Hơn 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển đường lối kinh tế đối ngoại của mình như: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á ASEAN, Diễn
Trang 1
Vinh - 2009
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
pgs Phan văn ban
Vinh - 2009
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của tập thể Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch sử, Khoa Sau Đại học trường Đại học Vinh, các bạn học viên Cao học 15 - Lịch sử thế giới
Nhân dịp này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
các Thầy Cô, đặc biệt là PGS Phan Văn Ban, người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài
Xin gửi tới toàn thể Thầy Cô giáo và các bạn lời chúc hạnh phúc
và thành đạt
Vinh, tháng 12 năm 2009
Học viên
Chu Thị ánh Tuyết
Trang 4A Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu sử dụng 7
6 Những đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục luận văn 8
B Nội dung 9
Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi (Từ nĂM 1986 đến nay) 9
1.1 Sự thay đổi của cục diện thế giới vào những thập niên cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXi 9
1.2 Tình hình châu Phi và chính sách đối ngoại của các nước châu Phi 13
1.2.1 Những thay đổi về chính trị, kinh tế - xã hội ở châu Phi 13
1.2.2 Chính sách đối ngoại của các nước châu Phi .19
1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các nước châu Phi 30
1.4 Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa nước CHXHCN Việt Nam và các nước châu Phi .35
Chương 2 Quá trình phát triển của quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi (từ NĂM 1986 đến nay) 39
2.1 Quá trình hình thành khung pháp lý cho phát triển thương mại của Việt Nam đối với các nước châu Phi 39
Trang 52.2.1 Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước châu Phi 43
2.2.2 Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ các nước châu Phi 60
2.3 Quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam với một số nước châu Phi 70
2.3.1 Quan hệ thương mại Việt Nam - Nam Phi 70
2.3.2 Quan hệ thương mại Việt Nam - Ai Cập 73
2.3.3 Quan hệ thương mại Việt Nam - Marốc 76
2.3.4 Quan hệ thương mại Việt Nam - Algeria 78
2.3.5 Quan hệ thương mại Việt Nam - Nigeria 80
2.3.6 Quan hệ thương mại Việt Nam - Tanzania 83
2.3.7 Quan hệ thương mại Việt Nam và một số nước châu Phi khác 85
Chương 3 Một số nhận xét về quan hệ hợp tác thương mại giữa việt nam với các nước châu phi (từ năm 1986 đến nay) 91
3.1 Những thành tựu và hạn chế 91
3.1.1 Thành tựu 91
3.1.2 Hạn chế .96
3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam với các nước châu Phi .97
3.2.1 Thuận lợi 97
3.2.2 Khó khăn 98
3.3 Triển vọng và giải pháp phát triển quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - các nước châu Phi 101
C Kết LUẬN 111
D tài liệu tham khảo 113
Trang 6E Phụ lục
Trang 7AU Liờn minh chõu Phi
ASEAN hiệp hội cỏc quốc gia Đông Nam Á
AGOA Điều luật tăng trưởng và cơ hội dành cho chõu Phi CPA hiệp ước đối tỏc Cotonou
CFA Đồng tiền chung châu Phi
COMESA khối thị trường chung Đụng Nam Phi
ECCaS cộng đồng kinh tế cỏc quốc gia Trung Phi
ECOwAS cộng đồng kinh tế cỏc quốc gia Tõy Phi
EU Liờn minh chõu Âu
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
MDGS Mục tiờu thiờn niờn kỷ
NEPAD Chương trỡnh đối tỏc mới vỡ sự phỏt triển chõu Phi
OAU Tổ chức thống nhất chõu Phi
ODA Viện trợ và phỏt triển
PCT Hiệp ước hợp tỏc và sỏng chế
PSC Hội đồng hoà bỡnh và an ninh chõu Phi
RPCS Cộng đồng kinh tế khu vực chõu Phi
SACU Liờn minh thuế quan miền Nam chõu Phi
SADC Cộng đồng phỏt triển Nam Phi
UEMOA Liờn minh kinh tế tiền tệ Tõy Phi
wTO Tổ chức Thương mại Thế giới
XNK Xuất nhập khẩu
FAO Tổ chức Nụng lương Thế giới
Trang 8a Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ hợp tác đã phát triển là xu thế hiện nay của thế giới, cũng là nhu cầu của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa, không một quốc gia nào muốn phát triển thịnh vượng mà lại “đóng kín cửa”, các nền kinh tế dù ở trình độ nào đều phải tiếp xúc với nhau để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau Nói cách khác, bất cứ một quốc gia nào muốn mở cửa nền kinh tế đều phải phát triển các mối quan hệ đối ngoại giữa nước mình với các nước khác, nhất là phát triển quan hệ kinh tế Đây là mối quan hệ quan trọng nhất không những đối với các nước kém phát triển, quan
hệ kinh tế đối ngoại còn hạn hẹp, mà cả đối với các nước phát triển, có nhiều mối quan hệ kinh tế trên toàn cầu Do vậy, phát triển mối quan hệ hợp tác, đặc biệt là hợp tác kinh tế, giữa các nước, các tổ chức quốc tế đã trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại, trở thành một xu thế tất yếu
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, Việt Nam đã nhanh chóng thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế để hòa nhập với bên ngoài, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Với mong muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, sẵn sàng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự ổn định, thịnh vượng và phát triển chung Hơn 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển đường lối kinh tế đối ngoại của mình như: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM), trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Bên cạnh việc tăng cường hợp tác kinh tế với các nước và các tổ chức trong khu vực, Việt Nam còn mở rộng quan hệ thương mại, tranh thủ nguồn viện trợ và vốn đầu tư của các nước cũng như các tổ chức quốc tế
Trang 9Trong đó, châu Phi được coi là một trong những chiếc nôi của nhân loại, nằm trên tuyến đường giao thông chiến lược quốc tế từ Đông sang Tây, nối Đại Tây Dương với ấn Độ Dương, châu á với châu Âu và châu Mĩ, có ý nghĩa quan trọng về cả kinh tế và quân sự Các nước châu Phi đang ngày càng trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam
Về phía các nước châu Phi, trước xu thế toàn cầu hóa và xu thế phát triển của thế giới, lấy kinh tế làm trung tâm, các nước châu Phi bắt đầu nhận thấy khu vực Đông Nam á (trong đó có Việt Nam) một tiềm năng hợp tác to lớn trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, các nước châu Phi đã có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại, tích cực đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác nhiều mặt với Đông Nam á, với Việt Nam Trong đó, quan hệ hợp tác kinh tế thương mại được đặc biệt chú trọng
Quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi trong thời gian qua đã có những thành tựu đáng khích lệ, triển vọng đầy hứa hẹn Tuy nhiên, quan hệ này về cơ bản vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực có của hai bên Nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách địa lý xa xôi, gây khó khăn cho các hoạt động trao đổi kinh tế - thương mại - đầu tư; tình hình chính trị xã hội các nước châu Phi vẫn còn thiếu ổn định, gây bất lợi cho quan hệ kinh tế trong khu vực cũng như ngoài khu vực; sự khác biệt về ngôn ngữ văn hóa, hệ thống pháp luật, tập quán kinh doanh tạo thành những rào cản hạn chế sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước châu Phi
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam và các nước châu Phi (từ 1986 đến nay) không chỉ mang
ý nghĩa khoa học mà còn đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra, đó là cung cấp những hiểu biết để làm căn cứ hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam với các nước châu Phi Việc nghiên cứu mối quan hệ
Trang 10hợp tác kinh tế Việt Nam với các nước châu Phi, rút ra những những bài học kinh nghiệm, vạch ra triển vọng, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy mối quan hệ đó lên một tầm cao mới, đó là việc làm cần được đẩy mạnh
Xuất phát từ thực tiễn nói trên, với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ vào việc nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Quan
hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi (từ 1986 đến nay)” làm nội dung chính cho luận văn tốt nghiệp
có những chuyển biến tích cực về kinh tế - chính trị nhờ có cải cách kinh tế
và mở rộng ra thế giới bên ngoài Tốc độ tăng trưởng ngày càng được cải thiện của châu Phi khiến châu lục này có nhu cầu rất lớn về công nghệ và hàng hóa từ thế giới bên ngoài Vì vậy việc nghiên cứu về châu lục này đã được đặt ra đối với các nhà sử học thế giới
Đối với giới nghiên cứu, giới sử học châu á, do điều kiện cụ thể việc nghiên cứu châu Phi khá muộn Đến thập niên 90 của thế kỷ 20, nghiên cứu châu Phi trở thành một bộ môn khoa học chuyên ngành
Một số nước đã thành lập các thành viên, các tổ chức chuyên nghiên cứu về châu Phi như Viện nghiên cứu châu Phi và Trung Đông ở Việt Nam Nhìn chung, các tác giả tập trung khai thác quá trình hình thành và phát triển của châu Phi, quá trình cải cách và những bước tiến về kinh tế của châu Phi
ở Việt Nam, việc nghiên cứu châu Phi chủ yếu tập trung ở Viện Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,
Trang 11Vụ châu Phi Tây á và Nam á thuộc Bộ Ngoại giao và một số cơ quan khác Các công trình đã được công bố:
1 - Hội nghị toàn cầu về hợp tác Việt Nam - Trung Đông - châu Phi
Tham luận và tài liệu tham khảo của Bộ ngoại giao xuất bản tháng 4/2007 - cuốn sách tập hợp các bài tham luận của các bộ, các ngành, các địa phương, các xí nghiệp nhằm đưa ra phương hướng và các biện pháp thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Trung Đông - châu Phi Ngoài ra, cuốn sách còn là nguồn tài liệu tham khảo về các thông tin cơ bản: Về một số quốc gia khu vực Tây á - châu Phi có quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam
2 - Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam
- châu Phi: thực trạng và giải pháp - Hà Nội ngày 5/2006 đề tài độc lập cấp
Nhà nước năm 2005 Cuốn sách này tập hợp những bài viết của các GS, PGS, tiến sĩ, thạc sĩ nhằm tập trung thảo luận một số vấn đề: Tiềm năng, vai trò vị trí của thị trường châu Phi đối với Việt Nam là như thế nào?; Những cản trở
và thách thức chủ yếu đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong phát triển quan hệ thương mại với châu Phi là gì? Chính phủ Việt Nam cần làm gì để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập và phát triển trên thị trường châu Phi? Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường châu Phi?
3 - Quan hệ hợp tác Việt Nam - châu Phi của tác giả Đỗ Đức Định -
Viện Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông - 2005, phân tích một cách toàn diện mối quan hệ hợp tác Việt Nam - châu Phi trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, du lịch trong sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực Trên cơ sở đó, tác giả dự đoán triển vọng hợp tác Việt Nam - châu Phi trong thời gian tới
4 - Tình hình kinh tế cơ bản của châu Phi Tác giả Đỗ Đức Định chủ
biên - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội 2006, là bức tranh toàn cảnh
Trang 12về tình hình chính trị và trình độ phát triển kinh tế của châu Phi cũng như những xu hướng phát triển chính của châu Phi Bên cạnh đó, cuốn sách còn đánh giá chung về khu vực châu Phi và quan hệ Việt Nam - châu Phi
5 - Thị trường một số nước châu Phi - cơ hội đối với Việt Nam - Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội - Hà Nội 2007, do tác giả Đinh Thị Thơm chủ biên Cuốn sách đã hệ thống hóa, phân tích những thông tin và tổng hợp những ý kiến không chỉ thuần túy và về phương diện kinh tế, thương mại mà cả về phương diện địa - kinh tế, lịch sử, văn hóa, xã hội Những yếu tố quy định tính đặc thù của thị trường châu Phi là gợi ý về giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và thị trường châu Phi
6 - Việt Nam và châu Phi: Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm và cơ hội
phát triển - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội 2007, do tác giả Đỗ Đức
Định - Greg milis đồng chủ biên Cuốn sách này nhằm ưu tiên cho cuộc thảo luận và trao đổi kinh nghiệm trong ba lĩnh vực quan trọng: cơ hội, kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, an ninh lương thực của Việt Nam và châu Phi Những bài học về tăng trưởng kinh tế kết hợp với xóa đói giảm nghèo; hiệu quả việc tiếp nhận và sử dụng viện trợ nước ngoài Đây là những vấn đề thiết yếu trong quá trình cải cách và hội nhập quan hệ của Việt Nam cũng như các nước châu Phi Cuốn sách là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các doanh nghiệp, nghiên cứu sinh và sinh viên các trường Đại học, cùng những người quan tâm đến sự phát triển củaViệt Nam - châu Phi
Tuy nhiên, đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam từ trước đến nay, vấn
đề này chưa thực sự được quan tâm đúng mức Các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt này hay mặt khác mà chưa đi sâu, chưa đề cập một cách toàn diện có hệ thống về quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi
Trang 13Vấn đề này còn được đề cập đến trong các báo (Thương mại, Nhân dân, Đầu tư ), tạp chí (Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông, Những vấn đề kinh tế thế giới, Quốc tế, Nghiên cứu Đông Nam á ) Trong mỗi bài viết, các tác giả nghiên cứu một số mặt có liên quan đến châu Phi hay đến mối quan hệ Việt Nam - châu Phi
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựng lại bức tranh tổng thể về quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi (từ năm 1986 - đến nay) chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng ấy, phân tích cơ hội, thách thức dự báo triển vọng phát triển của mối quan hệ Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân tích những nhân tố tác động tới mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi, trong đó tập trung làm sáng rõ sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của các nước châu Phi và quá trình đổi mới tư duy, triển khai đường lối đối ngoại đổi mới (đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế) của Đảng và Nhà nước ta dưới tác động của bối cảnh thế giới và khu vực
- Khái quát quan hệ hợp tác Việt Nam - các nước châu Phi, chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của thực trạng ấy, lấy đó làm cơ sở để phân tích quan
hệ hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam - các nước châu Phi trong giai đoạn
từ năm 1986 đến nay
- Dự báo triển vọng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan
hệ hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư kinh tế Việt Nam - các nước châu Phi trong thời gian tới
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - các nước châu Phi (từ 1986 đến nay) trong sự tác động của tình hình thế giới và khu vực dẫn đến việc điều chỉnh chiến lược mới của các nước châu Phi đối với châu á, Đông Nam á (trong đó có Việt Nam) và sự đổi mới đường lối đối ngoại của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, đề tài nghiên cứu đối tượng bắt đầu từ năm 1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng - là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ đổi mới đất nước Đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến tư tưởng, xã hội - trọng tâm là đổi mới về kinh tế Đảng cộng sản chủ trương mở cửa nền kinh tế để hoà nhập với bên ngoài, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Với mong muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, sẵn sàng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự ổn định, thịnh vượng và phát triển chung
Về không gian, được xác định cụ thể là nghiên cứu toàn diện mối quan
hệ hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam - các nước châu Phi
Quan hệ Việt Nam - các nước châu Phi mối quan hệ song phương và
đa phương Vì vậy trên cơ sở khái quát tình hình chung, đề tài đi vào phân tích quan hệ kinh tế thương mại cụ thể giữa Việt Nam và các nước châu Phi Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam với một số nước như Nam Phi, Algerie, Ma rốc, Ai Cập, Nigeria, Tanzania, Madagasca, Senegal, Libya, ) Đây là những đối tác kinh
tế chủ yếu của Việt Nam với các nước châu Phi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu sử dụng
5.1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 15- Luận văn dựa trên nền tảng lý luận chung là chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng ta về quan hệ quốc tế để giải quyết những vấn đề mang tính lý luận đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài
- Luận văn sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu cơ bản: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và các phương pháp cụ thể như: Phân tích, so sánh, tổng hợp
5.2 Nguồn tài liệu sử dụng
- Nguồn tài liệu lấy từ kết quả nghiên cứu của các viện nghiên cứu: Viện nghiên cứu châu Phi và Trung Đông, Viện Kinh tế thế giới
- Các tài liệu của Thông tấn xã, Thư viện Quốc gia, Học viện Quan hệ quốc tế, các Webside của Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại
- Các bài phát biểu, tuyên bố, trả lời phỏng vấn của các quan chức chính phủ Việt Nam, các nước châu Phi được đăng trên các báo, tạp chí (Báo Nhân dân, báo Thương mại, báo Đầu tư )
- Các bài viết đăng trên các báo và tạp chí (Tạp chí Quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới )
6 Những đóng góp của luận văn
Là công trình khoa học nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về quan hệ hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam - các nước châu Phi từ năm 1986 đến nay
- Đề tài nêu được những nền tảng căn bản mà trên đó hình thành và phát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi đồng thời làm sáng tỏ thực trạng của mối quan hệ này đúng như
nó đã và đang diễn ra
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập chuyên ngành và các ngành có liên quan
Trang 167 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác thương mại
giữa Việt Nam với các nước châu Phi (từ năm 1986 đến nay)
Chương 2 Quá trình phát triển của quan hệ hợp tác thương mại giữa
Việt Nam với các nước châu Phi (từ năm 1986 đến nay) Chương 3 Một số nhận xét về quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt
Nam với các nước châu Phi (từ năm 1986 đến nay)
B Nội dung Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Phi
Sự sụp đổ của hệ thống thế giới lưỡng cực đã buộc các quốc gia, trước hết là các cường quốc vào tình thế phải nhìn nhận và xây dựng lại đường lối phát triển và vị thế chiến lược của mình trong khi điểm tựa cho việc hoạch
Trang 17định chính sách là trật tự thế giới cũ đã bị phá vỡ còn trật tự thế giới mới lại chưa rõ ràng đối với nhận thức của chủ thể Thực tế thì trật tự thế giới mới được hình thành sau chiến tranh lạnh kết thúc đã được các nhà nghiên cứu đánh giá như một trạng thái quá độ của thế giới sang cấu trúc đa cực hoặc gọi
là "nhất siêu đa cường"
Hiện nay, sự vươn lên của Mỹ để thực hiện cái gọi là trật tự thế giới
"đơn cực" do Mỹ lãnh đạo Mỹ cho rằng, với sức mạnh tổng hợp của mình,
Mỹ hoàn toàn có thể thực hiện được mưu đồ này Song, âm mưu của Mỹ không dễ gì mà đạt được, bởi vì Mỹ không phải là quốc gia duy nhất tồn tại trên thế giới, cho nên xét đến cùng, sự vận động phát triển của Mỹ cũng không nằm ngoài sự vận động và phát triển của thế giới, không nằm ngoài ranh giới của các mối quan hệ quốc tế Và trên thực tế hiện nay, từ các xu hướng vận động khách quan của các mối quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh lại đang nổi bật lên tính chất đa cực của cục diện thế giới, nhất là về kinh tế Tính đa cực đó đang được thể hiện trước hết trong quan hệ giữa các nước lớn Ngoài Mỹ, các cường quốc thế giới, các trung tâm quyền lực khác đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn, hoặc về kinh tế - thương mại, hoặc
về chính trị - quân sự trong đời sống xã hội loài người Ngoài các cường quốc lâu đời đã xuất hiện các cường quốc mới nổi lên ở những khu vực khác nhau như: Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Âu những nước này ngày càng tỏ ra độc lập hơn trong quan hệ với Mỹ, chứ không cam chịu là "đối tác lép vế" của Mỹ
Thời kỳ này đặc điểm nổi bật là cuộc chạy đua vừa công khai, vừa không công khai giữa các nước để giành lấy quyền lực trong tương lai và cuộc chạy đua này đang diễn ra trong xu thế hoà bình vừa hợp tác, vừa kiềm chế lẫn nhau Có thể thấy rõ khi chiến tranh lạnh kết thúc, hầu hết các nước đều theo đuổi mục tiêu ổn định và phát triển, đặc biệt là tập trung vào phát
Trang 18triển kinh tế cho dù thế giới còn tồn tại nhiều nhân tố bất ổn định chưa xác định rõ ràng, các cuộc xung đột và chiến tranh cục bộ xảy ra ở một số nơi, song xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đang là xu thế nổi trội hiện nay của thế giới Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế chủ đạo của thế giới sau chiến tranh lạnh Làn sóng toàn cầu hoá đã và đang tập hợp các quốc gia trong các tổ chức của khu vực và sự liên kết giữa khu vực này với khu vực khác đang diễn ra sôi động ở khắp mọi nơi trên thế giới Toàn cầu hoá mà trước hết là toàn cầu hoá về kinh tế đã có những tác động sâu sắc, ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực khác của đời sống quốc tế Tính tuỳ thuộc của các quốc gia ngày càng tăng, một quốc gia, một dân tộc không thể một mình giải quyết nổi những vấn đề mang tính chất toàn cầu, mà ngược lại phải có sự hợp tác và phối hợp của nhiều nước nhiều quốc gia khác nhau Bởi vậy, mỗi quốc gia dân tộc trong bước tiến nhằm khẳng định vai trò,
vị thế của mình trên trường quốc tế đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của làn sóng toàn cầu hoá Toàn cầu hoá cuốn theo tất cả các nước phát triển, cũng như các nước đang phát triển, thậm chí cả các nước chậm phát triển, cho dù toàn cầu hoá tạo ra sự không cân xứng về nhiều mặt giữa các nước giàu với nước nghèo, giữa các lĩnh vực kinh tế và văn hoá Nhưng trước xu thế đó tất
cả các quốc gia đều phải chấp nhận bước vào một "sân chơi" chung mà hoàn
toàn không có quyền lựa chọn
Chúng ta đều biết kinh tế đã trở thành sức mạnh tổng hợp của các quốc gia là động lực chính của xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, nền kinh tế thế giới đã dần chuyển sang phát triển theo chiều sâu, ứng dụng những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học công nghệ Tất cả các nước đều thi hành chính sách mở cửa, kinh tế thị trường trở thành phổ biến trên thế giới Quá trình giao lưu hội nhập kinh tế giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ Tiền, kỹ thuật, thông tin, hàng hoá hầu như
Trang 19không còn bị cản trở bởi ranh giới quốc gia nữa, dường như không gian và thời gian đang dần bị thu hẹp lại
Trong thời kỳ chuyển tiếp này, các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển đều phải cố gắng để thích nghi với cục diện quốc tế Chiều hướng chung là thi hành một chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, tập hợp đồng minh, liên kết bạn bè trên cơ sở cùng
có lợi, coi việc cải thiện và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước lớn, các trung tâm chính trị - kinh tế trên thế giới
Trong bối cảnh đó, các nước đều nhận thấy vấn đề cấp bách hàng đầu
là phải ra sức tận dụng mọi điều kiện để có thể tập trung phát triển kinh tế, giải quyết những khó khăn, khủng hoảng bên trong Cách đặt vấn đề về an ninh, quốc phòng và kinh tế cơ bản cũng đã trở nên khác trước Sức mạnh tổng hợp của các quốc gia không chỉ tuỳ thuộc chủ yếu vào sức mạnh chính trị, quân sự mà còn phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế, kinh tế đang ngày càng đóng vai trò nổi bật hơn so với trước kia
Lợi ích của kinh tế đã trở thành động lực chính trong các mối quan hệ quốc tế song phương và đa phương, chính nhu cầu phát triển kinh tế đã vừa là động lực thúc đẩy các nước tiến hành cải thiện và phát triển quan hệ hợp tác, vừa là nhân tố làm gia tăng tình trạng cạnh tranh kinh tế, giữa các nước trong khu vực và trên thế giới
Nhìn chung, bắt đầu từ những năm 1990 thế giới đã bắt đầu bước sang thời kỳ mới, xu thế mới Xu thế xung đột đối đầu từ những thời kỳ trước đã không còn phù hợp nữa mà thay vào đó là xu thế đối thoại, hợp tác
để cùng nhau phát triển hoà bình lại đang dần giữ vai trò chủ đạo của bối cảnh thế giới hiện nay
Trang 20Chính sự thay đổi của bối cảnh quốc tế đã đặt ra vấn đề để các quốc gia, dân tộc phải tự điều chỉnh, tìm kiếm chiến lược phát triển phù hợp cho riêng mình Mỗi quốc gia, dân tộc tuỳ thuộc vào điều kiện và khả năng nội lực của mình để khai thác và tiếp nhận những tác động tích cực, và hạn chế những mặt tiêu cực do khu vực hoá và toàn cầu hoá đem lại Nhưng có một điều chắc chắn rằng các quốc gia, dân tộc không chỉ đơn thuần thực hiện các điều chỉnh về kinh tế - xã hội mà còn tiến hành cải cách cả hệ thống hoàn chỉnh về nền chính trị an ninh của đất nước để phù hợp với sự phát triển của thời đại
Trước những tác động mạnh mẽ của bối cảnh quốc tế mới, Việt Nam
đã tiến hành cải cách đất nước, đổi mới đường lối đối ngoại từ Đại hội Đảng năm 1986, đưa đất nước phát triển theo đúng xu thế của thời đại
Không riêng gì Việt Nam, đối với các quốc gia ở khu vực châu Phi cũng vậy Sự thay đổi của cục diện thế giới đã làm cho tình hình chính trị, kinh tế ở các quốc gia châu Phi khởi sắc hẳn lên
1.2 Tình hình châu Phi và chính sách đối ngoại của các nước châu Phi
1.2.1 Những thay đổi về chính trị, kinh tế - xã hội ở châu Phi
Trong tiến trình phát triển của nhân loại, châu Phi đã đóng một vai trò hết sức quan trọng Nơi đây được xem là cái nôi của loài người, vùng Đông Phi được xem là điểm xuất phát của quá trình chuyển biến từ vượn thành người, đây cũng là cái nôi của nền văn minh nhân loại, với những nền văn minh phát triển rực rỡ, đặc biệt là văn minh Ai Cập với những kim tự tháp kỳ
vĩ và bí ẩn Châu Phi - một châu lục lớn với tổng diện tích hơn 30 triệu km2, chiếm 1/3 diện tích đất liền của toàn cầu, hơn 800 triệu dân Châu Phi là châu lục lớn thứ 3 thế giới sau châu á, châu Mỹ Châu Phi có vị trí địa chính trị rất quan trọng, giàu tài nguyên khoáng sản, đất đai phì nhiêu còn chưa được khai thác Hiện châu Phi có 17 loại khoáng sản có trữ lượng đứng đầu thế giới
Trang 21như: kim cương, vàng, cô ban, crôm, uranium, dầu mỏ, khí đốt ; chiếm tới 70% trữ lượng cô ban, trên 50% platium, gần 50% kim cương, 10% dầu khí, 67% vàng Bên cạnh đó nguồn nông sản của châu Phi cũng hết sức giàu có như ca cao, cây có sợi, đậu tương Với tất cả những gì mình có, châu Phi đã trở thành miền đất hứa của tất cả các nước đế quốc xâm lược, kẻ nào cũng muốn chiếm được khu vực giàu có này
Vì vậy, mà trong tiến trình phát triển lịch sử của mình châu Phi đã sớm trở thành nơi tranh giành của chủ nghĩa thực dân Ngay từ những thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX lần lượt từ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cho đến người Anh, Pháp đã tiến hành "tranh giành châu Phi" và kết quả là các quốc gia châu Phi đã lần lượt trở thành các nước thuộc địa hay phụ thuộc, phải chịu ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân Anh và Pháp Cho nên mặc
dù châu Phi có nhiều tài nguyên, khoáng sản và đã có những bước tiến khổng
lồ trong lĩnh vực văn hoá, nhưng dưới ách áp bức nặng nề và chính sách khai thác dã man của thực dân phương Tây cho nên đời sống của nhân dân châu Phi vẫn hết sức đói nghèo, lạc hậu
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Phi phát triển mạnh mẽ, đỉnh cao là năm 1960, 17 nước ở Tây Phi, Đông Phi và Trung Phi đã giành được độc lập, được lịch sử ghi nhận là "năm châu Phi" Phát huy tinh thần đấu tranh, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra trong những năm tiếp sau đó, và cuối cùng nhân dân các nước châu Phi cũng đã giành được thắng lợi trong công cuộc đấu tranh đánh đổ nền thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, mang lại hoà bình, độc lập cho người dân châu Phi
Ngay sau khi thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, các nước châu Phi đều bắt tay ngay vào công việc xây dựng, phát triển đất nước, mặc
dù còn những khó khăn, thử thách như: nợ nần chồng chất, bệnh tật, nội
Trang 22chiến kéo dài liên miên, mâu thuẫn sắc tộc,tôn giáo Trước bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực thay đổi, các nước châu Phi không ngừng tìm kiếm các giải pháp để khắc phục những khó khăn, đồng thời tìm ra con đường để phát triển đất nước; với sự giúp đỡ nhiệt tình của cộng đồng quốc tế, cũng như các tổ chức quốc tế Các nước châu Phi đã tiến hành cải cách đất nước và bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể
Trong lĩnh vực chính trị, những cải cách từ thập niên 1990 đã mang lại nhiều thay đổi đáng kinh ngạc tại khu vực này Hầu hết các nước châu Phi đều học tập mô hình phương Tây chuyển sang chế độ dân chủ đặc biệt là sau khi Liên Xô sụp đổ ở nhiều nơi chế độ chính trị mới đã được thiết lập, bầu
cử đa đảng được tiến hành Nếu vào năm 1988 các nhà nước một đảng và các chính phủ độc tài quân sự nắm vị trí chủ đạo ở châu Phi (29 nước theo chế độ một đảng, 10 nước theo chế độ độc tài quân sự) thì đến năm 1999 hệ thống chính trị ở châu Phi đã có những biến đổi sâu sắc Vào thời điểm này các cuộc bầu cử theo chế độ đa đảng đã tăng lên, các thể chế chính trị độc tài đã giảm chỉ còn 3 nước Đến năm 1995 có rất nhiều nước châu Phi đã tổ chức được các cuộc bầu cử cạnh tranh tự do và công bằng một cách hợp pháp Chúng ta có thể kể đến sự thắng lợi của Nelson Mandela năm 1994, là vị tổng thống da màu đầu tiên lên nắm quyền ở Nam Phi, nhờ cuộc đấu tranh lâu dài
và quyết liệt chống chế độ phân biệt chủng tộc của nhân dân Nam Phi
Đa số các nước châu Phi xây dựng nhà nước theo thể chế cộng hoà tổng thống đa đảng.Từ năm 1990 đến nay có 40 quốc gia thi hành chế độ dân chủ đa đảng Năm 1999, Nigiêria là nước Tây Phi đầu tiên tiến hành bầu cử tổng thống đa đảng, đặt dấu chấm hết cho sự thống trị độc tài quân sự tồn tại
từ năm 1963 Angiêri đã tiến hành bầu cử quốc hội đa đảng năm 1997 Cộng hoà Nam Phi tổ chức thành công cuộc tổng tuyển cử đa đảng lần thứ 2 vào năm 1999 Nhiều nước châu Phi đã thành lập hội nghị toàn quốc và hội đồng
Trang 23tối cao trên cơ sở tham gia của nhiều lực lượng chính trị khác nhau Một số nước còn tham gia trưng cầu dân ý để từ bỏ chế độ một đảng Nhìn chung cải cách chính trị ở châu Phi trong những năm 1990 đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận Kết quả của việc chuyển đổi sang chế độ chính trị dân chủ đa đảng tuy không đồng đều trong châu lục, song xu thế dân chủ hoá chính trị đang là xu thế nổi trội và thắng thế ở châu Phi.Tuy nhiên, việc chuyển qua chế độ đa đảng và kinh tế thị trường cũng có tính tích cực và hạn chế của nó
Một trong những cải cách có ý nghĩa gần đây là việc thành lập Nghị viện châu Phi theo mô hình EU nhằm đảm bảo sự tham gia đầy đủ của người dân trong điều hành phát triển và hội nhập kinh tế Liên minh châu Phi đã thúc đẩy, nâng cao dân chủ và tinh thần trách nhiệm thông qua việc thực hiện các chính sách và tiêu chuẩn nhằm đem lại sự ổn định chính trị, phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Bên cạnh những cải cách về chính trị, các nước châu Phi cũng đã có rất nhiều nỗ lực để ngăn chặn xung đột vũ trang, xây dựng hoà bình và gìn giữ
an ninh trên châu lục của mình Cơ chế giải quyết xung đột hữu hiệu nhất của châu Phi hiện nay là Liên minh châu Phi (AU) và Tổ chức đối tác mới cho sự phát triển ở châu Phi (NEPAD)
Năm 2004 AU đã tiến hành hội nghị cấp cao và tại đây đã chính thức thành lập các cơ quan quan trọng như: Hội đồng hoà bình và an ninh châu Phi (PSC), Nghị viện châu Phi, Toà án châu Phi vì quyền con người và quyền các dân tộc Hội đồng hoà bình và an ninh châu Phi theo kế hoạch sẽ thành lập lực lượng thường trực để bố trí tại năm khu vực của châu Phi, nhằm can thiệp, ngăn chặn các cuộc xung đột, giải quyết các cuộc khủng hoảng nhân đạo, điển hình như ở Xu đăng, Côngô, Bờ Biển Ngà NEPAD cũng đặt ra mục tiêu xây dựng các trung tâm giải quyết xung đột địa phương, triển khai
Trang 24xây dựng các hệ thống cảnh báo xung đột ở các địa phương, các quốc gia, các tiểu khu vực và tiến tới là trên toàn châu lục
Như vậy, với sự giúp đỡ tận tình của cộng đồng quốc tế, các tổ chức, các khu vực và sự nỗ lực không ngừng của mình tình hình chính trị đã có những tiến triển đáng mừng, căng thẳng được giảm đi, nhiều điểm nóng được
hạ nhiệt, hoà bình còn chưa chắc chắn nhưng cũng đã tạm dịu đi ở một số điểm nóng của khu vực Châu Phi đã và đang trên đà thành công trong việc tạo ra được môi trường an ninh hoà bình của khu vực, đây chính là một trong những điều đã tạo ra sức hút của châu lục này, làm cho châu Phi trở nên mạnh mẽ hơn
Trong lĩnh vực xã hội: sau khi giành được độc lập điều được các quốc gia châu Phi quan tâm nhất đó chính là vấn đề đời sống xã hội của châu lục, bởi vì với một thời gian dài sống trong tình trạng bóc lột của thực dân, người dân châu Phi đã phải chịu một cuộc sống nghèo đói khổ cực, dịch bệnh hoành hành, sống dưới mức sống của một con người Cho nên việc cải cách xã hội cũng đã được đặt ra một cách cấp bách, điều thay đổi trước trên đáng được ghi nhận đó là sự công nhận về quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung và việc đề cao quyền và vị thế của phụ nữ nói riêng ở nhiều quốc gia châu Phi Tỉ
lệ phụ nữ tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước và các tổ chức chính trị ở châu Phi ngày càng được tăng lên Nữ tổng thống đầu tiên đã được bầu ra
ở Libêria năm 2006 là một điều đáng mừng cho phụ nữ ở châu lục này Châu Phi cũng đang phấn đấu để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ (MDGS) mà châu lục này đã đưa ra vào năm 2002 tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc, trong đó các nước này đã đề ra 8 mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ đã được 189 quốc gia tán thành và phải được hoàn thành vào 2015 Đó là:
Trang 251 Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói; giảm một nữa tỷ lệ dân có mức sống dưới 1 USD mỗi ngày, giảm một nửa tỷ lệ người dân bị thiếu đói
2 Đạt phổ cập giáo dục tiểu học: đảm bảo cho tất cả trẻ em trai và trẻ
em gái học hết tiểu học
3 Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ, xoá bỏ sự phân biệt giới tính trong học đường ở cấp tiểu học và trung học tốt nhất vào năm 2005 và tất cả các cấp vào năm 2015
4 Giảm tỉ lệ tử vong trẻ em: Giảm 2/3 tỉ lệ tử vong ở các bà mẹ trong giai đoạn từ 1990 - 2015
5 Nâng cao sức khoẻ cho bà mẹ
6 Phòng chống HIV/AIDS sốt rét và các bệnh khác Ngăn chặn và cố gắng đẩy lùi sự lây lan của HIV/AIDS vào năm 2015, ngăn chặn, đẩy lùi tỉ lệ mắc bệnh sốt rét và các bệnh nguy hiểm khác
7 Đảm bảo bền vững về môi trường Đưa ra các nguyên tắc phát triển bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia; Đẩy lùi tình trạng thất thoát về tài nguyên môi trường Giảm 1/2 tỉ lệ người dân không được tiếp cận thường xuyên với nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2015, cải thiện đáng
kể cuộc sống của ít nhất 100 triệu người sống ở các khu vực dân cư nghèo vào năm 2020
8 Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển
Trong lĩnh vực kinh tế: chính những tiến bộ đạt được về mặt chính trị
xã hội đã có những tác động đến sự thay đổi về mặt kinh tế
Mặc dù đã giành được độc lập nhưng nền kinh tế của châu Phi đang còn chứa đựng đầy rẫy những bất cập đó là: Tình trạng quản lí yếu kém của các chính phủ châu Phi, cơ cấu kinh tế bất hợp lý, bất bình đẳng, do nợ nần chồng chất, do nghèo đói dịch bệnh, lạc hậu thiếu tri thức đang bao trùm lên
Trang 26số đông dân cư ở khu vực Do vậy sau khi chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập niên 1990 cũng là lúc châu Phi cần đến sự giúp đỡ của cộng đồng quốc
tế và các tổ chức trong khu vực, đồng thời châu Phi phải chấp nhận những điều kiện của các thể chế tài chính quốc tế, và các nhà bảo trợ nước ngoài để bước vào kỷ nguyên mới như thay đổi chính sách kinh tế, thực hiện tự do hoá, mở cửa thị trường cho luồng vốn đầu tư quốc tế và tư bản trong nước chảy và giảm bớt vai trò của nhà nước trong quản lí kinh tế Chương trình cải cách được thực hiện từ năm 1990 ở các nước châu Phi, với hai mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo
Năm 1991, Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) quyết định thành lập Cộng đồng kinh tế châu Phi Mục tiêu chung của tổ chức này là thiết lập một thị trường chung châu Phi trong đầu thế kỷ XXI Dự kiến đến năm 2015 cả châu Phi sẽ có một thị trường nội bộ, một Ngân hàng TW và một đồng tiền thống nhất Năm 2001, 53 nước châu Phi đã tham gia chương trình “Chương trình đối tác mới vì sự phát triển châu Phi” viết tắt là NEPAD Nhờ những biện pháp trên, đến giữa những năm 90 nền kinh tế các nước châu Phi bắt đầu
có những dấu hiệu lạc quan Kinh tế châu Phi đã có mức tăng trưởng 3,3%, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5% (năm 1996), lạm phát đang được kiềm chế thâm hụt ngân sách giảm xuống 1,7% GDP thấp nhất trong vòng 10 năm qua Môi trường đầu tư trở nên tốt hơn, ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến "châu lục đen" do những yếu tố hấp dẫn của nó
So với nhiều khu vực chỉ số cạnh tranh dù còn thấp nhưng cũng đã có những thay đổi tích cực Ngày càng có nhiều nước lên bậc về thứ hạng cạnh tranh Ghana năm 2004 đứng thứ 68 tăng 3 bậc so với năm 2003 Tuy còn có nhiều những mặt hạn chế trong chiến lược phát triển kinh tế, nhưng nhìn vào những tiến bộ mà các nước châu Phi đã và đang đạt được làm cho nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới hoàn toàn có cơ sở để tin vào tương lai của
Trang 27một mối quan hệ hợp tác phát triển tốt đẹp với châu lục này Nhờ vào sự phát triển và thay đổi theo xu thế của thời đại hội nhập, mà châu Phi đã dần khẳng định được vai trò và vị thế của mình trên trường quốc tế, đưa châu Phi trở thành một châu lục mạnh, xứng đáng với những tiềm năng sẵn có của mình
Trong những năm gần đây, kinh tế châu Phi có những bước tăng trưởng khá cao, bỡnh quõn 6%/năm, ngay khi đối mặt với suy thoái kinh tế năm 2009 thỡ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) vẫn dự báo mức tăng trưởng GDP của châu Phi có thể đạt 4,9% Chính điều này đó và đang hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư, nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh việc kinh doanh, trao đổi thương mại với thị trường châu Phi
1.2.2 Chính sách đối ngoại của các nước châu Phi
Sau chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình quốc tế có nhiều sự thay đổi Đối thoại, hợp tác giữa các nước, các khu vực trở thành xu thế chung của thời đại Nhân tố khách quan đó đã buộc các nước châu Phi tiến hành cải cách đất nước trên tất cả các lĩnh vực, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở Vì vậy,
từ thập kỷ 1990 các nước châu Phi tích cực cải cách kinh tế, mở cửa hội nhập chuyển qua nền kinh tế thị trường, đề ra nhiều sáng kiến trong việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại cũng như thay đổi các chính sách thương mại và
đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ
1.2.2.1 Chính sách thay thế nhập khẩu và hạn chế thương mại ở các nước châu Phi
Bắt đầu từ nhập niên 1950, và đặc biệt trong suốt hai thập niên 1960 và
1970, hầu hết các nước đang phát triển lựa chọn chiến lược thay thế nhập khẩu Mục tiêu là sản xuất các hàng tiêu dùng trước đó phải nhập khẩu từ bên ngoài Tuy thế nhập khẩu được xem là biện pháp phục hồi kinh tế và giảm sự phụ thuộc vào các thế lực thực dân bằng cách đa dạng hoá cơ cấu sản xuất
Trang 28Các chiến lược này thực hiện kèm với chính sách hạn chế thương mại và bảo
hộ mạnh các ngành công nghiệp non trẻ trong nước
Giống như các nước đang phát triển, các quốc gia châu Phi đã đặt chính sách thay thế nhập khẩu làm trọng tâm của chiến lược phát triển trong thập niên 1960 và 1970 Châu Phi đã phát triển các ngành sản xuất hàng hoá tiêu dùng như xay bột mì, sản xuất đường, các nhà máy đóng gói thực phẩm
và đồ uống, chế biến cà phê Ngành công nghiệp dệt cũng được phát triển mạnh ở nhiều nước châu Phi Một số nhà máy sản xuất thép cũng được xây dựng Các ngành khác cũng phát triển như sản xuất các máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp nhỏ, công nghiệp sản xuất sơn và các nhà máy cơ khí lắp ráp
Chiến lược phát triển thay thế nhập khẩu cho phép châu Phi đạt tốc độ phát triển cao vào cuối thập niên 1960 và đặc biệt trong thập nhiên 1970 Tốc
độ tăng trưởng GDP công nghiệp trung bình đạt 5,5% trong giai đoạn 1970 -
1980 Sau đó đạt mức âm trong giai đoạn 1980 - 1984 ( - 2%) và trong giai đoạn 1984 - 1987 tăng trưởng rất thấp (0,4%) Tỷ trọng các ngành sản xuất trong cơ cấu GDP tăng mạnh, mặc dù nông nghệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong các nền kinh tế châu Phi, và vai trò của công nghiệp tăng nhanh Sự phát triển của các ngành chế tạo làm tăng cung lao động trong ngành công nghiệp Do vậy chiến lược thay thế nhập khẩu đã cho phép các quốc gia đặt nền móng đầu tiên cho sự nghiệp hiện đại hoá cơ cấu kinh tế thuộc địa
Tuy nhiên, chính sách thay thế nhập khẩu đã sớm bộc lộ hạn chế giống như ở các nước khác trên thế giới Lưu ý rằng các ngành thay thế nhập khẩu phát triển mạnh trong thập niên 1970 nhờ giá nguyên liệu quốc tế tăng mạnh,
do vậy Chính phủ các nước đang phát triển sử dụng nguồn thu từ xuất khẩu nguyên liệu thô để hỗ trợ cho các ngành thay thế nhập khẩu
Trang 29Cuộc khủng hoảng nợ đầu những năm 1980 đã đặt dấu chấm hết cho chiến lược thay thế nhập khẩu, và Chính phủ các nước châu Phi bắt đầu hướng đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu
1.2.2.2 Chính sách tự do hoá thương mại, tự do hoá nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu của các nước châu Phi
Đầu thập niên 1980, các chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế (SAPs) của châu Phi bắt đầu được triển khai với chiến lược mở cửa kinh tế Từ giữa thập niên 1980, hầu hết các nước châu Phi áp dụng các chương trình điều chỉnh cơ cấu thông qua hỗ trợ của IMF và World Bank Chính sách thương mại của châu Phi cũng thay đổi mạnh mẽ theo các chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế Tự do hoá thương mại quốc tế được đẩy mạnh với việc giảm các hàng rào thuế quan và giảm thuế nhập khẩu Chính sách mở cửa ngoại thương có 3 phần có quan hệ chặt chẽ với nhau là tự do hoá hội nhập, thúc đẩy xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế
a Tự do hoá nhập khẩu, cắt giảm hàng rào bảo hộ thương mại ở các nước châu Phi
Đối với tự do hoá nhập khẩu, các quốc gia châu Phi đã thực hiện giảm hàng rào phi thuế quan và giảm thuế nhập khẩu đáng kể
Về thuế nhập khẩu: Bắt đầu từ thập niên 1980 và đặc biệt từ nửa cuối
thập niên 1990 đến nay, các quốc gia châu Phi trong nỗ lực tự do hoá ngoại thương dưới sức ép của Mỹ, EU và các cam kết hội nhập WTO đã thực hiện cắt giảm thuế quan đối với hàng nhập khẩu Vào năm 1900, IMF đã đánh giá 75% các nước châu Phi thuộc nhóm các nước có chính sách hạn chế thương mại, đến năm 2005, chỉ còn 14% các nước châu Phi thuộc nhóm này [55,114]
Để cắt giảm thuế quan nhập khẩu, nhiều bước đi đã được thực hiện Thứ nhất là việc giảm số lượng các thuế suất, phần lớn các nước châu Phi hiện nay đã giảm số lượng các loại thuế suất xuống còn từ 4 - 5 mức thuế
Trang 30Thứ hai là việc giảm sự phân tán của thuế quan đã được các quốc gia châu Phi tiến hành mạnh mẽ vào nửa cuối thập niên 1990 Mặc dù hiện nay, vẫn còn một số trường hợp đặc biệt như Nam Phi (và các nước thành viên SACU) với mức thuế quan dao động từ 0 - 72%, hiện Nigeria với mức thuế quan từ 0
- 200% Bước thứ ba cắt giảm mức thuế suất có hiệu lực trung bình đã được hầu hết các quốc gia thực hiện, đặc biệt từ giữa thập niên 1990 đến nay
ở Tây Phi, các nước thuộc khối UEMOA đã áp dụng chế độ thuế quan chung để thành lập liên minh thuế quan Tây Phi Các nước thành viên như Benin Burkia Faso Bờ Biển Ngà, Mali, Niger, Senegal và Tôgo đã giảm thuế quan trung bình xuống còn 12% trong giai đoạn 1994 - 1998, với khoảng dao động là 0 - 20% Chỉ có Nigeria là nước Tây Phi duy nhất với tỷ
lệ thuế quan trung bình ở mức cao là 30%, và mức thuế tối đa lên đến 150% Các nước thành viên khối ECOWAS đã quyết định áp dụng chế độ thuế quan chung (CET) giống như UEMOA, tuy nhiên chế độ này chưa được thực hiện đầy đủ Một số nước như Ghana và Ghinê đang tiếp tục triển khai các chương trình tự do hoá thương mại song phương nên vào thời điểm 2002, mức thuế quan trung bình đã là 14,6% ở Ghana và 6,5% ở Ghinê Tuy nhiên Ghana vẫn
có mức thuế tối đa rất cao, lên đến 27,9% ở Trung Phi, các nước khối CEMAC như Cameroon, CH Trung Phi, Chad, Congo, Ghinê xích đạo và Gabon đã thực hiện giảm thuế nhập khẩu trung bình xuống còn ở mức 18%, thuế nhập khẩu dao động trong khoảng 0 - 30%
ở Đông Phi và Nam Phi, nhiều quốc gia đã giảm thuế nhập khẩu xuống
ở mức thấp như Madagascar (5,7%), Malawi (13,4%), Rwanda (9,9%), Uganda (18,3%), Zambia (14%) Tuy nhiên còn nhiều nước có mức thuế trung bình cao trên 20% như Djibouti (30,8%) và Seychells (28,3%) ở các quốc gia Nam Phi còn lại như Botswana, Lesotho, Mozambique, Namibia,
Trang 31Nam Phi và Swaziland đều giảm mức thuế trung bình xuống khoảng 11,4% vào năm 2002
Mặc dù trong thời gian qua, tốc độ cắt giảm thuế quan ở châu Phi khá nhanh, thuế nhập khẩu ở các nước châu Phi vẫn bị xem là tương đối cao so với các nước đang phát triển khác Ta thấy mức thuế quan trung bình khi áp dụng MFN của châu Phi đã giảm trong giai đoạn 1997 - 2004, giảm từ 21,6% xuống còn 17,2% Tuy nhiên đến nay vẫn còn khá cao so với các nước đang phát triển khác và cao hơn nhiều so với mức trung bình của các nước đang phát triển (11,6%)
Đối với hàng rào phi thuế quan, các nước châu Phi là những nước áp
dụng rất nhiều hàng rào phi thuế quan trong việc hạn chế nhập khẩu từ bên ngoài Các công cụ áp dụng bao gồm giá tối thiểu cho nhập khẩu, các loại phí, các công cụ chống phá giá, các công cụ đối kháng, yêu cầu thanh toán trước, áp dụng tỷ giá hối đoái đa dạng, hạn chế hối đoái, các quy định về điều khoản thanh toán, không áp dụng quy chế cấp phép tự động, các loại hạn ngạch, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, quy định thông quan chặt chẽ, các kiểm soát, hàng rào kỹ thuật và các dạng hạn chế khác theo các số liệu gần đây nhất, hàng rào phi thuế quan ở các nước châu Phi cao gấp 4 lần so với các nước công nghiệp hoá Theo Marian L.Tupy (2005), tỷ lệ các hàng hoá nhập khẩu vào châu Phi phải chịu các biện pháp bảo hộ phi thuế quan ở châu Phi là 39% (đối với các nước thu nhập thấp) và 13,7% (đối với các nước có thu nhập trung bình) Trong khi tỷ lệ này ở các nước đang phát triển trung bình là 23,5% và đối với các nước thu nhập cao không phải là thành viên OECD là 9,4% Đối với sản phẩm nguyên liệu thô cũng như sản phẩm chế tạo, châu Phi vẫn là châu lục có mức độ hàng rào bảo hộ phí thuế quan lớn nhất
Về các thủ tục hải quan: Thủ tục hải quan ở các nước châu Phi có đặc
điểm là đòi hỏi rất nhiều chứng từ và hồ sơ, các thủ tục lạc hậu, mức độ tự
Trang 32động hoá kém và đặc biệt ít ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan, thiếu tính trong sáng rõ ràng, khả năng dự toán cũng như tính thống nhất ổn định, đồng thời cũng thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan, chính phủ Kết quả là các nhà nhập khẩu cũng như xuất khẩu rất tốn thời gian và tiền bạc cho thủ tục thông quan ở châu Phi Thời gian chờ đợi trung bình ở cửa khẩu từ 10
- 30 ngày và hơn nữa là điều rất phổ biến ở châu Phi
Theo các cuộc khảo sát doanh nghiệp quốc tế năm 2002, 2003, 2004
và 2005 của Tổ chức Ngân hàng Thế giới (World Bank), châu Phi là châu lục có thời gian làm thủ tục thông quan xuất khẩu dài nhất thế giới Thời gian cần thiết để thực hiện thông quan cho xuất khẩu ở châu Phi là 48.6 ngày, thời gian cần thiết cho thông quan nhập khẩu là 60.5 ngày Trong khi thời gian này ở Đông á là 25.8 và 28.6 ngày, ở châu Âu và Trung á là 31.6
và 43 ngày, ở các nước OECD là 12.6 và 14 ngày Cá biệt có những mức ở châu Phi thời gian chờ thông quan nhập khẩu lên đến 4 tháng như Burundi,
CH Trung Phi, Chad [55,118]
- Các thủ tục cần thiết cho xuất nhập khẩu ở châu Phi cũng phức tạp nhất thế giới Số lượng chứng từ trung bình cần thiết cho nhập khẩu ở châu Phi là 12.8, số chữ ký của các cơ quan hành chính để thông quan nhập khẩu trung bình ở châu Phi là 30 Trong khi đó, số lượng chứng từ và chữ kỹ cần thiết cho thủ tục nhập khẩu ở Đông á là 10.3 và 9, ở OECD là 7 và 3.3
b Thúc đẩy xuất khẩu
Đối với thúc đẩy xuất khẩu, nhiều biện pháp mạnh đã được triển khai
để khuyến khích khả năng xuất khẩu của các nền kinh tế châu Phi Trước đó, xuất khẩu bị hạn chế bởi 5 cơ chế: Thuế nhập khẩu cao (gián tiếp ảnh hưởng đến xuất khẩu), giấy phép xuất khẩu, thuế xuất khẩu, giá tối thiểu và việc nâng giá đồng nội tệ Các cuộc cải cách đã dỡ bỏ hầu hết các cơ chế này ở
Trang 33nhiều quốc gia châu Phi Hơn nữa, các quốc gia châu Phi đã dịch chuyển dần
từ chính sách kiểm soát xuất khẩu sang chính sách thúc đẩy xuất khẩu
Trong bối cảnh nhiều quốc gia theo đuổi chiến lược phát triển hướng ngoại, một chính sách xuất khẩu hợp lý sẽ đảm bảo các nhà xuất khẩu có thể tiếp cận với nguồn nhập khẩu đầu vào ở mức giá cả của thị trường thế giới Điều này đồng nghĩa với việc cung cấp quy chế tự do thương mại đối với hoạt động xuất khẩu Tuy nhiên điều này là không thể đối với các nước châu Phi khi hầu hết các quốc gia này vẫn duy trì một mức độ bảo hộ nhất định thông qua các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Để giải quyết mâu thuẫn này, các quốc gia châu Phi đã sử dụng cơ chế thương mại tự do cho xuất khẩu gián tiếp thông các biện pháp như giảm/miễn thuế nhập khẩu đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu, xây dựng các kho ngoại quan cho đầu vào của các doanh nghiệp xuất khẩu, hay thành lập những khu chế xuất
Nhiều quốc gia châu Phi như Bờ Biển Ngà, Kenya, Madagasca, Mauritius, Nigeria, Senegal và Zimbabwe đã xây dựng và thực hiện các cơ chế giảm và miễn trừ thuế nhập khẩu đối với hàng nguyên liệu đầu vào cho xuất khẩu Một số nước cũng áp dụng cơ chế hoàn thuế đối với nguyên liệu cho xuất khẩu Tuy nhiên, đánh giá chung của nhiều chuyên gia nghiên cứu thì các cơ chế này chưa thực sự phát huy hiệu quả trong thúc đẩy xuất khẩu của các nước châu Phi do cơ chế quản lý còn yếu kém, dẫn đến chậm trong thủ tục giảm, miễn trừ hoặc hoàn thuế nhập khẩu, hoặc gây ra tình trạng tham nhũng, trốn lậu thuế
Nhiều quốc gia châu Phi khác cũng xây dựng các khu chế xuất, khu vực tự do thương mại hoặc thành lập các kho ngoại quan để hỗ trợ tiếp cận các nguồn nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, máy móc tư liệu sản xuất cho các ngành xuất khẩu như Cameroon, Kenya, Lesotho, Liberia, Madagasca, Nigeria, Togo và Senegal Tuy nhiên thành công nhất là các khu tự do thương
Trang 34mại ở Mauritius Quốc gia này đã sử dụng các khu tự do thương mại để thu hút đầu tư nước ngoài và xây dựng các cơ sở công nghiệp Từ kinh nghiệm của Mauritius, có thể thấy khu vực tự do thương mại là một cơ chế có hiệu quả nhất trong thúc đẩy xuất khẩu, đặc biệt khi kết hợp với các chính sách hỗ trợ khác như xúc tiến thị trường, xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
1.2.2.3 Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia châu Phi
Bên cạnh các nỗ lực hội nhập đa phương, nhiều sáng kiến hội nhập vùng đã được đề xuất trong bối cảnh nhiều quốc gia châu Phi đã được các nước công nghiệp hỗ trợ các ưu đãi tiếp cận thị trường Sáng kiến đầu tiên là Công ước Lomé trong đó một nhóm các quốc gia châu Phi, Caribe và châu á Thái Bình Dương (ACP) được EU ưu đãi tiếp cận thị trường Sau 25 năm, Công ước Lomé được chuyển thành Hiệp ước đối tác Cotonou (CPA) năm
2000 Các cam kết của CPA (bắt đầu năm 2002 và sẽ hoàn thành vào 2007) dựa trên Hiệp ước tương hỗ của WTO giữa EU và nhiều nhóm quốc gia của ACP Các quốc gia châu Phi tham gia vào đàm phán CPA đang đứng trước nhiều thách thức Thứ nhất, phải cơ cấu các quốc gia theo các nhóm vùng hợp lý để tham gia đàm phán với EU (đây là một khó khăn lớn vì toàn bộ các quốc gia châu Phi đều tham gia vào ít nhất một Hiệp ước thương mại vùng,
và do vậy mỗi quốc gia chỉ được duy trì cơ chế thành viên của một Hiệp ước) Một khó khăn nữa là khi tham gia vào Hiệp ước tương hỗ đòi hỏi châu Phi phải tự do hoá thương mại rất nhiều, do vậy sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách và các ngành công nghiệp châu Phi sẽ chịu cạnh tranh từ các tập đoàn công nghiệp lớn của EU
Hai sáng kiến hợp tác kinh tế thương mại gần đây của các nước phát triển với châu Phi là chương trình “Everything but Arms” (EBA - Mọi thứ trừ
vũ khí) của EU và điều luật Tăng trưởng và cơ hội cho châu Phi (AGOA) của
Trang 35Mỹ Dự kiến hai chương trình này sẽ thực hiện ưu đãi tiếp cận thị trường rất nhiều cho các nước châu Phi
Bên cạnh đó, các quốc gia châu Phi cũng đang rất nỗ lực xúc tiến hội nhập thương mại nội vùng châu Phi Nhiều thảo ước hợp tác kinh tế và hội nhập vùng đã được thực hiện, theo đó các quốc gia mở rộng không gian kinh
tế cho các hoạt động sản xuất, công nghiệp và thương mại của khu vực Hiện nay ở châu Phi có 10 Hiệp ước hợp tác kinh tế thương mại vùng có cơ chế hoạt động, phạm vi mục tiêu khác nhau
Các hiệp ước có 4 nhóm hội nhập chính: ECOWAS, ECCAS, COMESA và SADC, còn các hiệp ước còn lại chỉ là các nhánh phụ của chúng Điều đáng lưu ý là sự hội nhập chồng chéo của các quốc gia Trong số
48 quốc gia châu Phi, có 26 là thành viên của ít nhất 2 Hiệp ước thương mại nội vùng, 15 thuộc ít nhất 3 hiệp ước thương mại nội vùng Một quốc gia là thành viên của 4 hiệp ước (CH Dân chủ Congo)
Những năm gần đây một số cơ chế hợp tác kinh tế thương mại tiếp tục được hình thành ở châu Phi, đáng chú ý nhất là Tổ chức châu Phi thống nhất (AU) với mục tiêu phát triển khu vực ổn định và an ninh và tổ chức đối tác mới cho sự phát triển ở châu Phi (NEPAD) đặt trong khuôn khổ của AU
Mặc dù nhiều nỗ lực tự do hoá thương mại nội vùng châu Phi đã được triển khai, hiệu quả của các chương trình này chưa cao và chưa tạo được tác động rõ rệt trong việc phát triển thương mại khu vực Mậu dịch trong từng hiệp định thương mại vùng rất nhỏ do mức độ đồng nhất của các sản phẩm của các quốc gia thành viên rất cao trong khi mức độ đa dạng hoá của các sản phẩm lại rất thấp Xuất khẩu của nội vùng châu Phi rất thấp và chỉ chiếm 9.5% tổng xuất khẩu khu vực Trong khi xuất khẩu giữa các nước thành viên của từng Hiệp ước tự do thương mại cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 10%)
Tóm lại, có thể đánh giá chung về chính sách thương mại ở các nước châu Phi như sau:
Trang 36Trong thời gian qua, chính sách thương mại của các nước châu Phi đã chuyển hướng rất rõ nét từ chính sách bảo hộ thay thế nhập khẩu sang chính sách tự do hoá thương mại, thúc đẩy xuất khẩu Nhờ những cải cách mạnh mẽ như vậy, hoạt động ngoại thương của các nước châu Phi đã sôi động hơn, đóng góp cho phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo Mặc dù mang lại một số thành công nhất định nhưng cải cách chính sách thương mại vẫn chưa đạt được những kết quả mong đợi Mở cửa với thế giới bên ngoài không đưa đến tăng trưởng kinh tế cao và sự hội nhập cạnh tranh hơn vào nền kinh tế thế giới Các nước châu Phi là châu lục có bảo hộ thương mại rất mạnh trên thế giới
1.2.2.4 Chiến lược mới của các nước châu Phi đối với châu á và Đông Nam á
Những chính sách tự do hoá thương mại mạnh mẽ, hoạt động xuất nhập khẩu của châu Phi trong thập niên qua đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ Mặc
dù kim nghạch xuất nhập khẩu tăng nhưng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu không cao Các nước phát triển là thị trường lớn nhất đối với các nước châu Phi, kể cả xuất khẩu và nhập khẩu Trong những năm gần đây, vai trò của các nước phát triển trong quan hệ ngoại thương với các nước châu Phi bị giảm sút Ngược lại, vai trò của các nước đang phát triển đối với các nước châu Phi lại
có hướng tăng lên, ngày càng quan trọng trong xuất khẩu của các nước châu Phi, mặc dù xuất khẩu của khu vực sang các nước phát triển vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất Tính chung, các nước đang phát triển đặc biệt là châu á là thị trường xuất khẩu năng động nhất của các nước châu Phi và luôn có mức tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây Các nước châu Phi cũng tăng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, mặc dầu các nước đang phát triển vẫn chiếm hơn một nửa tổng nhập khẩu của châu lục Trong đó, nổi lên là Trung Quốc
Chính sự thay đổi về địa lý trong hoạt động ngoại thương của các nước châu Phi đã đưa đến những vấn đề quan trọng trong hoạt động chính sách của châu lục này, đặc biệt là các thoả thuận đàm phán thương mại Doha của
Trang 37WTO Xét về khía cạnh tiếp cận thị trường, các quốc gia châu Phi có mối quan tâm lớn đến cải cách thương mại ở các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam Nếu xu hướng tự do hoá thương mại tiếp diễn thì dự báo khi tự
do hoá theo vòng đàm phán Doha được hoàn thành, các nước đang phát triển
sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều trong xuất khẩu của các nước châu Phi Tăng nhập khẩu từ các nước đang phát triển sẽ mang lại nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nước châu Phi Nhờ nhập khẩu nên các hàng hoá tiêu dùng và hàng hoá trung gian rẻ hơn, đồng thời chuyển giao công nghệ và đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các nước châu Phi cũng có xu hướng tăng hơn Trên thực tế các nước đang phát triển đã nổi lên là một nguồn cung cấp lớn đầu tư trực tiếp cho các nước châu Phi
Trong suốt hàng chục năm từ thập niên 1970 đến cuối thập niên 1990, các nước đang phát triển châu á chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu và nhập khẩu của các nước châu Phi Trong 3 thập kỷ đó, xuất khẩu sang châu á (không tính Nhật Bản) của các nước châu Phi chỉ dao động với tỷ lệ 3 - 4% trong tổng xuất khẩu của châu lục, còn nhập khẩu từ châu á (không tính Nhật Bản) cũng chiếm một tỷ trọng không đáng kể khoảng 7% trong tổng xuất khẩu của các nước châu Phi Từ cuối những năm 1990 đến nay, châu á đang nổi lên trở thành một thế lực lớn trong ngoại thương của các nước châu Phi Tỷ trọng các nước đang phát triển ở châu á trong tổng xuất khẩu của các nước châu Phi tăng dần từ 4,2% năm 1990 lên 12,6% năm 2000
và 13,3% năm 2004 Đồng thời, nhập khẩu từ châu á trong tổng nhập khẩu của các nước châu Phi cũng tăng từ 6,9% năm 1990 lên 12,9% năm 2000 và 16,5% năm 2004
Trong số các nước đang phát triển ở châu á, Trung Quốc là thị trường lớn nhất đối với các nước châu Phi (cả xuất khẩu và nhập khẩu) Từ năm
1990, tỷ trọng của thị trường Trung Quốc trong tổng xuất khẩu của các nước
Trang 38châu Phi chỉ tăng từ 1% lên 3% năm 2000 và 6,3% năm 2004 Cũng trong thời kỳ đó, nhập khẩu từ Trung Quốc cũng tăng từ 2% tổng nhập khẩu của châu Phi năm 1990 lên 4% năm 2000 và 7,1% năm 2004
Như vậy, từ những thực trạng trên, chính sách thương mại của các nước châu Phi đã có những thay đổi rõ rệt nhất là việc đề cao vai trò của châu
á trong đó có các nước ở Đông Nam á Đặc biệt, trong những năm gần đây, với những bước phát triển mới của các nước ASEAN trong đó có Việt Nam, ASEAN cũng trở thành bạn hàng đáng tin cậy của các nước châu Phi bên cạnh những nước như Trung Quốc, Nhật Bản ở châu á Từ năm 1986 đến nay, tiếp nối truyền thống quan hệ ngoại giao với Việt Nam, các nước châu Phi mở rộng hơn quan hệ hợp tác với Việt Nam trên mọi lĩnh vực, nhất là việc đẩy mạnh quan hệ thương mại từ những năm 90 của thế kỷ XX
1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các nước châu Phi
Bước vào thập kỷ 80, Việt Nam “ đang ở trong tình trạng trầm trọng
của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội” [10,12] Cũng trong giai đoạn này,
tình hình thế giới có những biến động mạnh mẽ, xuất hiện những xu thế mới
và những đặc điểm mới
Những xu thế đó vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với Việt Nam Chúng ta muốn tiếp tục thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng cũng như bảo vệ những thành quả mà chúng ta đã đạt được, thì yêu cầu đặt ra là phải đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, dần đi vào thế ổn định và phát triển, đồng thời phải phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch và thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, đổi mới là giải pháp Việt Nam phải tính đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) được tiến hành đã mở đầu cho công cuộc đổi mới
Trang 39Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế trong thời gian qua, Đại hội đã đề ra những nhiệm vụ và mục tiêu cho chặng đường tiếp theo, trong đó, đổi mới công tác đối ngoại là một nội dung quan trọng đề ra đường
lối đối ngoại rộng mở, xác định nhiệm vụ hàng đầu là “ tranh thủ điều kiện
quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc” [8, 99] Đặc biệt, một trong những phương hướng chính sách về đối
ngoại được thông qua tại Đại hội VI là “mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả
các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” [8, 99 - 100]
Mục tiêu của công tác đối ngoại của nước ta là “Phải củng cố và giữ
vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế’’
Phương thức đấu tranh mới là “chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ
trạng thái đối đầu sang đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình với tất cả các đối tác chính”
Có thể nói, chính sách này của Việt Nam phù hợp với xu thế chung của thế giới nên đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ bạn bè quốc tế trong đó
có nhân dân các nước châu Phi
Cùng với việc triển khai chính sách láng giềng và khu vực thân thiện, Việt Nam đã nâng cao quan hệ với các nước châu Phi lên một giai đoạn mới, sôi động và phong phú hơn Nhất là từ sau khi chính thức tái thiết lập quan hệ kinh tế những năm 90 của thế kỷ XX Từ đây, Việt Nam coi các nước châu Phi là đối tác rất quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình, là nhân tố giúp cho Việt Nam có được uy tín quốc tế cao hơn và là một bạn hàng quan trọng giúp Việt Nam thu được những nguồn lợi kinh tế to lớn Chính vì vậy, Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở cả song phương và đa phương trên nhiều phương diện với các nước châu Phi, bằng cách tăng cường đối thoại chính trị và thúc đẩy hợp tác kinh tế trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi Đặc biệt từ năm 1995 khi Việt Nam chính thức trở
Trang 40thành thành viên của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) thì quan hệ Việt Nam với các nước châu Phi lại càng có cơ hội để phát triển
Chính sách thương mại của Việt Nam đối với châu Phi được thể hiện
rõ tại các kỳ Đại hội Đảng VII, VIII và IX Với chủ trương đa phương hoá,
đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, các nước châu Phi được xác định
là thị trường mới, bạn hàng mới cần tập trung phát triển Mặc dù còn gặp nhiều hạn chế trong phát triển quan hệ thương mại với các nước châu Phi như khó khăn về địa lý, thiếu thông tin thị trường, bạn hàng, tập quán buôn bán và khả năng thanh toán có hạn của các doanh nghiệp châu Phi, nhưng Chính phủ vẫn thể hiện sự quan tâm tới phát triển quan hệ thương mại với châu lục này thông qua bốn hướng ưu tiên quan trọng để thúc đẩy quan hệ hợp tác mọi mặt giữa Việt Nam và các nước châu Phi mà Thủ tướng Phan Văn Khải đã đề ra tại Hội thảo Việt Nam - châu Phi năm 2003
Bước vào thập kỷ 90, trong bối cảnh cục diện thế giới có nhiều thay đổi, tại Đại hội Đảng lần thứ VII vào tháng 7/1991, Đảng ta đã xác định chủ
trương “Mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại
trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát huy mạnh mẽ các lợi thế và nguồn lực bên trong” Cùng với chủ trương đó, quan hệ thương mại giữa nước ta và các
nước châu Phi, sau nhiều thập kỷ ở mức độ không đáng kể, đã thật sự bắt đầu được “khởi động” trong giai đoạn 1991 - 1995 Chỉ trong bốn năm từ năm
1991 đến năm 1995, kim ngạch thương mại giữa nước ta và các nước châu Phi tăng gấp ba lần, từ 15,5 triệu USD lên 45,9 triệu USD, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền thương mại của cả nước
Đại hội Đảng lần thứ VIII vào tháng 6/1996 tiếp tục xác định những
nhiệm vụ đặt ra cho công tác phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta là: “Củng
cố vị trí ở các thị trường quen thuộc, khôi phục quan hệ với thị trường truyền thống, tìm thị trường bạn hàng mới, giảm sự tập trung quá mức vào một vài thị