Ở thực vật thủy sinh nước được hấp thụ từ môi trường xung quanh qua bề mặt các tế bào biểu bì của cây. Ở thực vật trên cạn, cây sống ở hai thế giới trên mặt đất nơi mà hệ chồi thu nhận ánh sáng mặt trời và CO2 và ở dưới mặt đất ở đó hệ rễ hấp thu nước và các chất khoáng. Nếu không có sự thích nghi để thu nhận và vận chuyển các nguồn tài nguyên từ hai nơi này thì thực vật không thể chiếm cứ được mặt đất.
Trang 2QUÁ TRÌNH SINH LÝ Ở THỰC VẬT
QUÁ TRÌNH HẤP THU VÀ VẬN CHUYỂN
Học viên: Nguyễn Thị Hường Giảng viên: PGS.TS: Nguyễn Khoa Lân
Huế,1 năm 2018
Trang 3I Cấu tạo rễ, thân, lá
II Quá trình hấp thu
III.Quá trình vận chuyển
Trang 5Hình 1.2: Cấu tạo tế bào
Trang 72 Thân
Hình 1.4: Cấu tạo của thân cây
chúng được tạo ra hoặc dự trữ đến nơi được sử dụng.
Trang 8cutin tham gia vào
quá trình thoát hơi
nước ở lá Nhưng
thoát hơi nước ở khí
khổng là chủ yếu
Trang 10Hình 1.7 Lá xếp xiên Hình 1.8 Lá xếp ngang
Trang 11Hình 1.9 Lá ở sa mạc Hình 1.10 Lá ở rừng Hình 1.10 Lá ở rừng mưa nhiệt đới mưa nhiệt đới
Trang 12II Quá trình hấp thu
Gồm có 2 con đường chủ yếu:
- Con đường vô bào (Apoplast) - Con đường hợp bào(Symplast).
- Ngoài ra còn có con đường xuyên màng.
Trang 13ion khoáng hòa tan
không liên kết chặt với
đất
- Dung dịch đất đi vào
các thành ưa nước của
Trang 14Hình 2.1: Con đường hấp thu nước và muối khoáng vào rễ
Hình 2.1: Con đường hấp thu nước và muối khoáng vào rễ
ở trong con đường hợp
bào tiếp tục di chuyển
qua cầu sinh chất của tế
bào nội bì và chuyển vào
trụ giữa
Trang 15Hình 2.1: Con đường hấp thu nước và muối khoáng vào rễ
Hình 2.1: Con đường hấp thu nước và muối khoáng vào rễ
- Còn chất khoáng nào đến
nội bì qua con đường vô
bào đều đi vào đoạn cụt
nên khiến chúng không thể
đi vào trụ giữa là do đai
Caspary – một vành đai do
suberin tạo thành (Caspari:
đai này nằm ở phần nội bì
của rễ, kiểm soát và điều
chỉnh lượng nước, kiểm
tra các chất khoáng hoà
tan. ) Do đó, nước và chất
khoáng đã thâm nhập vào
mô mạch và phải đi qua
màng sinh chất của tế bào
nội bì và đi vào trụ giữa
thông qua con đường hợp
bào
Trang 16• Các tế bào nội bì và cả các tế bào sống bên trong trụ giữa, phóng thích nước và chất khoáng vào thành tế bào của chúng (con đường vô bào) – Sau đó các mạch xylem vận chuyển nước và muối khoáng đi lên hệ chồi thân.
• Nước và chất khoáng trong xylem sẽ được vận chuyển theo đường dài nhờ dòng khối đến gân lá và tỏa ra toàn
bộ lá Phải chăng dịch xylem chủ yếu được đẩy lên từ rễ hoặc được kéo lên từ lá thì chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hai cơ chế này
Trang 173.1 Vận chuyển nước và muối khoáng từ rễ lên lá
Trang 183.1 Vận chuyển nước và muối khoáng từ
rễ lên lá.
a Áp suất rễ (Lực đẩy của rễ)
Nước bị đẩy từ rễ lên thân do một lực đẩy gọi là áp suất rễ Hiện tượng minh họa là hiện tượng ứ giọt
Trang 19• Ta thấy rằng về đêm thì cây
không có hiện tượng thoát
hơi nước, tế bào rễ tiếp tục
bơm các ion khóang vào
xylem của trụ giữa, sự tích
lũy các chất khoáng làm
giảm thế nước bên trong trụ
giữa tạo sức đẩy dịch xylem
ở rễ Đôi khi áp suất rễ làm
cho nước thâm nhập vào lá
nhiều hơn là lượng nước
mất đi do thoát hơi nước
dẫn đến hiện tượng ứ giọt
Sự ứ giọt mà chúng ta có thể
thấy vào buổi sáng trên đỉnh
hoặc trên các mép lá cây
Hình 3.1 (a): Hiện tượng
ứ giọt Hình 3.1 (a): Hiện tượng
ứ giọt
Trang 20Trong phần lớn thực vật áp suất rễ là một cơ chế thứ
yếu để đẩy dịch xylem và phần lớn nước đẩy lên chỉ cao một vài mét là cùng Áp suất dương thì tạo ra quá yếu
để vượt qua trọng lực của cột nước trong xylem, đặc biệt trong cây cao Nhiều thực vật không hề phát sinh
ra áp suất rễ nào Thậm chí trong cây ứ giọt, áp suất rễ không thể theo kịp thoát hơi nước sau khi mặt trời
mọc Phần lớn dịch xylem không được áp suất rễ đẩy
từ phía dưới mà được kéo lên nhờ bản thân lá.
Trang 21b Lực kéo của lá
Hình 3.1 (b): Sự tạo thành lực kéo ở lá
Trang 22Sự tạo thành lực kéo ở lá xảy nra như sau:
1 Trong thoát hơi nước, hơi nước khuếch tán khỏi các khoang
không khí ẩm của lá đến không khí khô hơn ở ngoài qua lỗ khí
2 Lúc đầu sự mất nước do thoát hơi nước được thay thế bằng sự
bay hơi khỏi lớp nước mỏng bảo phủ lấy tế bào thịt lá
3 Sự bay hơi của lớp nước mỏng làm cho bề mặt phân cách
không khí – nước lõm sâu vào thành tế bào và trở nên cong hơn Sự uốn cong này làm tăng sức căng bề mặt và vận tốc thoát hơi nước
4 Sức căng bề mặt tăng lên thể hiện trong bước 3 kéo nước
khỏi tế bào bao quanh xylem và các khoang không khí
5 Nước từ xylem được kéo vào các tế bào bao quanh xylem và
các khoang không khí để thay thế nước bị mất
→ Do đó, đã hình thành nên sức kéo dịch xylem của lá.
Trang 23• Vai trò của thế áp suất âm trong thoát hơi nước là phù hợp với phương trình thế nước do thế áp suất âm làm giảm thế nước
Do nước vận chuyển từ vùng có thế nước cao đến cùng có thế nước thấp hơn nên áp suất âm ở bề mặt phân cách không khí – nước làm cho nước ở trong tế bào xylem bị kéo vào tế bào thịt
lá sau đó nước từ các tế bào này lại bị kéo vào các khoang
không khí, từ đó nước được khuêch tán ra ngoài qua lỗ khí
Theo cách này thế nước âm của lá tạo lực kéo trong thoát hơi nước
• Ngoài ra, còn có lực cố kết và dính bám trong sự dâng lên
của xylem
Trang 24 của xylem thân cây
của xylem thân cây
hơi nước
Các tế bào xylem
Sự dính bám nhờ liên kết hydro
Thành tế bào
Lực cố kết vầ dính bám trong xylem
Lực gắn kết nhờ liên kết hydro
Phân tử nước Lông hút
Hạt đất Nước
Sự hấp thu nước ở đất
Figure 36.13
Hình 3.1 (c)
Trang 25• Lực cố kết và dính bám hỗ trợ thêm cho sự vận chuyển đường dài nhờ dòng khối Lực cố kết của nước do liên kết hydro tạo
ra, làm cho dòng vận chuyển có thể kéo cột dịch xylem từ phía trên mà không cần các phân tử nước tách nhau ra Phân tử nước ra khỏi xylem trong lá kéo mạnh các phân tử nước lân cận và sức kéo này chuyển đến phân tử tiếp theo xuôi theo toàn bộ cột nước trong xylem
• Như vậy, sự vận chuyển của dòng chất lỏng được đẩy lên
nhờ chênh lệch thế nước ở hai đầu đối lập của mô xylem
Sự thoát hơi nước làm cho thế áp suất ở phần cuối lá của
xylem thấp hơn thấp hơn thế áp suất ở phần cuối rễ (sự
chênh lệch thế nước chủ yếu là do sự chênh lệch thế áp
suất)
Trang 26Dòng khối trong xylem khác với khuếch tán theo một số phương thức chủ yếu:
- Nó thực hiện nhờ chênh lêch thế áp suất, còn thế chất tan không có vai trò gì Do đó, chênh
lệch thế nước bên trong xylem về cơ bản là
chênh lệch áp suất.
- Dòng vận chuyển xylem không xảy ra thông
qua màng sinh chất của các tế bào sống mà xảy
ra bên trong các tế bào rỗng chết.
- Vận chuyển toàn bộ dung dịch cùng một lúc,
không chỉ riêng nước hoặc riêng chất tan và với vận tốc lớn hơn nhiều so với khuếch tán.
Trang 27• Ngược với dòng vận chuyển nước và chất khoáng từ rễ đến
lá là chiều vận chuyển đường từ lá trưởng thành đến các
bộ phận thấp hơn của cây như các chóp rễ cần lượng lớn
đường cho năng lượng và sinh trưởng và pholoem là loại
mô thực hiện chức năng này.
• Khác với dịch xylem, chất tan trong dịch pholoem chủ yếu là
đường, sucrose.
Trang 283.2 Quá trình vận chuyển đường từ nơi nguồn đến
nơi chứa
• Dịch xylem vận chuyển một chiều từ rễ đến lá, còn dịch pholoem vận chuyển từ vị trí sản xuất đường (nơi nguồn) đến nơi sử dụng (nơi chứa)
• Nguồn đường là cơ quan của cây trực tiếp sản sinh ra đường
nhờ quang hợp hoặc nơi tạo ra đường nhờ sự phân giải tinh
bột Nơi chứa là cơ quan tiêu thụ thực hoặc kho chứa đường
(rễ, chồi, thân, quả đang sinh trưởng)
• Lá đang lớn là các nơi chứa, lá sinh trưởng hoàn toàn nếu được chiếu sáng tốt là nơi nguồn
Trang 29• Củ có thể là nơi chứa hoặc nơi nguồn phụ thuộc vào mùa.
VD: Củ hành mùa hè là nơi chứa, sau khi phá vỡ trạng thái ngủ
mùa xuân nó là nơi nguồn vì tinh bột của nó phân giải thành đường được mang đến các đỉnh chồi đang sinh trưởng
• Các nơi chứa thường nhận đường từ các nguồn gần nhất
VD: Các lá trên một cành có thể xuất khẩu đường cho đỉnh
chồi đang sinh trưởng, trong khi đó lá phía dưới có thể xuất khẩu đường cho rễ
Trang 30Figure 36.17
Tế bào thịt lá
Chú thích Apoplast Symplast
Thành tế bào (apoplast)
Màng sinh chất Cầu sinh chất
Tế bào thịt lá Tế bào bao Bó mạch Tế bào mô mềm phloem
Tế bào kèm (vận chuyển)
Yếu tố ống rây
Nồng độ H
cao
Protein đồng vận chuyển Bơm
Proton
Sucrose Nồng độ H thấp
H
H H
S
S ATP
Hình 3.2 Sự tải sucrose vào phloem.
Trang 31Hình 3.2 a Sucrose được tạo ra trong tế bào thịt lá có thể di
chuyển qua đường hợp bào (mũi tên màu xanh) đến yếu tố ống rây Trong một số loài sucrose rời đường hợp bào gần ống rây và
di chuyển qua con đường vô bào (mũi tên màu đỏ) Về sau nó được tích lũy chủ động ở đường vô bào bằng yếu tố ống rây và
tế bào kèm
Ví dụ: Ở lá Ngô, sucrose khuếch tán qua đường hợp bào từ các
tế bào thịt lá quang hợp đến các gân con Về sau nhiều sucrose vận chuyển bằng con đường vô bào và được tích lũy nhờ các yếu
tố ống rây bên cạnh hoặc trực tiếp thông qua các tế bào kèm
Trang 32Hình 3.2 b Cơ chế hóa thẩm thấu chịu trách nhiệm vận chuyển
chủ động sucrose vào tế bào kèm và yếu tố ống rây Bơm proton phát sinh gradient H+ thúc đẩy tích lũy sucrose với sự hỗ trợ
của protein đồng vận chuyển liên kết sự truyền sucrose với sự khuếch tán của H+ quay trở lại tế bào
Thành của tế bào kèm có nhiều nếp lõm vào làm tăng cường sự vận chuyển chất tan giữa con đường vô bào và con đường hợp bào
Trang 33Figure 36.18
Nạp đường (chấm mù xanh lục) vào ống rây ở phía nguồn làm giảm thế nước bên trong yếu tố rây Kết quả làm cho ống rây hấp thu nước nhờ thẩm thấu.
Sự hấp thu nước này làm phát sinh một áp suất dương đẩy dịch bào di chuyển dọc theo ống.
Áp suất giảm nhẹ do đường được đưa vào nơi chứa và hậu quả là mạch rây ở đầu nơi chứa mất nước.
Sự chuyển vị từ lá đến rễ giúp xylem quay vòng nước từ
đầu chứa tới đầu nguồn.
Tế bào nguồn (lá)
Mạch dẫn (xylem)
Ống rây (phloem)
3
4
2 1
3 4
Trang 34Lưu ý ở đây là các nơi chứa khác nhau tùy theo nhu cầu năng lượng và khả năng cung cấp đường Đôi khi có
nhiều nơi chứa hơn nơi nguồn Trong các trường hợp đó cây có thể thui đi một số hoa, hạt hoặc quả Việc loại bỏ nơi chứa cũng có thể là một biện pháp thực tế có lợi cho nghề làm vườn
Trang 36KẾT LUẬN
- Sự hấp thu phụ thuộc vào rễ đặc biệt là lông hút
- Sự vận chuyển nước từ rễ lên thân rồi lá bằng xylem và nó phụ thuộc vào các lực:
- Sự vận chuyển đường từ nơi nguồn đến nơi chứa bằng phloem
Trang 37TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 38THANK YOU SO MUCH