1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuyển tập đề thi học sinh giỏi ngữ văn 10 hội trại hùng vương 2017

93 895 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 829 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-->Nhận định đề cập đến một trong những phẩm chấtcần phải có của người nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật: phải có con mắt tinh đời, thấu đáo để p

Trang 1

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10

NĂM 2017 Thời gian làm bài: 180 phút

Đề này có 01 trang, gồm 02 câu Câu 1 ( 8,0 điểm)

Hãy chia sẻ suy nghĩ của anh/chị về câu nói sau:

Cuộc hành trình ngàn dặm nào cũng phải bắt đầu bằng một bước đi nhỏ

( Trích từ mẩu truyện Những bông hoa làm bằng vỏ bào trong Bông

hồng vàng của nhà văn Pauxtopxki)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào?

Hãy làm sáng tỏ qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh Kí (Độc Tiểu Thanh Kí) của

Trang 2

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII HƯỚNG DẪN CHẤM TRƯỜNG THPT CHUYÊN HẠ LONG MÔN: NGỮ VĂN 10 TỈNH QUẢNG NINH

1 Chia sẻ suy nghĩ về câu nói sau:

Cuộc hành trình ngàn dặm nào cũng phải bắt đầu bằng một bước đi nhỏ bé đầu tiên.

(Trích Châm ngôn của Lão Tử).

8,0 điêm

I.Yêu cầu chung.

- Học sinh trên cơ sở hiểu về ý kiến, biết vận dụng kiến thức xã hội và kĩ năng để viết bài văn nghị luận

xã hội về một tư tưởng đạo lí, thể hiện được quan điểm và suy nghĩ tích cực về vấn đề.

- Bố cục bài viết hợp lí, lập luận chặt chẽ, giọng văn giàu cảm xúc, chân thành, diễn đạt chính xác, lôi cuốn, thuyết phục, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu, trình bày mạch lạc, khoa học.

II Yêu cầu cụ thể Bài làm của học sinh có thể trình

bày theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần có những ý sau:

1 Dẫn dắt, giới thiệu khái quát vấn đề cần nghị luận 0,5đ

2 Giải quyết vấn đề 2.1.

Giải

thích

- Hành trình ngàn dặm: đường đi dài (nghĩa đen),

thành công lớn (nghĩa bóng).

- Bước đi nhỏ bé: việc làm, hành động nhỏ bé, cụ thể.

> Nội dung câu châm ngôn: đúc kết một chân lí đơn giản, có tính quy luật: muốn có được thành công thì phải có bắt đầu, làm tốt việc nhỏ mới có được thành công lớn.

1,0đ

2.2

Bàn

luận

* Ý kiến hoàn toàn đúng: Vì

- Trong đời sống tự nhiên, cũng như xã hội của con người có biết bao điều lớn lao đều được tạo ra bởi những gì nhỏ bé: biển cả mênh mông được tạo ra từ vô

số nước đổ về từ những dòng sông, con suối nhỏ, cây đại thụ trưởng thành từ hạt mầm, kì tích của nhân loại

có được nhờ những nỗ lực từng bước của con người…

- Thành công vốn không có sẵn Tất cả những thành

5,0 đ

Trang 3

công, những điều vĩ đại trên thế giới này đều bắt đầu

từ những điều nhỏ bé ở đâu đó, ở một khoảnh khắc

nào đó trong quá khứ

- Những điều nhỏ bé, những hành động, việc làm cụ

thể ở những giây phút đầu tiên là tiền đề, là nền tảng

để đi đến thành công: đó có thể là những kế hoạch,

phương hướng ban đầu được lập ra, những tri thức

được huy động, vận dụng, là tinh thần, nhiệt huyết

phấn đấu là tất cả những gì cần thiết nhất cho hành

trình ngàn dặm.

- Làm tốt những việc làm, hành động nhỏ sẽ củng cố ý

chí, niềm tin cho con người, rút ra cho con người

những bài học kinh nghiệm quý báu về thành công hay

thất bại, bản thân sẽ nhận được từ mọi người tình cảm

yêu mến, động viên, khích lệ Đó sẽ là nguồn động

lực to lớn để con người tiến về phía trước, chinh phục

hành trình ngàn dặm và gặt hái thành công.

- Trong cuộc sống có những người biết ước mơ, dám

nghĩ, dám làm và đi đến đích của cuộc hành trình rất

đáng ngợi ca Bên cạnh đó, cũng cần phê phán những

người không có ước mơ, hoài bão, sống mờ nhạt, hời

hợt, những người muốn có thành công nhưng không

làm gì, không đi một bước nào

- Ý thức được ý nghĩa to lớn của thành công trong

cuộc sống của con người, không ngừng nuôi dưỡng

những ước mơ, hoài bão, khát vọng, thấy được tầm

quan trọng của giây phút khởi đầu và những hành

động, việc làm nhỏ bé để biến ước mơ thành hiện

thực, vươn tới thành công.

- Cần làm tốt việc nhỏ để có được thành công lớn; bắt

đầu những điều lớn lao bằng những bước đi vững chắc

đầu tiên.

1,0 đ

3 Tổng kết lại vấn đề.

Câu châm ngôn của Lão Tử thực sự bài học nhân sinh

có ý nghĩa sâu sắc cho những ai còn đắm mình trong

lối sống buông thả, sống không có ý chí, nghị lực, ước

mơ, hoài bão hoặc còn lúng túng chưa định hướng

được con đường tương lai phía trước.

0,5đ

Trang 4

2 Didorot – nhà văn, nhà triết học Pháp thế kỉ XVIII

từng cho rằng: Nghệ thuật là ở chỗ tìm ra cái phi thường trong cái bình thường và cái bình thường trong cái phi thường.

( Trích từ mẩu truyện Những bông hoa làm bằng vỏ bào trong Bông hồng vàng của nhà văn

Pauxtopxki)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm

sáng tỏ qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh Kí ( Độc Tiểu

Thanh Kí) của Nguyễn Du.

12,0 điểm

I.Yêu cầu chung:

- Học sinh biết cách làm bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, trên cơ sở vận dụng được kiến thức lí luận, kiến thức đọc hiểu tác phẩm và những thao tác lập luận cần thiết.

- Bố cục bài viết rõ ràng, khoa học, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả, trình bày.

II Yêu cầu cụ thể Học sinh có thể giải quyết vấn đề

theo nhiều hướng nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản

sau:

1 Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận. 0,5 đ

2 Giải quyết vấn đề.

2.1 Giải thích.

- Nghệ thuật: là những sáng tác nghệ thuật nói chung

đặc biệt là những tác phẩm văn chương đều giá trị ở chỗ:

+ Tìm ra cái phi thường trong cái bình thường:

tức là người nghệ sĩ nhìn thấy trong những sự vật, hiện tượng, con người bình dị, gần gũi những đặc điểm, tính cách, những phẩm chất mới mẻ, khác lạ, vượt trội.

hay nói đúng hơn là tác giả trong tác phẩm nghệ thuật của mình phải nhìn thấy ở những sự vật bình thường

thậm chí tầm thường những giá trị lớn lao, vĩ đại

+ Tìm ra cái cái bình thường trong cái phi thường:

nghĩa là người sáng tác phải phát hiện ra bên trong những sự vật, những con người, những đối tượng cao đẹp, vĩ đại, lí tưởng những biểu hiện, những tính cách chân phương, gần gũi, hợp lẽ nhân sinh Hay nói đúng, cái nhìn của người nghệ sĩ làm cho những cái xa lạ, phi thường trở nên gần gũi, chân thật, hợp quy luật.

2,0đ

Trang 5

>Nhận định đề cập đến một trong những phẩm chất

cần phải có của người nghệ sĩ nói chung và nhà văn

nói riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật: phải có

con mắt tinh đời, thấu đáo để phát hiện ra bản chất

của đời sống trong tính đa dạng, phức tạp, đa chiều,

đa diện của nó Đây cũng chính là phẩm chất đặc biệt

cần thiết đối với nhà văn.

2.2 Bàn luận Ý kiến hoàn toàn xác đáng,

thuyết phục.

a Cơ sở lí luận.

- Hiện thực đời sống vốn vô cùng phong phú, đa dạng.

Để tái hiện đời sống, đòi hỏi nhà văn phái có những

phát hiện mới mẻ, độc đáo, khác lạ đối với các sự vật,

hiện tượng, con người trong tự nhiên và đời sống xã

hội, đồng thời phải có cái nhìn nhân bản, toàn diện đến

từng ngõ ngách bên trong của đối tượng.

Phát hiện ra cái phi thường trong cái bình thường và

ngược lại Điều ấy làm cho tác phẩm trở nên sắc nét,

sâu sắc và bộc lộ cái nhìn thấu đáo, toàn diện, thú vị

về cuộc sống, con người Tác phẩm cũng vì vậy trở

nên mới mẻ, gây hứng thú, in dấu ấn của cá tính sáng

tạo.

- Nhìn ở phương diện khác khi nhà văn tìm ra cái phi

thường trong cái bình thường và cái bình thường trong

cái phi thường chính là khả năng phát hiện, phản ánh

đời sống một cách sâu sắc và chân thực Bởi cuộc

sống vốn đa chiều, phức tạp, nếu nhà văn chỉ nhìn

cuộc sống bằng đôi mắt đơn giản, một chiều, hời hợt

thì hình tượng văn học sẽ trở nên nông cạn, thiếu sức

khái quát và chiều sâu nhân bản.

- Nếu văn chương chỉ nhận thức đời sống ở mặt kì vĩ

phi thường, tác phẩm sẽ sa vào lối tô hồng cuộc sống.

Hoặc nhà văn chỉ nhìn cuộc sống ở khía cạnh xù xì,

thô nhám, tầm thường thì tác phẩm sẽ làm méo mó,

bôi đen hiện thực, quy luật của đời sống.

8,0 điểm

2,0đ

b Cơ sở thực tế

- Nhiều tác phẩm văn học là minh chứng cho tính

đúng đắn, thuyết phục của ý kiến trên

- Học sinh đi sâu vào phân tích bài thơ Đọc Tiểu

Thanh Kí (Độc Tiểu Thanh Kí) của Nguyễn Du Có

thể phân tích bài thơ theo nhiều cách khác nhau nhưng

không được xa rời, trái lại phải có tác dụng soi tỏ làm

rõ cho những vấn đề lí luận:

b.1.Những cái bình thường trong tác phẩm qua cái

6,0đ

Trang 6

nhìn phát hiện của nhà thơ.

- Sự đổi thay dữ dội của vườn hoa Tây hồ giữa quá

khứ và hiện tại, giữa rực rỡ, huy hoàng và tiêu điều,

tàn lụi, hoang phế không còn lại một chút dấu tích nào

của cái Đẹp.

- Cái chết oan khuất, cuộc đời dở dang, đứt đoạn, số

phận trái ngang, bi kịch tài hoa, bạc mệnh của nàng

Tiểu Thanh.

b.2 Những cái phi thường trong tác phẩm qua cái

nhìn có tính chất khám phá của tác giả.

- Quy luật khắc nghiệt của thời gian và sự thăng trầm

biến thiên dâu bể của cảnh vật và cuộc đời.

- Quy luật số phận của những người phụ nữ nhỏ bé

trong xã hội xưa: Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

- Quy luật số phận – sự bất công, nỗi niềm oan khuất

của những con người tài hoa, tài tử trong xã hội cũ

trong đó có nhà thơ:

+ Hồng nhan bạc mệnh, tài hoa bạc phận.

+ Tài tử đa cùng

- Tình cảm, cảm xúc của đại thi hào.

+ Đau đớn, xót thương, đồng cảm với nàng Tiểu

Thanh và những người phụ nữ nhỏ bé, bất hạnh trong

xã hội Đặc biệt thương cảm những người phụ nữ tài

hoa, bạc mệnh Tự nhận mình cùng hội, cùng thuyền

với những con người tài tử, tài hoa.

+ Oán hận trước hiện thực đen tối, bất công của xã

hội.

+ Cô đơn, lo lắng, băn khoăn cho số phận của mình ở

tương lai và khao khát có được sự tri âm, đồng điệu ở

hậu thế.

+ Cả bài thơ là tiếng khóc lớn, khóc vì thương người,

tiếc tài, khóc cho mình và bao số kiếp tài hoa, tài tử

trong xã hội phong kiến Từ đó mà cất lên tiếng nói

đòi quyền sống cho những người nghệ sĩ, những người

đã cống hiến cho cuộc đời những giá trị tinh thần cao

quý Đó chính là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc,

mới mẻ của tác phẩm.

b.3 Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ: thể thơ thất ngôn

bát cú hàm súc, cô đọng, ngôn từ chính xác, biểu cảm,

nghệ thuật đối, câu hỏi tu từ được khai thác hiệu quả

2.3 Mở rộng.

- Đối với người sáng tác: đây là một tiêu chí cần thiết,

đòi hỏi người nghệ sĩ phải có con mắt tinh đời và phải

1,5đ

Trang 7

chịu khó dấn thân, trải nghiệm, khám phá, thấu hiểu sâu sắc nhân tâm con người cũng như đời sống vạn vật.

- Đối với người tiếp nhận: luôn quan tâm đến những

điều bình thường và phi thường để nắm bắt giá trị của tác phẩm một cách đầy đủ, toàn diện, có chiều sâu.

3 Tổng kết vấn đề.

- Ý kiến trên đã khái quát chính xác một vấn đề có tình quy luật trong sáng tác văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung.

- Ý kiến có giá trị như một định hướng cho cả người sáng tác và người tiếp nhận.

0,5đ

* Lưu ý khi chấm bài:

- Giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm.

- Cần khuyến khích những bài làm có tính sáng tạo, nội dung bài viết có thể không trùng với yêu cầu trong đáp án nhưng lập luận thuyết phục, văn phong sáng rõ

- Việc chi tiết hóa điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi phần và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.

Người làm hướng dẫn chấm: Hoàng Thị Hương Lan

ĐT: 0906.088.986

Trang 8

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG

ĐỀ ĐỀ XUẤT

(Đề bài gồm có 02 câu; 01 trang)

ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI

MÔN NGỮ VĂN - KHỐI 10

Một điều hiểu một ý nghĩ Nếu phải giữ một mình suốt đời

Có thể làm bạn điên

Cái gánh nặng Nhìn - nghĩ - yêu thương

Mối hy vọng Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác

(Một niềm vui một nỗi buồn - Tuyển tập thơ Nguyễn Đình Thi

- NXB Văn học 1994, tr.175)

Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong bài thơ trên.

Câu 2 (12.0 điểm)

GS Trần Đình Sử cho rằng: “Hình tượng nghệ thuật là tiêu điểm sáng tạo của nhà

văn, làm cho văn bản ngôn từ trở thành tác phẩm nghệ thuật”.

( Trích: Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2 (2005), NXB Giáo dục, trang 262)

Anh/chị có đồng ý với ý kiến trên không? Hãy làm sáng tỏ quan điểm của mình qua

một tác phẩm thơ văn thời Lý – Trần trong chương trình Ngữ văn 10.

HẾT

-� Thí sinh không được sử dụng tài liệu.

Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh: Số báo danh:

Giáo viên ra đề:

- Diêm Kim Loan - SĐT: 01682546497

- Nguyễn Thị Ngọc Huệ - SĐT: 0904000598

Trang 9

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG

(Hướng dẫn chấm gồm có 04 trang)

HDC THI CHỌN HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN - KHỐI 10 Ngày thi: 29/07/2017

Thời gian làm bài: 180 phút

1 Yêu cầu về kĩ năng:

Có kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội, lí lẽ rõ ràng, lập luận chặt chẽ,

thuyết phục, dẫn chứng hợp lí Bài viết đảm bảo kết cấu 3 phần: Mở - Thân –

Kết.

2 Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể tự do bày tỏ quan điểm của cá nhân

song cần đưa ra được những lí lẽ thuyết phục.

Sau đây là một vài gợi ý:

2 1 Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận 0.25

2 2 Thân bài

a Giải thích

- Một niềm vui một nỗi buồn/Nếu phải giữ một mình suốt đời /Bạn có thể chết

vì nó Có thể làm bạn điên Niềm vui hay nỗi buồn cần được chia sẻ với

những người xung quanh Nếu phải giữ một mình suốt đời, không sẻ chia với

người khác, con người có thể chết vì nó trở nên cô đơn trong thế giới của

chính mình.

- Mối hy vọng/Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác: Hai câu thơ khẳng định con

người cần có những tâm hồn đồng điệu để chia sẻ những buồn vui, yêu

thương, lo lắng trong cuộc đời

 Bài thơ đặt ra vấn đề về lối sống gắn kết, sẻ chia, yêu thương giữa người

với người.

1.5

Trang 10

b Bàn luận

* Bài thơ trên thể hiện một quan niệm đúng đắn và sâu sắc về lối sống đẹp

của con người.

- Vì sao giữ niềm vui, nỗi buồn, điều hiểu, ý nghĩ một mình suốt đời con

người có thể chết vì nó ? Bởi lẽ:

+ Khi con người không biết sẻ chia, cảm thông với người khác, với cuộc

sống xung quanh thì họ sẽ trở nên cô đơn trong thế giới của chính mình.

+ Sống khép kín, không chia sẻ cũng là nguyên nhân khiến cho con người

không tìm thấy điểm tựa, mất niềm tin vào cuộc sống.

- Vì sao Mối hi vọng/Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác?

+ Để có một cuộc sống bình thường, con người phải đặt mình trong những

mối quan hệ xã hội: quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, gia đình, quan hệ với

những người xung quanh Nếu tách mình khỏi những quan hệ xã hội, nếu

không chia sẻ, con người sẽ cô đơn và không tìm được ý nghĩa cuộc sống

+ Khi biết chia sẻ, con người sẽ tạo nên được sức mạnh của tinh thần đoàn

kết, sự gắn kết với mọi người xung quanh sẽ giúp con người vượt lên nỗi cô

đơn và chiến thắng nỗi sợ hãi.

* Mở rộng, nâng cao vấn đề:

- Đôi khi, con người cũng cần những khoảng trời riêng, những phút cô đơn

rất cần cho sự sáng tạo, nhưng cô đơn không có nghĩa là tự cô lập, tự tách

mình ra khỏi cuộc sống.

- Lối sống sẻ chia để gắn kết với xung quanh là cần thiết nhưng cũng cần có

sự lựa chọn, tránh những kết nối xô bồ thiếu chọn lọc có thể ảnh hưởng xấu

đến cuộc sống của mình.

- Phê phán những người sống thu mình, ích kỉ, thờ ơ, vô cảm với những

người xung quanh

2.0

2.0

1.0

c Rút ra bài học, liên hệ bản thân

HS chia sẻ những trải nghiệm của bản thân và bài học sâu sắc rút ra được từ

vấn đề đã bàn luận HS tự liên hệ bản thân để chọn cho mình một lối sống

đúng đắn.

1.0

1 Yêu cầu chung: Hiểu đúng đắn vấn đề, nắm được cách làm bài văn nghị

luận văn học, bài viết nêu được ý kiến riêng, có sức thuyết phục.

Trang 11

2 Yêu cầu cụ thể: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau

nhưng cần đảm bảo các yêu cầu sau:

2 1 Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận 0.5

2 2 Thân bài

a Giải thích

- Hình tượng nghệ thuật: sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và

tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật.

- Tiêu điểm sáng tạo: nơi tập trung cao độ dụng công nghệ thuật và ý đồ sáng

tạo của nhà văn

 ý kiến đặt ra vấn đề: tầm quan trọng của hình tượng nghệ thuật trong việc

tạo nên tác phẩm văn học.

1.5

b Bình luận: Hình tượng nghệ thuật có vai trò vô cùng quan trọng, nơi tập

trung cao độ ý đồ sáng tạo và dụng công nghệ thuật của nhà văn trong việc

tạo nên tác phẩm văn học Bởi:

- Đặc trưng của văn học:

+ phản ánh thế giới thông qua hình tượng nghệ thuật Nói cách khác, hình

tượng nghệ thuật chính là các khách thể của đời sống được nghệ sĩ tái hiện

bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật.

+ Chất liệu của văn học là ngôn từ, nhưng là ngôn từ mang tính nghệ thuật.

Văn bản ngôn từ chỉ trở thành tác phẩm khi nó xây dựng được hình tượng

nghệ thuật cụ thể, sinh động.

- Đặc trưng của hình tượng:

+ Không phải là sự sao chép y nguyên cuộc sống mà là sự tái hiện có chọn

lọc, sáng tạo, thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ.

+ Vừa có giá trị cụ thể lại vừa có khả năng khái quát.

+ Mang tính đa nghĩa.

Hình tượng nghệ thuật không những thể hiện tập trung ý đồ, tư tưởng sáng

tạo của nhà văn, tình cảm, cảm xúc của nhà văn về cuộc sống và con người

mà còn phản ánh năng lực, trình độ sáng tạo của nhà văn, nhà thơ.

 Hình tượng nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo

nên ý nghĩa, giá trị văn bản Làm cho văn bản ngôn từ trở thành thành

tác phẩm nghệ thuật thực sự.

3.0

c Chứng minh: vai trò quan trọng của hình tượng nghệ thuật trong một tác

phẩm thơ văn thời Lý Trần.

HS có thể tùy ý lựa chọn một trong các tác phẩm:

Thuật hoài

Cảm hoài

Bạch Đằng giang phú.

Dù chọn tác phẩm nào, HS cũng cần làm rõ những ý sau:

- Hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong tác phẩm là hình tượng nào?

- Tác giả đã xây dựng hình tượng nghệ thuật ấy như thế nào? Bằng cách nào?

- Ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật ?

5.0

Trang 12

d Đánh giá, mở rộng, nâng cao

- Thơ ca trung đại thường nói chí, tỏ lòng nên hình tượng nghệ thuật thường

là sự kí thác tiếng lòng, tư tưởng của tác giả.

- Đặt ra yêu cầu với nhà văn, nhà thơ: phải có khả năng quan sát, thể hiện,

tưởng tượng, sáng tạo để xây dựng hình tượng song cũng đồng thời phải có tư

tưởng, tình cảm, cảm xúc sâu sắc để làm cho hình tượng có chiều sâu.

- Nhà văn, nhà thơ dụng công xây dựng hình tượng nghệ thuật nhưng độc giả

cũng phải bồi đắp tâm hồn, năng lực đọc của mình để cảm nhận và hiểu hình

tượng, có như vậy văn bản ngôn từ mới thực sự có giá trị như một tác phẩm

văn học.

1.5

2.3 Kết bài:

- Khẳng định tính đúng đắn của nhận định.

- Nêu ý nghĩa của nhận định.

Điểm toàn bài 20 điểm

Lưu ý khi chấm bài:

- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm một cách máy móc, linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm.

- Cần khuyến khích những bài làm có tính sáng tạo, nội dung bài viết có thể không trùng với yêu cầu trong đáp án nhưng lập luận thuyết phục, văn phong sáng rõ,

- Việc chi tiết hóa điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi phần và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÀ GIANG

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10

Thời gian làm bài : 180 phút

( Không kể thời gian giao đề )

Câu 1 ( 8,0 điểm)

" Nếu một ngày cuộc sống của bạn bị nhuốm màu đen, hãy cầm bút và vẽ cho

nó những vì sao lấp lánh."

Trang 13

Hãy trình bày suy nghĩ của anh/ chị về câu nói trên ?

Câu 2 (12,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: “Chủ thể trữ tình của ca dao khi cảm nghĩ về thân phận mình là thấy buồn, thấy khổ; nhưng khi cảm nghĩ về những người thương mến,

về những nơi, những vật thân thuộc là thấy yêu, thấy thương ”.

Anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua những bài ca dao than thân, yêuthương tình nghĩa đã học ở chương trình Ngữ văn 10

Giáo viên ra đề :

Chu Hồng Vân

Số điện thoại : 0915894299

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÀ GIANG

a Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội với bố cục rõ ràng, mạch lạc, hành văntrôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu Kết hợp nhuần nhuyễn cácthao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận dẫn chứng tiêubiểu, chọn lọc

b Yêu cầu về kiến thức:

Trang 14

Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ nhữngyêu cầu cơ bản sau:

1 Mở bài : Dẫn dắt, giới thiệu khái quát về vấn đề cần nghị luận (1,0 điểm )

2 Thân bài :

a Giải thích nội dung câu nói (1,0 đ )

"Cuộc sống bị nhuốm màu đen": Chỉ cuộc sống tối tăm, gặp nhiều sóng

gió, khổ đau, bất hạnh, không hy vọng

"Cầm bút và vẽ cho nó những vì sao lấp lánh" (tạo nên một bầu trời đêm

thật đẹp): chủ động, tìm hướng khắc phục với tinh thần lạc quan biếnnhững đau khổ thành niềm vui, thành công và hạnh phúc

=> Ý nghĩa: Dẫu cuộc sống có tối tăm, đau khổ, bất hạnh đến đâu, mỗi conngười cần chủ động thay đổi, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn

b Phân tích, chứng minh vấn đề (3.0đ)

 Cuộc sống luôn có nhiều chông gai, thử thách, bất trắc do yếu tố kháchquan, chủ quan mang đến với những tác động rủi ro, khiến con người cảmthấy đau khổ, tuyệt vọng

 Dù cuộc sống có đen tối, khổ đau nhưng con người không được bi quan,buông xuôi, đầu hàng số phận Trong khó khăn, thử thách, con người nhậnthấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình, có điều kiện tôi luyện bản lĩnh, rút

ra được nhiều bài học kinh nghiệm, làm tiền đề cho những thành công,hạnh phúc sau này

 Con người cần tin tưởng vào khả năng của bản thân, tự quyết định cuộcsống của mình Bằng sự nỗ lực cố gắng, dũng cảm vượt qua thử thách, khổđau, với ước mơ, hoài bão và những suy nghĩ, hành động tích cực, mỗicon người phải luôn hướng về phía trước để làm thay đổi cuộc đời ngàycàng tốt đẹp hơn

 Nếu không dám đương đầu và vượt qua những thất bại, khổ đau thì conngười sẽ bị nhấn chìm, gục ngã, mãi sống trong bất hạnh và sự tăm tối (Học sinh chọn dẫn chứng tiêu biểu minh họa cho các ý trên)

c Bàn luận, mở rộng vấn đề (2.0)

 Khẳng định ý kiến trên là đúng đắn, sâu sắc, như một lời gợi mở, nhắcnhở về một phương châm sống tích cực khi đứng trước những khó khăn,thử thách trong cuộc sống

 Phê phán những người không có ý chí, tinh thần vượt khó, sống yếu đuối,cam chịu hoặc có những hành động việc làm nhằm thoát khỏi hoàn cảnhsống đen tối theo theo hướng tiêu cực

3 Kết bài ( 1.0 đ)

Trang 15

 Văn viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng

 Chủ thể trữ tình của ca dao khi cảm nghĩ về thân phận mình là thấy buồn,thấy khổ Họ cất lên những tiếng nói than thở về những nỗi bất hạnh củamình: than về phận khó, về nỗi cơ cực, về lỡ duyên,

 Chủ thể trữ tình khi cảm nghĩ về những người thương mến về những nơi,những vật thân thuộc là thấy yêu, thấy thương Họ cất lên câu hát yêuthương, tình nghĩa chứa chan tình yêu lứa đôi, tình cảm gia đình, quêhương đất nước

> Nhận định đã khái quát được hai nội dung chủ yếu của ca dao trữ tình: Nỗixót xa, đắng cay và tình cảm yêu thương, thủy chung, đằm thắm ân tình củangười bình dân trong xã hội cũ

Trang 16

o Ý thức được vẻ đẹp riêng, giá trị của mình ("tấm lụa đào": vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại, xuân sắc, quý giá , "củ ấu gai" - "ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen": vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn)

o Xót xa cho thân phận nhỏ bé, đắng cay, tội nghiệp (Thân em )

nhưng nỗi đau khổ của từng người lại mang những nét riêng ("tấm lụa đào": đẹp nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào người khác, không tự quyết định được số phận của mình; "củ ấu gai": có phẩm chất tốt đẹp

bên trong nhưng không được ai biết đến, vẻ đẹp ấy bị che phủ bởi cái

bề ngoài xấu xí, đen đủi )

 Họ có thể là những chàng trai, cô gái lỡ duyên, hoặc bị ép duyên mà tìnhyêu dang dở Vì thế, tiếng thơ như lời trách móc, oán giận, đầy xót xa, cay

đắng (Trèo lên cây khế nửa ngày/Ai làm chua xót lòng này khế ơi! )

- Nhưng khi cảm nghĩ về những người thương mến, về những nơi, những vậtthân thuộc là thấy yêu, thấy thương ( Những bài ca dao yêu thương, tình nghĩa)( 3.0 đ)

 Đó là nỗi nhớ người yêu của cô gái được gửi vào hình ảnh: khăn, đèn,mắt Hỏi khăn, đèn, mắt cũng là hỏi lòng mình Cô gái ra ngẩn vào ngơ,bồn chồn, thao thức với bao vấn vương, lo âu, phấp phỏng cho hạnh phúc

lứa đôi (Khăn thương nhớ ai )

 Có khi, người con gái mượn chiếc cầu dải yếm để nói lên mơ ước mãnhliệt của mình trong tình yêu Một lời tỏ tình kín đáo, ý nhị, duyên dáng mà

rất táo bạo (Ước gì sông rộng một gang )

 Họ mượn hình ảnh muối, gừng để diễn tả sự gắn bó sâu nặng của conngười Độ mặn của muối, độ cay của gừng còn có hạn nhưng tình cảm con

người mãi son sắt, thủy chung (Muối ba năm muối đang còn mặn )

c Đánh giá, mở rộng: (2,0 đ )

 Những câu hát than thân, yêu thương tình nghĩa đã thể hiện sâu sắc vẻđẹp tâm hồn của người bình dân xưa: trong cuộc sống còn nhiều vất vả, cơcực, đắng cay, họ vẫn sống ân nghĩa, đằm thắm tình người, vẫn luôn khátkhao tình yêu, hạnh phúc

 Người bình dân đã lựa chọn những hình thức nghệ thuật riêng, đậm màusắc trữ tình dân gian: thể thơ lục bát, song thất lục bát; hình thức đối đáp;

công thức mở đầu "Thân em ", "Trèo lên "; hình ảnh biểu tượng, cách so

Trang 17

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN ĐIỆN BIÊN

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN

LỚP: 10

Thời gian 180 phút (không kể thời gian giao đề)

(Đề này có 01 trang, gồm 02 câu)

Người ra đề: Trần Chinh Dương Điện thoại:

0983394583

Câu 1 (8,0 điểm) “Bumerang hay Boomerang (phát âm tiếng Việt:

Bum-mê-răng) là một thứ vũ khí độc đáo, thường có hình chữ V Đây là một vũ khí có kỹ thuật

cao của người nguyên thủy đã làm cho các nhà bác học phải kinh ngạc trong một thời

gian dài Khi được phóng đi nó có thể tạo ra trong không khí những đường đi rất phức

tạp và nếu không trúng đích nó sẽ quay trở lại chân người ném [ ]

Ngày nay quá trình chuyển động của Bumerang đã được nghiên cứu rất chi tiết Nó phụ thuộc vào ba yếu tố:

Cái ném ban đầu

Sự quay của Bumerang Sức cản của không khí.”

(Theo https://vi.wikipedia.org)

Minh họa về đường đi của Bumerang

Từ loại vũ khí độc đáo Bumerang, anh/ chị có suy ngẫm gì về hành trình vươn tới mục tiêu của con người?

Câu 2 (12,0 điểm) Có ý kiến cho rằng: Trong sáng tạo của nghệ sỹ, tình cảm

càng dồi dào thì trí tưởng tượng càng phong phú

Anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên

Hết

-ĐỀ THI -ĐỀ XUẤT

Trang 18

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

THPT CHUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN ĐIỆN BIÊN

HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN LỚP: 10

Câu 1 (8,0 điểm)

Gợi ý.

1 Yêu cầu chung

- Thí sinh được tự do chọn kiểu bài và thao tác để viết bài; huy động các chất liệu là tri thức sách vở, tri thức đời sống, trải nghiệm… nhưng cần đảm bảo sự hợp lý.

- Hành văn mạch lạc, trong sáng, giàu cảm xúc.

2 Yêu cầu cụ thể: Đề được ra theo hướng mở nhưng cần bám định hướng của

đề “hành trình vươn tới mục tiêu của con người” Tham khảo hướng nghĩ dưới đây.

- Điểm tương đồng giữa vũ khí Bumerang và con người: Bumerang được tạo ra như một loại vũ khí dùng để ném trúng mục tiêu Con người được sinh ra cũng cần sống có mục đích, có lý tưởng Hành trình của Bumerang là hành trình vươn tới đích.

Con người cũng vậy, sống phải có mục tiêu.

- Bài học thứ nhất: Hành trình của mỗi chiếc Bumerang cho chúng ta biết những điều kiện, những nhân tố ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu.

+ Thứ nhất, để đạt mục tiêu, cần có “cái ném ban đầu” Với Bumerang, cái ném ban đầu xác định hướng đi của nó Với con người, những điều kiện ban đầu quyết định con người sẽ đi về đâu, vì thế cần có sự chuẩn bị thật tốt

+ Thứ hai, để đạt mục tiêu, cần có “sự quay” Với Bumerang, chính sự quay đã làm nó tới đích Với con người, muốn tới đích, bản thân cũng cần có sự quay như thế, tức là con người không chỉ cần những chuẩn bị ban đầu mà còn cần tới sự tự thân vận

động dựa trên chính đặc điểm nội tại của mình Khi Bumerang được ném đi, không gì

thay thế được chính sự tự quay của nó, cũng như vậy, con người là chủ thể của hành trình vươn tới đích.

+ Thứ ba, để đạt mục tiêu cần lưu ý tới “sức cản” Với Bumerang, đó là sức cản của không khí Với con người, đó là những cản trở của điều kiện khách quan, ngoại cảnh.

(Dẫn chứng) -> Vũ khí Bumerang để lại bài học về cách đạt mục tiêu: Hành trình của mỗi chiếc Bumerang giống như hành trình con người vươn tới mục tiêu Để đạt đích, con người cần có điểm xuất phát tốt, cần phẩm chất và nỗ lực không ngừng, cần khả năng vượt qua những trở ngại từ bên ngoài.

- Bài học thứ hai: Hành trình quay của Bumerang cũng để lại bài học ứng xử khi không đạt mục tiêu “Khi được phóng đi nó có thể tạo ra trong không khí những đường đi rất phức tạp và nếu không trúng đích nó sẽ quay trở lại chân người ném.”

+ Điểm độc đáo của Bumerang chính là ở sự quay độc đáo của nó: bay đi rồi quay lại Điểm làm Bumerang khác những loại vũ khí khác là ở đặc điểm cấu tạo đặc

biệt và vận động quay đặc biệt Sự quay ấy nhắc nhở chúng ta về bài học hành động:

Cần phải tận dụng tối đa nguồn lực, sức mạnh của bản thân Khi không đạt mục tiêu,

cần chuẩn bị cho một cú ném mới

GIÁO VIÊN: TRẦN CHINH DƯƠNG Điện thoại: 098 339 4583

Trang 19

+ Sự quay ấy còn nhắc nhở chúng ta: Mục tiêu có thể không đạt được ngay nhưng ý nghĩa của những chuẩn bị ở hiện tại một ngày nào đó sẽ mang lại giá trị (quay trở về với ta)

*** Lưu ý: Học sinh có thể chọn một hướng nghĩ phù hợp để đi sâu bàn luận, nêu quan điểm, sao cho bài luận có chiều sâu và đảm bảo tính hợp lý Những gợi dẫn

ở trên chỉ là cách nghĩ tham khảo

3 Hướng dẫn cho điểm

- Mở và kết bài: 1,0 điểm.

- Học sinh chọn được bài học cho mình:1,0 điểm (không nhất thiết phải có đầy

đủ tất cả các bài học, chỉ cần chọn được một bài học ý nghĩa về hành trình vươn tới mục tiêu của con người).

- Nêu được suy ngẫm của bản thân về bài học một cách sâu sắc, thông minh: 3,0 điểm Có dẫn chứng hợp lý: 2,0 điểm

- Mở rộng và phản biện vấn đề: 1,0 điểm

* Tôn trọng những bài viết sáng tạo, nhìn vấn đề sâu rộng

Câu 2 (12,0 điểm)

1 Yêu cầu chung

- Học sinh có kiến thức lý luận về nhà văn và quá trình sáng tạo Cụ thể, học sinh cần hiểu được vai trò của tình cảm và tưởng tượng trong sáng tạo cũng như mối liên hệ giữa chúng với nhau và mối liên hệ với các phẩm chất khác của nhà văn Học sinh biết vận dụng hiểu biết về tác phẩm văn học (lớp 10 đã học và đọc) để minh họa hợp lý cho vấn đề nghị luận.

- Học sinh thể hiện rõ được năng lực văn chương, được tự do huy động tri thức sách vở, tri thức đời sống và những trải nghiệm… nhưng phải đảm bảo sự hợp lý.

- Thể hiện rõ năng lực bình luận, nhìn nhận vấn đề chặt chẽ

- Hành văn mạch lạc, trong sáng, giàu cảm xúc.

2 Yêu cầu cụ thể: Học sinh có thể làm theo nhiều cách, tham khảo gợi dẫn

dưới đây (lưu ý, đây không phải là trình tự viết mà là những nội dung lớn học sinh có thể sử dụng trong bài viết)

2.1 Giới thiệu vấn đề và kết vấn đề (1,0 điểm)

2.2 Giải thích nhận định (3,0 điểm)

- Nghệ sỹ (nhà văn): là người hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật, vì thế đòi hỏi nghệ sỹ phải có những phẩm chất, năng lực đặc biệt như tài, tâm, trải, con mắt tinh đời, trí tưởng tượng, năng lực ngôn ngữ

Trang 20

- Tình cảm và trí tưởng tượng chính là hai trong những phẩm chất đặc biệt của nghệ sỹ (nhà văn).

+ Tình cảm: trái tim của nghệ sỹ chứa những rung động mãnh liệt với cuộc sống, con người.

+ Trí tưởng tượng: tưởng tượng là một hoạt động tinh thần đặc thù của nghệ sỹ; suy tư của nghệ sỹ về thế giới và con người có thể vượt qua những bờ cõi và giới hạn,

vẽ ra những hiện thực chưa có, những hiện thực mong có

- Nhận định khẳng định mối quan hệ mật thiết của tình cảm và trí tưởng tượng trong sáng tạo của nghệ sỹ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: tình cảm là nguồn gốc của trí tưởng tượng, tình cảm càng mãnh liệt, dồi dào thì trí tưởng tượng càng phong phú

ở nhiều chiều, nhiều góc độ, nhiều không gian, thời gian, nhiều mối quan hệ phức hợp, Nghĩa là khi đó, một thế giới của tưởng tượng và sáng tạo mới hiện diện, thỏa mãn tất cả những khát khao, ước vọng của nghệ sỹ

* Thứ hai, chúng ta cần nhìn nhận thêm về vai trò của tưởng tượng trong sáng tạo của nghệ sỹ: chính tưởng tượng chắp cánh cho tình cảm, làm tình cảm phong phú thêm, có chiều sâu hơn

* Thứ ba, dù tình cảm có sâu sắc mãnh liệt đến đâu, tưởng tượng có phong phú

cỡ nào thì hành trình sáng tạo của nhà văn cũng không thể có được quả ngọt nếu như thiếu đi tài năng nghệ thuật, sự trải nghiệm, khả năng quan sát đời sống tinh tế

2.4 Chứng minh (3,0 điểm)

* Minh họa qua đoạn trích “Thề nguyền” – Truyện Kiều, Nguyễn Du

- Trái tim nghệ sỹ rung cảm trước mối tình đầu đẹp đẽ là cơ sở để nhà văn xây dựng một thế giới yêu với trí tưởng tượng dồi dào

+ Thấu hiểu trái tim của một cô gái lần đầu biết yêu đã thôi thúc nhà văn xây dựng ra một hoàn cảnh chưa từng có: cô gái chủ động cho hạnh phúc của đời mình

“Cửa ngoài vội rủ rèm the/ Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”.

+ Thấu hiểu tình yêu vượt lễ giáo, nhà văn xây dựng một không gian thơ mộng, lãng mạn chưa từng có: đêm trăng sáng, đôi trai gái thề nguyền chung thủy (dẫn chứng)

+ Hơn nữa, Nguyễn Du với “con mắt trông thấu sáu cõi” còn nhận diện được

cả hạnh phúc của nhân vật trong cả thực tại và tương lai Thực tại tròn đầy nhưng nhà văn không quên dự cảm về một tương lai chưa biết trước “Bây giờ rõ mặt đôi ta/ Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.

- Nghệ thuật: Đoạn trích là đỉnh cao của thi pháp lãng mạn trung đại

Trang 21

- Kết luận: Như vậy, tình yêu trước cái đẹp chân chính là gốc, còn trí tưởng

tượng, sự trải nghiệm và tài năng của nhà văn là những lá, cành, hoa đã làm nên một

đoạn trích có vẻ đẹp có một không hai về tình yêu đôi lứa trong văn chương trung đại.

* Tương tự, chọn phân tích các đoạn trích khác:“Trao duyên”, “Kiều ở lầu

Ngưng Bích”, “Nỗi thương mình”, “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”

2.5 Bài học (1,0 điểm)

- Về sáng tạo: Nghệ sỹ sáng tạo cần nhiều phẩm chất ưu trội, nhưng việc làm

giàu tình cảm và trau dồi cho trí tưởng tượng là rất quan trọng để có một sáng tạo

thành công

- Về tiếp nhận: Tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật là một tiếp nhận có tính chất

phức hợp, ở đó người đọc cần lưu ý những tác động cả về mặt tình cảm và trí tuệ, trái

tim và trí tưởng tượng Có như vậy, chúng ta mới tiếp cận được giá trị đa chiều của

một tác phẩm nghệ thuật.

-* -TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 10

Năm học 2016 - 2017 Thời gian làm bài: 180 phút

(Đề thi này có 01 trang gồm 02 câu)

Câu 1 (8,0 điểm)

Có một người đàn ông trẻ tìm đến một vị thiền sư xin lời khuyên để thay

đổi cuộc hôn nhân vốn không mấy hòa hợp và chưa được hạnh phúc của mình

Vị thiền sư nói: “Con phải biết lắng nghe tất cả những gì vợ mình nói”.

Một tháng sau, người chồng nọ lại tìm đến vị thiền sư Anh nói rằng anh đã

cố gắng hết sức thực hiện đúng theo lời khuyên đó Cuộc hôn nhân của anh dù

có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa được tốt như ý muốn Vị thiền

sư mỉm cười: “Bây giờ, con hãy quay về và học cách lắng nghe tất cả những gì

cô ấy không nói”.

Anh /chị hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa lời khuyên của vị thiền sư trong

câu chuyện trên

Câu 2 (12,0 điểm)

Văn chương xét đến cùng là tiếng nói yêu thương đối với con người.

Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua đoạn trích “Trao

duyên”, “Nỗi thương mình” Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Trang 22

Người ra đề:

Lương Thị Kim Dung (SĐT: 0989191585)

ĐÁP ÁN + BIỂU ĐIỂM CHẤM MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 10

Câu 1: (8.0 điểm)

I Yêu cầu về kỹ năng

- Nắm chắc các thao tác nghị luận về một tư tưởng đạo lí đặt ra từ tác phẩm văn học.

- Biết vận dụng kiến thức thực tế một cách linh hoạt.

- Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phong phú, hành văn gợi cảm…

II Yêu cầu về kiến thức

HS có thể trình bày theo cách riêng của mình Khuyến khích sự sáng tạo và sâu sắc của HS trong cách nhìn nhận vấn đề, dựa trên lập luận chắc chắn, có tính thuyết phục cao

Dưới đây là một phương án trình bày vấn đề:

1 Giải thích ý nghĩa câu chuyện:

Từ hai lời khuyên của vị thiền sư với người chồng, câu chuyện trên đã đặt rabài học nhân sinh đối với mỗi người trong cuộc sống: Để có được niềm vui, hạnhphúc trong tâm hồn, chúng ta phải luôn biết lắng nghe ngôn ngữ của cuộc đời vàcuộc sống xung quanh bằng tất cả tấm lòng mình

Trang 23

- Biết lắng nghe là biết chia sẻ Nỗi đau sẽ được vơi đi một nửa và niềm vui có thểnhân lên gấp bội khi được chia sẻ.

- Biết lắng nghe là biết cảm thông: Cảm thông với nỗi đau của đồng loại, cảmthông với những mảnh đời bất hạnh… Sự cảm thông giúp con người đến gần vớinhau hơn, tâm hồn cởi mở, phóng khoáng hơn…

b Lời khuyên thứ hai của vị thiền sư: “Bây giờ, con hãy quay về và

học cách lắng nghe tất cả những gì cô ấy không nói”.

- Trong thực tế, đôi khi có những ngang trái, uẩn khúc mà con người không thể nói

ra Nếu thật sự muốn chia sẻ, bạn phải có một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim đủrộng để đồng cảm, lắng nghe và dung chứa tất cả

- Hãy học cách lắng nghe những ngôn ngữ không lời của cuộc đời để thật sự cảmnhận được vẻ đẹp của cuộc đời và biết trân trọng sự sống hơn

3 Mở rộng, nâng cao:

- Phê phán những người sống hẹp hòi, ích kỷ, không biết quan tâm chia sẻ vớingười khác Sống như vậy sẽ không có được niềm vui, niềm hạnh phúc mà mìnhmong muốn

- Trong cuộc sống, không chỉ biết lắng nghe ngôn ngữ của con người, tức là nhữngđiều mà con người khác nói ra mà phải biết lắng nghe và cảm nhận cả những tâm

tư thầm kín, những điều người khác không nói, thậm chí sống hết mình với tất cảnhững gì đang diễn ra trong cuộc sống xung quanh mình Có như vậy, chúng tamới có được hạnh phúc

Biểu điểm:

- Điểm 7- 8: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề một cách sâu

sắc, thuyết phục; văn phong chuẩn xác, biểu cảm; có thể mắc một vài lỗi nhỏ vềchính tả và dùng từ

- Điểm 5- 6: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề cơ bản rõ ràng

nhưng chưa thật sâu sắc; mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả

- Điểm 3- 4: Trình bày được khoảng một nửa yêu cầu về kiến thức; còn mắc lỗi về

diễn đạt và chính tả

- Điểm 1- 2: Bài viết tỏ ra chưa hiểu rõ vấn đề, lúng túng trong cách giải quyết,

mắc nhiều lỗi diễn đạt và chính tả

- Điểm 0: Bài viết lạc đề, hiểu sai vấn đề hoặc không viết gì.

Câu 2 (12 điểm)

I Yêu cầu về kĩ năng

- Biết cách làm bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

- Bài có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, không mắc lỗi về dùng từ, ngữ pháp

Trang 24

II Yêu cầu về nội dung kiến thức

HS có thể trình bày theo cách riêng của mình, nhưng về cơ bản cần đảm bảo những nội dung sau:

1 Giải thích

- Văn học phản ánh cuộc sống trên bình diện rộng, nhưng trên tất cả đều dẫnđến tiếng nói yêu thương con người (chú ý cum từ "xét đến cùng") "Không có gì

nghệ thuật hơn lòng yêu mến con người" (Van-gốc) Tiếng nói yêu thương con

người ở đây chính là sự biểu hiện vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học.

Chính điều này đã làm nên sức sống trường tồn của văn chương nghệ thuật muônđời

- Nói tới tiếng nói yêu thương trong văn chương là nói tới sự cảm thông, chia

sẻ, sự trân trọng, ngợi ca, sự bảo vệ, tranh đấu và cả những khát vọng, ước mơ caođẹp Tiếng nói yêu thương là cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo

2 Chứng minh

- Trong hai đoạn trích “Trao duyên”, “Nỗi thương mình” Trích “Truyện Kiều”

của Nguyễn Du, tiếng nói yêu thương con người được biểu hiện phong phú, tinh

tế, sâu sắc, với nhiều cung bậc khác nhau:

+ Tái hiện cuộc sống, cảnh ngộ bất hạnh của Thúy Kiều

+ Khắc họa tâm trạng dằn vặt, đầy đau khổ về tinh thần và thể xác của Thúy Kiều.+ Thái độ xót thương và xẻ chia của Nguyễn Du đối với thân phân Thúy Kiều nóiriêng và người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung

+ Nhà thơ cũng lắng nghe, trân trọng khát vọng tình yêu và vẻ đẹp nhân cách củanàng

- Truyện Kiều nói chung và hai đoạn trích trên nói riêng thể hiện sự cảm thông

chia sẻ, nỗi xót xa thương cảm của nhà thơ trước số phận bi kịch của con người,

đặc biệt là những người phụ nữ tài sắc Về phương diện này, Truyện Kiều vừa là

tiếng khóc cho số phận con người, vừa là tiếng nói "hiểu đời" sâu sắc của chínhNguyễn Du Từ đó, tác phẩm cũng bộc lộ tiếng nói phê phán tố cáo gay gắt củanhà thơ trước những thế lực tàn ác chà đạp con người

3 Bàn luận

- Văn chương nghệ thuật dù viết về "cái gì" nhưng cái đích hướng tới vẫn phải

là tình yêu thương con người Yêu thương là cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo

- Tiếng nói yêu thương con người bao giờ cũng phải gắn với cái Đẹp, cái Cao

cả, vì thế tiếng nói yêu thương phải được bộc lộ một cách chân thành, sâu sắc, giàugiá trị thẩm mĩ

- Nếu văn chương nghệ thuật lấy thông điệp là tiếng nói yêu thương con ngườithì nhà văn, nhà thơ cũng phải là những con người có trái tim nhân đạo rộng lớn,sâu sắc

Trang 25

Biểu điểm:

- Điểm 11 - 12: Bài viết đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, sâu sắc, độc đáo; diễn đạt

lưu loát, câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả vàdung từ

- Điểm 9 - 10: Bài viết có nội dung tương đối đầy đủ (có thể còn thiếu một vài ý

nhỏ); bố cục rõ ràng; diễn đạt trôi chảy; câu văn có hình ảnh, cảm xúc Mắc một sốlỗi nhỏ về chính tả, dùng từ, viết câu

- Điểm 7 - 8: bài viết đáp ứng khoảng 2/3 nội dung cơ bản của đáp án Văn có thể

chưa hay nhưng rõ ý Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, viết câu

- Điểm 5 - 6: Bài viết đáp ứng khoảng ½ nội dung cơ bản của đáp án Mắc nhiều

lỗi hành văn, chính tả

- Điểm 3 - 4: Hiểu và trình bày vấn đề còn sơ sài; kết cấu không rõ ràng; còn mắc

nhiều lỗi diễn đạt

- Điểm 1 - 2: Không hiểu đề, không có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi diễn

đạt

- Điểm 0: Lạc đề hoàn toàn hoặc không viết gì.

(Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày những quan điểm riêng, thậm chí trái

chiều Tuy nhiên cần có thái độ chân thành, nghiêm túc, tư tưởng nhất quán trêntinh thần xây dựng, lập luận thuyết phục)

Người lập đáp án và biểu điểm

Trang 26

Anh đi tìm em trên bờ sông Von – ga Đêm cuộn gió, sóng duềnh mình trăn trở Rộn bến tàu neo, điện nhòa xanh đỏ Nhạc vũ hội xập xình, em lẩn trốn nơi đâu?

Thành phố lung linh, lấp lánh những sắc màu Đâu phải mình thắp lên, sao em ở lại?

Mùa này ở Việt Nam, con lũ trào bờ bãi Tay mẹ vá đê dài, ngăn nước bạc nương ngô.

Sao em không về với trăm nhớ ngàn thương?

Tổ quốc bình yên với giang sơn gấm vóc Một nhà máy mới xây, một vỉa dầu lửa rực Chan nước mắt vui từ mơ ước ông bà.

Ngày mai trở về quê hương Biết nói gì với Người về con chim lánh tổ?

Hiểu lòng anh, đêm nay Von – ga ùa trăn trở Sóng duềnh mình, lăn tỏa bước chân anh.

(Trích Trăn trở)

2 Do tình hình đất nước bất ổn, hàng triệu người dân Xyri cũng nhưngười dân một số quốc gia đã phải lìa bỏ quê hương, tìm miền đất hứa

Từ điều trăn trở trong bài thơ (1) và hiện tượng nêu trên (2), anh (chị) hãy

viết bài văn nghị luận về chủ đề Những con chim lánh tổ.

Câu II ( 12 điểm)

Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.

( Sóng Hồng)Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy là sáng tỏ qua việc phân tích các tác phẩm văn học thời Lí – Trần

Trang 27

VĨNH PHÚC HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

VĂN LỚP 10 (04 trang)

Câu 1 (8.0 điểm)

Yêu cầu chung

HS hiểu vấn đề cần nghị luận, có ý thức bám sát và làm sáng tỏ địnhhướng HS biết đọc hiểu văn bản và vận dụng việc hiểu văn bản vào giải quyếtvấn đề định hướng; có những hiểu biết về vấn đề thời sự, biết vận dụng nhữnghiểu biết đó vào bài làm đồng thời biết vận dụng các thao tác lập luận, dùng từ,diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc và hình ảnh

Yêu cầu cụ thể:

I 1 Giải thích ý kiến

- Đoạn thơ (1) đặt ra vấn đề phải gắn bó thủy chung với

nguồn cội quê hương, đừng làm con chim lánh tổ.

- Ở hiện tượng nêu ra trong mục (2) lại phản ánh một vấn đề

thời sự: bi kịch của con người phải lìa bỏ quê hương, làm

phận chim phải lánh lìa tổ ấm.

2 Bàn luận

- Về vấn đề đặt ra trong đoạn thơ: HS có thể có nhiều cáchkiến giải khác nhau, nhiều cách triển khai khác nhau, song

phải đúng hướng và biết khai thác, vận dụng tri thức đọc hiểu

văn bản thơ vào việc giải quyết vấn đề, có dẫn chứng hợp lý

cho các luận giải của bản thân Sau đây là một số đề xuất:

Đừng lìa bỏ quê hương, đừng làm con chim lánh tổ bởi: xứ

người không phải của mình, không do mình xây đắp, nên

không tránh khỏi lạc lõng, bơ vơ (Thành phố lung linh lấp

lánh những sắc màu/Đâu phải mình thắp lên sao em ở lại?);

bởi đó là sự vô tình, vô trách nhiệm, hưởng lạc cá nhân (Mùa

Trang 28

này ở Việt Nam, con lũ trào bờ bãi/Tay mẹ vá đê dài ngăn nước bạc nương ngô); bởi đó còn là thiệt thòi, mất mát (Sao

em không về với trăm nhớ, ngàn thương/Tổ quốc bình yên với giang sơn gấm vóc)

- Về vấn đề đặt ra từ hiện tượng đời sống: HS có kiến thức

xã hội, biết vận dụng những kiến thức đó vào bàn bạc Chấpnhận những cách khai triển khác nhau Sau đây là một số đềxuất: Vì sao hàng triệu người phải mang phận chim lánh tổ?(vì xung đột sắc tộc và tôn giáo, vì bạo lực, vì chiến tranh, vìnghèo đói); Là phận chim lánh tổ có những nỗi khổ đau nào?(lìa xa cội nguồn, mất tổ ấm, hiện tại bấp bênh, tương lai mờmịt); Hiện tượng đó dẫn đến hậu quả như thế nào ? (đối vớicác nước người dân di cư: kinh tế đình đốn, tài nguyên lãngphí, văn hóa phai nhạt; đối với các nước người dân nhập cư:gia tăng dân số dẫn đến gánh nặng về kinh tế, an sinh xã hộikhông đảm bảo )

- Là chim lánh tổ khi Tổ quốc bình yên, lánh tổ để hưởnglạc, quay lưng là điều trái với lẽ thường nhân sinh Là chimlánh tổ khi Tổ quốc không bình yên là một trong những bikịch của kiếp người

- Tuy nhiên, cần phải tránh tư tưởng cực đoan khi chorằng cứ phải trở về, sống trên quê hương mới là chung thủy,gắn bó với quê hương Phê phán hiện tượng những kẻ vongbản, vong quốc ngay khi sống trên đất nước Lưu ý nhữngtrường hợp người sống ly hương mà vẫn có tình cảm, hànhđộng thiết thực hướng về quê hương, Tổ quốc

- Bài học nhận thức và hành động của cá nhân người viết

II 1 Giải thích

Trang 29

- con người: là đối tượng khám phá và đích đến của văn

học

- thời đại: là mảnh đất hiện thực đời sống xã hội đương

thời

- một cách cao đẹp: hiện thực đi vào tác phẩm văn chương

phải là những gì tiêu biểu nhất, tinh chắt nhất; đồng thờihướng người đọc đến những giá trị chân - thiện - mĩ Tất cảđược thể hiện qua tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ: xâydựng hình tượng, sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh…

Ý kiến đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa thơ ca, rộnghơn là văn học nghệ thuật với đời sống xã hội, con người Từ

đó khẳng định chức năng của văn học là phản ánh, biểu hiệncon người, thời đại một cách chân thực, sâu sắc, đậm tínhnhân văn thông qua những hình thức nghệ thuật độc đáo, ấntượng

2 Bàn luận:

- Văn học bắt nguồn từ đời sống, luôn vận động và pháttriển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội Cuộcsống là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca nghệ thuật vàngược lại thơ ca nghệ thuật được viết nên để phục vụ cuộcsống, con người

- Tác phẩm nghệ thuật chân chính xưa nay đều là nhữngsáng tác bắt dễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đạimình Thơ ca nói riêng, văn học nói chung nếu quay lưng vớicuộc đời, thoát li hiện thực, thì khi ấy thơ ca đã tự đánh mấtchức năng cao quý của mình

- Mặt khác, nghệ thuật và cuộc sống là hai vòng tròn đồngtâm mà tâm điểm là con người Con người chính là đối tượng

Trang 30

phản ánh trung tâm của văn học Nhưng con người mà nghệthuật quan tâm khám phá không phải ở lĩnh vực sinh học mà

ở khía cạnh tâm hồn, tình cảm, đời sống tinh thần Thơ cachân chính thường hướng con người đến những tình cảm tíchcực trong cuộc sống, có như vậy thơ mới thực hiện đượcchức năng cao quý “nghệ thuật vị nhân sinh”

- Thơ ca là sản phẩm của một hình thức sáng tạo tuân theoquy luật của cái đẹp Nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu thưởngthức, khám phá cái đẹp của con người mà còn chinh phục,cảm hóa, hướng con người hành động cho cái đẹp, vì cái đẹp

Đây chính là giá trị cao quý của văn chương – biểu hiện con người và thời đại một cách cao đẹp

3 Phân tích, chứng minh:

Hs chọn được những tác phẩm tiêu biểu của thơ ca Lí –Trần để phân tích Có thể trình bày theo nhiều cách nhưngphải là nổi bật được ý chính: Vẻ đẹp của con người và thờiđại Lí – Trần

4 Tổng kết, đánh giá

- Qua việc khẳng định những đặc trưng cơ bản của thơ ca,câu nói giúp ta hiểu rõ hơn ý nghĩa to lớn của thơ ca trongviệc phản ánh hiện thực và bồi đắp những giá trị nhân văntrong tâm hồn con người

- Để tạo nên một tác phẩm chân chính, mỗi người nghệ sĩ cầnphải sống sâu sắc với cuộc đời và với chính mình; biết tự vượtlên những suy nghĩ, tình cảm nhỏ hẹp mang tính cá nhân để đạtđến những lẽ sống lớn, tình cảm lớn của thời đại

- Để những lẽ sống lớn, tình cảm lớn thấm sâu vào tâm hồn,nhận thức của người đọc, mỗi nghệ sĩ cần không ngừng laođộng để sáng tạo nên những tác phẩm đạt được sự hài hòa giữa

Trang 31

nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật…

- Mặt khác, người đọc cần phát huy vai trò chủ động, tích cực

của mình trong việc tiếp nhận những giá trị nội dung tư tưởng

của một tác phẩm văn chương, từ đó trau dồi nhân cách, vươn

lên những lẽ sống cao đẹp ở đời đắp những giá trị nhân văn

cho đời sống tâm hồn của con người

(Đề này có 01 trang, gồm 02 câu)

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT MÔN : NGỮ VĂN LỚP : 10

Trang 32

HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN: Ngữ văn, LỚP: 10

1 Ngoài phần mở bài và kết bài (mỗi phần được tối đa 0,5 điểm),

thí sinh cần nêu được các ý chính sau:

* Giải thích

- Điều đầu tiên bạn nên quên đi là những thành công : thành công

là khi ta đạt được những mục tiêu phấn đấu mình đề ra từ trước Phải biết

nhanh chóng quên đi thành công, phải sớm gạt bỏ niềm vui sướng, sự

bằng lòng, thỏa mãn, sự nghỉ ngơi, tận hưởng để tiếp tục phấn đấu

- Điều cuối cùng bạn phải nhớ là những thất bại : Thất bại là khi người ta không đạt được mục tiêu phấn đấu đề ra từ trước Phải luôn luôn

nghi nhớ thất bại mình đã từng gặp phải để tránh lặp lại sai lầm

1,5

* Chứng minh

- Phải nhanh chóng quên đi là những thành công để : + Giúp ta giữ được sự tỉnh táo, khôn ngoan, điềm tĩnh mà không chủ quan, kiêu ngạo.

+ Giúp ta tạo ra mục tiêu mới, động lực mới để tiếp tục đi đến thành công mới

- Ghi nhớ những thất bại để : + Khắc sâu bài học kinh nghiệm xương máu, để tránh lặp lại sai lầm.

+ Biết trân trọng, gìn giữ những thành công đã đạt được.

2,0

2,0

Trang 33

* Bình luận

- Phê phán những người ngủ quên trên đỉnh vinh quang mà bỏ lỡ

cơ hội phát triển hoặc những người vội quên đi thất bại, sai lầm để rồi

tiếp túc đi vào vết xe đổ lần trước.

- Đôi khi cũng phải biết ghi nhớ, trân trọng thành công vì đó là nền tảng quan trọng, là vinh quang để ta phát huy, noi gương Có khi

phải biết tạm quên đi thất bại để lạc quan, tin tưởng, hăng hái bước tiếp

không bi quan, suy sụp, thất vọng

1,5

2 Ngoài phần mở bài và kết bài (mỗi phần được tối đa 0,5 điểm),

thí sinh cần nêu được các ý chính sau:

* Giải thích

- Thơ ca là thể loại trữ tình, phản ánh thế giới tư tưởng, tình

cảm con người Thơ có ngôn ngữ đặc biệt giàu hình ảnh, cảm

xúc, giàu tính nhạc, cô đọng, hàm súc, tinh tế : Thơ đi giữa ý

và nhạc

- Thơ là nhụy của cuộc sống : Nhụy là cái đẹp tinh túy và

thường ẩn kín bên trong, không dễ nhận ra Thơ ca là một

trong những vẻ đẹp tinh túy nhất, sâu kín của cuộc sống Sự

tinh túy trong thơ thể hiện ở sự hàm súc, tinh tế, sâu sắc trong

cả hai phương diện nội dung, tư tưởng và hình thức nghệ

thuật

- Nhà thơ đi hút cho được cái nhuỵ ấy : thơ ca nói riêng hay

văn chương nghệ thuật nói chung luôn nhận thức, phản ánh

đời sống phong phú, muôn màu Nhưng đó không phải là sự

phản ánh dễ dãi, tùy tiện, hời hợt mà phải là sự chắt lọc lấy cái

"nhụy của cuộc sống", tức là phải chọn lấy những điều tinh

túy, sâu sắc, cao đẹp, ý nghĩa, giá trị nhất của cuộc sống Sự

khám phá cuộc đời của nhà văn, nhà thơ không được phép

dừng lại ở bề ngoài mà phải đi sâu vào bản chất bên trong

Điều này đúng với văn học nói chung, đặc biệt là với thơ Bởi

thơ luôn đòi hỏi tính hàm súc, tinh tế cao độ Thơ chính là sự

sống kết tinh lại A.Đơ Vinhin: Thơ là nhiệt tình kết tinh lại

- Vì thế sứ mệnh của nhà thơ là "hút nhụy" của cuộc sống để

xây dựng lên tác phẩm Nói như Chế Lan Viên: “Vạt áo của

triệu nhà thơ… hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”.

- Đồng thời với việc đi hút nhụy của cuộc sống, sứ mệnh của

nhà thơ, của người nghệ sĩ còn phải làm cho cuộc đời của

mình cũng có nhụy: Không chỉ kiếm tìm cái đẹp có sẵn từ

2,0

Trang 34

cuộc sống bên ngoài, nhà thơ phải biết tự tạo nên cho tâm hồn,

cho cuộc đời của con người Hoa có nhụy để cây kết trái Tâm

hồn có nhụy thì cuộc đời sẽ đẹp đẽ Thơ ca nói riêng và văn

chương nghệ thuật nói chung phải khơi gợi, vun đắp, nuôi

dưỡng tâm hồn con người bằng những tình cảm, suy nghĩ đẹp

Cái đích cuối cùng của văn chương là nhân đạo hóa con người

Đây là chức năng nhận thức, giáo dục của văn chương Riêng

với người nghệ sĩ, làm nhụy còn có nghĩa là nhà thơ phải tạo

cho mình giá trị riêng, sáng tạo riêng phong cách nghệ thuật

riêng

=> Câu nói đề cập đến sự gắn bó chặt chẽ giữa nghệ thuật và

cuộc đời, những sứ mệnh của người nghệ sĩ và chức năng của

văn chương : vừa kiếm tìm vừa sáng tạo cái đẹp cho đời

* Chứng minh qua bài thơ "Độc Tiểu Thanh kí" của Nguyễn

Du Phân tích cái hay cái đẹp của bài thơ về nội dung và nghệ

thuật để làm sáng tỏ hai vấn đề chính như sau :

+ Hút nhụy: Trong muôn vàn số phận bi kịch của con người

trong thời đại ấy, Nguyễn Du viết về bi kịch của nàng Tiểu

Thanh – người cách ông cả về thời gian (300 năm) và không

gian (Trung Quốc) Khi viết về nỗi đau của nàng, ông lại chọn

đi sâu vào nỗi đau tinh thần sau khi mất : cảnh đẹp thành gò

hoang, son phấn có thần chết vẫn hận, vẫn đau, văn chương bị

đốt dở, không có cách gì giải đáp (thiên nan vấn)

+ Làm nhụy: Từ nỗi đau của Tiểu Thanh, Nguyễn Du nghĩ về

nỗi đau của chính mình "Phong vận kì oan ngã tự cư" Để từ

đó, ông càng đồng cảm hơn với Tiểu Thanh và nỗi đau của

biết bao kiếp tài hoa, bạc mệnh khác Nhờ đó, tác phẩm lay

động bao tâm hồn người đọc bằng lòng đồng cảm, xót thương

cho những số kiếp bạc mệnh

7,0

* Bình luận

- Muốn làm được điều đó, thơ còn phải có sự hài hòa, thống

nhất giữa nội dung và nghệ thuật

- Nhà thơ phải có đủ phẩm chất : tâm hồn, tài năng

- Vai trò, giá trị , sứ mệnh của thơ ca : thể hiện con người và thời đại một

cách cao đẹp, làm bạn với con người đến ngày tận thế.

2,0

Lưu ý: Các cách giải khác hướng dẫn chấm, nếu đúng cho điểm tối đa theo thang

điểm đã định.

Trang 35

Người ra đề

(Đỗ Lê Nam - 0975753076)

ĐỀ THI OLYMPIC TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI: 10 Ngày thi: 29 tháng 07 năm 2017

Thời gian: 180 phút (Không kể thời gian giao đề)

Đề thi gồm: 01 trang.

Câu 1: (8,0 điểm)

VIẾT CHỮ LÊN CÁT

Một câu chuyện kể rằng, có hai người bạn thân cùng lạc đường trong sa

mạc Họ cứ đi, đi mãi và tới một lúc trong cuộc hành trình, họ bắt đầu tranh

cãi với nhau nên đi về hướng nào để thoát ra Không kìm chế được sự bực tức

và tuyệt vọng, một người đã tát vào mặt người kia Người bị đánh rất đau,

nhưng không nói gì, chỉ viết một dòng lên cát: “Hôm nay, người bạn thân nhất

đã tát tôi”.

Họ lại đi tiếp, và gặp một ốc đảo với một hồ nước lớn Người bạn bị

đánh vì vội vàng uống nước và tắm rửa nên đã bị trượt chân và bắt đầu chìm

dần Người bạn kia vội nhảy xuống kéo anh ta lên Khi mọi sự đã qua, người

bạn bị đánh khắc một dòng lên phiến đá: “Hôm nay, người bạn thân nhất đã

cứu tôi.”

Người bạn đã đánh và cũng cứu anh ta ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao khi tớ đánh cậu, cậu lại khắc lên cát còn khi tớ cứu cậu, cậu lại

khắc lên phiến đá?

Người kia mỉm cười và đáp: “Khi một người bạn làm ta đau, hãy viết lên

cát để ngọn gió của sự tha thứ thổi qua mang nó đi cùng Còn khi điều tốt lành

đến, chúng ta nên khắc nó lên đá, như khắc thành kỉ niệm trong tim vậy, không

cơn gió nào có thể xóa đi được!”

Liệu chúng ta có thể học được điều viết lên cát và khắc lên đá ?

(Theo Quà tặng cuộc sống)

Hãy bàn luận về bài học mà bạn rút ra từ câu chuyện trên

Câu 2: (12,0 điểm)

“ từ các khúc ngâm tới Truyện Kiều của Nguyễn Du đều có chung một

mạch cảm hứng ai oán về thân phận con người trong nhân thế” (Trần Đình Sử,

Thi pháp Truyện Kiều, NXB Giáo dục, 2005, tr.74).

Bằng hiểu biết của anh/ chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên

ĐỀ ĐỀ XUẤT

Trang 36

Họ và tên thí sinh:……… SBD: …………

………

MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI: 10 Ngày thi: 29 tháng 07 năm 2017

Đáp án gồm: 04 trang

Câu 1: (8,0 điểm)

A Yêu cầu chung

- Thí sinh viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội Biết vận dụng kết hợp các

phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận, huy động được dẫn chứng từ

thực tế đời sống và trải nghiệm của bản thân để làm sáng tỏ vấn đề

- Bố cục rõ ràng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, sắc sảo; lí lẽ thuyết phục

Hành văn lưu loát, trong sáng, chuẩn xác, giàu cảm xúc

- Trình bày bài sạch đẹp, khoa học

B Yêu cầu về kiên thức

Học sinh có thể trình bày bài viết theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần

đảm bảo một số nội dung cơ bản sau:

Giới

thiệu

Dẫn dắt - Câu chuyện “Viết chữ trên cát” thể hiện đạo lí sống

lấy sự tha thứ và ân tình làm kim chỉ nam trong phép xử thế

0,5

Giải

thích

- Viết chữ lên cát: để cho những giận hờn, oán ghét bay đi

theo làn gió, bài học về lòng vị tha, bao dung

- Viết chữ lên đá: để ghi tạc công ơn, ân nghĩa trong tâm

khảm, bài học về lối sống tình nghĩa, có trước có sau

- Câu chuyện dạy ta về cách đối nhân xử thế: vối những người

đã giúp đỡ ta trong cuộc sống, ta phải ghi lòng tạc dạ công ơn

của họ đối với mình, không được phép quên Còn với những

0,50,50,5

Trang 37

lỗi lầm của người khác gây ra cho mình, hãy rộng lượng bỏ qua

và tha thứ cho họ Câu hỏi đặt ra ở cuối chuyện như một lời

nhắc nhở, khuyên bảo con người hãy học tập lối sống yêu

thương, tình nghĩa, bao dung, vị tha

Bàn

luận

* Tạo sao phải sống vị tha, tình nghĩa:

- Trong cuộc sống, ai cũng mắc phải sai lầm Vì vậy, ta cần

phải bao dung, tha thứ lỗi lầm của người khác (Dẫn chứng và

phân tích)

Những giận hờn, thù oán sẽ làm tâm hồn ta chai sạn, cuộc

sống nặng nề

- Khi nhận được sự giúp đỡ của người khác thì chúng ta

không được quên những ân nghĩa đó (Dẫn chứng và phân

tích)

Nhớ ơn sẽ làm tâm hồn ta đẹp hơn, biết trân trọng cuộc

sống hơn

* Ý nghĩa của lối sống vị tha, tình nghĩa:

- Sống bao dung, vị tha giúp con người sống bình yên hơn,

không còn oán ghét, hận thù, chiến tranh, khủng bố…,tâm

hồn con người sẽ trở nên thanh thản, cao thượng hơn Cuộc

sống sẽ tươi vui và hạnh phúc nếu mình biết tha thứ và nhận

được sự tha thứ từ mọi người xung quanh

- Sống tình nghĩa, yêu thương giúp người gần người hơn, biết

san sẻ, giúp đỡ nhau Thế giới sẽ tràn ngập tình yêu và hạnh

phúc

* Làm thế nào đẻ sống ân nghĩa, vị tha:

- Sống chan hòa, nhân ái, rộng lượng với mọi người xung

quanh

- Luôn biết trân trọng, khắc ghi và đáp đền công ơn của những

người đi trước, những người đã giúp đỡ ta trong cuộc sống

- Học cách tha thứ cho người và cho mình, tuy nhiên không

thể tha thứ cho những hành động sai trái cứ lặp đi lặp lại

nhiều lần mà không chịu sửa chữa Sự tha thứ đó sẽ biến ta

thành kẻ nhu nhược

- Có những lỗi lầm con người không được phép phạm phải và

không xứng đáng nhận được sự tha thứ Hãy sống đạo đức để

không phạm sai lầm đó và nhận về mình sự trừng phạt

0,5

Trang 38

- Phê phán những người không có lòng bao dung, tha thứ cho

người khác và bội bạc với người đã có ơn với mình

Bài

học,

đánh

giá

- Câu chuyện “Viết chữ trên cát” là một bài học để mỗi chúng

ta tự rèn luyện và hoàn thiện bản thân

- Hãy tha thứ lỗi cho bạn bè, người thân, để cuộc sống đẹp

thêm và hãy luôn trân trọng, ghi nhớ công ơn của cha mẹ,

thầy cô, - những người đã đem lại cho chúng ta những niềm

vui và hạnh phúc

0,50,5

C Biểu điểm

- Điểm 7- 8: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày đầy đủ các nội

dung đã nêu một cách sâu sắc, thuyết phục; văn phong chuẩn xác, biểu cảm; cóthể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dùng từ

- Điểm 5- 6: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày được hầu hết

các ý đã nêu, nhưng chưa sâu sắc, mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả

- Điểm 3- 4: Bài viết tỏ ra hiểu chưa thật thấu đáo vấn đề, trình bày được

khoảng một nửa yêu cầu về kiến thức, còn mắc lỗi về diễn đạt và chính tả

- Điểm 1- 2: Bài viết tỏ ra chưa hiểu rõ vấn đề, lúng túng trong cách giải

quyết, mắc nhiều lỗi diễn đạt và chính tả

- Điểm 0: Bài viết lạc đề, hiểu sai vấn đề hoặc không viết gì.

Câu 2: (12,0 điểm)

A Yêu cầu chung

- Xác định rõ yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về vănhọc

- Vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác nghị luận và phương thức biểu đạt

- Bố cục rõ ràng; lập luận chặt chẽ; hành văn lưu loát, trong sáng, giàucảm xúc, không mắc các lỗi chính tả và diễn đạt

- Trình bày bài sạch đẹp, khoa học

B Yêu cầu về kiến thức

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đáp ứng được một số nội dung cơ bản sau:

Giới

thiệu

Dẫn dắt - nêu ý kiến của Trần Đình Sử: “ từ các khúc ngâm

tới Truyện Kiều của Nguyễn Du đều có chung một mạch cảm

hứng ai oán về thân phận con người trong nhân thế”

1,0

Trang 39

thích

- Ai oán: bi ai, oán hận

- cảm hứng ai oán về thân phận con người trong nhân thế:

đau xót và oán trách, thương cảm và tố cáo những vô lí, bất

công, oan khuất, đau khổ mà con người phải chịu đựng

- Ý kiến khái quát vấn đề cơ bản trong văn học cuối thế kỉ

XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX: tiếng nói nhân đạo sâu sắc nhất

thể hiện ở cảm hứng về thân phận con người

0,50,5

+ Xót xa, thương cảm, đau đớn cho những người phụ nữ tài

hoa, bạc mệnh: Đạm Tiên, Thúy Kiều

+ Oán trách, tố cáo những thế lực gây ra đau thương cho

con người: thế lực phong kiến, nhà chứa, đồng tiền

- Chinh phụ ngâm:

+ Thương cảm cho người phụ nữ có chồng ra trận vì chiến

tranh phong kiến: cô đơn, tuổi xuân trôi qua, hạnh phúc

không trọn vẹn, mòn mỏi, héo hon trong chờ đợi

+ Gián tiếp tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã gây ra đau

thương cho con người

- Cung oán ngâm:

+ Thương cảm, xót xa cho người cung nữ xinh đẹp, tài hoa

bị vua bỏ rơi, lẻ loi, mòn mỏi trong cung cấm

+ Phẫn uất, bất bình trước chế độ cung nữ

* Các tác phẩm đều có chung tiếng nói ai oán về thân phận con

người:

- Nhân vật ở đây đều là những người phụ nữ tài sắc, trẻ trung,

luôn khao khát hạnh phúc lứa đôi chân chính

- Xã hội bất công, vô lí, hà khắc, đen tối đã đẩy họ rơi vào

con đường bất hạnh, tình duyên lỡ dở, hạnh phúc chia lìa, tuổi

xuân mòn mỏi, nhân phẩm bị chà đạp

- Cảm hứng ai oán về thân phận con người trong nhân thế trở

thành tiếng nói nhân đạo sâu sắc

- Cho thấy hiện thực của thời đại: bất công, ngang trái và thể

hiện thái độ phê phán, tố cáo hiện thực của các nhà thơ

0,50,5

Trang 40

C Biểu điểm

- Điểm 11 - 12: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, bài viết sâu sắc, độc

đáo; diễn đạt lưu loát, câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc; có thể mắc một vài lỗinhỏ về chính tả và dùng từ

- Điểm 9 - 10: Nội dung tương đối đầy đủ, có thể còn thiếu một vài ý

nhỏ; bố cục rõ ràng; diễn đạt trôi chảy, câu văn có hình ảnh, cảm xúc Mắc một

số lỗi nhỏ về chính tả, dùng từ, viết câu

- Điểm 7 - 8: Bài làm đáp ứng khoảng 2/3 nội dung cơ bản của đáp án.

Văn chưa hay nhưng rõ ý Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, viết câu

- Điểm 5 - 6: Bài làm đáp ứng khoảng 1/2 nội dung cơ bản của đáp án.

Mắc nhiều lỗi hành văn, chính tả

- Điểm 3 - 4: Hiểu và trình bày vấn đề còn sơ sài, kết cấu không rõ ràng,

còn mắc nhiều lỗi diễn đạt

- Điểm 1- 2: Không hiểu đề, không có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi

- Điểm bài là tổng điểm của hai câu, lẻ đến 0,5./.

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XIII

TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC KẠN ĐỀ THI MÔN: NGỮ

VĂN LỚP 10

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT (Đề này có 01 trang, gồm 02 câu) Câu 1 (8,0 điểm)

Thói a dua có thể khiến con người đánh mất mình một cách nhanh chóng

và ngọt ngào nhất.

Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên

Câu 2 (12,0 điểm)

Ngày đăng: 10/04/2018, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w