1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học việt nam từ 1986 đến nay (luận án ngôn ngữ và văn hoá việt nam)

180 149 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu của luận án, có thể nói, cũng nằm trong chuỗi các sự kiện, hoạt động nghiên cứu đó và cũng mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc hiện thực hoá, cụ thể hoá mục tiêu đã

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có nội dung, xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 09 năm 2017

Tác giả luận án

Trần Thị Mai Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Đức Phương -

người Thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và triển khai đề tài luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa Văn học, Phòng Sau đại học, Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội - là cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy (Cô), các học giả, nhà nghiên cứu, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành nhiệm

vụ công tác, học tập và nghiên cứu

Xin được biết ơn gia đình, những người thân đã luôn là điểm tựa vững chắc để tôi có được công trình này

Hà Nội, tháng 9 năm 2017

Tác giả luận án

Trần Thị Mai Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 10

7 Cấu trúc của luận án 12

Chương 1 13

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

1.1 Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật trong hồi kí 13

1.1.1 Tư duy nghệ thuật 13

1.1.2 Tư duy nghệ thuật trong hồi kí 15

1.2 Tình hình sáng tác hồi kí văn học từ 1986 đến nay 20

1.2.1 Vài nét về hồi kí văn học trước 1986 20

1.2.2 Sự phát triển của hồi kí văn học từ 1986 đến nay 23

1.3 Tình hình nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay 28

1.3.1 Phê bình, nghiên cứu tác phẩm hồi kí của những tác giả tiêu biểu 28

1.3.2 Nghiên cứu hồi kí của một thời kì, một giai đoạn hoặc một nhóm tác giả ở Việt Nam, trong đó có giai đoạn từ 1986 đến nay 32

1.3.3 Nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay như những dẫn chứng để làm sáng tỏ đặc trưng thể loại hồi kí hoặc kí trong lịch sử văn học 36

* Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 39

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÍ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY NHÌN TỪ CÁC “MÃ QUAN NIỆM” CHỦ YẾU 39

2.1 Yêu cầu “khách quan” của việc phản ánh sự thật trong hồi kí 39

2.1.1 Viết hồi kí là quá trình đấu tranh để nói lên sự thật 40

2.1.2 Thái độ “khách quan” trước sự thật lịch sử 49

2.2 Tính chủ quan, cá nhân trong sự phản ánh của hồi kí 52

2.2.1 Sự thật được “khúc xạ” trong hồi kí 52

2.2.2 Tính cá nhân, chủ quan trong cái nhìn về quá khứ 57

2.3 Dấu ấn thời đại trong quan niệm viết hồi kí 61

2.3.1 Viết hồi kí trên tinh thần dân chủ 61

2.3.2 Viết hồi kí từ góc nhìn tiểu thuyết hóa 64

* Tiểu kết chương 2 73

Chương 3 74

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÍ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY NHÌN TỪ CÁC HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 74

3.1 Hình tượng cái tôi tác giả - trung tâm của hồi kí văn học 74

3.1.1 Hình tượng cái tôi tác giả trong hồi kí 74

3.1.2 Hình tượng cái tôi tác giả trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay 79

Trang 6

3.2 Bức tranh xã hội và hình tượng con người trong hồi kí văn học từ 1986 đến

nay 88

3.2.1 Bức tranh xã hội đa sắc 89

3.2.2 Hình tượng con người đa dạng 94

3.3 Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay 98

3.3.1 Không gian nghệ thuật 98

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 103

* Tiểu kết chương 3 110

Chương 4 111

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÍ VĂN HỌC VIỆT NAM 111

NHÌN TỪ CÁC PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT NỔI BẬT 111

4.1 Kết cấu đa dạng 111

4.1.1 Kết cấu phân mảnh 112

4.1.2 Kết cấu trùng phức 114

4.1.3 Kết cấu xoắn kép 116

4.2 Người trần thuật và giọng điệu trần thuật 120

4.2.1 Người trần thuật 120

4.2.2 Giọng điệu trần thuật 125

4.3 Xu hướng giao thoa thể loại trong lối viết 137

4.3.1 Sự giao thoa giữa hồi kí với bút kí, nhật kí, chân dung văn học và tản văn 138

4.3.2 Sự giao thoa hồi kí với tự truyện 141

4.3.3 Sự giao thoa hồi kí với tiểu thuyết 144

* Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC 169

(một số hình ảnh) 169

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

sự thay đổi, phát triển có tính bước ngoặt, căn bản, hết sức to lớn đến toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… của đất nước ta so với trước đó

Vì vậy, như nhiều người nhận thấy, dường như đã đến lúc cần có sự tổng kết những thành tựu, diện mạo - đặc điểm, rút kinh nghiệm và bài học của chặng đường 30 năm nêu trên để có đường hướng cho sự phát triển đất nước một cách toàn diện trong thời gian tiếp theo Trên thực tế, gần đây đã có rất nhiều hoạt động, việc làm trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp,… được tiến hành để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu và cả hứng thú đó Việc nghiên cứu văn học Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Đã có nhiều hoạt động lớn nhỏ (toạ đàm, hội thảo, seminar, diễn đàn, lễ kỉ niệm, meeting,…), nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, kỉ yếu… đã và đang được thực hiện để tổng kết và đánh giá thành tựu, đặc điểm của văn học Việt Nam qua 30 năm Đổi mới Đề tài nghiên cứu của luận án, có thể nói, cũng nằm trong chuỗi các sự kiện, hoạt động nghiên cứu đó và cũng mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc hiện thực hoá, cụ thể hoá mục tiêu đã nêu khi chọn đối tượng khảo sát và nghiên cứu là một thể loại của văn học Việt Nam (là hồi kí văn học - tức là các hồi kí của nhà văn, viết về đời văn là chủ yếu) trong giai đoạn “từ 1986 đến nay”

Sự lựa chọn này tự nó đã hàm nghĩa luận án sẽ thiên về mặt văn học sử (mặc

dù nghiên cứu “tư duy nghệ thuật”) đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu nghiên cứu thuộc chuyên ngành văn học Việt Nam (hiện đại)

Trang 9

2

1.2 Hồi kí là thể loại văn học phát triển mạnh mẽ ở phương Tây từ thế

kỉ XIX cho đến nay Còn ở Việt Nam, từ chục năm gần đây, đặc biệt là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, nó đã trở thành một “trào lưu” trong văn học Việt Nam Cùng với sự phát triển của nền dân chủ và tiến bộ xã hội ta, những điều cấm kị trong đời sống cá nhân, xã hội và văn chương dần được xóa bỏ, văn học Việt Nam chứng kiến sự “bùng nổ” của các tác phẩm thuộc thể loại hồi

kí Đã đến lúc, người ta dám nói ra và thực sự có nhu cầu được nói ra sự thật

về bản thân mình, sự thật về những gì đã được chứng kiến, trải nghiệm trong quá khứ Hồi kí đã trở thành thể loại hữu dụng cho nhu cầu bộc lộ, giải tỏa những kí ức còn lẩn khuất, những bí mật hay ẩn ức bị “chôn chặt” hoặc dồn nén bấy lâu trong mỗi cá nhân cũng như những “sự thật lịch sử” của cả cộng đồng còn chưa được biết đến Từ các nhà văn, nhà phê bình văn học, học giả, chính trị gia, tướng lĩnh, kí giả,… và người thân của họ đến những người hoạt động trong lĩnh vực giải trí (diễn viên, ca sĩ, người mẫu, cầu thủ bóng đá,…), hay những cá nhân vô danh trong xã hội nhưng có số phận không bình thường (người đồng tính, gái mại dâm, tù nhân, bệnh nhân HIV,…) cũng viết hoặc hợp tác viết và công bố hồi kí bằng nhiều hình thức khác nhau (trong đó có cả hình thức tự xuất bản - samizdat) Hầu hết sự ra đời của những cuốn hồi kí đó đều thu hút được sự chú ý của công luận ở những mức độ và dạng thức khác nhau trong đó có giới nghiên cứu Tình hình nghiên cứu hồi kí rất sôi động cũng cho thấy điều đó Lại có những cuốn khi mới ra đời, do đề cập đến những vấn đề được cho là “nhạy cảm”, vi phạm “cấm kị” nên bị đình bản, thu hồi nhưng sau đó hoặc công khai hoặc lặng lẽ xuất hiện trên thị trường cũng cuốn hút đươc sự chú ý lớn của độc giả và làm sôi động đời sống văn học vốn

dĩ vẫn chưa có nhiều sự kiện thật lớn, thật đặc biệt và để lại những thành tựu

quan trọng

Vậy tại sao hồi kí lại thu hút được đông đảo người viết và người đọc trong xã hội Việt Nam những năm gần đây đến như vậy? Sự phát triển mạnh

Trang 10

3

mẽ của nó có đơn thuần chỉ là sự “a dua” theo trào lưu hay thực sự là nhu cầu

tự thân của người viết? Bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá nào đã tạo tiền đề cho

sự phát triển mạnh mẽ đó? Và quan trọng nhất là: Cái gì đóng vai trò cốt lõi tạo nên hiện tượng này? Cái gì đã chi phối việc viết hồi kí và quy định diện mạo, đặc điểm của chúng? Đó là những câu hỏi nhất thiết phải được giải đáp đối với người nghiên cứu lí thuyết và lịch sử văn học Việt Nam Không

có điều kiện và tham vọng khảo sát và nghiên cứu toàn bộ hồi kí từ 1986 đến nay mà chỉ quan tâm đến hồi kí văn học (do các nhà văn viết về chính kí ức của họ là chủ yếu), nhưng đề tài với tư cách là một “nghiên cứu trường hợp” (case-studies) cũng có có ý nghĩa góp phần lí giải các câu hỏi nêu trên

1.3 Trong các hướng tiếp cận các thể loại văn học, chúng tôi quan tâm đến hướng tiếp cận “tư duy nghệ thuật” (của hồi kí văn học Việt Nam từ 1986 đến nay) bởi đây là khái niệm công cụ cốt lõi, toàn diện, có chiều sâu và cơ sở

lí luận vững chắc và trải qua thử thách lâu dài trong thực tiễn nghiên cứu văn học Nó đã được sử dụng một cách có hiệu quả các tác giả và đặc biệt là các thể loại (thơ, tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn,…) trong những năm gần đây Nhiều công trình (KLTN, LvThS, LATS, sách chuyên khảo, bài báo, bài tạp chí,…) đã đi theo hướng này và gặt hái được nhiều thành công đáng chú ý Hướng nghiên cứu này đã cho phép chỉ ra được những đặc trưng cơ bản nhất của một thể loại văn học nói riêng cho đến một hiện tượng văn học nói chung (như: tác giả, tác phẩm, thể loại, trào lưu, khuynh hướng, giai đoạn, thời kì,…) từ thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm nghệ thuật cho đến các phương diện nội dung (hình tượng nghệ thuật, chủ đề, cảm hứng,…) và phương thức nghệ thuật (nghệ thuật tự sự, nghệ thuật trữ tình,…) phản ánh chính tư duy nghệ thuật đó Vậy tư duy nghệ thuật của thể loại hồi kí văn học Việt Nam từ 1986 đến nay có những đặc điểm gì? Đặc điểm đó có gì giống và khác với các thể loại khác cùng thời và với bản thân thể loại hồi kí văn học Việt Nam ở các giai đoạn trước đó hay không? Xu hướng phát triển của nó ra

Trang 11

4

sao? Đáp án của những câu hỏi như thế hứa hẹn đưa đến những vấn đề lí thuyết văn học sử rất thú vị đối với giới nghiên cứu cũng như giới sáng tác hiện nay Nó cũng có thể là những gợi ý tốt cho các nhà quản lí văn hoá văn học, các nhà xuất bản, phát hành, các nhà giáo dục,v.v… hay đơn giản là độc giả các dạng trong việc ứng xử với một dòng văn hoá phẩm có thể nói là “đặc biệt” và đang phát triển mạnh như hồi kí hiện nay, nhất là trong bối cảnh “thị trường văn học” đang có sự mở rộng cả về phạm vi lưu hành (thị trường xuất bản truyền thống, không gian mạng, truyền thông đa phương tiện) và tính chất, bản chất (văn học nghệ thuật - chính thức, văn học thị trường - thương mại, cận văn học,…) Còn trong nhà trường, không gian mà bản thân chúng tôi đang tham gia trong công việc, nghiên cứu sẽ có ý nghĩa sư phạm, giúp định hướng cho việc dạy học các tác phẩm thuộc thể loại này trong chương trình Ngữ văn các cấp

Đề tài nghiên cứu “Tƣ duy nghệ thuật trong hồi kí văn học Việt Nam

từ 1986 đến nay” của chúng tôi, do đó, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đồng

thời có tính cấp thiết cao trong bối cảnh phát triển văn học, văn hoá đọc rất sôi động hiện nay

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của luận án là tư duy nghệ thuật và các vấn đề có liên quan trong hồi kí văn học ở Việt Nam từ 1986 đến nay

Tư duy nghệ thuật và những vấn đề liên quan trong hồi kí văn học ở Việt Nam từ 1986 đến nay cụ thể như thế nào sẽ được chúng tôi giới thuyết ở phần

Nội dung (chương Tổng quan) Tuy nhiên, có thể nói vắn tắt ở đây rằng, tư duy

nghệ thuật là một loại hình tư duy đặc thù của quá trình cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật (ở đây là tác phẩm hồi kí văn học) Tư duy nghệ thuật của hồi kí văn học ở Việt Nam từ 1986 đến nay sẽ được xem xét ở các cấp độ như: quan niệm nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật và phương thức trần thuật

Trang 12

5

Còn “hồi kí văn học” được chúng tôi quan niệm là hồi kí của các nhà văn hoặc các nhà phê bình văn học với tư cách là chủ thể viết, chủ thể trần thuật (khu biệt với các loại hồi kí của các chính trị gia, tướng lĩnh, học giả, nhà báo, ca sĩ, diễn viên, cầu thủ bóng đá,… chúng đơn thuần được gọi là

“hồi kí” hoặc có khi được định danh là “hồi kí cách mạng”, “hồi kí chiến trường”, “hồi kí lịch sử”, “hồi kí chánh/chính trị”,… hoặc có khi được gọi chệch đi là “hồi ức” để đảm bảo không bị xem là đang viết một thể loại liên quan đến văn học nghiêm túc hoặc viết cái vốn được xem là “đặc quyền” của người nổi tiếng, yếu nhân) Khái niệm này được chúng tôi kế thừa từ các công trình trước đây như: Nguyễn Văn Dân [30], Đỗ Hải Ninh [150], Phạm Thị Lan Anh [2], Nguyễn Thị Thanh Thuý [200], Nguyễn Quang Hưng [82] [83],

Lê Thị Lệ Thuỷ [201],… hoặc từ chính quan niệm của các nhà văn như Anh Thơ, Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài, Ma Văn Kháng,… Do chủ thể viết là như vậy (vì thế các hồi kí này còn được gọi là “hồi kí các nhà văn”), nên các tác phẩm hồi kí văn học sẽ có cơ sở để đảm bảo có liên quan đến văn học, có “tính văn học” ở cả nội dung và hình thức, hay nói khác đi là có “tính chuyên nghiệp”

về lĩnh vực văn học Về nội dung, hồi kí đó phải chủ yếu viết về cuộc đời nhà văn, nhà lí luận phê bình văn học đó hoặc những vấn đề, đối tượng có liên quan đến họ (viết về bạn văn, về bức tranh văn học - nghệ thuật trong quá khứ, về đời sống văn học - nghệ thuật,…) Đó là hồi kí của những “người trong cuộc” viết về kinh nghiệm, sự trải nghiệm của bản thân Nói khác đi, hồi kí đó gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến các vấn đề văn học (tác giả, tác phẩm văn học, thời đại văn học, trào lưu - khuynh hướng văn học, tiếp nhận văn học, các vấn đề lí luận - phê bình văn học,v.v…) Về hình thức, hồi

kí văn học phải được viết bằng các phương thức, thủ pháp, ngôn ngữ mang đậm chất văn học dù tự phát hay tự giác Những hồi kí do các chính trị gia, tướng lĩnh, nghệ sĩ, người lao động,… sở dĩ không được xem là “hồi kí văn học”, kể cả những hồi kí được các nhà văn, nhà lí luận - phê bình chấp bút hộ

Trang 13

6

(do không đảm bảo hai tiêu chí quan trọng nhất là nội dung văn học và chủ thể trần thuật là nhà văn, nhà phê bình văn học) là do tính chất “nghiệp dư”, thiên về thông tin tư liệu và có phần ít chất văn học đó

Và như vậy, “hồi kí văn học Việt Nam từ 1986 đến nay” cần được hiểu

là “hồi kí văn học ở Việt Nam từ 1986 đến nay” (từ đây sẽ gọi tắt là là “hồi kí văn học từ 1986 đến nay” hoặc “hồi kí văn học sau 1986”) khá nhiều, hơn nữa chất lượng rất không đồng đều, nội dung tản mạn, có cái lặp lại giai đoạn trước Trong khi đó, mục tiêu khoa học của chúng tôi là phát hiện ra cái đặc trưng, cái mới, có tính xu hướng, tính sáng tạo và tính nghệ thuật Bởi vậy, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là những tác phẩm “hồi kí văn học”, tức là hồi kí do các nhà văn, những người có tư duy nghệ thuật đích thực và chuyên nghiệp, sáng tác dựa trên những nhu cầu tự thân, nhu cầu sáng tạo nghệ thuật (chứ không phải những hồi kí được “đặt hàng” hay chấp bút hộ, có tính thương mại,v.v…) trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay Mặt khác, đó cũng phải là những tác phẩm được xuất bản chính thức trong nước Chúng tôi cũng không đưa vào diện khảo sát của mình những tác phẩm công bố trên mạng internet hay dưới dạng samizdat, photocopy truyền tay, hoặc xuất bản ở hải ngoại,v.v Sự khảo sát sẽ cố gắng có có “diện” vừa có “điểm” Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ tập trung vào một số “điểm” nổi bật là những tác phẩm gây được tiếng vang, nhận được sự đánh giá cao của đông đảo độc giả

và đặc biệt là của giới nghiên cứu phê bình văn học (xem phần tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu) Đồng thời, đó cũng phải là những tác phẩm mang tính đại diện cao cho các phong cách, kiểu loại hồi kí khác nhau (thường mang đặc điểm của thể loại khác), phản ánh những kiểu tư duy nghệ thuật khác nhau (như: hồi kí mang tính anh hùng ca, hồi kí mang tính tiểu thuyết, hồi kí mang tính tản bút - viết trải nghiệm, hồi kí mang tính chân dung văn học,v.v…) (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề phân loại kĩ hơn ở chương 1 - phần Nội

dung) Theo đó, chúng tôi sẽ tập trung vào một số hồi kí tiêu biểu như: Những

Trang 14

7

năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan), Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (Anh Thơ), Nửa đêm sực tỉnh (Lưu Trọng Lư), Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài), Nhớ lại một thời (Tố Hữu), Nhớ lại (Đào Xuân Quý),

Ba phút sự thật, Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào (Phùng Quán), Hồi kí song đôi (Huy Cận), Từ U Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9, 20 năm giữa lòng đô thị, Bình an (Sơn Nam), Bóng ngày qua (Quách Tấn), Núi Mộng gương Hồ (Mộng Tuyết), Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá (Bùi Ngọc Tấn), Tầm xuân (Đặng Anh Đào), Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh), Hồi kí bà Tùng Long (Lê Thị Bạch Vân), Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương (Ma Văn Kháng), Hồi kí Phạm Cao Củng (Phạm Cao Củng),… trong khi vẫn

tham khảo những tác phẩm còn lại ở các mức độ khác nhau nhằm phục vụ cho nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của luận án

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là khảo sát và chỉ ra các đặc điểm, đặc trưng, diễn biến của tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay Mục đích nghiên cứu cụ thể là:

a Làm rõ biểu hiện của tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay từ các phương diện: quan niệm sáng tác, nhận thức về thể loại; hình tượng nghệ thuật; phương thức trần thuật qua đó khái quát được đặc trưng thể loại hồi kí

b Nhận diện đặc điểm, quá trình phát triển và đánh giá vị trí, đóng góp của thể loại hồi kí đối với nền văn học Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay

c Phác hoạ, dự đoán xu hướng phát triển của hồi kí trong văn học Việt Nam trong tương lai góp phần tư vấn cho việc định hướng sáng tác và tiếp nhận chúng trong đời sống văn học đương đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tương ứng với mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án sẽ là:

Trang 15

8

a Xây dựng, hoàn thiện khái niệm công cụ là “tư duy nghệ thuật” cho thể loại hồi kí để áp dụng vào nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay Trình bày sơ lược về diễn tiến của thể hồi kí văn học hiện đại trong khoảng hơn một thế kỉ của thời kì hiện đại (tiến đến đương đại) từ cái nhìn tổng thể

và hệ thống trong mối liên hệ chặt chẽ với bối cảnh thời đại và lịch sử văn học, trong đó tập trung vào giai đoạn “từ 1986 đến nay”

b Nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay qua các “mã quan niệm” chủ yếu Thực chất, đó là việc tìm ra quan niệm về công việc viết hồi kí (viết hồi kí để phản ánh “sự thật lịch sử”; về tính tương đối của “sự thật” trong hồi kí; quan niệm nghệ thuật về con người), sự ảnh hưởng của tư tưởng thời đại đến việc viết hồi kí

c Nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay qua các hình tượng nghệ thuật nổi bật nhằm làm rõ biểu hiện cụ thể của tư duy nghệ thuật thành công cụ quan trọng bậc nhất của văn học là “hình tượng nghệ thuật” Đây không phải đơn thuần chỉ là nghiên cứu các hình tượng nghệ thuật trong hồi kí mà hơn thế qua đó thấy được tư duy nghệ thuật của thể loại trong thực tiễn văn học, tức là sự biểu hiện thành hình tượng nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay

d Nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay qua các phương thức trần thuật nổi bật, chỉ rõ tác động của tư duy nghệ thuật đến phương thức nghệ thuật trong tác phẩm Đây cũng không thuần là nghiên cứu nghệ thuật trần thuật như một hình thức nghệ thuật Nói cách khác, cần phải thấy rằng đó là “hình thức mang tính quan niệm” và quan niệm đó chính

là thành tố của tư duy nghệ thuật

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp văn học sử

Phương pháp của bộ môn văn học sử là phương pháp tiếp cận các hiện tượng văn học sử (tác giả, tác phẩm, thể loại, trào lưu,…) bằng việc đặt chúng

Trang 16

5.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại

Phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại là phương pháp khảo sát và khái quát những hiện tượng nội dung nghệ thuật có tính ổn định, lặp đi lặp lại thành phong cách, thi pháp của các hiện tượng văn học (như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian - thời gian nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật, hình thức mang tính quan niệm,…) Phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại góp phần làm rõ những đặc điểm, đặc trưng thi pháp của hồi kí văn học từ

1986 đến nay, để từ đó nhận diện và khái quát hoá được đặc trưng về “tư duy nghệ thuật” (trên các bình diện “mã quan niệm”, hình tượng nghệ thuật và phương thức trần thuật) của thể loại hồi kí trong giai đoạn này Phương pháp này do đó rất quan trọng về mặt phương pháp luận (methodology) để nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay

5.3 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Phương pháp tiếp cận liên ngành là phương pháp sử dụng phối hợp các tri thức, phương pháp của các ngành khoa học khác nhau để tiếp cận đối tượng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu liên ngành được sử dụng ở đây nhằm

xem xét hồi kí văn học từ 1986 đến nay như một hiện tượng văn hoá (cần được

Trang 17

10

tiếp cận dưới góc nhìn văn hoá), có tính đa ngành (xã hội học, sử học, văn học,

xã hội học, tâm lí học, văn hoá học, ) Cách tiếp cận liên ngành, vì vậy, sẽ

giúp nhận diện hiện tượng một cách toàn diện, sâu sắc hơn và đưa đến đến những nhận định, phân tích thú vị về tư duy của thể loại này Trong đó, phương

pháp tiếp cận liên ngành sẽ đặc biệt đắc dụng khi nghiên cứu tiểu sử nhà văn

phục vụ cho việc nghiên cứu hồi kí của họ Các tri thức về văn hoá học, tâm lí học, xã hội học và đặc biệt là sử học sẽ giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu của luận án

5.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp so sánh - đối chiếu là phương pháp đặt đối tượng bên cạnh các đối tượng khác (có thể có tính liên dân tộc hoặc liên ngành theo lối “văn học so sánh” – comparative literature; cũng có thể là so sánh đơn thuần các đối tượn riêng rẽ) để làm nổi rõ những điểm giống và khác giữa chúng, từ đó nhận diện rõ hơn đặc trưng của đối tượng nghiên cứu Phương pháp này sẽ được sử dụng để so sánh “tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học Việt Nam từ 1986 đến nay” với tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học Việt Nam các giai đoạn trước; với các thể loại khác cùng thời, so sánh hồi kí của nhà văn nam với nhà văn nữ

để tìm ra bản sắc giới tính và sự tác động của yếu tố giới; so sánh tác phẩm – tác giả này với tác giả - tác phẩm kia, so sánh nội dung được phản ánh trong hồi kí với “sự thực” được phản ánh trong các tư liệu, các nguồn thông tin khác,v.v

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại, mô tả, suy luận, đặt giả thiết, v.v nhằm thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án mong muốn có những đóng góp chủ yếu sau:

Trang 18

11

Trước hết, dựa trên những thành tựu nghiên cứu lí thuyết về tư duy

nghệ thuật, về thể loại hồi kí, luận án đưa ra quan niệm riêng về tư duy nghệ thuật (“mã tư duy”) trong thể loại hồi kí, một thể loại có những đặc trưng riêng, độc đáo so với các thể loại khác như thơ hay tiểu thuyết, truyện ngắn đặc biệt là sự liên hệ gần như trực tiếp của nó với bối cảnh thời đại và ý thức

hệ, ý thức nghệ thuật, yếu tố giới, Do vậy, luận án sẽ đưa ra một công cụ hữu hiệu để trước tiên khảo sát thể loại hồi kí văn học và sau đó là nghiên cứu những thông điệp tư tưởng văn hoá đằng sau nó

Thứ hai, luận án còn góp phần phác hoạ một cách tổng quát và bản chất

quá trình phát triển của hồi kí văn học trong suốt chiều dài lịch sử hình thành

và phát triển của nó từ thời trung đại cho đến hiện đại, trong đó tập trung vào giai đoạn phát triển đỉnh cao của hồi kí văn học là giai đoạn từ 1986 đến nay đặt trong bối cảnh văn hoá đương thời Luận án do đó, có được cái nhìn lịch

sử và cái nhìn tổng quát đối với thể loại hồi kí

Thứ ba, luận án lần đầu tiên chỉ ra những đặc trưng về tư duy nghệ

thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay qua các biểu hiện khác nhau như: các “mã quan niệm” chủ yếu, các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu và các phương thức trần thuật nổi bật Từ các biểu hiện này, có thể chỉ ra những gì

đã được các tác giả quan tâm, chú trọng và cố gắng chuyển tải thông điệp về cuộc sống Cũng từ những phân tích - tổng hợp về tư duy nghệ thuật trong hồi

kí tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay, luận án quay trở lại kiểm nghiệm những hằng số và biến số của thể loại trong thực tiễn sáng tác

Cuối cùng, luận án góp phần nhất định vào việc khám phá, nhận diện

những ưu điểm cũng như hạn chế về nội dung và nghệ thuật chủ yếu của hồi

kí văn học từ 1986 đến nay làm công cụ để định hướng cho việc giáo dục tri thức và thẩm mĩ cho người đọc văn học hôm nay, nhất là đối tượng bạn đọc trẻ tuổi còn thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh khi đọc hồi kí Từ đó, luận án góp phần nâng cao đời sống tinh thần, thị hiếu thẩm mĩ và kéo độc giả trẻ trở lại

Trang 19

12

với văn học trong bối cảnh có sự nhàm chán với sự trì trệ của văn học trong thời gian không phải là ngắn đồng thời bị lôi cuốn bởi những loại hình giải trí khác năng động, thời thượng hơn

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung

của luận án được triển khai thành 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tư duy nghệ thuật hồi kí văn học từ 1986 đến nay nhìn

từ các “mã quan niệm” chủ yếu

Chương 3: Tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay nhìn từ các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu

Chương 4: Tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay nhìn từ các phương thức trần thuật nổi bật

Trang 20

13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong chương này, chúng tôi trình bày, lược thuật ba vấn đề có tính khái quát và nền tảng cho việc tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học

từ 1986 đến nay Đó là vấn đề “tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật trong hồi kí”, “tình hình sáng tác hồi kí văn học từ 1986 đến nay” và “tình hình nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay” Ba vấn đề được trình bày sẽ cho người đọc một cái nhìn tổng thể, xuyên suốt về đối tượng nghiên cứu của luận

án trước khi đi vào những vấn đề cụ thể hơn

1.1 Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật trong hồi kí

1.1.1 Tư duy nghệ thuật

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 4), tư duy (thought) là “sản

phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não, quá trình phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán,

lí luận,v.v… Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người Trong quá trình đó, con người so sánh các loại tài liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau, trải qua các quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lí luận,…” [77, tr.701] Có thể thấy, tư duy là một sản phẩm hoạt động trí óc bậc cao nhất của con người thể hiện sự tiến hoá sinh học và đặc biệt là tiến hoá xã hội Tư duy luôn là “sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm các sự vật nhất định” [77, tr.701] Nói khác đi, tư duy phải mang tính khái quát và mang tính phổ biến (trên một nhóm đối tượng) Cũng theo

Từ điển bách khoa Việt Nam, tư duy là kết quả hoạt động thực tiễn của con

người nhưng đồng thời cũng có tính độc lập tương đối với thực tiễn Điều đó thể hiện ở mấy khía cạnh: Thứ nhất, tư duy còn chịu ảnh hưởng bởi các tri

Trang 21

14

thức có trước hoặc cùng thời; thứ hai, tư duy có logic phát triển nội tại và vì vậy nhiều khi tách rời khỏi thực tiễn (cần phải được cọ xát lại với thực tiễn để kiểm nghiệm); thứ ba, tư duy có thể tác động ngược lại thực tiễn, cải tạo hoặc làm biến đổi nó theo logic của tư duy Một quan niệm khái quát, khoa học về

tư duy như vậy sẽ giúp chúng ta xem xét chính xác “tư duy nghệ thuật” với tư cách một nhánh của tư duy nói chung nhưng có những tính chất đặc thù đôi khi không nằm trọn trong đó [77, tr.701]

Hiểu một cách giản dị, “tư duy nghệ thuật” (artistic thought) là tư duy trong các ngành, các bộ môn hay lĩnh vực nghệ thuật (arts) hoặc theo logic của nghệ thuật (artistic logic) Còn hiểu chuyên môn hơn, tư duy nghệ thuật là một loại hình tư duy đặc thù của quá trình cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật phân biệt với loại tư duy khác ngang hàng là tư duy khoa học (scientific thought) Theo Nguyễn Bá Thành, “tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [181, tr.54] Theo đó mà diễn dịch, tư duy nghệ thuật là cách cảm nhận, đánh giá và phản ánh thế giới dưới lăng kính của nghệ thuật

và bằng các phương tiện nghệ thuật đặc thù Nó là quá trình nghệ sĩ nhận thức

và phản ánh hiện thực một cách nghệ thuật theo logic chủ quan Mở rộng ra, người ta còn quan niệm tư duy nghệ thuật không phải chỉ xuất hiện trong quá trình sáng tác nghệ thuật (như trên vừa trình bày) mà còn xuất hiện trong quá trình tiếp nhận, thưởng thức nghệ thuật, cho nên nó là “dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” [77, tr.381] Tuy nhiên, ở đây, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ chủ yếu quan tâm đến vế thứ nhất là quá trình sáng tạo

Theo đó, tư duy nghệ thuật hướng đến sự khám phá, tái hiện và tái tạo cuộc sống thông qua những hình tượng nghệ thuật sinh động, chi tiết Trong

tư duy nghệ thuật, các quy luật, hiện tượng của cuộc sống được biểu hiện qua hình tượng nghệ thuật tức những hình ảnh, chi tiết vừa có tính cụ thể vừa có

Trang 22

15

tính khái quát cao Bản chất của hình tượng nghệ thuật chính là cách lựa chọn hình ảnh, chi tiết có tính đặc trưng, đặc thù để biểu hiện sự nhận thức, phân tích hiện thực của nhà văn Vì vậy, hình tượng nghệ thuật dù phản ánh hiện thực khách quan nhưng có tính chủ quan, mang đậm dấu ấn, cá tính của chủ thể nghệ sĩ Do đó, tư duy nghệ thuật ở mỗi nhà văn, mỗi thời đại có những đặc điểm riêng độc đáo, không lặp lại Điều này tạo nên đặc trưng riêng của

tư duy nghệ thuật ở các lĩnh vực, các chủ thể khác nhau Hình tượng nghệ thuật tuy xuất phát từ cuộc sống, từ hiện thực, dùng nguyên mẫu từ hiện thực nhưng không phải là sự sao chép, mô phỏng cơ giới, trực tiếp hiện thực cuộc sống mà sự tái tạo có sáng tạo dựa trên sự hư cấu, tái cấu trúc lại bằng các phương thức nghệ thuật Như vậy, tư duy nghệ thuật luôn có tính sáng tạo, tính cá thể Chính tính sáng tạo, tính cá thể này đã tạo ra sản phẩm là tác phẩm nghệ thuật có sức tác động, gợi mở sự cảm thụ nghệ thuật ở người đọc Người đọc tiếp thu và nhận diện ra tư duy nghệ thuật của nghệ sĩ là thông qua sản phẩm nghệ thuật này mà mỗi người lại có sự cảm thụ riêng Thành ra, tư duy nghệ thuật của nghệ sĩ lại biến hoá không ngừng Mặt khác, tư duy nghệ thuật lại chịu sự chi phối của bối cảnh xã hội, của hoàn cảnh lịch sử và của truyền thống văn hoá, nghệ thuật nên nó lại có những đặc điểm chung tạo nên phong cách, kiểu tư duy của mỗi thời đại, mỗi thể loại Đây là cơ sở để chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu “tư duy nghệ thuật trong hồi kí Việt Nam từ 1986 đến nay” dựa trên những khảo sát thực tiễn sáng tác

1.1.2 Tư duy nghệ thuật trong hồi kí

Kí “là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học

có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu Nhà văn viết kí luôn luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Kí thường không có cốt truyện có tính hư cấu Sự việc và con người trong kí phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi Đó là vì kí dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh

Trang 23

16

động, chứ không xây dựng các hình tượng mang tính khái quát Tính khái quát do tác giả kí thể hiện bằng suy tưởng” [54, tr.137-138] Nói khác đi, kí là loại hình đặc thù chuyên ghi chép trực tiếp sự việc dựa trên nguyên tắc được giả định là trung thành với sự thực lịch sử với nghĩa là những sự thực đã từng tồn tại hoặc diễn ra trong quá khứ (tức tính chân thực, khách quan của loại hình này) “Không gắn với sự thật xác thực trong đời sống, kí dễ chơi vơi và xoá đi ranh giới giữa mình với các thể loại (sic) khác” (Hà Minh Đức) [48, tr.211] Tuy nhiên, sự thực đó bao giờ cũng lại được ghi chép bởi một cá nhân tác giả có hoàn cảnh sống, giới tính, cảm xúc, có cá tính, có quan niệm và tài năng riêng (chưa kể là những điều đó có sự thay đổi theo thời gian, diễn tiến cuộc đời và thời đại) Bởi vậy, kí vừa có tính khách quan lại vừa có tính chủ quan (tính chủ quan, cá thể của chủ loại hình) Người viết kí do vậy chịu ảnh hưởng khá mạnh của đặc trưng loại hình Mặc khác, kí được xem là tấm gương trực tiếp phản ánh đời sống hiện thực nên bối cảnh văn hoá, tư tưởng -

ý thức hệ từ hiện thực cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến kí, chi phối cả nội dung và nghệ thuật của nó Mặc dù, nhận thức được các vấn đề như vậy, nhưng các nhà nghiên cứu truyền thống về thể kí vẫn cứ băn khoăn và tranh luận với nhau không dứt về mâu thuẫn giữa sự “phản ánh sự thật” và “tính chủ quan” hay “mức độ hư cấu” cho phép của kí (ở Việt Nam, cuộc tranh luận như vậy diễn ra sôi nổi nhất vào thập kỉ 60 của thế kỉ XX, chủ yếu trên Tạp

chí Nghiên cứu văn học) Cuộc tranh luận cơ hồ cho đến nay còn chưa ngã

ngũ Tại sao? Theo chúng tôi, đó là do các nhà nghiên cứu dù theo hướng nào vẫn không ra ngoài nền tảng của “phản ánh luận” vốn xem văn học đơn thuần

là sự phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật Yêu cầu của việc truy tìm “cái được phản ánh” dẫn đến những tranh luận nêu trên Dưới cái nhìn của các lí thuyết văn học mới và khác (chẳng hạn như thuyết biểu hiện - expressionism, và đặc biệt là thuyết diễn ngôn - theory of discourse) [208],

Trang 24

17

vấn đề được nhìn nhận rõ hơn rằng: kí là một “loại hình diễn ngôn” đặc biệt

có mã đặc trưng của loại hình [130] Những mã đó góp phần quyết định tính chất của kí là phản ánh sự thật (khách quan) hay có tính chủ quan (tự biểu hiện), quyết định mức độ hư cấu (tuỳ theo mục đích viết, bối cảnh viết,…), nó cũng cho phép giải thích các loại kí giả tưởng như kiểu kí huyền ảo, kí tưởng tượng, Với tư cách là “loại hình diễn ngôn” kí thực ra mang đậm tính chủ quan (do sự tương tác giữa các yếu tố: quyền lực, tri thức,… tạo nên hành động viết kí) nhưng lại mang một cái “lốt”, cái “vỏ” là phản ánh sự thật; hoặc giả nó luôn muốn hướng tới “phản ánh” sự thật nhưng không bao giờ thoát khỏi sự chi phối của những nhân tố chủ quan và khách quan khiến cho mục đích đó không bao giờ đạt được ở mức độ tuyệt đối Kí cũng như các loại văn bản diễn ngôn khác là sản phẩm được tạo ra dựa trên sự tương tác giữa mục đích, động cơ, ý chí của quyền lực, khả năng của tri thức,… Nguyễn Thị

Ngọc Minh trong LATS Kí như một loại hình diễn ngôn đã chỉ ra một số mã

nghệ thuật của loại hình kí là: mã thể loại với tư cách là “đặc trưng của văn học kí” (bao gồm các mã nhỏ hơn là: mã sự thật - ngôn ngữ sự thật (cách thức

kí dùng các loại phương thức, phương tiện - ngôn từ nghệ thuật để tạo ra ấn tượng về “sự thật”) mã nghệ thuật - lớp tu từ của sự thật và “mã tư tưởng hệ” (tức ảnh hưởng của tư tưởng hệ đến cách viết kí hay cách tạo diễn ngôn kí) [130, tr.35-120] Như vậy, sự thật trong kí cũng chỉ là một cái “mã” chứ không phải chân lí khách quan, và cái mã đó lại chịu ảnh hưởng lớn bởi “tư tưởng hệ” và đằng sau đó là hàng loạt những tác nhân khác Nguyễn Thị Ngọc Minh không khái quát tất cả những mã trên bằng một cái tên chung là mã gì, nhưng theo chúng tôi có thể gọi chúng là những “mã quan niệm”, bởi những cái mã đó hàm chứa các quan niệm nghệ thuật về việc viết kí (nói khác đi là quan niệm nghệ thuật về loại hình) Mặc dù còn có điểm cần phải tiếp tục thảo luận (như liệu có nên có một sự hoài nghi thường trực, tuyệt đối đối với

Trang 25

18

sự thật trong hồi kí như thế hay không? Và còn có những “mã” khác nữa hay không? Có vấn đề tâm sinh lí, cá tính, giới tính của cá nhân hay không? ), việc chỉ ra các “mã quan niệm” như thế giúp cho việc nhận diện và tiếp cận tác phẩm thuộc loại hình kí thuận lợi hơn và đúng đắn hơn từ cả hai góc độ: góc độ đặc trưng thể loại và góc độ ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử xã hội mà cốt lõi là tư tưởng thời đại (chúng tôi dùng khái niệm “tư tưởng thời đại” thay

vì “tư tưởng hệ” như Nguyễn Thị Ngọc Minh dùng bởi cho rằng “tư tưởng thời đại” sẽ rộng hơn “tư tưởng hệ” vốn thường để chỉ hệ tư tưởng của chính thể cầm quyền mà thôi) Bên cạnh đó, những nghiên cứu liên ngành văn học - tâm lí học, văn học - xã hội học, văn học - văn hoá học về loại hình kí cũng cho thấy kí chịu sự chi phối của nhiều nhân tố, trong đó nổi bật là các vấn đề tâm lí - xã hội (điều này càng quan trọng đối với hồi kí, thể loại dựa rất nhiều vào kí ức, tình trạng tâm lí, mối quan hệ xã hội của người viết hồi kí)

Hồi kí lại là thể loại có thể xem là khá đặc trưng của loại hình kí Đó là thể loại vừa cố đạt đến tính chân thực, khách quan lại vừa không thoát khỏi cái nhìn và tư duy chủ quan, não trạng và đặc biệt là trí nhớ của nhà văn (tình trạng trí nhớ, trạng thái tâm sinh lí, do sự cảm thụ cuộc sống, do kinh nghiệm, nhận thức chủ quan,…) Hồi kí lại được kể theo dòng hồi tưởng, hồi ức của tác giả một cách linh hoạt, có thể theo dòng thời gian tuyến tính, nhưng cũng

có thể theo trình tự hồi tưởng, ghi nhớ của ý thức (thậm chí vô thức) tác giả Mặt khác, không phải cái gì đã từng xảy ra trong quá khứ cũng được nhà văn ghi lại Kí ức, trí nhớ và khả năng ghi lại của nhà văn là hữu hạn (trong phạm

vi chứng kiến, ghi nhớ của anh ta) và có tính chọn lọc, giữ - bỏ (vô tình hoặc

có ý thức) Nó lại được kể lại trực tiếp bằng khả năng ngôn ngữ, diễn đạt của tác giả, nên phụ thuộc rất lớn vào năng lực ngôn ngữ, diễn đạt đó Trước đây, người ta chỉ coi ngôn ngữ là vỏ, là phương tiện của tư duy; nhưng gần đây, người ta đã nhận thấy ngôn ngữ còn quan trọng hơn thế, nó còn chính là tư

Trang 26

19

duy Một người có vốn và năng lực ngôn ngữ thế nào sẽ tư duy, nhìn nhận thế giới thế ấy Vì vậy, trong hồi kí, những gì được tác giả viết ra chịu nhiều tác động bởi thế giới chủ quan, năng lực nhận thức, suy nghĩ và năng lực diễn đạt của anh ta Đó là chưa kể, yếu tố xúc cảm cũng chiếm một vai trò quan trọng Nhà văn Claude Simon từng định nghĩa hồi kí là thể loại “kể về một cuộc đời (…) vốn dĩ cuộc đời đã không bao giờ là một quỹ đạo thẳng tắp có định hướng đều đặn mà là một mớ bòng bong những mẩu đất và những mảnh vụn luôn được trí nhớ tổ chức lại và biến đổi đi” (dẫn theo Vương Trí Nhàn) [74, tr.936] Nó là thể loại mà “người viết hồi kí chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên cơ sở những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình Hơn nữa, người viết hồi kí luôn luôn được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất Hồi kí thường khó tránh khỏi tính phiến diện

và ít nhiều chủ quan của thông tin, tính không đầy đủ của sự kiện, song nội dung của nó do sự diễn đạt sinh động trực tiếp của cá nhân tác giả lại có một giá trị như là tài liệu xác thực đáng tin cậy” [54, tr.127] Chính điều này đã tạo cho hồi kí một dạng tư duy nghệ thuật khá độc đáo: phản ánh diện mạo, đặc điểm và sự biến thiên của tư tưởng thời đại; đồng thời, cho thấy những nỗ lực, cá tính và dấu ấn tư tưởng riêng của người viết hồi kí trong việc nhận thức, phản ánh và tái tạo/kiến tạo thông tin bằng những phát ngôn trực tiếp hoặc qua hình tượng nghệ thuật, phương thức nghệ thuật Cho nên, viết thì viết về quá khứ nhưng cách nhìn, cách nghĩ, cách tư duy rốt cuộc lại là sản phẩm, thực thể đang hiện hữu trong hiện tại; những gì anh ta viết ra là cái nhận thức, thế giới thông tin đang tồn tại trong tâm trí mình Đặc điểm ấy khiến cho việc tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong hồi kí, đặc biệt là hồi kí giai đoạn sau 1986 (một giai đoạn có nhiều biến chuyển quan trọng trong lịch sử dân tộc), trở nên có ý nghĩa trong việc tìm hiểu diện mạo và đặc điểm của một thể loại quan trọng của văn học sử, đồng thời phân tích, rút ra những tri thức

Trang 27

20

lí luận và thực tiễn lí thú về mối quan hệ giữa văn học với cuộc sống, giữa nhà văn với thời đại Nó cũng chính là chiếc “hàn thử biểu” phản ánh chính sự thay đổi, biến động của tâm lí, tâm thức thời đại trong xã hội chứ không chỉ là chuyện văn chương thuần tuý Hồi kí văn học giành được sự quan tâm tìm hiểu của nhiều ngành khoa học (văn học, sử học, xã hội học, triết học, tôn giáo học, tâm lí học, thậm chí bệnh lí học,…) chính là vì vậy

1.2 Tình hình sáng tác hồi kí văn học từ 1986 đến nay

1.2.1 Vài nét về hồi kí văn học trước 1986

1.2.1.1 Hồi kí văn học trước 1945

Theo nhận thức chung đã được thừa nhận rộng rãi của giới nghiên cứu, hồi kí văn học xuất hiện ở đầu trung đại (thế kỉ XIV) nhưng cũng không để lại quá nhiều thành tựu Các tác phẩm hồi kí trong văn học trung đại thường là những thiên tự thuật kể về cuộc đời, chí hướng, nhân cách của bản thân tác giả dưới cái nhìn về lí tưởng đạo đức, lí tưởng quân tử (nhiều tác giả nếu quan niệm một cách chặt chẽ thì chưa phải là các nhà văn, và do đó, hồi kí của họ cũng chưa hẳn là “hồi kí văn học” như quan niệm ngày nay của chúng ta) Cái nhìn, quan niệm của cái tôi cá nhân nghệ sĩ chưa mấy phát triển Các tác

phẩm có thể kể đến là: Thượng sĩ hành trạng (Trần Nhân Tông, thế kỉ XIV), Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng, thế kỉ XV), Băng Hồ di sự lục (Nguyễn Trãi, thế kỉ XIV), Niên phả lục (Trần Tiến), Thượng Kinh kí sự (Lê Hữu Trác, 1782), Bắc hành tùng kí (Lê Quýnh, cuối thế kỉ XVIII), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ, thế kỉ XIX), Công thần Nguyễn Án phủ sứ truyện (Nguyễn Bá Xuyến, thế kỉ XIX), Bước sang thời hiện đại, cho đến 1945, hồi

kí cũng không có nhiều thành tựu đáng kể Đầu thế kỉ XX, chỉ lác đác một vài

tác phẩm có thể xem là hồi kí (dù chưa thực sự theo chuẩn thể loại) như Ngục trung thư, Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu), Giấc mộng lớn (Tản

Đà),… Tuy nhiên, những tác phẩm này, như ngay từ tên gọi của chúng, không

Trang 28

21

thực sự phản ánh đúng bản chất của hồi kí mà thiên về tính tiểu sử, lí lịch và văn luận thuyết, thậm chí là truyện hư cấu Khi lớp người cũ già nua mất đi trong sự quên lãng, chán chường bởi thời cuộc (không muốn để lại nhiều hồi

kí cuộc đời hoặc không tìm ra lối thoát cho thể loại này so với trung đại), lớp người mới còn hăng hái nhập cuộc, lao vào sự nghiệp cống hiến, thì khoảng lặng, kinh nghiệm đời người, độ chín chắn dành cho việc viết hồi kí không nhiều Vì vậy, hồi kí trước 1945 cũng khá vắng bóng Nếu có chăng nữa thì cũng chỉ là những tác phẩm của những nhà văn có cuộc đời, đặc biệt là tuổi thơ khốn khổ, đau xót đã khiến cho họ già hơn trước tuổi, hoặc “nhập vai” để khám phá xã hội và bắt tay viết hồi kí cuộc đời mình như một kinh nghiệm, một sự chia sẻ phần nào đó với độc giả Tuy nhiên, đa số các hồi kí trước

1945 được viết theo lối “tự truyện” (tức viết truyện cuộc đời mình theo lối khách quan hoá và có hư cấu) hoặc phóng sự điều tra (cũng theo hướng khách quan hoá cộng thêm yếu tố thời sự) hay nhật kí, kí sự chứ không phải là hồi kí

thuần thành, chẳng hạn: Ngục Kon Tum (Lê Văn Hiến, 1938), Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng, 1941), Cai (Vũ Bằng, 1942), Cỏ dại (Tô Hoài,

1944), Đặc điểm của hồi kí trước 1945 không thực sự nổi bật, đặc trưng Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, ở giai đoạn này, ý thức tự giác về thể loại còn chưa rõ ràng Vì vậy, tư duy nghệ thuật trong hồi kí trước 1945 cũng không thực sự định hình rõ nét và rất khó để phân xuất

1.2.1.2 Hồi kí văn học thời kì 1945 - 1985

Hồi kí văn học ở Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1985 không nhiều Chẳng hạn, thống kê về các tác phẩm “văn học kí” từ 1945 đến 1975 của Nguyễn Thị Ngọc Minh cho thấy trong hơn 100 đơn vị tác phẩm, có rất ít hồi

kí Hồi kí giai đoạn này chủ yếu là những tác phẩm đứng trên lập trường “văn học cách mạng”, “văn học xã hội chủ nghĩa” để viết theo khuynh hướng “tố khổ”, “kể tội” và “tự biểu dương” thuộc khuynh hướng lớn là khuynh hướng

sử thi và dòng cảm hứng lãng mạn cách mạng Vì vậy, có người gọi đó là “hồi

Trang 29

Các tác phẩm hồi kí tiêu biểu giai đoạn này có: Những bước đường tư tưởng của tôi (Xuân Diệu, 1958), Con đường dẫn tôi đến nghề văn (Nguyễn Khải, 1963), Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn (Tú Mỡ, 1969), Bước đường viết văn (Nguyên Hồng, 1970), Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan, 1971),

Tự truyện (Tô Hoài, 1973), v.v So với “hồi kí cách mạng” (tức hồi kí của

các lãnh tụ, tướng lĩnh, nhà cách mạng) [32], hồi kí văn học giai đoạn này

Trang 30

23

thành tựu còn khiêm tốn Vì vậy, nếu nói đến tư duy nghệ thuật trong hồi kí giai đoạn này thì có thể thấy ngay tính chất đơn phiến, công thức, tính “minh hoạ” khá cổ điển và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi quan điểm chính trị, quan điểm ngoài văn học Thành thử, nó cũng không phải là đối tượng có nhiều vấn

đề, và đặc biệt là vấn đề hấp dẫn để có thể đi sâu khai thác

Bên cạnh đó, cũng có những tác phẩm hồi kí được viết ở đô thị miền Nam trước 1975 với cảm hứng chủ yếu là hoài niệm và tự bạch Những tác phẩm này nội dung có phần bó hẹp trong những kí ức mang tính chất cá nhân, đời tư (dựng chân dung, kỉ niệm) cho nên sự phản ánh hiện thực rộng lớn bên ngoài có phần hạn chế nhất định Các tác phẩm tiêu biểu của bộ phận này có:

Văn thi sĩ tiền chiến (Nguyễn Vỹ, 1962), Khúc tiêu đồng (Hà Ngại, khoảng trước 1976), Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng, 1969), Ta đã làm chi đời ta

(Vũ Hoàng Chương, 1974),… Những hồi kí được công bố tại miền Nam này

có tính chất dự báo và sau này cũng có ảnh hưởng nhất định đến hồi kí giai đoạn từ 1986 đến nay (vì thế sau 1986, nhiều hồi kí trong số đó đã được in lại

và phát hành rộng rãi trên toàn quốc) Ngoài ra, do vấn đề lịch sử và thời gian,

có thể có nhiều tác phẩm hồi kí ở đô thị miền Nam đã bị “lãng quên”, không được chú ý nghiên cứu nhiều nên để lại một “khoảng trống” trong việc nghiên cứu lịch sử thể loại ở Việt Nam Mảng này rất đáng được đầu tư nghiên cứu thêm (vì sẽ cho ra nhiều vấn đề thú vị, trong đó có liên quan đến vấn đề tư duy nghệ thuật trong hồi kí) Nhưng đó không phải là đối tượng chính của luận án này mà là những công trình tiếp sau

1.2.2 Sự phát triển của hồi kí văn học từ 1986 đến nay

Như đã nói ở phần lí do chọn đề tài, hồi kí văn học nói riêng và hồi kí nói chung ở Việt Nam từ 1986 đến nay thực sự “nở rộ” Có thể nói, đây là giai đoạn phát triển rực rỡ, mạnh mẽ nhất của hồi kí văn học từ xưa đến nay Thậm chí, có ý kiến cho rằng, đến giai đoạn này, hồi kí văn học đích thực mới thực sự xuất hiện Chỉ nói về số lượng, đã thấy hồi kí văn học xuất hiện rất

Trang 31

24

nhiều tác phẩm Có thể liệt kê ra đây một số tên tác phẩm như: Từ bến sông Thương (Anh Thơ, 1986); Những năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan, 1987); Những gương mặt chân dung văn học (Tô Hoài, 1988), Nửa đêm sực tỉnh: hồi

kí nhớ lại những mối tình (Lưu Trọng Lư, 1989); Cát bụi chân ai (Tô Hoài, 1992); Vũ trụ (Nhân tình thế thái) (Hoàng Văn Bổn, 1993), Một ánh sao đêm (Hoàng Văn Bổn, 1994); Tiếng chim tu hú (Anh Thơ, 1994); Một thời để mất (Bùi Ngọc Tấn, 1995); Âm vang thời chưa xa (Xuân Hoàng, 1995); Bóng ngày qua: Bàn Thành tứ hữu (Quách Tấn ghi chép, Quách Giao biên tập: 1998); Núi Mộng gương Hồ (Mộng Tuyết, 1998); Chiều chiều (Tô Hoài, 1999); Tầm xuân (Hồi ức) (Đặng Anh Đào, 1999); Nhớ lại một thời (Tố Hữu, 2000); Rễ bèo chân sóng (Vũ Bão, 2001); Hồi kí song đôi (Huy Cận, 2002-

2003 tái bản chỉnh lí bổ sung: 2011-2012); Nhớ lại (Đào Xuân Quý, 2002); Bên dòng chia cắt (Anh Thơ, 2002), Hồi kí bà Tùng Long - viết là niềm vui muôn thưở của tôi (Lê Thị Bạch Vân, 2003); Rừng xưa xanh lá (Bùi Ngọc Tấn, 2003); Hồi kí Sơn Nam [gồm 4 tập: Từ U Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9, 20 năm giữa lòng đô thị, Bình an] (Sơn Nam, xuất bản từ 2000 - 2005);

Ba phút sự thật (Phùng Quán, 2006); Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào (Phùng Quán, 2007); Từ đất núi đến làng văn: Hồi ức và gặp gỡ (Ngô Quân Miện, 2007); Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh, 2008); Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương: Hồi kí (Ma Văn Kháng, 2009); Lời hứa với ngày mai (Thy Ngọc, 2009); Mất để mà còn (Hoàng Minh Châu, 2010); Hồi kí Phạm Cao Củng (Phạm Cao Củng, 2012);v.v… Những tác phẩm lớn nhất, hay nhất

của hồi kí văn học hiện đại cũng ra đời ở giai đoạn này Đó là những tác phẩm của Anh Thơ, Tô Hoài, Bùi Ngọc Tấn, Phùng Quán, Vũ Bão, Ma Văn Kháng, Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào Sự bùng nổ của hồi kí văn học như vậy cũng làm thay đổi rất nhiều nội dung và hình thức nghệ thuật của nó (như: sự mở rộng phạm vi nội dung phản ánh; thay đổi cách thức tiếp cận và phản ánh đời sống và con người; đa dạng hoá nghệ thuật trần thuật,…) kéo theo sự thay đổi

Trang 32

25

mạnh mẽ tư duy nghệ thuật của thể loại so với các giai đoạn trước (như chúng

ta sẽ tìm hiểu trong các chương 2, 3 và 4)

Ngoài hồi kí văn học (của các nhà văn, mà có xu hướng là nhà văn viết hồi kí ngày càng nhiều), còn có rất nhiều các loại hồi kí của các tướng lĩnh, nghệ sĩ (hoạ sĩ, đạo diễn, diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ,…), chính khách, học giả, phu nhân của những người nổi tiếng (vợ Tổng bí thư, vợ nhạc sĩ nổi tiếng, vợ các tướng lĩnh,…), hay đơn giản là hồi kí của các nhà giáo, người phụ nữ Việt Nam

lấy chồng ngoại quốc, cựu tù nhân, gái giang hồ,… Nhìn vào lực lượng sáng

tác thôi đã thấy có sự phát triển đa dạng các loại hình tác giả khác nhau phong phú hơn nhiều so với giai đoạn trước, trong đó đáng chú ý là sự xuất hiện của các tác giả nữ (một hiện tượng chưa từng xuất hiện ở giai đoạn trước đó) cũng như các tác giả có xuất thân và vị trí bình thường trong xã hội (cũng chưa từng

có ở giai đoạn trước đó) Sự thay đổi lực lượng sáng tác đó cũng khiến cho nội dung và hình thức hồi kí nói chung có sự thay đổi mạnh mẽ Đây là bệ đỡ cho

sự phát triển của hồi kí văn học với tư cách là bộ phận tiêu biểu nhất, nằm ở phần chóp của “kim tự tháp” hồi kí thời kì Đổi mới

Xét riêng về hồi kí văn học, đây là giai đoạn chúng bộc lộ rõ nhất đặc trưng thể loại, như: tính chân thực của cuộc sống từ góc nhìn đời tư, cá nhân;

sự đào sâu vào bản thể, tâm lí người viết; quan niệm đa chiều, đa diện, thể tất hơn về cuộc sống; bút pháp đa dạng, phong phú, linh hoạt, độc đáo;v.v Vì thế, hồi kí văn học giai đoạn này khá đang dạng về kiểu loại chứ không thuần nhất như trước Về cơ bản, xét về phong cách, diện mạo tổng thể, hồi kí văn học phát triển theo mấy khuynh hướng (tương ứng với các kiểu tư duy nghệ thuật tổng quát sẽ được lưu ý để phân tích) sau đây:

1) Hồi kí mang thiên hướng “anh hùng ca” (hay sử thi): là những cuốn

hồi kí thiên về đề tài lớn, bề thế, quan phương (nói về dân tộc, thời đại, cách mạng là chủ yếu); cảm hứng tụng ca, hào sảng; bút pháp cường điệu; giọng điệu sôi nổi Tương ứng với nó là kiểu tư duy “tụng ca”, anh hùng ca Thuộc

Trang 33

2) Hồi kí mang thiên hướng tiểu thuyết: là những cuốn thiên về đề tài

thế sự và đời tư, đời thường (nói về cá nhân, về số phận con người nhỏ bé); cảm hứng mổ xẻ, phân tích, phê phán; bút pháp tả thực; giọng điệu ngậm ngùi pha lẫn hài hước Tương ứng với nó là kiểu tư duy tiểu thuyết, xoá bỏ khoảng cách sử thi, tả thực Thuộc về mảng này có thể kể đến những tác phẩm như:

Nửa đêm sực tỉnh, Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Rễ bèo chân sóng, Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá, Hồi kí Phạm Cao Củng,…

3) Hồi kí theo hướng chân dung văn học: là những tác phẩm viết như

một loại kí phê bình, tiểu sử nói về các nhà văn khác (thường là bạn bè, người thân, đồng nghiệp) Đây là loại hồi kí chuyên về phê bình, bình luận và ghi chép tư liệu văn học Loại này thể hiện tư duy nghiên cứu, phê bình; đồng thời phần nào cũng thể hiện tư duy tiểu thuyết khi xây dựng chân dung các nhà văn nhưng không phải theo lối nghiên cứu chuyên nghiệp mà là theo lối kinh nghiệm, nhiều khi “bếp núc” văn chương với những chi tiết, thông tin mang tính đời tư, đời thường, gần gũi Tiêu biểu ở mảng này có các tác phẩm

như: Cát bụi chân ai, Ba phút sự thật, Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá, Kỉ niệm dọc đường văn, Từ núi đất đến làng văn,…

4) Hồi kí mang tính thông tin - tư liệu tự thuật: là hồi kí mang tính

thông tin tư liệu, kể lại một cách thực thà, bộc bạch cuộc đời của nhà văn theo trình tự thời gian từ nhỏ đến lớn Đây là loại hồi kí cung cấp thông tin, không chứa đựng tư duy nghệ thuật gì đặc biệt ngoài việc nó được mặc định là phản ánh “sự thật lịch sử” về nhà văn và thời đại của họ Dạng hồi kí này nhiều bởi

nó là loại thông thường, ít tính nghệ thuật Thuộc nhóm này có: Tôi đã trở

Trang 34

27

thành nhà văn như thế nào, Bóng ngày qua, Nhớ lại, Núi Mộng gương Hồ, Hồi kí song đôi, Mất để mà còn, Hồi kí bà Tùng Long, Dĩ vãng phía trước,…

5) Hồi kí mang tính tản văn, trải nghiệm văn học: là những tác phẩm

viết theo lối tản mạn về hồi ức, trong đó chủ yếu tiếp cận kí ức như những

“miền thương nhớ” như là một thế giới để suy tưởng, trải nghiệm (đặc biệt là trải nghiệm văn học) Đây là một lối viết hồi kí khá mới, chịu ảnh hưởng từ lối viết hồi kí hiện đại của văn học phương Tây Đây là mảng hồi kí thể hiện

rõ nhất quan niệm về tính chủ quan, tính cá nhân của hồi kí Tác phẩm tiêu

biểu của mảng này có: Tầm xuân, Cô bé nhìn mưa, Người đàn bà cầm bút,…

Vì sao hồi kí văn học có sự phát triển rực rỡ, mạnh mẽ và đa dạng như vậy? Có thể lí giải từ góc độ cơ duyên, giai đoạn này xuất hiện những tay bút tài năng, tâm huyết Nhưng cơ duyên cũng không phải ngẫu nhiên mà có, tài năng và tâm huyết phải được nuôi dưỡng trong bầu khí quyển thích hợp Điều này dẫn chúng ta tới sự khẳng định vai trò của công cuộc Đổi mới toàn diện văn hoá, xã hội nước ta từ sau 1986 Hiện tượng đó đã tháo cũi sổ lồng cho sự

tự do tư tưởng, giải phóng cá tính, nhìn thẳng vào sự thật, vào những vấn đề đời tư, vào thân phận cá nhân, tinh thần phản biện, của văn học Điều đó đã tạo điều kiện cho văn học nghệ thuật nói chung và hồi kí văn học nói riêng có điều kiện để phát triển tự thân sau một giai đoạn quá lệ thuộc vào những yếu

tố phi văn học, ngoài nghệ thuật và trở nên xơ cứng, giáo điều Những gì trước đây bị cấm đoán, cấm kị hoặc lảng tránh, đè nén thì giờ đây có cơ hội được nói đến một cách trực tiếp, cởi mở hơn Có quá nhiều điều còn bất cập hoặc bất bình, thậm chí bất công cần được tháo gỡ, giải toả Những kinh nghiệm, bài học của quá khứ cũng cần được mổ xẻ, chiêm nghiệm để định hướng cho một giai đoạn mới thực ra còn chưa rõ tương lai Mặt khác, mặt trái hoặc tính chất đa dạng, phức tạp, xoay chiều của cơ chế thị trường, của thời mở cửa, của giai đoạn Đổi mới, hội nhập cũng lại khiến nhiều người

“hoài niệm” về quá khứ tuy gian khổ, đau thương,… nhưng cũng nhiều

Trang 35

28

“chiến tích” và đặc biệt là thuần nhất, yên bình (ít nhất là về đại thể và ở bề mặt của nó) Hồi kí cùng với tiểu thuyết thế sự, tiểu thuyết tâm lí, bi kịch và hài kịch phát triển mạnh mẽ là vì vậy

1.3 Tình hình nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay

Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ, sôi động của thể loại hồi kí, đặc biệt là từ sau 1986, tình hình nghiên cứu thể loại này cũng khá sôi động Điểm qua tình hình nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay, chúng tôi nhận thấy hồi kí đã được chú ý nghiên cứu khá nhiều với rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu Việc nghiên cứu hồi kí Việt Nam từ 1986 đến nay được nghiên cứu theo 4 hướng sau đây:

1.3.1 Phê bình, nghiên cứu tác phẩm hồi kí của những tác giả tiêu biểu

Những nghiên cứu này để làm rõ giá trị của tác phẩm cũng như làm rõ

sự nghiệp văn chương của nhà văn Đây là hướng nghiên cứu để lại nhiều công trình, bài viết nhất Cũng vì vậy, việc khảo sát và liệt kê toàn bộ các công trình theo hướng này là không thể trong khuôn khổ của luận án Trong phạm vi hiểu biết cũng như giới hạn cho phép của luận án, chúng tôi chỉ xin

đề cập đến một số các công trình tiêu biểu về các tác phẩm tiêu biểu mà thôi Theo đó, các công trình phê bình, nghiên cứu chủ yếu xoay quanh một số tác

phẩm, như: Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu

hú, Bên dòng chia cắt, Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, Nhớ lại, Rừng xưa xanh lá…Trong đó, có lẽ các hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều

của Tô Hoài nhận được nhiều sự quan tâm nhất với các bài viết của: Xuân

Sách và Trần Đức Tiến (“Trao đổi về Cát bụi chân ai”, 1993) [165], Nguyễn

Văn Bổng (“Tô Hoài - viết và viết”) [21], Đặng Thị Hạnh (“Viết về một cuộc

đời và những cuộc đời”, 1998) [57], Đặng Tiến (“Tổng quan về hồi kí Tô Hoài”, 1999) [204], Phong Lê (“Ngót 60 năm văn Tô Hoài”, 1999) [106], Vương Trí Nhàn (“Tô Hoài và thể hồi kí”, 2002) [74], Nguyễn Đăng Điệp (“Tô Hoài, người sinh ra để viết”, 2004) [45], Nguyễn Văn Thọ (“Vài cảm

Trang 36

29

giác về Chiều chiều”, 2006) [194],v.v… Những bài viết này đã tìm hiểu và rút

ra được một số đặc điểm, giá trị nội dung và nghệ thuật của hai cuốn hồi kí rất nổi bật của Tô Hoài Các bài viết cũng đã chỉ ra vị trí tiên phong trong việc đổi mới, cách tân thể loại cũng như việc làm dấy lên phong trào viết hồi kí ở Việt Nam của Tô Hoài trong bối cảnh đương thời Bên cạnh các bài viết là

các LvThS nghiên cứu về hồi kí Tô Hoài, như: Tìm hiểu hồi kí Tô Hoài (Lê Minh Hiền, ĐHSP Hà Nội, 1998) [61], Nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài qua hồi kí (Đoàn Thị Thuý Hạnh, 2001) [59], Phong cách nghệ thuật Tô Hoài qua hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều (Nguyễn Thuý Nga, 2006) [136], Đặc trưng của thể loại hồi kí Tô Hoài (Trương Thị Huyền, 2007) [81], Chiều chiều và những đặc sắc về thể tiểu thuyết - tự truyện của Tô Hoài (Lê Thị Biên, 2007) [14], Nhân vật người kể chuyện trong hồi kí và tự truyện Tô Hoài (Trần Thị Mai Phương, 2009) [157], Hình tượng tác giả trong hồi kí tự truyện của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng (Nguyễn Thị Nguyên, 2010)

[141],v.v… Các luận văn này cũng đã đi sâu phân tích đặc điểm, thành tựu viết hồi kí của các tác giả; đi sâu vào các phương diện nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Tô Hoài và có nhiều kiến giải sâu sắc

Tiếp đến có thể kể đến hồi kí Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương Tác phẩm cũng khá được chú ý với các công trình, bài viết của: Hồ Anh Thái (“Ma Văn Kháng con đường hồi ức”, 2009) [178]; Nguyễn Ngọc

Thiện (“Ma Văn Kháng và cuốn hồi kí - tự truyện mới”, 2009) [189]; Bùi

Bình Thi (“Ma Văn Kháng với hồi kí Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương”, 2009) [185]; Đinh Hương Bình (“Đọc hồi kí Ma Văn Kháng thấy bóng văn nhân”, 2009) [15]; Đinh Hương Bốn (“Nhận định về hồi kí Năm tháng nhọc nhằn năm thág nhớ thương”) [20], Thi Thi (“Văn trong hồi kí và hồi kí của một nhà văn”, 2010) [188]; Lê Thị Kim Liên (Thể hồi kí tự truyện trong hồi kí của Ma Văn Kháng và Đặng Thị Hạnh (2010) [108]; Hình tượng tác giả trong hồi kí tự truyện của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng

Trang 37

Các cuốn hồi kí Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá cũng dành được

nhiều sự chú ý bởi hiệu ứng từ cuộc đời chìm nổi của tác giả, của cuốn sách

gai góc Chuyện kể năm 2000 và bản thân sức hấp dẫn của cuốn hồi kí trên Có thể kể ra một số bài viết như: “Viết về bạn bè thấy chân dung tác giả” (Đình Kính, 2003) [97], “Một kiếp bên trời” (Phạm Xuân Nguyên, 2003) [142],

“Bùi Ngọc Tấn kể chuyện bạn bè” (Trần Thiện Đạo, 2004) [41], “Chữ nặng” (Lê Minh Hà, 2005) [52], “Sinh khí của văn chương” (Khánh Phương, 2003)

[156], “Một nhà văn của nhiều nhà văn” (Nguyễn Chí Hoan, 2003) [75], “Về một thời chưa hẳn đã mất (Nguyễn Vĩnh Nguyên, 2003) [175], “Bùi Ngọc Tấn – một nhân cách” (Nguyễn Văn Thọ, 2003) [193]… Về đại thể, các nhà phê bình đánh giá cao tính chân thực đến nghiệt ngã, tính vị tha và đôn hậu của những trang viết nơi ông Họ cũng đánh giá cao hình thức viết hồi kí theo kiểu các “đoản thiên” ghép lại rất độc đáo của nhà văn

Hai cuốn hồi kí Cô bé nhìn mưa và Tầm xuân cũng dành được sự quan

tâm của giới nghiên cứu, phê bình và đặc biệt là giới dạy học đại học (có lẽ bởi hai bà thuộc cả hai giới này) Tiêu biểu có các công trình, bài viết như:

“Cô bé nhìn mưa và Marcel Proust” (Nhị Linh, 2006) [109]; “Tác giả Cô bé nhìn mưa: Tôi rất ngại động chạm” (Hải Diệp, 2008) [31]; “Hồi kí của PGS Đặng Thị Hạnh” (Hoài Thương, 2008) [202], Thể hồi kí - tự truyện trong hồi

kí của Ma Văn Kháng và Đặng Thị Hạnh (Lê Thị Kim Liên, 2010) [108]; Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong hồi kí - tự truyện của Anh Thơ, Lê Minh và Đặng Thị Hạnh (Bùi Thị Luyến, 2012) [116]; “Từ Cô bé nhìn mưa đến việc tiếp cận

Marcel Proust tại Việt Nam” (Nguyễn Giáng Hương, 2012) [88],… Nhìn chung, trong các bài viết này, bên cạnh những đặc sắc về nội dung, tính hiện

Trang 38

31

đại, đột phá, mới mẻ (chịu ảnh hưởng của hồi kí phương Tây hiện đại) trong quan niệm thể loại và cách viết hồi kí của Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào

được đặc biệt nhấn mạnh

Cuốn hồi kí Núi Mộng gương Hồ đã gây được hiệu ứng tốt từ giới phê

bình - nghiên cứu với nhiều bài viết, như: Huy Cận (Lời nói đầu tác phẩm,

1998) [214]; Lê Thị Thanh Tâm (Núi Mộng gương Hồ, 2001) [174]; Đoàn Minh Tuấn (“Người con gái hay chữ phương Đông”, 2010) [212]; Nguyễn Thị Xuân Mai (Đặc điểm hồi kí của Mộng Tuyết, 2011) [120];…Các thành

tựu cơ bản của hồi kí Mộng Tuyết cũng đã được xác định trong các bài trên

Bộ ba hồi kí Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú và Bên dòng chia cắt cũng giành được sự quan tâm nhất định của giới phê bình, nghiên cứu

cũng như trong nhà trường với các công trình, bài viết: “Tình thơ của nữ sĩ

Anh Thơ” (Trần Hoàng Thiên Kim) [101]; Đặc điểm hồi kí của Anh Thơ (Lê Thị Nguyên, 2007) [140]; Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong hồi kí - tự truyện của Anh Thơ, Lê Minh và Đặng Thị Hạnh (Bùi Thị Luyến, 2012) [116];… Sự

tỉ mỉ, trữ tình, nữ tính, giọng văn lôi cuốn của hồi kí Anh Thơ được nhận diện

và nhấn mạnh Giá trị tư liệu của hồi kí Anh Thơ cũng được đánh giá cao

Các cuốn hồi kí khác như: Nhớ lại, Hồi kí song đôi, Nhớ lại một thời, Nửa đêm sực tỉnh… cũng được tìm hiểu trong chí ít là một hai bài hoặc công trình nghiên cứu Đó là các bài như: “Hành trình cách mạng - hành trình thơ” (Mai Hương, 2000) [87]; Đặc điểm hồi kí của các nhà thơ Lưu Trọng Lư - Huy Cận - Xuân Diệu (Đặng Ngọc Huyền, 2010) [80]; “Đào Xuân Quý” (Đặng Thị

Hảo, 2004) [60],v.v…

Còn có thể điểm qua nhiều bài viết, công trình về các cuốn hồi kí văn học khác cùng thời, nhưng thiết tưởng như vậy đã đủ thấy các công trình nghiên cứu riêng lẻ về các tác phẩm phong phú như thế nào (mà trong khả năng của mình, chúng tôi có lẽ chưa thực sự bao quát hết tư liệu) Bên cạnh

đó, cũng có những tác phẩm khá “đình đám” vì được sự quan tâm lớn của giới

Trang 39

32

nghiên cứu như: Những gương mặt: Chân dung văn học, Ba người khác (Tô Hoài), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Bạn bè một thưở (Bùi Hiển), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Kí ức vụn (Nguyễn Quang Lập),… Tuy nhiên, hoặc do tính

chất “nhạy cảm” của tác phẩm (bị thu hồi, bị cấm) hoặc do tính chất “giao thoa” và còn gây tranh cãi về mặt thể loại do các tác giả tự định danh các tác phẩm của mình không phải là hồi kí văn học (hồi kí hay truyện hư cấu? hồi kí hay tiểu thuyết hư cấu? hồi kí hay tuỳ bút, tạp văn? Hồi kí hay chân dung văn học?), hoặc được viết từ trước 1986 khá lâu nhưng sau 1986 mới công bố (theo như thông tin mà chúng tôi được biết), nên chúng tôi tạm thời chưa đưa vào diện khảo sát (nghiên cứu) và vì thế cũng không đưa vào diện tổng quan tình hình nghiên cứu (như một số công trình nghiên cứu về hồi kí giai đoạn này đã làm - sẽ tường thuật ở phần sau) Đó là chưa kể những hồi kí của các tướng lĩnh, diễn viên, ca sĩ, chính trị gia,v.v… cũng không thuộc đối tượng quan tâm chính yếu của luận án

Tựu trung, trong khi nghiên cứu hồi kí của các tác giả riêng lẻ, các nhà nghiên cứu cũng có những liên hệ đến bối cảnh, sự phát triển chung của thể hồi kí trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay Đây là những gợi ý rất bổ ích cho đề tài của chúng tôi

1.3.2 Nghiên cứu hồi kí của một thời kì, một giai đoạn hoặc một nhóm tác giả ở Việt Nam, trong đó có giai đoạn từ 1986 đến nay

Điển hình cho hướng nghiên cứu này là các công trình: Kí trên hành trình Đổi mới (Đỗ Hải Ninh, 2006) [150]; Hồi kí và bút kí thời kì Đổi mới (Lý Hoài Thu, 2008) [199]; Hồi kí của một số nhà văn Việt Nam thời kì hiện đại (Phạm Thị Lan Anh, 2008) [2]; Đặc điểm của hồi kí văn học Việt Nam từ

1986 đến nay (Nguyễn Thị Thanh Thuý, 2011) [200]; Hồi kí trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay (Ngô Thị Ngọc Diệp, 2013) [32]; Chất tiểu thuyết trong hồi kí thời kì Đổi Mới (Trần Thị Hồng Hoa, 2016) [67], Đặc điểm hồi kí Việt Nam 1975 - 2000 của Nguyễn Quang Hưng

Trang 40

33

(LATS, 2016) [83],… Đây là những công trình có đối tượng và phạm vi nghiên cứu và một mặt nào đó có hướng tiếp cận gần gũi với luận án của chúng tôi Bởi vậy, ở đây, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích diện mạo, đóng góp

cụ thể của mỗi công trình

Bài viết của Đỗ Hải Ninh viết chung về kí thời kì Đổi mới (bao gồm phóng sự, tản văn, tiểu luận, hồi kí), nhưng có một mục khái quát về “sự nở rộ của thể hồi kí” Mục tuy ngắn nhưng tính khái quát của nó khá cao khi nó vạch ra được đường hướng phát triển, nguyên nhân, đặc điểm nội dung, nghệ thuật của hồi kí sau 1986 ở tầm tư duy nghệ thuật Vì thế, bài viết vừa mở đầu đồng thời cũng có ý nghĩa gợi mở và báo hiệu triển vọng của việc nghiên cứu hồi kí văn học giai đoạn này

Bài viết của Lý Hoài Thu cũng đã nêu một cách khái quát một số đặc điểm của thể hồi kí bên cạnh bút kí, đưa ra nhiều nhận xét lí thú về đặc điểm của hồi kí giai đoạn Đổi mới (sau 1986) Nhiều điểm trong đó khá nhất trí với bài viết của Đỗ Hải Ninh; song cũng có những điểm khác biệt khi mỗi bên chỉ

ra được những đặc sắc riêng của hồi kí giai đoạn này và vì vậy chúng bổ sung cho nhau rất tích cực và tạo nên dấu mốc quan trọng đầu tiên cho việc nghiên cứu hồi kí văn học sau 1986

Luận văn của Phạm Thị Lan Anh đã “khảo sát các trường hợp hồi kí cụ thể của các nhà văn như: Tô Hoài, Huy Cận, Xuân Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyên Hồng, Anh Thơ, Đặng Thai Mai và đưa ra một cái nhìn tương đối khái quát về giá trị nội dung cùng như các thủ pháp nghệ thuật mà các nhà văn sử dụng trong quá trình viết hồi kí Qua đó thấy được vai trò và vị trí của hồi kí văn học trong nền văn học Việt Nam hiện đại” (“Trích yếu luận văn”) Có thể thấy đa số các tác phẩm được khảo sát nằm ở giai đoạn sau 1986 đến nay Điều đó cho thấy hồi kí giai đoạn này chiếm vị trí quan trọng như thế nào trong hồi kí văn học hiện đại Nhưng luận văn mới chỉ khảo sát hồi kí của “một số” nhà văn, chưa khảo sát hồi kí cận-văn học, đặc

Ngày đăng: 27/12/2018, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w