1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi học sinh giỏi ngữ văn 12

47 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, một hoạt động văn học sẽ bao gồm quá trình sáng tạo của nhà văn và quá trình tiếp nhận của người đọc.. 2.1.Người đọc – chủ thể của hoạt động tiếp nhận văn học a Vai trò của ngư

Trang 1

MÔN NGỮ VĂN MÃ CHẤM: V03a

Hơn thế, đối với trường THPT chuyên, khi tham gia kì thi chọn học sinh giỏi Khu vực và Quốc gia, phần lí luận văn học luôn đóng vai trò trọng tâm trong đề thi hàng năm Việc trang bị cho học sinh kiến thức lí luận văn học, đặc biệt là kĩ năng vận dụng lí luận vào đọc – hiểu, làm văn có tính chất tiên quyết giúp nâng cao hiệu quả bài làm

Tuy nhiên, kiến thức lí luận văn học nói chung và tiếp nhận văn học nói riêng lại khô khan, khó tiếp nhận Những tài liệu nghiên cứu về phần tiếp nhận văn học vẫn đang được tiếp tục hoàn thiện, chưa định hình rõ ràng, thống nhất Yêu cầu biên soạn hệ thống kiến thức phần lí luận tiếp nhận khoa học, nhất quán, dễ hiểu vẫn luôn là mong muốn của các giáo viên dạy văn

Tất cả những lí do trên đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tiếp nhận văn học” Chúng tôi hi vọng, việc nghiên cứu đề tài trước hết có thể hoàn thiện tốt hơn những giờ dạy của bản thân và có thêm cơ hội chia sẻ, trao đổi ý kiến với bạn bè, đồng nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống lại những vấn đề cơ bản xoay quanh tiếp nhận văn học: Khái niệm, đặc trưng, vai trò

Trang 2

- Chia sẻ phương pháp, kinh nghiệm giảng dạy lí luận văn học nói chung và phần tiếp nhận văn học nói riêng

- Cung cấp một số đề luyện tập về phần tiếp nhận văn học, đồng thời rèn kĩ năng tiếp nhận văn học cho học sinh qua một số văn bản văn học ngoài chương trình sách giáo khoa

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

1 Khái niệm tiếp nhận văn học

Hoạt động văn học từ xưa đến nay đều vận hành qua các khâu: Nhà văn – Tác phẩm – Người đọc Theo đó, một hoạt động văn học sẽ bao gồm quá trình sáng tạo của nhà văn và quá trình tiếp nhận của người đọc Tuy nhiên, tùy vào từng thời điểm mà mỗi

quá trình này được xem xét, nhìn nhận với những quan niệm khác nhau Do đó, để hiểu rõ khái niệm tiếp nhận văn học chúng ta cần tìm hiểu quan điểm tiếp nhận truyền thống và quan niệm tiếp nhận hiện nay

1.1.Quan niệm tiếp nhận truyền thống

Lý luận tiếp nhận văn chương theo kiểu truyền thống quan niệm tiếp nhận văn chương

là hoạt động của người đọc, tồn tại ở hai dạng: tri âm và ký thác

Tiếp nhận theo kiểu tri âm: là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của tác giả Sự cắt

nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của tác giả ký gởi vào tác phẩm

từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm trong cùng một vòng tròn đồng tâm Tri âm

là biểu hiện tột cùng của sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau Tiếp nhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ quan, người ta quan niệm rằng tác phẩm được viết là để dành riêng cho những người sánh văn chương, có khả năng đi sâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi lòng của tác giả, chứ không phải viết ra cho đông đảo độc giả công chúng ngoài xã hội thưởng thức, tiếp nhận Quan điểm tiếp nhận theo kiểu tri âm đòi hỏi sự gặp gỡ, đồng điệu tuyệt đối giữa người sáng tác và bạn đọc, nhưng trên thực tế việc này rất khó khăn

Tiếp nhận theo kiểu ký thác: Là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác phẩm để biểu lộ

nỗi lòng của mình đối với cuộc đời Do đó, tác phẩm văn chương được coi như là một phương tiện để người đọc giải bày tấm lòng, gửi gắm những quan niệm nhân sinh, những

Trang 4

cảm xúc về thế cuộc hoặc những vấn đề bức thiết của cuộc sống mà trong một chừng mực nào đó người đọc không có điều kiện để nói ra một cách trực diện

Tiếp nhận theo kiểu tri âm và ký thác gặp nhau ở tính đồng cảm giữa tác phẩm và bạn đọc

1.2 Tiếp nhận hiện đại

Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thừa nhận tác phẩm văn chương là một loại hàng hóa đặc thù Đó là một loại hàng hóa tinh thần do nhà văn sáng tạo nên nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của con người trong xã hội Nó có những thước đo chất lượng và giá trị tiêu dùng rất khác nhau giữa mọi người

Do tác phẩm văn chương được xem như một loại hàng hóa nên tiếp nhận văn chương vượt ra ngoài tính cá thể riêng biệt, nó mang tính xã hội cao Tiếp nhận văn chương hiện đại xác định đối tượng bạn đọc là tầng lớp công chúng rộng rãi, có nhu cầu và

sở thích khác nhau

Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thực ra không phải là sự phủ nhận lý luận tiếp nhận truyền thống, mà là sự bổ sung thêm bình diện xã hội và văn hóa lịch sử Lý luận tiếp nhận hiện đại vừa kế thừa những mặt tích cực của tiếp nhận truyền thống, vừa không ngừng mở rộng giới hạn nghiên cứu của mình: Đi sâu khám phá những cấp độ khác nhau,

lý giải về tính quy luật của hoạt động tiếp nhận … Nhờ vậy mà cơ chế phức tạp của hoạt động này ngày càng được nhận thức một cách khoa học và đầy đủ hơn

Như vậy, lí luận ngày nay cho rằng Tiếp nhận văn học là hoạt động “tiêu dùng”,

thưởng thức, phê bình văn học của người đọc thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau Tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế của văn học

2 Đặc trƣng của tiếp nhận văn học

Trang 5

Tiếp nhận văn học là khâu cuối cùng của hoạt động văn học Vì tiếp nhận là hoạt động “tiêu dùng”, thưởng thức, phê bình của người đọc thuộc nhiều loại hình, trình độ khác nhau, do đó khi bàn đến đặc trưng của tiếp nhận, chúng ta cần tìm hiểu về vai trò, đặc điểm của người đọc như là chủ thể của hoạt động này Sau đó, do quá trình tiếp nhận diễn

ra theo một cơ chế nhất định, kinh qua hệ thống tín hiệu thứ hai trong đại não người đọc, chuyển hóa những kí hiệu ngôn từ thành những tình cảm, tư tưởng về đời sống, gây xúc động và thanh lọc tâm hồn người đọc, nên chúng ta cần tìm hiểu rõ diễn biến của quá trình này

2.1.Người đọc – chủ thể của hoạt động tiếp nhận văn học

a) Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học

Trước khi tác phẩm đến tay người đọc, nhà văn là người đã “thai nghén” nên đứa con tinh thần với hi vọng phản ánh được sự thật cuộc đời theo quan niệm của anh ta Nhà văn là người quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm văn học Không thể phủ nhận vai trò của nhà văn trong quá trình sáng tác Nhưng một khi đã ra đời, sống giữa thế gian thì tác phẩm sẽ không còn phụ thuộc vào ý muốn của một mình tác giả nữa Lúc này, tác phẩm bước vào một cuộc phiêu lưu đầy thú vị mà không thiếu phần oái oăm, trong sự tiếp nhận của người đọc, bất chấp ý muốn của tác giả, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của tác giả

Điều đó có nghĩa, người đọc đóng vai trò quan trọng trong hoạt động văn học, là chủ thể của hoạt động tiếp nhận Hay nói cách khác, người đọc có vai trò quan trọng trong việc

hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế của văn học Không có người đọc tiếp nhận thì tác phẩm chỉ là những văn bản vô hồn nằm trên giá sách, nhà văn cũng chẳng còn lí do để tồn tại Nếu không được người đọc khám phá, lí giải thì số phận các tác phẩm hoàn toàn giống nhau, bởi lúc ấy chúng chỉ là những kí tự trống rỗng, chưa sản sinh ý nghĩa Đây cũng là lí

do vì sao trước khi các nhà in ra đời, từ thời cổ đại các nhà thơ Hy Lạp đã phải tự mình ngâm thơ mình trên những sân khấu lộ thiên hình bán nguyệt cho công chúng nghe Hay ở Nhật Bản thời “tiền báo chí”, các nhà thơ, nhà tiểu thuyết khi viết xong tác phẩm phải in thủ công một ít rồi mang ra rao bán trước công chúng bằng cách tóm tắt nội dung, nhấn

mạnh những chi tiết hay,… Mác đã nói “Trong tiêu thụ, sản phẩm cuối cùng mới được

Trang 6

hoàn thành”, điều này không chỉ đúng với các sản phẩm vật chất, mà còn ứng với các tác

phẩm văn chương Có người đã ví, tác phẩm văn học không đến được với người đọc chẳng khác nào một bức thư không có địa chỉ cũng bởi thế!

Hơn thế, ngay trong quá trình nhà văn sáng tạo ra tác phẩm, anh ta đã cố tình để lại những “khoảng trống”, “khoảng trắng”, những chỗ “đứt đoạn” cần được “lấp đầy” Và không ai khác, ngoài người đọc, bằng nỗ lực sáng tạo của mình có thể cụ thể hóa những khoảng trống ấy Như vậy, người đọc không chỉ là người tiếp nhận tư tưởng, tình cảm mà

tác giả gửi gắm mà còn là người đồng sáng tạo ra ý nghĩa của văn bản văn học Một sự

tiếp nhận văn học đích thực đồng nghĩa với việc làm sống dậy khách thể tinh thần của tác phẩm, biến nó thành năng lực tư duy, cảm xúc của chính người tiếp nhận Bằng những cảm thụ, đánh giá riêng, người đọc đã góp phần làm phong phú thêm nhiều giá trị cho tác phẩm Huy Cận khi nói về hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng” trong bài thơ “Tràng

giang”, ông đã viết: Trong cái mênh mông buồn bã kia thì một hình ảnh thô, cứng, chắc khỏe sẽ tạo nên sự bền vững cho khổ thơ Có nhà phê bình gọi đó là câu thơ hiện đại giữa bài thơ cổ điển Thêm nữa, chữ “củi” làm cho người đọc liên tưởng đến những bữa ăn chiều, “củi một cành khô” gợi nhớ đến sự an bình của gia đình, quê hương trong buổi hoàng hôn chuẩn bị bữa tối Chính cái cảnh thanh bình đó đang hiện ra và trôi nổi giữa dòng nước “Lạc mấy dòng” lột tả sự hoảng loạn và ly tán của những cảnh thanh bình ấy

“Củi một cành khô lạc mấy dòng” Sự ly tán và hoảng loạn tràn khắp Câu thơ này “thực hóa” tất cả nỗi sầu còn lãng mạn, còn mơ hồ ở khổ thơ và đưa nhà thơ trở lại thực tại của khung cảnh và thực tại của đời sống… Nhưng khi đi vào tâm thức của bạn đọc những năm

qua, hình ảnh này đã được cảm nhận với nhiều sắc thái ý nghĩa sâu sắc khác Nhà phê bình

Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét rằng “Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca, một cành củi khô trôi vào thơ Huy Cận như nỗi cô đơn của một kiếp người trong xã hội cũ” Một thầy giáo ở

Đồng Nai lại cho rằng: Phải chăng hình ảnh cành củi khô trôi nổi phù du trên sóng nước

Tràng giang chính là hình ảnh ẩn dụ để biểu tượng cho kiếp người như thi nhân đang nổi trôi, bơ vơ, vô định giữa dòng chảy của cuộc đời, giữa cuồng phong của một đất nước mất

Trang 7

chủ quyền ? Cô bé học sinh Nguyễn Hồng Ngọc Lam, năm 2007, trong bài văn đạt 9,5 điểm của mình lại cảm nhận: Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng" Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu

vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi Chắc chắn ý nghĩa của thi phẩm “Tràng

giang” vẫn đang và sẽ được mở ra thêm nhiều tầng nghĩa mới qua những sáng tạo khi tiếp nhận của những người yêu thơ Và không chỉ riêng “Tràng giang”, nhiều bài thơ khác như

“Tây Tiến”(Quang Dũng), “Đàn ghi ta của Lor-ca” (Thanh Thảo),… qua sự tiếp nhận của người đọc đã trở thành những bài thơ đa nghĩa, có sức sống lâu bền

Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong tiếp nhận – khâu cuối cùng của hoạt động

văn học, lí luận hiện đại còn cho thấy người đọc còn chi phối nhà văn trong suốt quá trình hình thành tác phẩm Dù trong quá trình “thai nghén” chưa có người đọc “thực tế”, nhưng

thực ra họ không hề vắng bóng trong tâm tưởng nhà văn với những nhu cầu, thị hiếu, động

cơ, tâm thế, tầm đón nhận, điều kiện và hoàn cảnh thưởng thức riêng Bác Hồ trước khi

sáng tạo chẳng phải đã luôn tự đặt ra câu hỏi “Viết cho ai?” rồi mới quyết định “Viết để làm gì?”, “Viết cái gì?” và “Viết như thế nào?”? Rõ ràng, người tiếp nhận quyết định đến

việc lựa chọn nội dung và hình thức của tác phẩm trong quá trình nhà văn sáng tạo

Như vậy, người đọc là người tiếp nhận văn bản nghệ thuật của nhà văn và cấp cho

nó một số phận lịch sử Không có người đọc, văn bản chỉ còn tồn tại ở khía cạnh vật thể, không thể tham gia vào đời sống ý thức xã hội như một nhân tố tích cực Người đọc bằng tính tích cực, sáng tạo của mình đã mở ra những ý nghĩa không cùng của văn bản

b) Các loại người đọc

Trang 8

Có nhiều cách phân loại người đọc – chủ thể của hoạt động tiếp nhận văn học dựa trên những tiêu chí khác nhau: nghề nghiệp, trình độ, lứa tuổi, lập trường chính trị - xã hội,… Tuy nhiên, nhất quán với quan niệm coi tiếp nhận văn học như một khâu quan trọng của dây chuyền sản xuất - tiêu dùng các sản phẩm tinh thần, trong phạm vi chuyên đề này,

chúng tôi tán đồng với cách phân chia người đọc thành hai loại chính: người đọc thực tế

và người đọc tiềm ẩn

Người đọc tiềm ẩn (Implied reard)

Người đọc tiềm ẩn vốn là một thuật ngữ do W.Iser đề xuất được dùng để chỉ hình ảnh

người đọc xuất hiện trong niềm mong đợi của nhà văn khi quá trình sáng tạo vừa khởi động và hình ảnh này phần nào được chuyển hóa thành một yếu tố hiện diện trên văn bản Khi sáng tác bao giờ nhà văn cũng mường tượng tới hình ảnh của người sẽ tiếp nhận sản phẩm tinh thần của mình Điều này có tính chất hiển nhiên ngay cả khi nhà văn phủ nhận

và cho rằng mình chỉ viết cho mình mà thôi Bởi, thực ra khi ấy “cái mình” kia cũng thuộc trường hợp người đọc tiềm ẩn Nếu không phải thế, việc gì tác giả phải cố công hoàn thiện

và sửa chữa tác phẩm? R.Rôlăng trong lời nói đầu tác phẩm của mình đã viết: “Tiểu thuyết Giăng Crixtôphơ của tôi không phải viết cho nhà văn xem mà mong muốn nó được tiếp xúc với những tâm hồn cô độc và những trái tim chân thành sống bên ngoài văn giới.”

Hay trong bài “Sở kiến hành”, sau khi vẽ ra cảnh đối lập giữa một bên là mâm cao cỗ đầy, yến tiệc linh đình mà các quan chẳng buồn đụng đũa với cảnh sống cơ cực, nghèo khổ của nhân dân, Nguyễn Du đã viết:

“Hà nhân tả thử đồ Trì dĩ phụng quân vương”

(Ai vẽ bức tranh này

Để dâng lên nhà vua)

Trang 9

Có thể thấy, Nguyễn Du trước hết mong muốn những đấng quân vương sẽ đọc đến bài thơ này Hay trong những lời thơ của Hồ Xuân Hương, dễ dàng nhận thấy người đọc tiềm

ẩn hiện hữu rõ nét: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ/ Lại đây chị dạy cho làm thơ” Chính

những học trò dốt đã thôi thúc nhà thơ nữ cầm bút, tác động đến cả sự lựa chọn giọng điệu, ngôn ngữ của bài thơ Những ví dụ trên cho thấy, người đọc tiềm ẩn có tồn tại nhưng không dễ “nhận diện”

Như vậy, người đọc tiềm ẩn được xem như một khái niệm lí luận có ý nghĩa quan trọng giúp ta nhìn ra phần nào cái cơ chế bên trong của hoạt động sáng tạo văn học Cái bóng của người đọc luôn hắt lên từng trang viết của nhà văn Sự diện diện của nó một mặt chứng tỏ mức độ tự giác nghề nghiệp cùng sự nhạy cảm của lớp người được coi là “hàn thử biểu” của xã hội; mặt khác có ý nghĩa định hướng cho hoạt động sáng tác trên các mặt xử lí đề tài, chủ đề, lựa chọn cách viết, Viết cho vừa tầm đón nhận hay để nâng tầm đón nhận của người đọc, và bằng cách nào đó thúc đẩy sự ra đời của một lớp người đọc tiên tiến luôn là trăn trở của những nghệ sĩ chân chính

Người đọc thực tế

Người đọc thực tế chỉ đối tượng tiếp nhận tác phẩm văn học tồn tại thật trong cuộc đời

Đối tượng tiếp nhận này rất phong phú, đa dạng, mở ra không cùng trong không gian và thời gian, vượt khỏi khả năng bao quát của tác giả, không trùng khớp với người đọc tiềm

ẩn

Có thể phân loại người đọc thực tế theo nhiều tiêu chí khác nhau, song tiêu chí bao quát

nhất, phù hợp với bản chất thẩm mĩ của văn học chính là tầm đón nhận Tầm đón nhận

được hiểu là khả năng, giới hạn và nhu cầu tiếp nhận văn học cụ thể ở từng cá nhân, thế hệ, loại hình người đọc Tầm đón nhận được hình thành, xây dựng trong cả một quá trình dài – quá trình người đọc tiếp xúc, làm quen, đối thoại với tác phẩm nghệ thuật, và có được sự chủ động khi đứng trước bất kì tác phẩm nào Bơỉ thế, nâng cao tầm đón nhận luôn là một

Trang 10

đòi hỏi bức bách của sự phát triển nghệ thuật Căn cứ vào tầm đón nhận có thể có các loại người đọc thực tế sau:

- Loại người đọc có “khẩu vị” bình dân, chỉ quan tâm thưởng thức những tác phảm thuộc dòng văn hóa đại chúng, những tác phẩm best seller, ít quan tâm tới các sáng tác chuyên nghiệp

- Loại người đọc có được sự đào luyện nhất định trong môi trường văn hóa trí thức, thích đọc, thích bàn luận về văn chương, có những kiến giải đúng, nhưng chưa xem chuyện văn chương là “một phần tất yếu của cuộc sống” hoặc dễ thỏa mãn với phạm vi hiểu biết ít được mở rộng của mình

- Loại người đọc có trình độ chuyên môn cao, thường được liệt vào “giới văn học” như các nhà văn có năng khiếu phê bình, các biên tập viên văn học, đặc biệt các nhà nghiên cứu lí luận, phê bình, Loại người đọc này thực sự can dự vào đời sống văn học, góp phần xây dựng môi trường văn học lành mạnh, giàu tiềm năng

Sự phân loại người đọc thực tế ở trên chỉ mang tính chất tương đối, tùy vào tầm đón nhận của mình mọi người đọc đều có những đóng góp khác nhau đối với sự phát triển của văn học Không có người đọc thực tế, quá trình văn học bị tắc nghẽn nửa chừng rồi hoạt động sáng tạo văn học cũng dần bị triệt tiêu Ngược lại, tác phẩm văn học sẽ được đưa vào dòng chảy sống động của cuộc đời để phát lộ hết tiềm năng đa dạng của nó, để hóa thành năng lượng tinh thần của mỗi cá nhân tiếp nhận.Trong những trường hợp cụ thể, tiếp nhận có khả năng đặt mọi giá trị văn học vào đúng vị trí của nó, dĩ nhiên là qua một quá trình thẩm xét, sàng lọc nghiêm khắc Chẳng hạn, bài thơ “Tây Tiến” sau một quãng thời gian khá dài bị chụp mũ là tiếng nói của cái tôi tiểu tư sản đã chứng minh được giá trị đích thực của mình Hay trường hợp một số tiểu thuyết ngôn tình, sau một thời gian tạo nên những cơn sốt tìm đọc trong giới trẻ rồi cũng bị lãng quên Tất nhiên,

số phận thăng trầm của mỗi tác phẩm phụ thuộc vào giá trị nội tại của nó, nhưng nếu thiếu người đọc, sẽ chẳng ai biết tác phẩm ấy giàu có đến mức nào

Trang 11

2.2 Quá trình tiếp nhận văn học

Như đã nói ở trên, quá trình tiếp nhận văn học diễn ra theo một cơ chế nhất định, theo trình tự thời gian tiếp nhận, có thể chia thành ba bước: Khởi đầu – Diễn biến – Kết thúc

a) Khởi điểm của tiếp nhận văn học

Khởi điểm của quá trình tiếp nhận hay có thể coi là giai đoạn chuẩn bị của quá trình tiếp nhận văn học Trước khi đến với một tác phẩm văn học nào đó, muốn tiếp nhận được trọn vẹn giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, khám phá được nhiều chiều sâu mới, người đọc cần trang bị cho mình những yếu tố hỗ trợ đắc lực cho quá trình tiếp nhận Có thể kể đến ba yếu tố cơ bản sau: Tầm đón nhận, Động cơ tiếp nhận, Tâm thế tiếp nhận

- Tầm đón nhận: Là năng lực vốn có của người đọc được tạo nên bởi thực tiễn sống, trình

độ văn hóa, lứa tuổi, giới tính, chi phối đến quá trình tiếp nhận văn học Chẳng hạn, những người trẻ thường thích những câu chuyện kì ảo, phiêu lưu hay những chuyện tình yêu còn những người già lại thích đọc những câu chuyện về nhân tình thế thái Một nhà Nho có vốn sống phong phú, học vấn uyên bác chắc chắn sẽ dễ dàng tiếp nhận những bài thơ Đường luật, trong khi đó những người bình dân lại chỉ có thể tiếp nhận những câu ca dao giản dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày Tầm đón nhận cụ thể, có thể thấy biểu hiện ở các mặt sau:

+ Tầm đón chờ ý nghĩa thể hiện ở mong muốn của người đọc về tác phẩm sẽ vừa biểu hiện,

nâng cao tư tưởng của mình, theo sở thích và mong muốn của mình Chẳng hạn, những người đọc văn học dân gian, trước khi đọc một câu chuyện cổ tích, chưa biết câu chuyện xảy ra như thế nào nhưng họ luôn mong đợi và tin tưởng câu chuyện sẽ kết thúc có hậu theo đúng quy luật “Ở hiền gặp lành”, “Ác giả ác báo”

+ Tầm đón chờ ý tưởng là năng lực liên tưởng của người đọc khi tiếp xúc với một hình ảnh

nào đó trong tác phẩm, bằng kinh nghiệm và thể nghiệm vốn có của mình đưa ra những lí

Trang 12

giải về nội dung bên trong tác phẩm Chẳng hạn, khi đọc nhan đề “Tràng giang”, người đọc

sẽ liên tưởng đến một dòng sông mênh mang sóng nước, từ đó đưa ra dự đoán chắc hẳn bài thơ sẽ chất chứa những nỗi buồn Hay khi đọc nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”, từ liên tưởng hình ảnh con thuyền bé nhỏ, mờ xa giữa đại dương bao la, người đọc sẽ có lí giải về nội dung tác phẩm, hẳn sẽ nói về thân phận nhỏ bé của những kiếp người bất hạnh

+ Tầm đón nhận văn loại là năng lực thưởng thức các tác phẩm văn học dựa trên những

hiểu biết về đặc trưng các thể loại văn học ở người đọc Chẳng hạn, khi đứng trước một tiểu thuyết, người đọc rất có thể liên tưởng đến một cốt truyện với nhiều tình tiết phong phú, hấp dẫn, một hệ thống nhân vật với tính cách phong phú, sống động Còn nếu đứng trước một bài thơ trữ tình, người đọc liền chuẩn bị tinh thần thưởng thức những cung bậc trạng thái tình cảm, những cách sử dụng hình ảnh, từ ngữ, nhạc điệu độc đáo,

Chính tầm đón nhận vốn có ở người đọc sẽ ít nhiều góp phần tạo nên cuộc “đối thoại” giữa những suy tưởng ban đầu ở người đọc với nội dung sẽ xuất hiện trong tác phẩm

- Động cơ tiếp nhận: Là những yếu tố thuộc về nhu cầu của người đọc, thôi thúc họ đến

với tác phẩm văn học Động cơ toàn diện và phổ biến nhất là muốn được hưởng thụ và bồi đắp những tình cảm thẩm mĩ Ngoài ra còn có thể kể đến các động cơ như: muốn được mở mang trí tuệ; muốn được bồi dưỡng thêm về tư tưởng, đạo đức, lí tưởng; Muốn học hỏi kinh nghiệm; Muốn được đưa ra lời phân tích, nhận xét, đánh giá Dù không hoàn toàn

biệt lập nhau, nhưng mỗi động cơ trên đều tác động đến sự lựa chọn tác phẩm văn học, sự quan tâm, chú ý đến các loại văn bản văn học khác nhau Chỉ có những tác phẩm ưu tú, nhất là những kiệt tác mới có thể thỏa mãn tất cả các loại động cơ tiếp nhận ở người đọc

- Tâm thế đón nhận: Là trạng thái tinh thần của người đọc khi đến với tác phẩm văn học

Tâm trạng con người vốn vô cùng phức tạp, bởi thế khi nói về tâm thế đọc, có thể khái quát vào ba trạng thái chính yếu nhất: Hân hoan, ức chế và tĩnh tâm Hân hoan là trạng thái tinh thần phấn chấn, còn ức chế là tâm trạng buồn bực ưu tư Tĩnh tâm là tâm thế thư thái,

Trang 13

tự nhiên trong lòng, đây là tâm thế tối ưu nhất khi tiến hành hoạt động đọc Rõ ràng, tâm thế đọc ảnh hưởng rất rõ ràng tới việc đọc tác phẩm Đang trong tâm thế hân hoan, đọc một tác phẩm vừa thôi, cũng có thể xúc động, phấn chấn Nhưng nếu đang ức chế, thì dù tác phẩm có hấp dẫn bao nhiêu cũng dễ hững hờ, lạnh nhạt Để tiếp nhận tác phẩm tốt nhất, tâm thế tĩnh tâm chính là điểm xuất phát tối ưu

Ba yếu tố: tầm đón nhận, động cơ tiếp nhận, tâm thế đón nhận ở người đọc khi bắt đầu quá trình tiếp nhận chính là minh chứng rõ ràng cho khả năng tiếp nhận chủ động, sáng tạo ở người đọc Người đọc không hoàn toàn là tờ giấy trắng để nhà văn tô vẽ, họ hoàn toàn có đủ năng lực để khám phá ra ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của tác phẩm văn chương,

và rất có thể, những ý nghĩa ấy không trùng khớp với ý đồ của người sáng tác

b) Diễn biến của tiếp nhận văn học

Sau quá trình chuẩn bị, người đọc sẽ bước vào quá trình tiếp nhận tác phẩm, biến

“văn bản thứ nhất” của tác giả thành “văn bản thứ hai” của chính mình Quá trình biến đổi này diễn ra theo các khâu chuyển dịch sau:

- Tái hiện để mà tái tạo: Đứng trước một bức tranh, ngay lập tức ta có thể cảm nhận được

bằng đôi mắt Người nhạc sĩ tấu lên một khúc nhạc, ngay lập tức ta nghe thấy bằng đôi tai Thế nhưng, văn học là nghệ thuật của ngôn từ nên muốn thưởng thức văn học, người đọc tất yếu phải trải qua khâu „tái hiện” Do tín hiệu ngôn từ của văn bản không “đồng hiện”

mà triển khai theo tính hình tuyến từ đầu đến cuối nên sự tái hiện ở đây là liên tục Sự tái hiện này mang tính chất sáng tạo, thể hiện năng lực sáng tạo trong tiếp nhận ở người đọc

Trước hết, người đọc phải tưởng tượng, tái hiện hình tượng nghệ thuật được nhà văn mô tả lên trí não Hình tượng được tái tạo ấy mang dấu ấn sáng tạo của người đọc Người phương Tây thường nói: “Một nghìn bạn đọc, thì có một nghìn Hamlet” Hay hình ảnh

nàng Kiều xinh đẹp tài sắc cũng hiện lên rất riêng trong cảm nhận của hàng triệu người đọc

“Truyện Kiều” từ xưa đến nay Không chỉ tái tạo hình tượng, người đọc còn thay đổi lại theo tình cảm khác Tác phẩm văn học thành công nào cũng đều chan chứa tình cảm, song

Trang 14

người đọc thường chỉ thích và nhớ nhất những trạng thái tình cảm khiến họ xúc động nhất Chẳng hạn, trước đây, người tiếp nhận đã ngợi ca tình bạn của Lưu Bình, Dương Lễ, coi hành động để vợ đi hầu bạn là biểu tượng cho tình bạn cao đẹp Nhưng người đọc hiện nay lại không tán đồng với quan điểm này, họ cho rằng hành động của Lưu Bình thể hiện thái

độ không tôn trọng vợ, coi nàng Châu Long chỉ như món quà để ban tặng Và Dương Lễ, dẫu có được vinh hoa nhưng sẽ mang một trái tim tan vỡ Biết đâu, rồi sẽ có một lúc nào

đó, Dương Lễ mơ tưởng lại thời quá khứ, và mong mình mãi bần hàn để có được Châu Long? Không chỉ thay đổi tình cảm, người đọc còn giải thích theo quan niệm khác Mỗi người đọc có những cách kiến giải riêng của mình về những vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học Thậm chí, theo thời gian, cách lí giải của chính cá nhân người đọc cũng thay đổi

- Lý giải và ngộ nhận: Là khâu thứ hai của quá trình tiếp nhận Sau khi tái tạo hình tượng,

người đọc có thể tiếp nhận đúng hay hiểu sai ý đồ của tác giả Chẳng hạn như trường hợp nhân vật AQ của nhà văn Lỗ Tấn Khi sáng tạo nhân vật này, nhà văn chỉ muốn miêu tả được linh hồn của con người hiện đại ở Trung Quốc đương thời, miêu tả linh hồn quốc dân một nước trầm mặc Thế nhưng, có những người đọc đã áp đặt AQ, gắn nhân vật với một con người cụ thể ngoài đời, thậm chí cho rằng tác phẩm đang công kích chính mình Nhưng ngay cả việc hiểu chưa đúng ý đồ của tác phẩm cũng cần phân biệt rõ giữa hiểu chưa đúng ý đồ tác giải nhưng có căn cứ trong tác phẩm, với sự cố tình xuyên tạc, cắt xén, suy diễn tùy tiện Khi sự “hiểu sai” nhưng có cơ sở của người đọc được nhiều người thừa nhận, thì có nghĩa người đọc đã góp phần phát hiện ra thêm những khía cạnh mới ở tác phẩm mà nhà văn chưa nghĩ đến

- Trạng thái thông thường mà tốt đẹp giữa sáng tạo và tiếp nhận là khâu thứ ba trong

quá trình tiếp nhận “Thông thường”, tức xét ở mức trung bình lý tưởng giữa sáng tác và tiếp nhận Đó là khi sáng tác tạo ra những tác phẩm buộc người đọc phải ngẫm nghĩ rồi mới hiểu, nhưng hiểu rồi thì thấy mở mang, thú vị Còn tiếp nhận của người đọc được hội

tụ những yếu tố thuận lợi nhất như tầm tiếp nhận phù hợp, động cơ tiếp nhận đúng đắn, tâm thế tĩnh tâm để lĩnh hội tác phẩm tốt nhất

Trang 15

c) Hiệu quả của tiếp nhận văn học

Kết thúc quá trình tiếp nhận cần phải bàn đến hiệu quả tác động mà tác phẩm tạo nên

ở người đọc Hiệu quả này được tạo nên không chỉ bởi giá trị nội tại của tác phẩm mà còn

do năng lực của chủ thể tiếp nhận, nói cách khác do sự sáng tạo từ hai phía Ở mức độ lí tưởng, hiệu quả tiếp nhận văn học biểu hiện qua các mức độ sau:

- Đồng cảm: Chỉ sự xúc động của người đọc trước những tư tưởng, tình cảm, nguyện

vọng được bộc lộ qua số phận nhân vật hay bức tranh nhân tình thế thái phản ánh trong tác phẩm Thái độ đồng cảm ở người đọc cũng mang những nội dung sắc thái khác nhau Trước hết là sự đồng cảm về tư tưởng, quan niệm Mác đã từng nhiều lần trích dẫn câu nói

của Sếchxpia về tác dụng của đồng tiền: “Vàng, chỉ cần một chút thôi là có thể đổi trắng thay đen, xấu thành đẹp, sai thành đúng, đê tiện thành cao quý, tên hèn nhát thành dũng sĩ, mục nát thành đầy sức sống Ôi tên lừa bịp sáng lấp lánh này!” Điều đó cho thấy Mác

hoàn toàn đồng ý với quan niệm của nhà văn và thực sự thấm thía bởi ý nghĩa khái quát của nó Không chỉ đồng cảm về quan niệm, sự đồng cảm còn tạo nên bởi sự đồng điệu về cảm xúc, về chí hướng, hay cảnh ngộ, Đọc bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, người đọc trẻ tuổi sẽ không khỏi giật mình trước quan niệm về thời gian cuộc đời hữu hạn, thời gian tuổi trẻ ngắn ngủi, để rồi nhận ra, để sống trọn vẹn và ý nghĩa, cần phải “vội vàng” hơn Đọc “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” (Nguyễn Nhật Ánh), những người đã trưởng thành đồng cảm bởi nhìn thấy những giấc mơ, khát khao của chính mình Những tác phẩm gối đầu giường một thời của các anh lính bộ đội cụ Hồ khi ra trận như “Thép đã tôi thế đấy”, “Ruồi trâu”, đem đến cho các anh niềm xúc động mãnh liệt, để rồi được tiếp thêm sức mạnh tinh thần, vượt qua những tháng ngày đạn bom khốc liệt Đã có một thời “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách đã gieo vào lòng những đôi trai gái yêu nhau nhưng không thể đến được với nhau mối đồng cảm mạnh mẽ, để rồi nhiều đôi lứa, không thể thoát khỏi bi kịch

đã rủ nhau lên cầu tự tử, Những mối đồng cảm ấy có cơ sở bởi sự tương đồng cảnh ngộ,

nhưng ngay cả khi không đồng cảnh, người đọc vẫn đồng cảm với số phận các nhân vật bất

hạnh Đọc “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, khi chứng kiến cảnh chị Dậu phải đứt ruột bán con,

Trang 16

bán chó, người đọc nào mà không khỏi xót xa thương cảm dù chưa bao giờ phải trải qua những nỗi đau ấy Hay một đứa trẻ có cuộc sống hạnh phúc vẫn có thể đồng cảm thấu hiểu, thương xót cho những đứa trẻ con nhà nghèo trong “Dưới bóng hoàng lan” (Thạch Lam),

hay trong câu thơ của đồ Chiểu “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ đàn chim dáo dát bay”

Dù có bất cứ sắc thái nào, khi có sự đồng cảm là đã mở đầu cho sự tiếp nhận đạt đến đỉnh cao

- Thanh lọc: là kết quả của việc người đọc thâm nhập vào thế giới tư tưởng nghệ thuật của

tác phẩm, và từ trong xúc động, cảm thấy tâm hồn được điều tiết hài hòa và được mở rộng, nâng cao Nói cách khác, thanh lọc là sự chịu tác động trở lại đối với chính tâm hồn mình của người đọc Đó có thể là một sự cân bằng hài hòa về tâm lí do sức mạnh tình cảm thẩm

mĩ mà tác phẩm đem lại hay sự mở rộng, nâng cao tâm hồn, nhân cách bởi những tình cảm đạo đức của tác phẩm Đó là lí do tồn tại của những câu chuyện cổ tích, với những giấc mơ đẹp đẽ, nơi những con người bất hạnh, khổ đau được an ủi, tiếp thêm hi vọng để mơ tưởng

về tương lai Ăng-ghen cũng đã nói: “Sứ mệnh của câu chuyện dân gian là làm cho nơi làm việc của bác thợ thủ công cùng chiếc gác trọ như cái chòi lạnh lẽo của chú thợ học nghề mỏi mệt bất kham thành thế giới của thi ca và tòa cung điện bạc vàng, để có thể hình dung người tình ẻo lả của mình thành một nàng công chúa xinh đẹp” Hay khi đọc “Sợi

tóc” (Thạch Lam), người đọc nhận ra cái ranh giới giữa người tốt và kẻ xấu ngay trong mỗi con người vốn quá đỗi mong manh, để rồi những con người biết hướng thiện mạnh mẽ, kiên định hơn trong những thời khắc đấu tranh giữa phần CON và phần NGƯỜI ngay trong chính bản thân mình

- Bừng tỉnh: Đây là hiệu quả cao hơn của tiếp nhận, ấy là khoảnh khắc người đọc khi suy

ngẫm về những bài học của tác phẩm, liên hệ đến thế thái nhân tình và bỗng nhận ra thêm những khía cạnh nào đó về triết lí nhân sinh Trong khi, hầu hết người Trung Quốc đều coi câu chuyện “Lão Lai tử” và “Quách cự chôn con” như những biểu tượng của đạo hiếu thì

Lỗ Tấn đã suy ngẫm và nhận ra ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ Với Lỗ Tấn, hình ảnh một ông lão đã 70 tuổi còn mặc áo hoa, nhảy nhót vui đùa như đứa trẻ để mua vui cho cha mẹ là giả

Trang 17

dối Còn chuyện Quách Cự đang tâm định chôn con mình để dành thức ăn nuôi cha mẹ là

vô nhân đạo Trạng thái bừng tỉnh chỉ đạt được khi người đọc thực sự chủ động, tích cực, sáng tạo trong tiếp nhận

- Ghi tạc: Là mức độ sâu hơn của tiếp nhận văn học, thể hiện bằng việc ghi lòng tạc dạ,

nhớ mãi không quên của người đọc về một giá trị nào đó của tác phẩm Những câu Kiều đã

đi sâu vào lòng bao người đọc Việt, để rồi biết bao nhà thơ đã đau đáu trước thân phận người con gái tài hoa bạc mệnh ấy và cất lên những vần thơ:

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều (Tố Hữu)

Những câu chuyện cổ tích thấm đượm tình người được nghe từ tấm bé đã ghi sâu trong tâm trí nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và hiện hữu qua bài thơ “Chuyện cổ nước mình” Tiếp nhận Truyện Kiều, Nguyễn Khuyến suy ngẫm về xã hội đồng tiền trở thành cán cân công lí mà Nguyễn Du lên án:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ Ðời trước làm quan cũng thế à?

Rõ ràng Nguyễn Khuyến đã nhìn Truyện Kiều từ điều kiện lịch sử mà ông đang sống Vịnh Kiều nhưng lên án xã hội đương thời Ðời trước làm quan cũng thế, cũng như đời nay Ðó là tiền

Đồng cảm, thanh lọc, bừng tỉnh, ghi tạc chỉ là những trạng thái tâm lí trong tiếp nhận mang tính chất trung tính Các trạng thái tâm lí này nhiều khi đan xen, đồng thời chứ không xảy ra theo trình tự Do đó tiếp nhận văn học luôn biến đổi, linh hoạt, phong phú

2.3 Phê bình văn học – một loại tiếp nhận đặc biệt

Trang 18

Phê bình là tiếp nhận văn học mang tính chất xã hội hóa, gắn liền với hoạt động đầy

ý thức chuyên môn nhằm đánh giá, thầm định giá trị của đối tượng, xuất phát chủ yếu từ những đòi hỏi của cuộc sống đương đại

Phê bình là hình thức tiếp nhận thể hiện trình độ phát triển cao của văn học nghệ thuật Phê bình chỉ thực sự xuất hiện khi cá nhân nhà văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong sáng tạo Ở phương Tây, phê bình xuất hiện muộn, vào khoảng nửa cuối thế kỉ XVIII, còn ở Việt Nam phải cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, phê bình văn học mới thực sự

ra đời Như vậy, tiếp nhận có trước, phê bình ra đời sau Người đọc nào cũng có thể tiếp nhận văn học nhưng để có thể phê bình thì phải có những năng lực đặc biệt Do đó cần phân biệt rõ giữa tiếp nhận văn học mang tính đại chúng và phê bình chuyên nghiệp

Tiếp nhận văn học mang tính đại chúng là hoạt động cảm thụ của những người đọc

bình thường thuần túy mang tính chất cá nhân, xuất phát từ nhu cầu thiết thực của cá nhân Chẳng hạn, một người khách đi tàu xe, trong lúc nhàn rỗi anh ta tìm đến đến với văn học như một cách giải trí Một nhà nghiên cứu tâm lí có thể tìm hiểu vai trò của động cơ tâm lí của vô thức, ý thức đối với hành vi của con người qua sáng tác của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Họ cũng có thể đưa ra những lời khen, chê dành cho tác phẩm, song chỉ là những ý kiến mang tính chất cá nhân

Hoạt động cảm thụ nghệ thuật của nhà phê bình luôn luôn xuất phát từ nhu cầu của

đời sống xã hội và bản thân văn học Khi khen, chê tác phẩm nhà phê bình bao giờ cũng phát ngôn cho tiếng nói của một lực lượng xã hội Nhà phê bình vừa đại diện cho nhà văn

để dẫn dắt người đọc vào thế giới của những giá trị nghệ thuật, vừa đại diện cho người đọc tạo thành dư luận xã hội nhằm điều chỉnh, định hướng cho sự phát triển của văn học

Do phê bình văn học là một lĩnh vực chuyên môn, một loại hoạt động nhà nghề nên

sự tinh tế, sành sỏi trong cảm thụ nghệ thuật là phẩm chất nổi trội ở các nhà phê bình Có thể, do ảnh hưởng của trào lưu, người đọc đại chúng đang tôn vinh nhiều tác phẩm không

Trang 19

thực sự có giá trị, nhưng theo thời gian, các nhà phê bình và nghiên cứu văn học sẽ đặt các hiện tượng nghệ thuật đích thực vào vị trí xứng đáng của nó

3 Một số kinh nghiệm giảng dạy lí luận tiếp nhận văn học

Trong dạy học ngữ văn, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy bộ môn Trong ba phân môn: Tiếng Việt – Đọc văn - Làm Văn đều đã có những tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp giảng dạy góp phần giúp giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Riêng các bài Lí luận văn học, đa số giáo viên vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy dù đã có khá nhiều tài liệu chia sẻ phương pháp Việc nghiên cứu, tìm ra các phương pháp giảng dạy phù hợp, hỗ trợ cho giáo viên ở mảng kiến thức này cũng đã bước đầu được quan tâm trong thời gian gần đây Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ xin hệ thống lại một số phương pháp dạy học đặc trưng của lí luận văn học để

từ đó mạn phép trao đổi một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy phần kiến thức tiếp nhận văn học – một phạm vi kiến thức rất quan trọng nhưng khá phức tạp của Lí luận văn học

3.1 Phương pháp giảng dạy lí luận văn học

Chương trình môn văn trung học phổ thông đã chính thức xác định kiến thức lí thuyết văn học như là một bộ phận văn học Như vậy hệ thống kiến thức lí luận đã giữ vị trí quan trong trong chương trình Ngữ văn PTTH Giúp học sinh có thể vận dụng những tri thức về

lí luận vào sự phân tích đánh giá tác phẩm, tác giả, vào sự tìm hiểu các trào lưu, các trường phái, các qui luật phát truyển trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam Để truyền thụ những kiến thức lí luận cụ thể, lại khá phong phú, trong điều kiện khống chế của thời lượng, giáo viên cần đảm bảo những yêu cầu và phương pháp sau:

- Phương pháp diễn giảng: Đây là phương pháp thường được dùng nhiều ở trường phổ

thông Từ một bài văn, bài thơ cụ thể, từ những hiện tượng văn học cụ thể, giáo viên giúp học sinh đi đến một kết luận có tính khái quát về văn học Một bài lí luận văn học thư Mỗi tri thức là một khái quát trên các bình diện khác nhau chứa đựng bao nhiêu khái niệm cần

Trang 20

giải thích, bao nhiêu định nghĩa định ngữ phải minh họa, bao nhiêu mối quan hệ logic trong câu phải phân tích, giải thích Vì vậy, dùng phương pháp diễn giảng là phù hợp đối với một bài giảng lí luận văn học thường chứa đựng những mệnh đề khái quát, các tri thức minh họa và tiêu biểu Ngoài ra diễn giảng là phương pháp tiết kiệm được thời gian, có khả năng trình bày tri thức một cách có hệ thống, kết hợp được tính logic và tính truyền cảm

- Phương pháp nêu vấn đề: Dạy học nêu vấn đề là quá trình xây dựng và giải quyết

một cách khéo léo hệ thống tình huống có vấn đề và dạy học nêu vấn đề là một hệ thống tình huống có vấn đề được đặt ra gắn liền với nhau và trong quá trình đó học sinh dưới sự giúp đỡ và lãnh đạo của giáo viên, nắm được nội dung bộ môn, phương thức học tập và phát triển ở mình những phẩm chất cần thiết cho một thái độ sáng tạo đối với khoa học và đời sống Dạy học nêu vấn đề với những câu hỏi phải mang tính hệ thống liên tục, dẫn dắt học sinh từng bước khám phá ra quan điểm tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả Cho nên quá trình phân tích là quá trình giải quyết từng bước những vấn đề đặt ra trước học sinh Mỗi câu hỏi là một cái mốc trong quá trình khám phá đó Câu sau bổ sung cho câu trước, câu trước chuẩn bị cho câu sau, làm thànhmột chuỗi những liên hệ nối tiếp nhau trong một hệ thống vấn đề, phản ánh được bản chất nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Trong việc dạy học các văn bản lí luận thì phương pháp nêu vấn đề sẽ gúp học sinh hệ thống lại những kiến thức cũ đã học qua các tác phẩm văn chương cụ thể, phương pháp này giúp học sinh tư duy một cách logic và hệ thống các kiến thức mình đã học để vận dụng vào việc tìm hiểu các khái niệm lí luận văn học Muốn học sinh làm được những điều

đó thì giáo viên phải đưa ra những “tình huống có vấn đề”, sau khi đưa ra được tình huống thì giáo viên phải đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng học sinh giải quyết “tình huống

có vấn đề” đó Tình huống có vấn đề sẽ gợi cho học sinh những khó khăn, những kích thích, sự tò mò, đem đến nhu cầu cần khám phá các khái niệm về lí luận văn học Từ đó học sinh bắt buộc phải trải qua quá trình suy nghĩ, sự sáng tạo, những suy nghĩ tích cực phát huy tính chủ động cá nhân Phương pháp này giúp học sinh chủ động trong việc lĩnh hội những kiến thức, những nội hàm về các khái niệm lí luận văn học

Trang 21

- Phương pháp trực quan: Trực quan là hoạt động quan sát và nhận thức trực tiếp từ

những sự vật, hiện tượng, con người… cụ thể hoặc các yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ, nụ cười, nét mặt… trước khi trải qua phương pháp suy luận của lí trí Đó là những cơ sở làm cho học sinh khi quan sát có được những hình ảnh cụ thể từ chính những điều đã quan sát hay nhận thức được Phương pháp trực quan trong việc dạy các văn bản lí luận văn học là một phương pháp tương đối quan trọng để thực hiện thao tác quan sát và nhận thức các vấn đề lí thuyết và thực hành nhằm thực hiện hoạt động tiếp nhận văn bản và hoạt động tìm hiểu các khái niệm lí luận Cụ thể hơn, phương pháp trực quan có thể được xem xét là một phương pháp học lí luận mà học sinh sử dụng để tận mắt chứng kiến một sự vật, hiện tượng nào đó, để tìm hiểu một vấn đề, tìm kiếm một ý tưởng, hay một thái độ… thông qua phương pháp quan sát và trình bày trực quan Giáo viên sử dụng phương pháp trực quan chủ yếu là phục vụ cho vấn đề thực hành như: tìm dẫn chứng chứng minh cho một khái niệm lí luận văn học, hay thực hành các ý tưởng, sắp sếp các sự kiện về kiến thức văn học sử, các trào lưu văn học… thông qua sử dụng thao tác quan sát để trực tiếp nhìn thấy sự vật, hiện tượng hoặc nghiên cứu một vấn đề nào đó về lí luận văn học Nếu như học sinh thực hiên hoạt động quan sát tốt thì mới có thể nắm vững được hình thức, đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng… rồi mới có thể tìm ý, nắm bắt các ý tưởng có liên quan tới những kiến thức đó Vì vậy, phương pháp này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động tiếp nhận các văn bản lí luận văn học

Giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp tối ưu tùy theo đặc điểm đối tượng, tài liệu giảng dạy và điều kiện dạy học cụ thể Đặc điểm của chương trình ký luận văn học của học sinh phổ thông đòi hỏi giáo viên phải biết phối hợp các phương pháp trên đây một cách linh hoạt để tận dụng được mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của từng phương pháp, để việc giảng dạy lý luận văn học khỏi trừu tượng khô khan và phù phiếm Trong giảng dạy giáo viên phải nắm vững hệ thống khái niệm lý luận văn học, cần hình thành cho học sinh qua mỗi lớp học để có thể liên kết một cách chặt chẽ, chủ động với các bài học và bài tập văn trong cả năm

Trang 22

3.2 Kinh nghiệm giảng dạy phần tiếp nhận văn học

Với các giáo viên THPT chuyên, việc giảng dạy kiến thức lí luận văn học không còn xa

lạ Tuy nhiên, giảng dạy sao cho có hiệu quả, đem lại sự thích thú, thấu hiểu cho học sinh vẫn luôn là một bài toán khó đối với mỗi giáo viên Trên con đường nỗ lực tìm tòi, sáng tạo của riêng mình, mỗi người giáo viên sẽ tìm ra những cách thức khác nhau để hoàn thành bài giảng với kết quả tốt nhất Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xin được phép chia sẻ những kinh nghiệm riêng mang tính chất thể nghiệm cá nhân, với mong muốn nhận được những lời nhận xét, góp ý chân thành của quý thầy cô các trường THPT chuyên trong cả nước

a) Tạo tâm thế hứng thú cho học sinh trước khi học

Hiệu quả tiếp nhận văn học phụ thuộc khá nhiều vào tâm thế tiếp nhận của người đọc Việc lĩnh hội tri thức lí luận về tiếp nhận văn học của học sinh cũng phụ thuộc rất lớn vào tâm thế học tập của các em Kiến thức lí luận thường khô khan, không dễ nắm bắt, nhiều học sinh vì cố định suy nghĩ như vậy trong đầu nên rất sợ học bộ môn này Khi các

em sợ, không thích học, thì dù giáo viên có nỗ lực đến đâu kiến thức cũng không thể thẩm thấu vào trí não Do đó, trước khi bắt đầu giờ dạy, giáo viên cần tạo cho học sinh hứng thú với bài học

Để tạo hứng thú cho học sinh, từ các giờ học lí luận văn học trước đó, giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh thấy được tầm quan trọng của lí luận văn học trong hoạt động văn học

Lí luận văn học là một bộ phận của khoa nghiên cứu văn học, lấy các hiện tượng văn học như tác phẩm, nhà văn, quá trình sáng tác, sự tiếp nhận, quá trình phát triển của văn học làm đối tượng nghiên cứu Những khái niệm, đặc trưng, các quy luật phổ biến mà nghiên cứu lí luận đúc rút ra được chính là chiếc chìa khóa vạn năng, giúp người đọc mở cửa các tác phẩm văn chương Chẳng hạn, khi biết đặc trưng của văn học là nghệ thuật ngôn từ, người đọc sẽ nhận ra một trong những thước đo tài năng của nhà văn chính là năng lực sử dụng ngôn ngữ Người đọc sẽ trân trọng những khám phá sáng tạo đầy tính nghệ thuật của

Trang 23

ngôn ngữ văn chương Để rồi từ đó, người đọc rút ra cho mình cách đọc hiểu tác phẩm văn học phải bắt đầu từ đọc – hiểu ngôn từ Hay việc nắm được đặc trưng thể loại sẽ giúp cho người đọc lí giải được sự thống trị của một vài thể loại nhất định trong những giai đoạn lịch sử cụ thể

Riêng phần tiếp nhận văn học, giáo viên có thể tạo sự hứng thú cho học sinh bằng cách đưa ra những tác phẩm đa nghĩa, thử thách năng lực tiếp nhận của học sinh Từ đó, cung cấp thêm cho các em những cách hiểu mới, là kết quả tiếp nhận của nhiều người đọc

ở các khoảng thời gian, không gian khác nhau Chẳng hạn, một thanh niên đọc “Hồng lâu mộng” sẽ vô cùng thích thú trước cảnh vui chơi, nô đùa giữa các công tử, tiểu thư với các a hoàn xinh đẹp Vẫn là tác phẩm ấy, nhưng một người đọc trưởng thành, đã nếm mùi của biển trường tình ái sẽ không khỏi xót xa trước bi kịch của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc Còn nếu người đọc là một ông già hoặc bà lão, đã trải qua bao thăng trầm, buồn vui của cuộc đời sẽ thấy thấm thía bao nỗi nhân tình thế thái trong biển đời khổ ải Những câu chuyện từ chính đời sống lịch sử văn học ấy sẽ khiến học sinh yêu mến, có nhu cầu tìm hiểu thêm về các kiến thức lí luận xoay quanh lí luận tiếp nhận văn học

b) Lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp

Khi học sinh đã có tâm thế ham thích học tập kiến thức lí luận trước khi đến lớp, thì việc duy trì và thôi thúc sự ham thích ấy phụ thuộc hoàn toàn vào các hoạt động lên lớp của giáo viên Trước hết, giáo viên cần chuẩn bị nội dung bài giảng thật chính xác, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với năng lực tiếp nhận của học sinh Những bài giảng chứa đựng nhiều thuật ngữ khó nhớ, nặng nề về kiến thức sẽ dễ khiến học sinh suy giảm hứng thú, sợ hãi, không muốn tiếp tục giờ học Ngoài những khái niệm cần nhớ chính xác, các phạm vi kiến thức khác cần được minh họa bằng dẫn chứng hấp dẫn, dễ hiểu nhất có thể Để làm được điều này, giáo viên cần hiểu chắc, hiểu sâu các kiến thức lí luận, tự mình tìm tòi các dẫn chứng minh họa phù hợp, giúp học sinh dễ nhớ Thực tế, yêu cầu nắm bắt kiến thức lí luận ở học sinh trung học phổ thông chưa cao, chủ yếu dùng để vận dụng đọc – hiểu các

Ngày đăng: 28/01/2018, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w