý đến phong cách xây dựng

chân dung của Nguyễn Đăng Mạnh Tác giả cho rằng Nguyễn Đăng Mạnh là người “có biệt tài chọn lọc những chi tiết rất đắt để dựng chân dung nhà văn,

Trang 22

điểm xuyết những nhận xét hóm hỉnh về tính cách người sáng tác, nhờ thế, tuy dung lượng không lớn, nhưng nhiều chân dung văn học của anh có khả năng khái quát một cách truyền thần dáng dấp, cử chỉ, tính cách và diện mạo tinh thần của nhà văn cụ thể theo cách hình dung của anh, khiến người đọc thú vị” [117]

Ở một bài viết dài hơi hơn, Chu Văn Sơn trong bài Phác họa Vương

Trí Nhàn từ Những kiếp hoa dại (Tạp chí Văn học số 7/1995) đã bước đầu

đưa ra những nhận định khái quát một số nét đặc sắc thuộc nghệ thuật tạo dựng chân dung văn học của Vương Trí Nhàn: "Cái tôi ấy tạo dựng từ một chỗ đứng, một điểm nhìn vào đời sống văn học và cái nhìn riêng đồng bộ" Theo Chu Văn Sơn, sở dĩ tác phẩm có tính chân thực và sâu sắc, bởi Vương Trí Nhàn đã nhìn các nhà văn từ góc nhìn của một “người trong giới, trong

cuộc” Không chỉ có Chu Văn Sơn mà Phùng Giản với bài Phê bình, có phải

là như thế? (Tạp chí Hồng Lĩnh số 12 - 1994) cũng bổ sung và lý giải thêm

về nghệ thuật dựng chân dung của Vương Trí Nhàn: “Một lối viết tự nhiên, một giọng văn điềm đạm, thung dung mà tinh tường sắc sảo, một lối đặt vấn

đề sáng rõ, một khuôn khổ gọn xinh cho những kiến nghị vừa tầm, một chút châm biếm, cười cợt ” [37]

Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa ra đời gây sốt với rất

nhiều luồng ý kiến khen chê Tuy nhiên những điểm độc đáo, mới lạ trong nghệ thuật xây dựng chân dung vẫn được đánh giá cao Đỗ Thị Cẩm Nhung,

trong bài báo Trần Đăng Khoa và nghệ thuật dựng chân dung đánh giá: “Đặc

điểm chung trong cách tiếp cận chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa là từ

xa đến gần Nhưng ở nhân vật nào anh cũng gửi vào đó cái nhìn nội cảm của một nhà thơ nên khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật trở nên gần gũi, cũng vì thế mà chân dung nhân vật càng hiện lên rõ nét”; “Nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa lại có thêm một sức hấp dẫn khác nữa Ấy là cái nhìn trực diện theo chính kiến của mình, đúng sai có

Trang 23

thể còn phải đối thoại, nhưng thái độ đánh giá, khen chê là rõ ràng - điều mà không ít nhà phê bình e ngại và né tránh” [107]

Ngoài ra, còn có thể kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng

có những nghiên cứu, đánh giá về thể tài chân dung văn học:

Luận án tiến sĩ Chân dung văn học- lịch sử thể loại - đặc trưng

(Nguyễn Quốc Luân - 1993) có thể xem là luận án đầu tiên nghiên cứu chân dung văn học Tác giả đã đi sâu khái quát tương đối rõ về lịch sử và đặc trưng của thể tài này, khảo sát một số cây bút viết chân dung văn học đến khoảng những năm 1990 như: Tô Hoài, Huy Cận, Vũ Cao, Nguyễn Duy, Thúy Toàn, Hữu Mai, Phùng Quán…

Một số luận văn thạc sĩ cũng lấy chân dung văn học làm đối tượng

nghiên cứu, có thể kể: Đặc điểm nổi bật của thể tài chân dung văn học trong

văn học Việt Nam đương đại (Phan An Na - 2008, Đại học Vinh); Nhận dạng thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại (Nguyễn Thị

Thu Hà - 2014, ĐHSP Thái Nguyên); Thể tài chân dung văn học giai đoạn

1930- 1945 (Nguyễn Thị Hồng Hạnh - 2014, ĐHSP Thái Nguyên); Mảng chân dung văn học trong sáng tác của Tô Hoài (Nguyễn Văn Quang - 1996,

Đại học Vinh); Tô Hoài với hai thể văn chân dung và tự truyện (Dương Thị Thu Hiền - 2007, ĐHSP Thái Nguyên); Khảo sát sự nghiệp phê bình văn học

của Vương Trí Nhàn (Lê Thị Thúy Hằng - 2010, ĐHSP TP HCM); Tản văn

và chân dung văn học của Nguyễn Quang Thiều (Đinh Thị Lệ Mỹ - 2013, Đại

học Vinh); Tiểu luận và chân dung văn học cu ̉a Ngô Văn Phú (Nguyễn Thế

Hiền - 2011, Đại ho ̣c Vinh); Nghệ thuật dựng chân dung văn học của Vũ

văn học của Vương Trí Nhàn (Phí Thi ̣ Hằng Nga - 2012, Đại học KHXH &

NV, Hà Nội)… Các luận văn thạc sĩ phần lớn không đi sâu về mặt lý thuyết, chủ yếu tập trung khảo sát nghệ thuật dựng chân dung của một hoặc một số cây bút cụ thể

Trang 24

Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu trên, đặc trưng của chân dung văn học (cả ở góc nhìn thể tài và thể loại) đã bước đầu được chỉ ra Các nhà nghiên cứu đều ghi nhận sự phát triển đa dạng của chân dung văn học trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay Các công trình đã chỉ ra đặc điểm của thể tài trong nội dung, nghệ thuật, bút pháp Một số cây bút viết chân dung thành công như Tô Hoài, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Ngọc Tấn… cũng được chú ý khẳng định Ý kiến những người đi trước thật sự đem đến cho chúng tôi nhiều gợi mở về đặc trưng thể loại, vấn đề sự thật và hư cấu, về cái tôi tác giả… Tuy nhiên, nghiên cứu về chân dung văn học vẫn còn những khoảng trống cần tìm hiểu: nguồn gốc của chân dung văn học trong mối liên

hệ với đặc trưng của nó, mối quan hệ giữa các yếu tố (yếu tố ký, yếu tố phê bình, yếu tố hư cấu văn chương), những thành tựu và hạn chế của thể tài chân dung văn học từ 1986 đến nay… Trên cơ sở kế thừa thành tựu những người đi trước, chúng tôi cố gắng bổ khuyết những phần còn trống, tập trung nghiên cứu chân dung văn học một cách hệ thống từ khái niệm, nguồn gốc, đặc trưng thể tài, soi chiếu quá trình phát triển thể tài này qua các giai đoạn, chỉ ra những đóng góp của thể tài chân dung văn học sau 1986 đối với sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại, từ đó góp thêm một tiếng nói đánh giá đầy

đủ hơn thành tựu của văn xuôi Việt Nam nói chung, thể loại ký nói riêng

1.3 Quan niệm về thể tài chân dung văn học của tác giả luận án

1.3.1 Chân dung văn học - một dạng đặc biệt của phê bình văn học

Quan niệm “chân dung văn học là một dạng đặc biệt của phê bình văn học” đã được các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Quốc Luân đề cập đến trong các công trình, bài viết của mình [176], [1, tr.16] Trên

cơ sở kế thừa luận điểm này từ những người đi trước, chúng tôi muốn đi sâu làm rõ hơn về đặc trưng này của chân dung văn học Khi nói chân dung văn học là một dạng đặc biệt của phê bình văn học thì có thể hiểu đây là một kiểu phê bình sống động, phê bình từ góc nhìn tiểu sử, qua tiểu sử, cuộc đời mà

Trang 25

khắc họa phẩm chất tinh thần, tài năng, đóng góp của nhà văn Do đó, trong một văn bản chân dung văn học có sự hòa quyện của nhiều kiểu tư duy: tư duy khoa học (phê bình, đánh giá), tư duy nghệ thuật (hư cấu, sáng tạo), tư duy mô phỏng (ghi chép, tái hiện tiểu sử) Nếu để tái hiện tư liệu, tiểu sử lấn

át, nó sẽ biến thành kiểu chân dung chụp ảnh, có khi giống nhưng vô hồn, thiếu sinh khí Nếu để hư cấu, tưởng tượng lấn át, nó sẽ thiếu đi sự trung thực

và sẽ nhận được sự trách cứ là “bịa đặt”, “giả tạo” Nếu quá đậm chất phê bình (tính chất khoa học, logic), chân dung văn học sẽ biến thành “phê bình tác giả” (chữ dùng của Trần Đình Sử) hoặc “tiểu luận nghiên cứu về một nhà văn” (chữ dùng của Nguyễn Đăng Mạnh).Chân dung văn học như vậy là có

sự giao thoa của các hình thức văn bản, các thể văn khác nhau (thể văn hiểu

theo nghĩa là hình thức diễn đạt mang phong cách của loại văn bản) Do đó

muốn thành công, người viết chân dung phải hội tụ nhiều mặt mạnh: nắm vững cuộc đời, tiểu sử nhà văn; thấu hiểu và cảm thông với số phận, bi kịch của họ; trung thực, công tâm và cả dũng cảm trong đánh giá văn tài, sự nghiệp; biết đồng cảm với họ trong tư cách một nhà văn, một kẻ “cùng hội cùng thuyền”

Nhìn từ góc độ thể loa ̣i, chân dung văn học đươ ̣c xem là một hình thức đứng giữa ba thể loa ̣i: ký - truyện - phê bình văn học Nhà văn có thể dùng các thể ký khác nhau để dựng chân dung như bút ký, hồi ký, trò chuyện, phỏng vấn… Các hình thức thể loại này đều xây dựng trên những chất liệu lấy từ chính cuộc đời thực của các đố i tươ ̣ng, nhưng la ̣i không hoàn toàn trùng khít, đồng nhất với con người tiểu sử, bởi nó có xu hướng được “tiểu thuyết hóa”, có phần pha trộn vớ i truyện kể, suy tưởng và bình luận

Chúng ta còn nhận thấy trên thực tế, thể tài chân dung văn học tồ n tại ở dướ i nhiều da ̣ng thức biến thể: có tác phẩm thiên về phê bình, ít yếu tố tiểu sử; có tác phẩm như một hồ sơ lí li ̣ch, tiểu sử nhân vật; có bức chân dung là những kỉ niệm một thời, ấn tượng sống động về những lần gặp gỡ; có chân

Trang 26

dung như một nhật ký cá nhân; có những chân dung là tổng hòa của những dạng thức nói trên Vì vậy, nghiên cứ u chân dung văn học yêu cầu cần có sự phân biệt vớ i thể loa ̣i tiểu luận nghiên cứu hay các bài báo, bài viết tưởng niệm có tính chất thờ i sự Chính điều này đặt ra đòi hỏi người dựng chân dung không dừ ng la ̣i ở việc cung cấp tư liệu mà phải làm sao cho các chân dung có “chất văn học”, nắm bắt được “chân dung bên trong” (chữ dùng của Lại Nguyên Ân) của nhà văn Chúng ta có thể bắt gặp những chân dung thành công, giàu giá trị thẩm mĩ ở các sáng tác của Tô Hoài, Vũ Bằng, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Ngọc Tấn

Theo Trần Đình Sử, chân dung văn học có thể quy về khuynh hướng phê bình “lấy tác giả làm trung tâm” (bên cạnh các khuynh hướng khác như

“lấy văn bản làm trung tâm”, “lấy người đọc làm trung tâm”) [120] Cũng theo nhà nghiên cứu, cách phê bình này “có cội nguồn từ các phê bình văn học Việt Nam những năm 30 thế kỉ XX trong các tác phẩm của Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan… Khuynh hướng này coi trọng cá tính nhà văn, các giá trị thẩm mĩ ( ) Đối với khuynh hướng này, tác giả là nhân vật chính của lịch sử văn học, vị trí tác phẩm lui xuống hàng thứ hai Vào giai đoạn lịch sử khi cá tính nhà văn ít được coi trọng, khuynh hướng này có ý nghĩa nắn lại, vinh danh những người sáng tạo ra các giá trị thẩm mĩ cho đời Thứ hai, văn là người, viết chân dung cũng là cách bày tỏ tình cảm hoặc suy nghĩ về cá tính” [120] Cho đến nay, khuynh hướng phê bình sinh động, hấp dẫn này vẫn tạo ra sức hút với nhiều nhà phê bình và với nhiều thế hệ bạn đọc

Tuy nhiên, cũng như Trần Đình Sử chỉ rõ, mỗi khuynh hướng phê bình đều có mặt ưu điểm và nhược điểm của nó “Khi ý nghĩa tác phẩm không phải

do tác giả hoàn toàn quyết định, mà còn do người đọc nữa, thì việc đi tìm ý nghĩa của tác giả chỉ có một tác dụng giới hạn Càng đề cao tác giả thì càng hạn chế sự diễn giải của người đọc Càng đề cao tác giả cũng có nguy cơ, là

Trang 27

bắt tác giả phải chịu trách nhiệm cho những suy diễn mà người đọc gán ghép một cách oan uổng cho anh ta ( ).Tôi không hoàn toàn tán thành với ý kiến của hai tác giả nước ngoài nêu trên thiên về chủ nghĩa cấu trúc mà coi nhẹ tác giả Người sáng tác đã để cả tâm hồn, tài năng, kinh nghiệm vào tác phẩm lẽ nào vô can với giá trị của nó Tuy nhiên ý đồ sáng tạo, khát vọng nghệ thuật

là một đằng mà giá trị nghệ thuật được tạo ra là đằng khác Tư tưởng lớn, tình cảm mãnh liệt, khát vọng cao vời, cần cù chịu khó tuy rất đáng yêu, song chưa hề là bảo đảm cho giá trị tác phẩm văn học” [120]

Như vậy, xét ở góc độ thể tài, chân dung văn học nhằm hướng đến khắc họa chân dung sống động của các nhà văn, mở rộng ra là giới nghệ sĩ nói chung Về mặt thể loại, chân dung văn họclà một hỗn thể, có sự giao thoa giữa ký, truyện danh nhân và phê bình văn học Tuy nhiên, vẫn có thể hình dung được đường biên ranh giới giữa chân dung văn học với một số thể loại/thể văn gần gũi như truyện danh nhân (viết về nhà văn), phê bình tác giả, tiểu luận về nhà văn, “chuyện làng văn”…

1.3.2 Đặc trưng của thể tài chân dung văn học

Thứ nhất, về mặt thể loại, chân dung văn học có thể xếp vào thể ký Ở

một mức độ nào đấy, chân dung văn học có nhiệm vụ phục dựng lại chân dung tác giả ngoài đời Do đó, nói như Nguyễn Đăng Mạnh, chân dung văn học là “một thứ hồi kí, dựng lên nhân vật sống động hẳn hoi, xuất phát từ người thật việc thật” [168, tr.9] Vì thế, người ta cũng thường xếp chân dung

văn học vào loại hình ký Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) có viết: “Phương pháp của chân dung văn học là phương pháp của thể kí Nó không thiên về cốt truyện” [41, tr.55] Hơn nữa, đối tượng chính của thể tài chân dung văn học là cuộc đời, sự nghiệp của các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ lớn Từ xa xưa, cha ông ta đã từng nói “văn như kỳ nhân”, nghĩa là văn giống như người Buffon, nhà văn Pháp nổi tiếng cũng từng tuyên bố “phong cách chính là người” Tác phẩm văn

Trang 28

chương là tâm sự, là ký thác của nhà văn với bạn đọc, do đó dấu ấn của cá tính, nhân cách của họ luôn in dấu trên từng trang bản thảo Và cũng vì thế, khi đến với các tác phẩm văn chương, người đọc cũng luôn muốn biết tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh sáng tác của tác giả Hơn nữa, văn nghệ sĩ là một kiểu người đặc biệt, họ là những người nhạy cảm, say mê cái đẹp, đa tài và cũng

đa đoan Cuộc đời nhiều người trong số họ có thể trở thành điển hình của nhiều số phận Sự lên ngôi của thể tài chân dung văn học hiện nay càng thể hiện mối quan hệ không tách rời giữa tác phẩm và chủ thể sáng tạo, giữa con người tiểu sử và cá tính sáng tạo trong văn chương - điều mà một số trường phái nghiên cứu hình thức chủ nghĩa luôn phủ nhận Không phải ngẫu nhiên

mà khi nhận xét về các chân dung văn học, người viết luôn chú ý đến phần tiểu sử, con người thật của nhà văn trong đó Ở Vũ Bằng, Tường Duy nhận xét: “Ông là nhà văn rất sòng phẳng với đời” [24] Cái duyên của Vũ Bằng đến với chân dung văn học có lẽ cũng bắt nguồn từ chất liệu thực của các bạn văn cùng thời với ông Ông đã viết về nhiều sự thực, có khi cay đắng ở đời

mà không sợ mòn đi sự tin yêu của độc giả Tô Hoài luôn nhấn ma ̣nh đến sự sáng tạo, nhưng đồng thời ông cũng yêu cầu vẽ chân dung phải thật, bở i vì

“bao nhiêu công phu và tâm sức bấy lâu quanh những thông cảm và sự hiểu biết rộng củ a chúng ta về những “mẫu người thật ấy, những kiểu việc thật ấy”

sẽ đem la ̣i giá tri ̣ cao cho sức nghĩ lúc thể hiện ghi chép của anh” [48] Vậy nên, có thể nói tính chất “người thật, việc thật” là một phần quan trọng, không thể thiếu trong các bức chân dung văn học

Thứ hai, chân dung văn học xuất phát từ tư liệu “người thật việc thật”

nhưng lại không dừng lại ở sao chép, tái hiện mà là hướng đến làm rõ gương

mặt tinh thần, chân dung tinh thần của nhà văn Do đó Lại Nguyên Ân cho

rằng các chân dung phải viết làm sao để có “chất văn học” (nghĩa là phải sinh động, có tính thẫm mỹ cao) I.G Ehrenburg - tác giả của nhiều tác phẩm ký

nổi tiếng như Lòng yêu nước, Con người, năm tháng, cuộc đời - từng nhấn

Trang 29

mạnh: “Kí ức như ngo ̣n đèn pha ô tô đang đi trong đêm, khi thì nó cho thấy một gố c cây, khi thì một trạm gác, khi một con người Nhằm trình bày một cách mạch la ̣c và chi tiết về cuộc đời mình, người ta (đặc biệt là các nhà văn) thườ ng lấp đầy các khoảng trống bằng những dự đoán; thật khó phân biệt đâu

là chỗ hồ i ứ c thực thu ̣ kết thúc, đâu là chỗ tiểu thuyết bắt đầu” [151] Thể tài chân dung văn học xuất phát từ con người thực, nhưng nó phải hướng đến khêu gợi trí tưởng tượng, khắc họa những vẻ đẹp của nhân cách Những kí ức,

kỉ niệm và ấn tươ ̣ng bao giờ cũng là khởi điểm chắp cánh cho những sáng ta ̣o khơi nguồn Muốn khắc họa được chân dung, phải nắm được cái “thần” của con người Vì vậy, cũng như trong hội họa, một chân dung thành công bao giờ cũng mang dấu ấn của trí tuệ, cảm xúc, tài hoa của người vẽ nên nó Muốn có những chân dung thành công, phải am hiểu đối tượng, phải biết thể hiện thế nào để hình ảnh con người hiện lên sống động, sâu sắc Đặc biệt phải

có những chi tiết tiểu sử “đắt giá” (đây là tiêu chí phân biệt với các “chuyện làng văn”, cũng có nhiều chi tiết sinh động về cuộc đời nhưng thường sa vào tiểu tiết, chủ yếu nhằm thỏa mãn trí tò mò của độc giả).Chỉ cần điểm qua tiêu

đề một số chân dung văn học thành công, cũng đã thấy tác giả dụng công, nhấn mạnh về phương diện nào đó của con người văn nhân Chẳng hạn để khắc họa chân dung một nhà thơ Quang Dũng cứ loay hoay trong cuộc đời thường nhật chật vật, “chân thật đến mức có thể gọi là dại dột”, Nguyễn Đăng

Mạnh đã đặt tên cho bài viết là Quang Dũng - Người thơ, rồi ngậm ngùi lí

giải những bất hạnh của nhà thơ tài năng: “Vì họ là thi nhân, là người thơ”

Hoặc trong Chính Hữu hành quân trên những trang thơ, Dại - Khôn Nguyễn

Khải… Nguyễn Đăng Mạnh đều khắc họa chân dung từ nhiều chi tiết sinh

động, từ đó bắt lấy thần thái, phong cách nhà văn Bùi Ngọc Tấn đặt tiêu đề

cũng rất ấn tượng, tóm đúng cái “thần” nhà văn như: Lê Bầu - Người hiểu giá

trị thời gian; Vũ Bão-Một tiếng cười, một dòng cười; Lại chuyện Nguyên Hồng-một thời để mất… Vương Trí Nhàn viết về Xuân Diệu với tiêu đề:

Trang 30

Người biết mài sắt nên kim, về Xuân Quỳnh với Những buồn vui của kiếp hoa dại… Đó là những khái quát ngắn gọn, chính xác, hấp dẫn giúp chúng ta

khám phá vẻ đẹp của các chân dung Rõ ràng, ở đây, từ con người thực đến con người chân dung đã là một khoảng cách Đó có thể là sự tô đậm hay lược bớt, bắt trúng nét “thần”, lựa chọn chi tiết, dùng ngôn từ miêu tả sinh động Nói tóm lại, cũng giống như bất kì tác phẩm thuộc loa ̣i văn sáng tác nào, chân dung văn học có giá trị phải là tác phẩm xây dựng đươ ̣c những hình tươ ̣ng con người chân xác, sống động, giàu tính thẩm mỹ, vừa tô đậm được một cách sắ c sảo cá tính của nhà văn, vừa hàm chứa những nét chung của giới văn nhân nghệ sĩ Vì thế, có khi cùng viết về một con người, nhưng sự thành công

ở những bức chân dung lại rất khác nhau

Thứ ba, chân dung văn học là một dạng đặc biệt của phê bình văn học

Sự hấp dẫn thật sự của chân dung văn học là từ con người mà hiểu được văn, nói như Nguyễn Đăng Mạnh là hiểu được “Cái gố c gác, cố t lõi của nó, hay có thể gọi là cái “thần” của văn” Rồi từ văn của họ mà hiểu hơn những thông điệp mà họ muốn trao gửi cho cuộc đời, vị trí của họ trong tiến trình văn học Đây là kiểu phê bình sống động, linh hoạt, hấp dẫn mà theo Trần Đình Sử là

“gần với thể loại sáng tác hơn là thể loại phê bình” [120] Những ưu điểm, nhược điểm của kiểu phê bình này chúng tôi đã nói rõ ở phần trên

Qua khảo sát của chúng tôi, các cây bút viết chân dung thường có hai cách tiếp cận chủ yếu: cách thứ nhất là từ văn để hiểu người, từ văn nghiệp để

dựng chân dung Cách thứ hai lại chủ yếu đi từ tiểu sử, phẩm chất, nhân cách nhà văn để dựng chân dung (cách phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối) Cách thứ nhất là có thể kể đến các cây bút Phong Lê, Hà Minh Đức, Đỗ Lai Thúy, Hoài Anh Cách thứ hai là cách tiếp cận chân dung của Tô Hoài, Nguyễn Quang Sáng, Vân Long, Phan Thị Thanh Nhàn… Nhưng dù bằng cách nào thì người viết cũng phải là người có sự am hiểu cuộc đời, đồng cảm với niềm vui, nỗi buồn của văn nhân, có khả năng thẩm văn, khả năng đánh

Trang 31

giá khách quan, khoa học tác phẩm Như vậy, có thể nói, chân dung văn học vừa là sáng tác, vừa là một dạng đặc biệt của phê bình văn học, một kiểu phê bình sống động, không lý luận, không khô cứng, dễ thuyết phục bạn đọc

Từ những phân tích trên, chúng tôi định nghĩa về chân dung văn học

như sau: Chân dung văn học theo nghĩa hẹp là một thể tài xuất phát từ chất

liệu sáng tác là tiểu sử, cuộc đời của nhà văn, có mục đích hướng tới là dựng nên “gương mặt tinh thần” độc đáo, đánh giá về vị trí, vai trò, đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Theo nghĩa rộng, chân dung văn học có thể viết

về cuộc đời, sự nghiệp của giới văn nghệ sĩ nói chung (nhà văn, họa sĩ,nhạc

sĩ, nhà điêu khắc, đạo diễn điện ảnh….) Về thể loại, chân dung văn học có tính hợp thể, có sự kết hợp độc đáo giữa ký, truyện danh nhân và phê bình văn học

Như vậy, chúng tôi cho rằng chân dung văn học - một dạng đặc biệt của phê bình văn học - hướng tới đối tượng chủ yếu là các nhà văn (bao gồm

cả nhà văn, nhà thơ), có thể mở rộng ra là giới nghệ sĩ nói chung Vì thế, chúng tôi đặt ra ngoài phạm vi nghiên cứu chân dung các nhà chính trị, các nhà nghiên cứu văn hóa, những người nổi tiếng trên các lĩnh vực Các chân dung này không phải không có những thành công, nhưng xét theo đặc trưng thể tài, chúng không còn là các chân dung văn học

1.3.3 Mối quan hệ giữa chân dung văn học và các thể văn liên quan

Là một thể tài mà cách viết, văn phong có tính chất tổng hợp giữa ký, truyện danh nhân và phê bình văn học, chân dung văn học đã mang trong mình nó bản chất phản ánh sinh động, độc đáo Chất liệu trước hết của chân dung văn học là tiểu sử nhà văn, nhưng tiểu sử nhà văn cũng là chất liệu để tạo nên các thể loại, thể văn khác: chuyện làng văn, phê bình tác giả, truyện danh nhân… Tìm hiểu mối quan hệ gần gũi giữa thể tài chân dung văn học với các kiểu văn trên sẽ khu biệt được nét riêng biệt, đặc sắc của chân dung văn học

Trang 32

Phê bình tác giả là thể loại/thể văn gần gũi với chân dung văn học Có

thể kể đến nhiều bài viết trong các cuốn sách như: Nhà văn tư tưởng và phong

cách (Nguyễn Đăng Mạnh), Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt Nam hiện đại (Phong Lê), Tài năng và danh phận (Hà Minh Đức), Vẫy vào vô tận (Đỗ Lai Thúy)… Trong các cuốn sách này, một số bài viết vẫn có thể xếp

vào chân dung văn học, nhưng nhìn trên tổng thể, chất khảo cứu, phê bình tác giả vẫn sâu đậm hơn Phê bình tác giả có đích đến cũng là khẳng định tài năng, phong cách, đóng góp… của nhà văn (hoặc giới nghệ sĩ nói chung) Tuy nhiên, người viết không quan tâm nhiều đến tiểu sử, cuộc đời của tác giả

Họ có những cách tiếp cận khác để khẳng định một văn nghiệp Phong Lê tiếp cận chủ yếu từ góc nhìn văn học sử, Nguyễn Đăng Mạnh nhấn mạnh yếu tố tư tưởng nghệ thuật và phong cách, Đỗ Lai Thúy nghiêng về góc nhìn văn hóa Văn phong của họ chủ yếu là bàn bạc, phân tích, tổng hợp mang tính chất logic Trong các cây bút phê bình này, đậm chất chân dung nhất là các bài

viết của Nguyễn Đăng Mạnh Sau Nhà văn tư tưởng và phong cách, cách viết

của Nguyễn Đăng Mạnh ngày càng nghiêng về phía chân dung văn học Các chân dungNguyên Hồng, Quang Dũng, Tô Hoài, Trần Đăng Khoa… (trong

tập sách Nhà văn Việt Nam hiện đại chândung và phong cách)có thể xem là

những sáng tác chân dung đặc sắc

Chuyện làng văn cũng là thể văn có những nét gặp gỡ với chân dung

văn học Chuyện làng văn là cách viết dí dỏm trong văn chương, không nhằm mục đích chính đánh giá về sự nghiệp, đóng góp của tác giả Chuyện làng văn

(có người còn gọi là giai thoại văn chương) như Chuyện làng văn của Dili,

Chuyện làng văn của Nguyễn Văn Chương, Đa tài và đa tình của Đặng

Vương Hưng, Lòng thầm hát khúc ca kiêu hãnh của Trần Hoàng Thiên

Kim…) thường đi sâu vào những chuyện đời tư, bếp núc trong cuộc sống thường nhật của nhà văn, giúp người đọc hiểu hơn về cá tính, sở thích, thói quen… của lớp người đặc biệt này Hiển nhiên nó cũng cần thiết để hiểu hơn

Trang 33

cuộc đời người viết, đáp ứng tình cảm mến mộ của độc giả dành cho họ, tuy nhiên, chúng thiếu đi phẩm chất của một tác phẩm phê bình và sự hấp dẫn của chúng nhiều khi không hẳn là sự hấp dẫn của một sáng tác văn chương Chuyện làng văn thường kết hợp cái có thực và giai thoại, được biến hóa theo hướng làm cho nó thêm thú vị, độc đáo Đôi khi, trong một số trường hợp, chuyện làng văn cũng đem lại những điều bổ ích: một kinh nghiệm sáng tác, một thao tác nghề nghiệp, một lối ứng xử, một cách làm việc…

Truyện danh nhân là thể loại/thể văn sáng tác dựa trên tiểu sử nhà văn

hoặc họa sĩ, nhạc sĩ, nhà khoa học lớn Có thể viết dưới dạng bám sát cuộc đời hoặc có thể ít nhiều pha hư cấu Truyện danh nhân nhằm mục đích dựng lại tiểu sử một con người (trong đó có nhà văn) một cách sinh động bằng ngôn ngữ của truyện Loại truyện này khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới

Ở Việt Nam có thể lấy các ví dụ ở bộ sách Truyện danh nhân như Lỗ Tấn của Trương Chính (Nxb Văn hóa, 1977), Victor Hugo của Phùng Văn Tửu (Nxb Giáo dục, 1998), Nguyễn Công Trứ của Vũ Ngọc Khánh (Nxb Thanh Niên,

2006)… Truyện danh nhân phục vụ thiết thực cho việc học tập của học sinh, sinh viên trong nhà trường cũng như các độc giả quan tâm đến người nghệ sĩ

mà họ yêu mến

Dĩ nhiên, còn một kiểu văn nữa, đó là ký chân dung người thật viêc thật

(không lấy nhà văn làm đối tượng) Loại này có thể xem là ký báo chí Đối tượng dựng chân dung có thể là những nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà giáo, những doanh nhân thành đạt, những bạn bè thân thiết và cả những người bình thường, vô danh… Đôi khi họ để các bức chân dung này trộn lẫn với chân

dung các nhà văn như trong các tập sách của Trần Đăng Khoa (Người thường

gặp, Nxb Thanh Niên, 2001); Nguyễn Quang Lập (Ký ức vụn - Nxb Hội nhà

văn, 2009, Ký ức vụn 2 -Nxb Văn học, 2013); Nguyễn Quang Sáng (Nhà văn

về làng); Nguyễn Quang Thiều (Người); Hoàng Minh Tường (Bạn văn ngoài vùng phủ sóng,Nxb Hội nhà văn, 2010); Thương nhớ vẫn còn (Phan

Trang 34

Quang)… Theo chúng tôi, đây là sự mở rộng ranh giới thể tài, nằm ở vùng giao thoa với thể tài chân dung văn học Điển hình cho sự sáng tạo này là Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Sáng Với cái nhìn đậm chất hài hước, các ông không chỉ viết về các nhà văn, các nghệ sĩ (họa sĩ, nhạc sĩ, diễn viên điện ảnh ) mà còn viết về những con người bình thường,

vô danh (Nguyễn Viết Chộp của Trần Đăng Khoa, Cô giáo của tôi, Anh Cu

Đô, Anh Thu, Cô Thi, Thằng Tụy của Nguyễn Quang Lập, .của Nguyễn

Quang Sáng) Các chân dung này vừa có hình mẫu ngoài đời, vừa có phần hư cấu, nhằm tô đậm số phận hoặc tính cách con người, ở một mức độ nào đó là điển hình cho nhiều số phận trong xã hội

Từ những đối sánh trên, chúng tôi muốn phân biệt chân dung văn học với các thể loại/ thể văn gần gũi bằng mô hình sau đây (Mô hình này nhằm phân biệt, chỉ ra những thể loại/ thể văn nằm ở đường biên gần và những thể loại nằm ở đường biên xa hơn với chân dung văn học)

Trang 35

phải được quan tâm đầy đủ hơn Trong Chương 1, chúng tôi đã đi sâu khảo

sát nguồn gốc, đặc trưng, tính chất của chân dung văn học trong sự đối sánh với các thể loại/ thể văn gần gũi với nó (như chuyện “làng văn”, truyện danh nhân, ký chân dung người thật việc thật ) Xét về cội nguồn, chân dung văn học có nguồn gốc từ phê bình tiểu sử, nhưng càng ngày nó càng xa rời cái gốc phê bình này để trở thành một thể loại độc đáo, gần gũi với sáng tác văn chương Chân dung văn học thường xuất phát từ tư liệu về cuộc đời nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nhưng mục đích hướng đến là khái quát, dựng lại chân dung tinh thần, gương mặt độc đáo của người nghệ sĩ, đó đó nó là một dạng đặc biệt của phê bình văn học Về thể loại, chân dung văn học là một hợp thể,

có sự kết hợp hài hòa giữa ký, truyện danh nhân và phê bình văn học Mục đích cuối cùng của chân dung văn học là làm sao để qua người mà thấy văn, qua văn mà hiểu thêm cá tính, nhân cách người viết, từ đó khẳng định vai trò,

vị trí không thể thay thế của mỗi cây bút trong bức tranh chung của lịch sử văn học nước nhà

Trang 36

Chương 2

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỂ TÀI CHÂN DUNG VĂN HỌC

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

2.1 Vài nét về sáng tác thể tài chân dung văn học ở nước ngoài

Bất kỳ một thể loại văn học nào cũng đươ ̣c ra đời trong một bối cảnh lịch sử, xã hội nhất đi ̣nh Chân dung văn học cũng vậy Đây là thể tài xuất hiện khi li ̣ch sử đã chuyển sang thời kỳ cận hiện đa ̣i, thời kỳ mà việc viết văn, sáng tạo nghệ thuật đã trở thành một loa ̣i hình được chuyên môn hóa Lúc này, văn nghệ sĩ đã trở thành một tầng lớp có vi ̣ trí nhất đi ̣nh trong xã hội và trở thành đố i tươ ̣ng được độc giả quan tâm Hơn nữa, việc thể hiện sự tự ý thức về giới mình của người cầm bút cũng như thể hiện nhận thức của người đọc đối với phạm trù tác giả là một phần không thể thiếu trong thưởng thức tác phẩm văn chương Chính vì vậy, sự xuất hiện và phát triển của chân dung văn học là tất yếu, đánh dấu mốc quan tro ̣ng trong đời sống văn học nói chung và trong lịch sử phát triển của phê bình văn học nói riêng

Mỹ học và văn học châu Âu trung đại, chịu sự thống trị của lý thuyết Aristote - nhà triết học cổ đại Hy Lạp, xem mọi sáng tạo văn học nghệ thuật đều là sự mô phỏng, không có chỗ cho tác giả như một thể sáng tạo Khi chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện thì đồng thời với nó là sự thừa nhận vai trò tác giả như một phần tất yếu của hình tượng tác phẩm Thơ lãng mạn xem “cái tôi trữ tình” như một phạm trù cốt lõi của thơ ca Và phương pháp phê bình tiểu sử, một trong những phương pháp phê bình văn học hiện đại - nguồn gốc của thể

tài chân dung văn học cũng đã xuất hiện Ở Nga, trên tạp chí Thông tin viên

châu Âu số 9 và 10 năm 1803 có bài phê bình tiểu sử I.F.Bordanovich của

Karamzin Còn ở Tây Âu, cha đẻ của phương pháp này là Charles-Augustin

Sainte-Beuve Năm 1829, trên tạp chí Revue de Paris có đăng loạt bài của

ông viết về chân dung các nhà văn Pierre Corneille, Nicolas Boileau, La

Trang 37

Fontaine Ngoài ra, ông còn có những tác phẩm như: Chateaubriand và nhóm

văn chương của ông thời Đế chế (1861), Phê bình và chân dung văn học…

Phương pháp phê bình tiểu sử học của Sainte-Beuve là sự tổng hợp độc đáo của nguyên lý tính khách quan và tính lịch sử của quá trình văn học Chủ nghĩa lịch sử được Sainte-Beuve tiếp thu được từ các nhà lãng mạn đã đưa ông đến việc thừa nhận sự bình đẳng tuyệt đối về mặt giá trị của tất cả các thế giới nghệ thuật - dù đó là thế giới của nhà thơ trung đại (Villon), nhà văn cổ điển chủ nghĩa (Corneille) hay các nhà thơ lãng mạn (Hugo, Ronsard)… Còn nguyên tắc tính khách quan được thể hiện ở chỗ Sainte-Beuve quan niệm nhân tố thực sự quyết định sáng tạo văn học không phải là nhân tố hình thức,

mà là cá nhân riêng biệt và cụ thể của chính người sáng tạo Như vậy, tác phẩm đối với Sainte-Beuve luôn gắn liền với cái tôi tác giả, việc thưởng thức tác phẩm này hay tác phẩm khác sẽ gặp khó khăn hoặc không chính xác nếu thiếu sự hiểu biết về chính con người sáng tạo ra nó Nhưng Sainte-Beuve lại quan niệm tác giả như một tính cách bẩm sinh, một kiểu khí chất, chẳng hạn Montegne là một tâm hồn trong sáng, hiện thân của tính chừng mực, dịu dàng, trong khi đó Corneille có bản tính dễ bị kích động, sự chân thành trẻ thơ, sự nghiêm khắc và kiêu ngạo… Nhờ cách tiếp cận này, Sainte-Beuve đã tạo ra một gallery những chân dung văn học rất ấn tượng và có phần chủ quan theo sự hình dung của ông, mà ngày nay đọc ông chúng ta vẫn còn có thể hình dung được “bộ mặt sống động” của những nhà văn có tên tuổi.Sang thế

kỷ XX, các tác phẩm chân dung văn học thành công nhất phải kể đến là của các nhà văn nổi tiếng như Andre Maurois viết về các nhà văn Pháp; M.Gorky viết về L.Tolstoi, A.Chekhov, S.Yesenin; Stephan Zweig viết về Balzac, Dickens, Dostoevsky, Ehrenburg; K.Paustovsky viết về nhiều nhà văn và nghệ sĩ cùng thời

M.Gorky sáng tác trên nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu

thuyết, ký, hồi ký, chính luận, kịch, phê bình văn học Trong cuốn Bàn về văn

Trang 38

học của mình, M.Gorky có những trang thành công thể hiện chân dung

L.Tolstoy, A.Chekhov, S.Yesenin… Nhờ những cuộc tiếp xúc và sự thấu hiểu

con người, tác giả của Chiến tranh và Hòa bình, nhà văn đã khắc họa sinh động chân dung L.Tolstoy như một “vị thánh của nước Nga, ngồi trên chiếc

ngai bằng gỗ thích dưới mộttán cây bằng vàng” M.Gorky đặc biệt chú ý đến

đôi mắt và bàn tay của đại văn hào, đôi mắt vừa hoang sơ, vừa luôn tỏa ra ánh sáng của trí tuệ minh triết, thấu tỏ bao sự vật, từ những cái nhỏ đến những cái lớn lao, vĩ đại lay chuyển cả lịch sử loài người Còn đôi bàn tay rất đặc biệt

mà các họa sĩ và những thợ chụp ảnh có lẽ đã không chú ý đến, đó là “Ông có đôi bàn tay kỳ diệu! Chúng không đẹp, gồ ghề những đường gân máu lớn nhưng đầy sức biểu cảm và năng lực sáng tạo Với đôi tay đó người ta có thể làm được bất cứ điều gì” Viết về A.Chekhov, M.Gorky đã bắt đầu bằng việc mượn một truyện ngắn mới xuất bản của ông, từ đó nói đến sự kính trọng, khâm phục đối với tài năng, nhân cách của một con người vĩ đại Theo M.Gorky, A.Chekhov là một trong những “ông thánh truyện ngắn” vĩ đại trong lịch sử văn học thế giới, là một trong những người đặt nền móng cho sân khấu kịch tâm lí hiện đại Là người “nghệ sĩ duy nhất của thời đại ta nắm vững đến mức điêu luyện cách viết làm sao cho lời chật mà ý rộng” [39, tr.46] Về S.Yesenin, M.Gorky vừa đề cao tài năng (làm thơ hay, đọc thơ truyền cảm), vừa lý giải những bi kịch trong cuộc đời nhà thơ Nga vĩ đại Thơ của ông đã truyền lại một cách tuyệt vời vẻ đẹp và hương thơm của mảnh đất Nga: “Yesenin không hẳn là một con người, mà là một thứ cơ quan của thiên nhiên được sáng tạo ra chỉ để làm thơ, để thể hiện nỗi buồn vô tận của ruộng đồng” [39, tr.463] Nhưng “nhà thơ cuối cùng của làng quê” Nga ấy đã cảm thấy cô đơn, bất lực trước cuộc sống thôn quê vốn bình dị đang ngày ngày đổi thay theo hướng hiện đại hóa mà với ông nó xa lạ làm sao

Với khuynh hướng lãng mạn và phong cách trữ tình độc đáo, K Paustovsky đã làm say mê bao thế hệ độc giả trong nước cũng như trên thế

Trang 39

giới Trong tập truyện tiêu biểu Bông hồng vàng và Bình minh mưa của

K.Paustovsky có nhiều tác phẩm mang đặc điểm chân dung văn học Những trang viết về Chekhov, Pushkin, Macxim Gorky, Mikhail Prishvin,Victor Hugo, Andersen, Balzac, Maupassant… là những trang thật xúc động và chân tình Cách viết của K.Paustovsky là xuất phát từ mối quan hệ gần gũi, sự tiếp xúc trực tiếp, đồng thời qua tác phẩm mà khái quát lên sự cao cả của nhân cách, sự tài hoa của ngòi bút nhà văn Dưới ngòi bút của ông, “M.Gorky có mặt thường xuyên trong đời sống của chúng ta Đối với tôi, trong Gorky có cả nước Nga Cũng như không thể hình dung nước Nga không có sông Vonga, tôi không thể nghĩ rằng trong nước Nga lại không có Gorky” [177, tr.207] K.Paustovsky đã lựa chọn những khoảnh khắc, chi tiết lãng mạn mà cũng đầy

ám ảnh: “Gorky đứng rất lâu, bất động và ngả mũ xuống nhìn lên cây bạch dương Sau đó ông nói một câu gì đó và đi sâu vào trong vườn, nhưng vẫn còn ngoái lại nhìn cây bạch dương mấy lần” [177, tr.208] Với V.Hugo, K.Paustovsky viết: “Đó là một con người nồng nhiệt, điên dại và sôi nổi” [177, tr.212] “Đó là nhạc trưởng vĩ đại của một dàn nhạc lớn bao gồm toàn kèn và sáo” [177, tr.211] “Ông không phải chỉ là hiệp sĩ của tự do Ông là sứ giả, là người đưa tin, là người hát rong, ca ngợi tự do Ông như đứng trên mọi ngã ba, ngã tư của tất cả những con đường trên trái đất này” [177, tr.212] Với Mikhail Prishvin, K.Paustovsky ca ngợi ông: “Cuộc đời của Prishvin là tấm gương về con người đã từ bỏ mọi cái xa lạ mà hoàn cảnh áp đặt cho ông và chỉ sống theo “lệnh truyền của trái tim” Cái lẽ sống như vậy có một ý nghĩa lành mạnh, vô cùng vĩ đại Người sống “theo trái tim”, trong sự hòa hợp với thế giới bên trong của mình là người sáng tạo, là người làm giàu cho cuộc sống và là nghệ sĩ” [177, tr.215]

Stephan Zweig là nhà văn nổi tiếng người Áo Nhiều tác phẩm chân dung văn học của ông đã được giới thiệu ở Việt Nam và đã được lựa chọn đưa vào chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Ông khắc họa khá nhiều chân

Trang 40

dung nhà văn: Balzac, Dickens, Dostoevsky, Ehrenburg nhưng thành công nhất trong các chân dung văn học có lẽ là chân dung Dostoevsky Bằng cách lựa chọn chi tiết “đột sáng”, bằng giọng văn tài hoa, Stephan Zweig nhìn Dostoevsky từ hai mặt của một nhân cách Mặt thứ nhất là con người cùng quẫn vì đói nghèo, bệnh tật; con người từng bị Nga hoàng kết án tử hình vì những tư tưởng tự do, dân chủ và sau đó buộc phải sống lưu vong; một cuộc sống leo lét, cô đơn, đầy tủi nhục Mặt khác, đó cũng là con người đã đạt đến tột đỉnh của vinh quang, và cội nguồn của sự vinh quang ấy là tình yêu Tổ quốc, một trái tim chỉ đập vì nước Nga, chỉ sống trong Tổ quốc mình Và vì đất nước, ông đã suốt đêm làm việc trong khi ở phòng bên vợ ông rên rỉ trong những cơn đau đẻ, cơn động kinh chộp họng ông, chủ nhà không được trả tiền

đã doạ gọi cảnh sát Cuối cùng, sự nghiệp và giá trị của các tác phẩm Dostoevsky đã được toàn nước Nga công nhận Nước Nga chỉ còn đổ dồn mắt vào ông Ông đã vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm vinh quang Trong buổi

lễ nhân dịp một trăm năm ngày sinh Puskin, Dostoevsky đã phát biểu những lời như sấm sét, báo trước sứ mệnh thiêng liêng của sự tổng hoà giải của nước Nga Những lời tiên đoán ấy được đám đông đón nhận nồng nhiệt, hứng khởi

và kích động: “Đám đông quỳ xuống; căn phòng rung lên sự bùng nổ hoan hỉ; các bà hôn bàn tay ông, một sinh viên ngất xỉu dưới chân ông; tất cả những diễn giả khác từ chối không nói nữa” [80, tr.63] Và đám tang Dostoevskytrở thành “một cơn run rẩy lay động toàn nước Nga” và góp phần tạo ra sự đoàn kết toàn dân tộc, nó báo hiệu cơn giông bão của cách mạng Nga đang đến

Nhìn chung, sáng tác thuộc thể tài chân dung văn học ở nước ngoài khá

đa dạng Các tác giả đã xây dựng hình tượng nhà văn bằng những chi tiết sống động lấy ra từ sự nghiệp và cuộc đời của họ Điều này đã giúp cho người đọc, trong đó có người đọc Việt Nam hiểu hơn, yêu quý hơn những tài năng văn chương mà trước đó họ đã được tiếp xúc qua tác phẩm Chúng tôi cũng chưa có đủ cứ liệu để khẳng định các cây bút viết chân dung trong văn học

Ngày đăng: 30/01/2018, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An (2010), Chân dung văn học Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyên An
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2010
2. Tạ Duy Anh (chủ biên) (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký
Tác giả: Tạ Duy Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân (1984), “Xung quanh thể tài chân dung văn học”, tuần báo Văn nghệ (số 49) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh thể tài chân dung văn học”, tuần báo" Văn nghệ
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1984
5. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
6. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học (số 9), tr.66-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
8. Vũ Bằng (2001), Tạp văn, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
9. Vũ Bằng (2001), Bốn mươi năm nói láo, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
10. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
11. Nguyễn Văn Bổng (1995), Thơ ̀ i đã qua , Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thờ i đã qua
Tác giả: Nguyễn Văn Bổng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
12. Huy Cận (2003), Hồi kí song đôi, tập 2, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí song đôi
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
13. Huy Cận (2011), Hồi kí song đôi, tập 1, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí song đôi
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2011
14. Nguyễn Bính Hồng Cầu (2017), Nguyễn Bính toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính toàn tập
Tác giả: Nguyễn Bính Hồng Cầu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2017
15. Lý Quý Chung (2004), Hồi kí không tên, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí không tên
Tác giả: Lý Quý Chung
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
16. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề lí luận văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
17. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cư ́ u văn học, Nxb Khoa ho ̣c xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứ u văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
18. Xuân Diệu (1958), Những bước đường tư tưởng của tôi, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước đường tư tưởng của tôi
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1958
19. Đinh Trí Dũng (2012), Văn học Việt Nam hiện đại, nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại, nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2012
20. Nguyễn Đức Dũng (1996), “Từ chân dung văn học đến ký chân dung”, Tạp chí Văn học (số 3), tr.47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chân dung văn học đến ký chân dung”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w