1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi học sinh giỏi lớp văn 10 quan niệm về con người

44 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 474,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hành trình 10 thế kỉ, văn học trung đại Việt Nam đã trải qua 4 giai đoạn: - Thế kỉ X – XIV - Thế kỉ XV – XVII - Thế kỉ XVIII - nửa đầu XIX - Nửa cuối XIX Căn cứ vào sự phân chia tư

Trang 1

MÔN NGỮ VĂN – MÃ CHẤM: V15

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

PHẦN 1: GIỚI THUYẾT CHUNG

I Vài nét về văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam giữ vị trí cực kì quan trọng là chặng đường giữ vị trí mở đầu trong tiến trình văn học dân tộc Văn học trung đại có lịch sử gần một ngàn năm, trong khi văn học cận hiện đại mới có lịch sử chưa đầy một trăm năm Thành tựu của văn học Việt Nam có một phần không nhỏ của nền văn học văn học trung đại Trong suốt lịch trình gần một ngàn năm phát triển, văn học trung đại đã tạo dựng những truyền thống nghệ thuật riêng cho dân tộc Vì vậy, muốn hiểu văn học dân tộc, cần nắm được diễn trình của văn học trung đại, những giai đoạn phát triển, đặc điểm của từng giai đoạn trong lịch sử văn học đặc biệt là quan niệm nghệ thuật về con người Quá trình phát triển văn học trung đại Việt Nam gắn liền với quá trình tiếp thu, kế thừa một cách có chọn lọc

và sáng tạo những tinh hoa văn học các nước khu vực; gắn với sự phát triển văn

tự, với quá trình hình thành và phân hóa các thể loại văn học; quá trình biến đổi các phương thức tư duy nghệ thuật; gắn với nhiệm vụ chính trị mà thời đại và dân tộc đặt ra Trong toàn bộ diễn trình ấy các tác gia văn học trung đại luôn lấy văn học dân gian làm nền tảng Để hiểu văn học Việt Nam thời trung đại, chúng

ta cần tìm hiểu các giai đoạn phát triển của chúng

Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển theo từng bước đi của lịch sử dân tộc Nó chính thức ra đời và thế kỉ X và về cơ bản nó kết thúc vào thế kỉ XIX Lấy văn học dân gian làm nền tảng, lấy nhiệm vụ chính trị mà thời đại đặt ra làm nội dung, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa một cách có chọn lọc tinh hoa nền văn hiến Trung Hoa, Ấn Độ cùng các nước lân cận

Văn học là một quá trình và quá trình này được xác định bằng những điểm mốc đánh dấu từng bước đi cơ bản Muốn vạch ra các bước phát triển của văn học trung đại Việt Nam một cách tương đối khách quan không gì hơn là dựa

Trang 2

vào chính bản thân nền văn học đó Trong hành trình 10 thế kỉ, văn học trung đại Việt Nam đã trải qua 4 giai đoạn:

- Thế kỉ X – XIV

- Thế kỉ XV – XVII

- Thế kỉ XVIII - nửa đầu XIX

- Nửa cuối XIX Căn cứ vào sự phân chia tương đối ấy chúng tôi lấy đó làm 1 trong những

căn cứ để phân chia các mốc khi đi tìm hiểu Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiến trình văn học trung đại

II Quan niệm nghệ thuật về con người

1 Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ của chủ thể sáng tác

Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả biểu hiện con người Con người là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, miêu tả đồ vật, hoặc giản đơn là miêu tả các con vật, văn học đều thể hiện con người Hai chữ ―nhân học‖ có một hàm nghĩa hết sức phong phú Tất cả những gì liên quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học Từ các mặt xã hội đến các mặt thuộc tính tự nhiên, từ hữu thức đến vô thức, từ đã man đến văn minh, từ tội ác đến đạo đức, từ quá khứ đến tương lai, từ thất vọng đến hy vọng, hễ thuộc về con người thì văn học biểu hiện Sự phong phú đó là cội nguồn cho qua niệm đa dạng về con người trong văn học Mặt khác, xét về mặt sáng tác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp biểu hiện nhất định Mặt thứ hai này tạo thành tính chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó

Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học,

Trang 3

tuy nhiên, trước nay người ta chỉ chú ý tới phương diện nội dung và tính khách thể của nó

Quan niệm nghệ thuật về con người mở ra một hướng khác, nó hướng người ta khám phá, phát hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan, sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng có thật

2 Cơ sở xã hội, lịch sử, văn hóa của quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức đặc thù thể hiện con người trong văn học Đó là nguyên tắc cảm thấy, hiểu biết và miêu tả con người trong văn học

Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là sản phẩm của văn hóa, tư tưởng Cho nên dù quan niệm về con người trong mỗi thời có thể đa dạng, nhưng vẫn mang dấu ấn của quan niệm thống trị trong thời ấy

Sang thế kỉ XX quan niệm nghệ thuật về con người hoàn toàn do hoàn cảnh quy định được nhìn lại, tính chủ thể của nó được đề cao Đến xã hội hậu công nghiệp với sự xuất hiện với sự xuất hiện của tư trào hậu hiện đại, vị thế của con người lại bị lật ngược

Quan niệm con người chính là sự khám phá về con người bằng nghệ thuật Nó phản ánh cấu trúc của nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ con người đối với thế giới

Nhưng nếu chỉ chịu sự quy định của lịch sử, xã hội, văn hóa thì văn học làm sao phong phú được?

Quan niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn đầy tính phát hiện độc đáo của nghệ sĩ

3 Ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn không phải là bất cứ cách cắt nghĩa, lí giải nào về con người, mà là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học Nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người Do đó người ta có thể tiến hành so sánh các tác phẩm văn học khác nhau trên giới hạn tối đa đó mà hiểu được mức độ chiếm lĩnh đời sống của các

Trang 4

hệ thống nghệ thuật Chẳng hạn so sánh thi pháp của hai nhà văn Nga L Tônxtôi

và F Dôtxtôiepxki, M Bakhtin nhận thấy Tônxtôi là bậc thầy phân tích tâm lí, ông đã phát hiện ra quy luật biện chứng của tâm hồn, miêu tả quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa của các tình cảm, tư tưởng của con người Dôtxtôiepxki thì không thế, ông ghét tâm lí học đương thời và đi sâu vào bệnh

lí học tâm thần và phát hiện ra các hiện tượng phi lôgic, lạ lùng, không nhất quán, những hiện tượng không thể giải thích được bằng quan niệm tâm lí học hiện hành đương thời

Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn hướng vào

con người trong mọi chiều sâu có thể có, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của một hiện tượng văn học

Quan niệm nghệ thuật về con người là hệ quy chiếu nội tại của chủ thể trong cảm nhận con người, phần nào gợi nhớ tới khái niệm ―hệ hình‖; ―mẫu gốc‖ trong tâm phân học văn học, nhưng đó là một hướng nghiên cứu hòan toàn khác bởi chúng chỉ đề cập tới một khía cạnh của vô thức tập thể Nghiên cứu mẫu gốc là truy tìm cội nguồn của hình tượng, ngược lên đến thần thoại, tô tem, những hình mẫu tối sơ vẫn còn được nhắc lại trong vô thức cộng đồng đời sau

III Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn

học

1 Tương quan nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của

tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước nhất ở các nhân vật, bởi nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con

người theo một quan điểm nhất định và qua các đặc điểm mà anh ta lựa chọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả Tuy nhiên, quan niệm nghệ thuật về con người và nhân vật không phải là một Vì vậy khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người bao quát rộng hơn khái niệm nhân vật Nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể, cá biệt của quan niệm kia

Trang 5

Tuy vậy, muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thì phải xuất phát từ các biểu hiện lặp đi lặp lại của nhiều nhân vật, thông qua các yếu tố bền vững, được tô đậm dùng để tạo nên chúng

2 Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người

Để miêu tả nhân vật thì chủ thể phải hiểu về con người mà nhân vật là một thể hiện cá biệt và có dụng ý khái quát

Không miêu tả chân dung nhân vật cũng là một biểu hiện của quan niệm

về con người Các biểu hiện ấy tạo thành một hành vi, phạm trù cảm nhận về con người Quan niệm về con người gắn liền với các phạm trù nhân loại học như

tư tưởng, hành động, hoài nghi, sủng bái cá nhân, cộng đồng

Chi tiết, ngôn ngữ cũng là phạm vi thể hiện quan niệm về con người như mọi yếu tố khác của tác phẩm Song chúng chỉ biểu hiện trong tính hệ thống trong sự lặp lại có quy luật, có sự liên hệ chi phối lẫn nhau

IV Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiến trình văn học trung

đại

Nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật về con người trong tiến trình văn học trung đại chúng tôi đặt nó trong dòng chảy của sự vận động và phát triển của quan niệm nghệ thuật về con người như: con người trong thần thoại; con người trong sử thi; con người trong cổ tích; Con người trong văn học trung đại (chủ yếu trong văn học viết); con người trong văn học cận hiện đại Để từ đó có cái nhìn đầy đủ, khác quan, khoa học về quan niệm nghệ thuật về con người trong tiến trình văn học trung đại

1 Con người mang dấu ấn đẳng cấp

Trang 6

- Bắt nguồn từ thế giới quan: Không gian vũ trụ và không gian xã hội được nhìn nhận theo chiều dọc vì vậy quan niệm về con người cũng được chia thành đẳng cấp

+ Quý tộc (cao thượng)

+ Bình dân (thấp hèn)

} Khái quát thành hai dạng người: Người quân tử và kẻ tiểu nhân

- Đánh giá: Đây là cách đánh giá có ưu điểm và hạn chế

+ Ưu điểm: Đã dựa vào phẩm chất, trí tuệ, tâm hồn, nhân cách

để đánh giá

+ Nhược điểm: Thể hiện tính chất đẳng cấp (quá coi trọng vật chất), mang tính chất một chiều (người quân tử có thể tha hoá thành tiểu nhân nhưng

kẻ tiểu nhân không bao giờ trở thành người quân tử)

2 Con người trong cái chung, ít thể hiện cá tính

Các nhân vật văn học sáng tác trong giai đoạn này không có sự phát triển

về tính cách, không chú ý nhiều đến sự tác động của hoàn cảnh

Ví dụ nhân vật Vũ Nương (Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ) có tính

cách ổn định (hiếu thảo, thuỷ chung), biến cố sự kiện chỉ có ý nghĩa làm nổi bật lên tính cách

4 Con người trọng đức hơn trọng tài

* Nguyên nhân

Trang 7

Do quan niệm đức trị của phương Đông "khiêm nhi bất kiên" (con người khiêm tốn và không kiêu căng) dẫn đến con người đề cao vương đạo hơn bá đạo

Ví dụ bài Quốc tộ của Pháp Thuận

Vô vi trên điện các, Chốn chốn dứt binh đao

(dùng đức để cai quản sẽ giữ được thiên hạ)

* Ý nghĩa

- Luôn đề cao việc tu dưỡng đạo đức, nhân cách hơn tài năng

- Tạo cho nền văn học chức năng giáo huấn, tải đạo

đa ̣i Lý – Trần Có thể nói đây là thời đa ̣i hào hùng và oanh liê ̣t , rực rỡ và đe ̣p đẽ nhất trong li ̣ch sử chế đô ̣ phong kiến Viê ̣t Nam Đặc trưng cơ bản của thời đại

này có thể nêu lên ba nét lớn như sau:

- Một là, thời đa ̣i đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c thống nhất đất nước, cô ̣ng đồng

Trang 8

- Hai là, thời đa ̣i phu ̣c hưng dân tô ̣c và phát triển đất nước

- Ba là, thời đa ̣i khoan giản, an la ̣c nhân thứ, rô ̣ng mở và dân chủ

Văn học Lý – Trần đã phản ánh sắc nét những đă ̣c trưng cơ bản trên của thời đa ̣i với những đă ̣c điểm cơ bản sau đây:

Một là, văn ho ̣c Lý – Trần hình thành trong sự lê ̣ thuô ̣c, ảnh hưởng có thể nói là nặng nề bởi nhiều yếu tố ngoại lai , đă ̣c biê ̣t là yếu tố Hán nhưng cố gắng

vâ ̣n đô ̣ng để phát triển theo hướng dân tô ̣c hoá

Hai là, văn ho ̣c Lý – Trần đã vâ ̣n đô ̣ng và phát triển trên cơ sở ý thức dân

tô ̣c, kết hợp với cảm hứng thời đa ̣i , mở ra mô ̣t dòng văn ho ̣c yêu nước trong văn chương Viê ̣t Nam

Ba là, văn ho ̣c Lý – Trần đã hình thành những giá tri ̣ nhân bản , trong đó lòng nhân ái, nhân đa ̣o trở thành cảm hứng chủ đa ̣o trong văn chương

Văn học Lý – Trần đã xây dựng và giải quyết được mối quan hê ̣ giữa con người với vũ tru ̣ , tự nhiên ; mối quan hê ̣ giữa con người với con người ; con người với cuô ̣c sống Hình tượng con người trong giai đoạn này phản ánh rõ ràng những nét đặc sắc của thời đại Tiêu biểu là hào khí Đông A trong thời Lý - Trần, sự kì vĩ hào hùng được hun đúc nên từ hình tượng người anh hùng trong các tác phẩm như ―Tỏ lòng‖ (Phạm Ngũ Lão), ―Phò giá về Kinh‖ (Trần Quang Khải) và ―Nỗi lòng‖ (Đặng Dung)

1 Con người vũ trụ

Xuất phát từ cảm thức trung đại , con ngườ i Lý – Trần chưa nhâ ̣n thức tự nhiên như mô ̣t khách thể Hồi ấy, con người nhâ ̣n thức và phản ánh tự nhiên không chỉ ở cấp ý thức hê ̣ mà ở cấp tâm lý xã hô ̣i ; không chỉ ở cầu trường cảm quan về thế giới Với cảm thức ấy , con người đã tự xem mình là mô ̣t phần tử của vũ trụ, bởi quan niê ̣m thiên nhân tương dữ, thiên nhân hợp nhất Vì thế, giữa con người với vũ tru ̣ , tự nhiên có sự gắn bó hoà đồng , có mối quan hê ̣ tương

Trang 9

giao Có được điều này , như đã đề câ ̣p , là nhờ sự gặp gỡ giữa chất phóng khoáng, dân chủ , cởi mở , phá chấp , cùng xuất phát từ tư duy tổng hợp , nhất nguyên, vạn vật nhất thể, tâm pháp nhất như của Phật với chất phiêu diêu, phóng nhiê ̣m, tinh thần biê ̣n chứng khúc tắc toàn , uổng tắc trực , oa tắc doanh và tư tưởng hoà quang đồng trần của Lão – Trang với đức tính dung di ̣, mềm dẻo, linh hoạt, sống phu ̣ thuô ̣c vào thiên nhiên của người Viê ̣t Vì thế, văn ho ̣c Lý – Trần,

đă ̣c biê ̣t là văn ho ̣c Phâ ̣t giáo Lý – Trần đã đem la ̣i cho người đo ̣c nhiều tác phẩm thể hiê ̣n sự gắn bó tương giao ấy , tạo nên hình ảnh con người vũ trụ thật

đe ̣p

Thời đại nhà Trần đã đi qua nhưng dư âm của hào khí thời đại vẫn còn phảng phất cùng lá cờ dân tộc, cùng những con người của thời đại Đến với không khí hào hùng ấy, tác giả Đặng Dung đã sáng tác nên bài thơ ―Nỗi lòng‖ gợi liên tưởng sâu rộng, khắc hoạ vẻ đẹp của nhân vật trữ tình Hơn thế, bài thơ còn là cả một không gian vũ trụ hoành tráng đằng sau nổi cảm hoài cao thượng:

“Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà”

(Giúp chúa những lăm giằng cốt đất

Rửa đòng không thể vén chân mây)

Hai câu thơ cũng khiến ta cảm thấy choáng ngợp trước hình ảnh thơ to lớn,

kì vĩ; hào khí của một thời kiêu hùng còn bừng cháy trong lòng tác giả Ông đem cả cuộc đời mình, rửa những giọt máu của bao sinh linh còn vương trên đất Việt ―Tảy binh vô lộ vãn thiên hà‖ Nhưng tiếc thay, khát vọng phải trải qua bao khó khan, trong đó có con sông rộng lớn ―thiên hà‖ với muôn ngàn tinh tú Hình ảnh con sông khái quát lên tất cả những thử thách mà quân dân ta phải vượt qua Khát vọng lớn lao là thế, nhưng hoàn cảnh của thực tại lại không cho phép ông thực hiện khát vọng ấy:

“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỉ dộ long tuyền đái nguyệt ma”

(Quốc thù chưa trả già sao vội

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy)

Trang 10

Nghiệp lớn còn dang dở mà tuổi tác đã sang thu, tuổi xuân đâu còn nữa Cái nghiệt ngã ấy dương như khép lại cả một cuộc đời đối với người tướng sĩ Thế nhưng, tuổi tác có là gì, khát vọng hào hùng xưa nay còn mãi ―Kỉ độ long tuyền đái nguyệt ma‖ Câu thơ ánh lên một nỗi tự hào, gợi nên vầng quang xưa nay sáng trong cảnh đêm dưới nguyệt, người tướng sĩ cùng thanh gươm quí ôm một khát vọng lớn, ngày đêm nung nấu mài kiếm dưới trăng Một không gian kì vĩ, rộng lớn mà tác giả khắc hoạ chỉ vọn vẹn với câu thơ bảy chữ dồn nén đến cuối bài thơ dường như cả âm vang hào khí Đông A dạt dào trở về kết thúc bài thơ,

mở ra một không gian kì vĩ, rộng lớn càng khẳng định vẻ đẹp con người thời Trần

Như vậy, hình tượng con người vũ trụ trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam đã cho chúng ta thấy quan niệm về con người của các tác giả Đây là nét đẹp không thể lẫn so với các kiểu con người trong các thời kì khác của văn học

2 Con người đạo đức

Trong xã hội phong kiến cổ xưa, con người được nhìn nhận trong hệ thống đạo đức tôn giáo - ―khắc kỉ - phục lễ ― ( theo quan điểm Nho giáo ) Vì thế, văn chương trung đại không phản ánh con người ở các mối quan hệ xã hội mà ở phương diện đạo đức luân lí, đề cao chức năng giáo huấn:

“ Văn dĩ tải đạo

Thi dĩ ngôn chí”

Hình tượng con người thời Lí - Trần thể hiện qua ba tác phẩm: ―Thật hoài‖, ―Cảm hoài‖, Tụng giá hoàn kinh sư‖ dưới góc nhìn của thi pháp văn học trung đại về khía cạnh con người đạo đức đã làm bật lên cái tâm của những vị tướng, con người luôn một lòng với đất nước, nhân dân Đó là con người của lí tưởng, của hoài bão lớn lao cao đẹp

Trong bài thơ ―Thuật hoài‖ (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão, hình tượng con người đạo đức được khắc hoạ qua lí tưởng lập công danh của vị tướng sĩ thời Trần:

“ Nam nhi vị liễu công danh trái

Trang 11

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

( Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu )

Con người trong văn học trung đại còn là con người của tấm lòng, con người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc trưng của họ Phạm Nhũ Lão cũng như thế, đã bày tỏ nỗi lòng mình những niềm trăn trở day dứt khi chưa lập được nhiều công danh chính ( lập công là làm nên sự nghiệp, lập danh là để lại tiếng thơm Vị tướng sĩ hào hùng này luôn tự cảm thấy mình chưa làm đóng góp được gì nhiều cho giang sơn Ông luôn mang trong mình một nỗi thẹn: thẹn

vì chưa trả xong nợ nước, thẹn vì món nợ công danh vẫn còn đó Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá con người Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng, luôn mang một khát vọng cháy bỏng bảo vệ và gìn giữ nền thái bình thịnh trị của đất nước Như vậy, hình tượng con người thời Trần được thể hiện sâu sắc qua ý thức trách nhiệm của vị tướng tài ba đức độ này

Lí tưởng lập ―công danh‖ cao đẹp cũng được nhắc đến nhiều trong văn học trung đại:

“ Làm trai đứng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

( Chí làm trai - Nguyễn Công Trứ)

Hình tượng con người đạo đức trong tác phẩm ― Cảm hoài‖ của Đặng Dung là hình ảnh của một vị tướng thất thế nhưng không nản chí, mà vẫn mang trong mình một lí tưởng cao đẹp:

“ Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỉ độ long tuyền đái nguyệt ma”

( Quốc thù chưa trả già sao vội

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy)

Cũng như hình tượng của người tráng sĩ trong bài ―Thuật hoài‖, vị tướng này cũng mang một tâm trạng ngậm ngùi vì chưa trả xong nợ nước Đây là một

Trang 12

người anh hùng tài ba nhưng lại không gặp thời thế Tuổi già, đầu bạc, vận đã qua rồi nhưng người nghĩa sĩ mấy độ mài gươm không có điều gì phải hộ thẹn với đời, dẫu lòng mang bao tiếc nuối Thanh gươm mà ông từng mài trong đêm trăng ấy có một nét nào đó giống ngọn giáo mà Phạm Ngũ Lão đã từng trấn giữ núi sông Ông vẫn không nản chí, vẫn quyết tâm nung nấu, kiên định theo đuổi

lí tưởng đó chính là một nét đẹp làm nên hình tượng người trai Lí Trần

Bên cạnh đó, con người đạo đức thời Lí - Trần còn gắn liền với khát vọng thái bình muôn thuở, được làm rõ nét qua tác phẩm ― Tụng giá hoàn kinh sư ― ( Phò giá về kinh ) của Trần Quang Khải

“Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang sang”

( Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu )

Vị tướng thắng trận đang trở về kinh đô đã lo nghĩ đến việc dân, việc nước, những mong bảo vệ, giữ vững và xây dựng nền thái bình muôn đời cho ngàn đời con cháu ngày sau Với những câu thơ chắc nịch, ngắn gọn mà lại chất chứa bao cảm xúc và nỗi niềm của vị tướng, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp về lí tưởng

và ý thức của người trai Đại Việt

Như vậy, cùng với con người vũ trụ, hình tượng con người đạo đức cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học trung đại Qua ba tác phẩm: ― Thuật hoài‖, ―Cảm hoài‖, ―Tụng giá hoàn kinh sư‖ dưới góc nhìn thi pháp văn học trung đại về khía cạnh con người đạo đức đã xây dựng nên hình tượng con người thời Lí - Trần - con người với khát vọng cao cả, lí tưởng sống cao đẹp, tấm lòng nguyện hướng về dân về nước, luôn nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm với non sông quê hương

3 Con người phi cá nhân

Con người phi cá nhân chủ yếu được xem xét với tư cách trách nhiệm, nghĩa

vụ với gia đình, xã hội, chưa được xem xét ở đời sống cá nhân, cá thể

Nhân vật trữ tình trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão được khái quát

cao độ, thể hiện tinh thần tự cường dân tộc Khát vọng lập công danh chính là

Trang 13

động lực mạnh mẽ thôi thúc người tráng sĩ từ bỏ lối sống riêng của bản thân, sẵn sàng xả thân vì những nhiệm vụ lớn lao của Tổ quốc:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Không chỉ xông pha nơi mũi tên hòn đạn, người tráng sĩ thời Trần còn dốc tâm, dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân Suy nghĩ ấy rất thiết thực và cụ thể, một ngày còn bóng dáng quân thù là phận

sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa

Khát vọng cao cả của tác giả thể hiện một nhân cách cao đẹp, một tấm long

ưu dân ái quốc, luôn hướng đến lợi ích chung của giang sơn, đất nước

Trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang

Khải, ta cảm nhận được cảm xúc tự hào, hạnh phúc, sung sướng của vị tướng sau những thắng lợi vẻ vang, oanh liệt của dân tộc ta ở Chương Dương, Hàm

Tử:

“Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu”

Câu thơ có giọng điệu trầm lắng, thể hiện suy ngẫm của tác giả: khát vọng xây dựng đất nước thái bình, mong ước đất nước thái bình mãi mãi Lời thơ diễn

tả lời động viên xây dựng đất nước “thái bình nên gắng sức” Qua lời động

viên, mong ước ấy, ta thấy tác giả là người yêu chuộng hòa bình, yêu nước, tự hào về dân tộc mình, trong lòng luôn ấp ủ lí tưởng xây dựng nền thái bình muôn thuở cho dân tộc

Khát vọng về môt thời đại nhà Trần thái bình, thịnh trị, cho muôn dân bốn cõi được sống trong ấm no, yên bình

Nhà Trần đã đi qua nhưng hào khí của một thời lịch sử kiêu hùng vẫn còn

bừng cháy Bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung thể hiện rõ âm vang thời đại Đông

A, hào khí của con người thời đại Lý Trần Qua bài thơ, ta cảm nhận được ước muốn nâng trục đất để giúp nước, giúp vua thay đổi đất nước của tác giả Lòng yêu nước thương dân đã được thể hiện rất rõ qua câu thơ:

Trang 14

“Trí chủ hữu hoài phù địa trục Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà "

Tác giả muốn tẩy binh, rửa áo giáp của một cuộc chiên tranh tàn khốc Dù biết sẽ rất khó khăn, nhưng phải rửa những giọt máu của bao sinh linh còn vương trên áo, rửa đi dấu vết của bụi đường trong ngàn dặm chinh chiến Với tấm lòng của một người yêu nước, ông sẵn sàng làm điều đó, ông chỉ muốn vươn tới một nền hòa bình thực sự

Ý nguyện tốt đẹp của tác giả: mang tài, đức giúp vua giữ yên đất nước, mang lai nền thái bình cho dân Đó là khát vòng lớn lao của tác giả, đồng thời cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi con người thời đại Lý Trần

Sống dưới chế độ chuyên chế phong kiến, con người bị trói buộc bởi hai sợi

dây vô hình: đó là nghĩa và phận Phận vạch ranh giới cho từng người, qui định mức cho mỗi người được ngồi, đứng, nói năng, xưng hô, ăn ở… Nghĩa nhắc nhở

mọi người có trách nhiệm đối với người trên kẻ dưới Trong xã hội tổ chức như vậy, con người không được coi mình là cá nhân – độc lập, có cái riêng của mình Chính vì thế mà hầu hết các tác phẩm thi ca trung đại đều miêu tả, nhìn nhận con người với tư cách là thần dân của một đất nước, phải có trách nhiệm, nghĩa

vụ với vua tôi, cộng đồng Con người cá thể hầu như không được khai thác ở khía cạnh cá nhân, cuộc sống, tình cảm riêng tư

Như vậy, hình tượng con người thời Lí – Trần mang đậm vẻ đẹp hào hùng, chói ngời Con người sống hết kích thước cuộc sống, có niềm tin mạnh mẽ vào bản thân và vào sức mạnh dân tộc Đó là những con người có ý chí và bản lĩnh mạnh mẽ, có trí tuệ sâu sắc và tình cảm dạt dào Ý chí và bản lĩnh giúp họ đứng hiên ngang, chiến thắng mọi thế lực đàn áp, triệt tiêu dân tộc và con người, đồng thời giúp tự khẳng định mình, độc lập, tự do giữa đất nước, ngang tầm với thiên nhiên và vũ trụ, bình đẳng với lân bang Những vẽ đẹp hào hùng ấy đã quy tụ lại tạo nên thời đại oai hùng – thời đại Đông A Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử quốc gia phong kiến tự chủ Đại Việt với những chiến thắng chống ngoại xâm bảo vệ đất nước oanh liệt, với nhiều thành tựu đáng tự hào về chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế Bảy lần chiến thắng ngoại xâm trong vòng

Trang 15

bốn thế kỉ - trong đó có ba lần đánh bại đế quốc Nguyên – Mông từng làm bá chủ nửa toàn cầu và đang mưu toan bành trước xuống phương Nam Chính vẻ đẹp đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ sau Tuy nhiên, hình tượng con người thời Lí –Trần trong văn học bị chi phối bởi những đặc điểm của thi pháp văn học trung đại nên chưa được đề cập tới cá tính cá nhân Con người luôn hướng tới cộng đồng, mang những điểm chung nhất nhưng chưa được xem xét ở khía cạnh cá nhân: cuộc sống đời thương, tâm tư, tình cảm… Có lẽ chình vì thế

mà một phần nét đẹp của họ vẫn còn ẩn chứa và chưa được thể hiện hết Đó là hạn chế của văn chương trung đại

Tóm lại, văn ho ̣c Lý – Trần với những đă ̣c điểm cơ bản vừa trình bà y chính

là sản phẩm tinh thần của thời đại Lý – Trần Nó chi phối các bộ phận văn học thời đa ̣i này, cho dù đó là văn ho ̣c của các nhà Nho hay văn ho ̣c được sáng tác theo cảm hứng Phâ ̣t giáo, cảm quan Thiền học; đồng thời còn ảnh hưởng đến các giai đoa ̣n sau của văn ho ̣c trung đa ̣i Viê ̣t Nam

II Quan niệm nghệ thuật về con người giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế

Về bản thân văn học, giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII văn học

đã chuyển mình theo hướng dân tộc hóa từ ngôn ngữ đến thể loại, từ nội dung đến hình thức Thành phần văn học chữ Nôm phát triển song song với thành phần văn học chữ Hán và ngày càng đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Sự hiện diện song song hai thành phần văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm làm nên đặc trưng song ngữ của văn học Việt Nam và đồng thời cũng khiến cho quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương trung đại có triển vọng phát

Trang 16

triển mới Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh khi giới thiệu thơ Nguyễn Bỉnh

Khiêm đã có nhận xét rất xác đáng rằng: "Xưa kia, mỗi khi muốn nói đến đạo lí,

về những sự kiện chính trị, về sự nghiệp kinh bang tế thế, các tác giả hay viết bằng chữ Hán, vì nhà nước phong kiến coi đó là chữ chính thức Nhưng mỗi khi muốn vui chơi giải trí, hoặc buông thả tâm hồn theo những xúc động hoặc nhận thức riêng tư, tức là không có dụng ý lấy văn để "chở đạo" là chủ yếu, thì tác giả lại hay viết văn, làm thơ chữ Nôm" Nhận định cũng đã chạm tới vấn đề

quan niệm con người trong các tác phẩm văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm - một tác giả tiêu biểu của giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII và cũng là của tất cả các tác giả trong cùng giai đoạn

Những yếu tố kể trên cũng góp phần khiến cho sự thể hiện của quan niệm nghệ thuật về con người có sự thay đổi Từ quan niệm con người sử thi, con người thần, tiên, thiền mà văn học giai đoạn trước tập trung biểu hiện dần dịch chuyển theo xu hướng ngày càng quan tâm sâu sắc tới số phận cá nhân con người

1 Quan niệm về con người anh hùng

Cuộc chiến chống giặc Minh xâm lược là một khúc sử thi của thời đại Chính trong cuộc đương đầu với thế lực xâm lược ấy đã xuất hiện những người

anh hùng, mà tiêu biểu là hình tượng chủ tướng Lê Lợi trong Đại cáo bình Ngô

của Nguyễn Trãi Đó là một người anh hùng hiện lên với những phẩm chất cao đẹp, khiêm nhường rất mực, ý chí chống giặc ngoan cường, bền bỉ với quyết tâm cao độ:

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Trang 17

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ

Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chăm còn dành phía tả

Lời văn ấy khiến ta gợi nhớ tới những câu trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn thuở nào "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như

cắt , nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa

ta cũng cam lòng" Mang nỗi niềm đồng vọng ấy, người anh hùng Lê Lợi cũng

đã vượt qua bao gian nan để cùng toàn dân, cùng tướng sĩ đoàn kết:

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào làm nên những chiến công hiển hách:

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm

Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn

Rồi những lời văn mạnh mẽ, đanh thép trong Quân trung từ mệnh tập dụ hàng địch bằng biện pháp "mưu phạt tâm công" càng khẳng định rõ hơn tầm vóc

lớn lao của con người sử thi thời đại Những con người ấy càng đáng trọng bởi

họ mang trong mình sức mạnh lớn lao của chính nghĩa, của lòng nhân đạo cao cả tạo thành những hình tượng người anh hùng có sức vang động lâu dài.:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Trang 18

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo

Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,

ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,

về đến nước mà vẫn tim đập chân run

Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức

Quan niệm về người anh hùng trong thơn chữ Hán của Lê Thánh Tông lại chú trọng đề cao con người đạo đức từ việc khẳng định sự giáo dục nhân tâm:

"Đạo tâm thanh tự tam thu nguyệt Kình tiết cao ư vạn trượng tùng"

(Giang hành ngẫu thành - kỳ bát)

Nhà vua còn ca ngợi những phẩm chất khác của con người mà Nho giáo ít khi đề cập tới như lòng trong sáng, thanh bạch, khí tiết thanh cao, rắn rỏi, coi thường danh lợi:

"Trội cành nam chiếm một chồi Tin xuân mãi mãi điểm cây mai Tinh thần sáng thuở trăng tĩnh Cốt cách đông khi gió thôi Tiết cứng trượng phu thông ấy bạn Nết trong quân tử trúc là đôi

Nhà truyền thanh bạch dăng từng khối Phỉ xứng danh thơm đệ nhất khôi"

Mượn hình ảnh ―mai - trúc - thông‖, Lê Thánh Tông ca ngợi cốt cách tinh thần luôn giữ được phong thái ung dung, đĩnh đạc của người quân tử, sự cám dỗ của vinh hoa phú quý không làm lung lạc được chí khí

Trang 19

Còn thi ngôn chí của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại mang tới cho người đọc cảm nhận về một con người nhạy cảm với những nỗi lo đời:

Ưu thời thốn niệm bằng thùy tả, Duy hữu hàn san bán dạ chung

(Nỗi lòng lo đời biết nói cùng ai, Chỉ có tiếng chuông chùa trên núi vắng lúc nửa đêm san sẻ) Như vậy, văn học giai đoạn XV đến hết XVII đã tiếp tục thể hiện mạch cảm hứng ca ngợi con người anh hùng, con người sử thi mà giai đoạn trước đã bước đầu tạo dựng "những con người không chỉ mang đầy chiến công mà còn mang lương tâm của dân tộc, biết hận, biết thẹn, day dứt khi nghĩa vụ chưa thành" và hơn thế còn tạo được nét phong phú cho vẻ đẹp của hình tượng ấy

2 Quan niệm về con người cá nhân

Văn học giai đoạn XV đến hết XVII đã bước đầu quan tâm thể hiện số phận cá nhân con người

Trong thơ chữ Hán giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII nổi bật lên hình ảnh con người trung quân, ái quốc không màng danh lợi và con người với những trăn trở về lẽ xuất xử đến day dứt tâm hồn

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi còn lưu lại mãi trong tâm hồn độc giả hình ảnh con người say mê với cảnh trí tuyệt đẹp của non sông, đất nước và nỗi niềm

thương cảm với người xưa Trong bài thơ Dục Thuý sơn, ông viết:

Hải khẩu hữu tiên san, Niên tiền lũ vãng hoàn

Liên hoa phù thủy thượng, Tiên cảnh trụy nhân gian

Tháp ảnh, trâm thanh ngọc,

Ba quang kính thúy hoàn

Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,

Bi khắc tiển hoa ban

(Gần cửa biển có núi tiên,

Trang 20

Năm xưa thường đi về

Hoa sen nổi trên mặt nước, Ðúng là cảnh tiên nơi cõi trần

Bóng tháp như cài trâm ngọc xanh, Ánh sáng trên sóng soi mái tóc biết, Chạnh nhớ quan Trương Thiếu Bảo, Tấm bia đá nói về ông đã lốm đốm rêu phong.)

hay bài Bạch Đằng hải khẩu:

Sóc phong xung hải khí lăng lăng, Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Ðằng

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng

Quan hà bách nhị do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng

(Cửa biển lồng lộng, gió bấc thổi băng băng;

Buồm thơ nhẹ lướt qua sông Bạch Ðằng

Nhìn núi từng khúc, như cá mập, cá sấu bị chặt từng đoạn, Nhìn bờ từng lốp, như giáo kích gươm đao bị gãy chìm Cảnh núi sông hiểm yếu, tạo ra cái thế "lấy ít địch nhiều", Ðây là nơi hào kiệt từng lập nên công danh oanh liệt Việc xưa nghĩ lại, ôi tất cả đã qua rồi!

Tới đây viếng cảnh, nỗi lòng sao biết nên chăng?) Dường như thiên nhiên bao giờ cũng làm dịu lại tâm hồn Ức Trai, đem

đến cho ông sự bình tĩnh và thanh thản Bài Mộ xuân tức sự sau đây là một dẫn

Trang 21

Hoa xoan mưa nhẹ nở đầy sân Cảnh vật ngày cuối xuân này không đi tới xu hướng tàn lụi, bế tắc Trong cái vắng lặng ấy, một sự vật này đang tàn đi, "xuân hướng lão" - mùa xuân đang già đi, thì sự vật khác lại nảy nở, khỏe khoắn: "Một sân hoa xoan nở dưới mưa

nhẹ" Hay bài Trại đầu xuân độ:

Cỏ xuân đầu bến biếc như mây, Thêm lại mưa xuân trời nước đầy

Ðường nội vắng teo hành khách ít, Thuyền côi gác bãi ngủ thâu ngày

Cỏ tốt xanh biếc như khói, mưa xuân làm cho nước đầy, sóng vỗ vào nền trời Cảnh bến sông xuân ấy trẻ trung, rạo rực khiến lòng người xao xuyến

Thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm đề xuất một quan niệm về lẽ xuất -

(Trung tâm quán ngụ hứng, bài 10)

(Nghèo hèn lại gặp thời loạn lạc này, Khăng khăng một lòng lo nước, tóc bạc như tơ)

Trang 22

Còn trong thơ Nôm, phạm vi và khả năng biểu hiện của con người được

mở rộng về phía riêng tư, trần tục, ít quan phương

Ở thơ Nôm của Nguyễn Trãi, ta thấy một con người riêng tư chất chứa nhiều tâm sự Ông có những triết lí thế sự sâu sắc mà giản dị đúc kết từ những trải nghiệm đau đớn trong cuộc đời Đó là nỗi đau, sự tiếc nuối, bất bình khi những con người tài năng, những giá trị chân chính không được coi trọng:

Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi

(Tự thuật, bài 9)

Là lời khuyên về lẽ đời giản đơn mà vô cùng quý giá:

Nên thợ nên thầy vì có học

No ăn no mặc bởi hay làm

(bảo kính cảnh giới, bài 46)

Hay:

Áo mặc miễn là cho cật ấm Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon

(Dạy con trai)

Ta cũng thấy trong thơ ông hình ảnh con người say mê , yêu quý, nâng niu cảnh vật thiên nhiên:

Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá Rừng tiếc chim về ngại phát cây

Ông mở lòng đón nhận những vẻ đẹp tinh tế, rạo rực của thiên nhiên bằng

tâm hồn nhạy cảm để tạo nên những bức tranh thơ tuyệt đẹp như trong bài Cảnh ngày hè, Cảnh hè

Song dù có tìm về với cuộc sống ẩn dật của bậc ẩn sĩ nhưng trước sau Nguyễn Trãi vẫn đau đáu một nỗi niềm canh cánh khôn nguôi Đó là nỗi niềm của một con người ý thức được rõ về tài năng, đức độ của bản thân, mong muốn đem tài năng ấy để báo đáp bậc quân vương và đất nước Ông mượn lời tâm sự với cây tùng để bộc lộ chí ấy:

Ngày đăng: 28/01/2018, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w