0 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHAN NỮ NGỌC ĐOAN HUYỀN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA SINH CỦA LOÀI SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn ) Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG Chuyên ngành T[.]
Trang 10
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THÀNH
Thừa Thiên Huế, tháng 11 năm 2019
Trang 2
i
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THÀNH
Thừa Thiên Huế, tháng 11 năm 2019
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Curculigo orchioides Gaertn thuộc họ Tỏi voi lùn (Hypoxidaceae) là một trong những vị
thuốc quý của Việt Nam, thường được gọi là Sâm cau, Ngải cau, Cồ nốc lan, vv [1], [8], [9] Sâm cau thường được sử dụng trong y học cổ truyền của nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Thân củ Sâm cau được dùng để điều trị các bệnh như liệt dương, đái dầm, tinh trùng lạnh, đau lưng – gối, tê liệt tay chân, suy nhược cơ thể, tiêu chảy Chúng cũng được dùng để tăng khả năng đề kháng cho cơ thể cũng như chất kích thích tình dục [35], [36] Bên cạnh đó, Sâm cau còn dùng để điều trị bệnh huyết trắng ở nữ, thiếu máu, suy nhược thần kinh, lợi tiểu, thấp khớp và khó vận động trong y học cổ truyền Việt Nam [8], [9]
Theo các nghiên cứu về thành phần hóa học của C orchioides, phenolic glucoside là nhóm
chất có hoạt tính dược học chủ yếu Ngoài ra, trong thành phần hóa học của nó còn chứa flavones, steroids, saponins, triterpenoids…[8], [17], [39] Về tác dụng dược lý, các nghiên cứu đã chứng minh
C orchioides có nhiều tác dụng như: chống viêm, kích thích miễn dịch, kháng histamine, tăng
cường sinh dục, kháng hen, chống loãng xương, kháng tiểu đường, bảo vệ gan, chống ung thư, chống oxy hóa, kháng khuẩn, …[17], [23], [24], [26], [33], [37], [38], [40]
Tuy nhiên ở Việt Nam và trên thế giới, các đề tài nghiên cứu đối tượng này chủ yếu chỉ tập
trung vào các vấn đề nhân giống, đánh giá tác động dược lý, phân lập các hoạt chất của C orchioides Bên cạnh đó, đặc điểm khí hậu thổ nhưỡng của những địa phương có loài C orchioides
phân bố ở nước ta là không giống nhau Vì thế, việc nghiên cứu đặc điểm hình thái cũng như các
chỉ tiêu hóa sinh của loài C orchioides là rất cần thiết để góp phần nhân trồng và bảo tồn phát triển
nguồn gen dược liệu này Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái và một số chỉ tiêu hóa sinh của loài Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.) ở các địa phương”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được tiến hành với mục tiêu nghiên cứu các đặc điểm hình thái, chỉ tiêu hóa sinh và
hoạt chất orcinol-ß-D-glucoside của loài C orchioides phân bố ở các địa phương khác nhau Từ đó
làm cơ sở khoa học để lựa chọn loại tốt nhất cho công tác nhân giống, gây trồng và phát triển
3 Ý nghĩa của đề tài
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài góp phần:
• Đưa ra khuyến cáo nên sử dụng C orchioides phân bố ở địa phương nào để nhân
giống và gây trồng
• Xây dựng thương hiệu cho C orchioides có hàm lượng hoạt chất cao nhất so với các
địa phương còn lại
Trang 42
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.)
1.1.1 Vị trí phân loại của chi Curculigo
Theo Phạm Hoàng Hộ và Đỗ Tất Lợi, chi Curculigo được xếp trong họ Amaryllidaceae [8], [9] Theo Vũ Văn Chuyên, chi Curculigo trước đây cũng được xếp vào họ Thủy tiên
(Amaryllidaceae) nhưng hiện giờ được tách ra thành họ Hypoxidaceae [6]
Dựa trên hệ thống phân loại của Takhtajan năm (1987) về nhóm thực vật có hoa và các nhóm thực vật bậc cao có mạch khác, chỉnh lý một phần theo hệ thống của Takhtajan (1996), chi
Curculigo có vị trí phân loại như sau: [4], [5]
+ Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
+ Lớp Hành (Liliopsida)
+ Phân lớp Hành (Liliidae)
+ Bộ Haemodorales
+ Họ Tỏi voi lùn (Hypoxidaceae)
+ Chi Curculigo Gaertn
1.1.2 Đặc điểm thực vật và phân bố của Curculigo orchioides Gaertn
Theo Đỗ Huy Bích (2003), C orchioides Gaertn là loài cây thảo sống lâu năm, có chiều cao
cây khoảng 20-30 cm hoặc hơn Có từ 3-6 lá, hình mũi mác xếp nếp tựa như lá cau từ thân rễ nên gọi là Sâm cau Phiến lá thon hẹp, hai mặt lá nhẵn gần như cùng màu, gân song song, dài 40cm, rộng 2-3,5cm, cuống dài 10cm Thân rễ mập, hình trụ dài, dạng củ, to bằng ngón tay út, có rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà Hoa màu vàng xếp 3-5 cái nhỏ thành cụm, trên một trục ngắn ở kẽ lá, nằm trong những lá bắc hình trái xoan lợp lên nhau, đài 3 răng có lông; tràng 3 cánh nhẵn, nhị 6 xếp thành hai dãy, chỉ nhị ngắn, bầu hình thoi, có lông rậm Hoa có vào mùa hè, mùa thu (tháng 5-7) Quả nang thuôn, dài 1,5cm, chứa từ 1-4 hạt phình ở đầu [3]
Trên thế giới, C.orchioides phân bố ở một số tỉnh ở phía Nam Trung Quốc, Lào, Malaysia,
Thái Lan, Philippine, Ấn Độ Ở Việt Nam Sâm cau phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi, từ Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng đến Tây Nguyên Sâm cau là loài cây ưa ẩm, ưa sáng và hơi chịu bóng, thường sống trên những nơi đất còn tương đối màu mỡ trong thung lũng, chân núi đá vôi hoặc ven rẫy Cây sinh trưởng và phát triển tốt trong mùa mưa ẩm, phần thân rễ chính dạng củ, cắm sâu xuống đất, ra hoa quả hàng năm, khi quả già tự mở để hạt phát tán ra xung quanh [3]
Theo Phạm Hoàng Hộ (2000), C orchioides mọc hoang ở miền Bắc và miền Trung, lá có
phiến thon hẹp, dài đến 40 cm, rộng 2 – 3.5 cm, xếp dọc (như lá Cau), cuống dài 10 cm Phát hoa
ở mặt đất, mang 3 – 5 hoa vàng, lá đài có lông bao phủ mặt ngoài Quả nang dài 1.5 cm mang 1 –
4 hạt [7]
Trang 53
Theo Đỗ Tất Lợi (2006), C orchioides cao 40cm hoặc hơn, thân ngầm hình trụ dài, lá hình
mác hẹp hai đầu nhọn, dài 15 – 40 cm, rộng 12 – 35 mm, cuống dài 10 cm, trông gần gống lá cau Hoa màu vàng mọc thành cụm 3 – 5, không cuống trên một trục ngắn nằm trong bẹ lá Quả nang thuôn dài 12 – 15 mm, hạt 1 – 4 phình ở đầu, phía dưới có một phần phụ hình liềm [9]
Theo Flora of China (1994), C orchioides có thân củ hình trụ, kích thước 10 x 1 cm Lá
không có cuống hoặc cuống lá ngắn, phiến lá hình mũi mác hoặc thẳng, kích thước 10 – 45 (-90) x 0.5 – 2.5 cm, có nhiều lông hoặc nhẵn, thon dài, chóp lá hẹp Cành hoa được bao bọc trong gốc cuống lá, 6 – 7 cm, có lông, lá bắc hình mũi mác, 2.5 – 5 cm, có lông tơ bao bên ngoài Cụm hoa 4
– 6, màu vàng, mùa hoa quả từ tháng 4 đến tháng 9 C.orchiodes phân bố ở Trung Quốc,
Campuchia, Ấn Độ, Indonessia, Nhật Bản, Lào, Myanmar, Pakistan, Papua New Guinea, Philippin, Thái Lan, Việt Nam [42]
Theo Nguyễn Tập (1996, 2001), trước năm 1980, C orchioides được khai thác ở Sơn La, Hòa Bình làm dược liệu với quy mô lớn và hiện nay đã trở nên hiếm dần C orchioides được đưa vào
Danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam [12], [13]
Trong khi đó, công trình nghiên cứu về sự đa dạng di truyền của quần thể C orchioides ở
Việt Nam vào năm 2018 cho thấy có 7 tỉnh (bao gồm Lai Châu, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Lâm Đồng) có độ đa dạng di truyền khác nhau [28]
Theo Phạm Thành và cs (2018) khi nghiên cứu về sự phân bố của C orchioides ở Thừa
Thiên Huế, điều kiện nơi có sự phân bố của loài là dưới rừng thông với độ tàn che 0-50%, phân bố
ở độ cao từ 30-130m so với mực nước, độ dốc lên tới trên 30º, nhưng tập trung nhiều ở độ cao từ 30-60m và độ tàn che từ 0-5%, nhiệt độ 24 - 25,2ºC, lượng mưa trung bình năm 2.600 - 2.800 mm
và độ ẩm 83 - 84% Ngoài ra, đất ở nơi phân bố tự nhiên của Sâm cau thường là đất Leptosols màu nâu đến nâu đỏ hay vàng nhạt, hoặc đất Acrisols có màu xám đến vàng xám, đất lẫn nhiều sỏi sạn
và tầng mặt thường bị xói mòn trơ sỏi đá từ 20 - 70%; tầng thảm mục rất mỏng và thường chỉ đạt khoảng 0,1 – 1,5cm Đặc biệt, độ ẩm đất ở tầng mặt từ 0-30cm khá cao, dao động từ 30-40% [15]
1.1.3 Bộ phận dùng làm thuốc
Bộ phận dùng làm thuốc là thân củ, được thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đào về rửa sạch, cạo bỏ vỏ ngoài ngâm nước vo gạo một đêm để khử bớt độc, rồi phơi khô [3], [7]
1.1.4 Tính vị, tác dụng theo Y học cổ truyền
C orchioides vị cay, tính ấm, có độc, vào hai kinh Tỳ và Thận, có tác dụng ôn Thận tráng
dương, trừ hàn thấp, mạnh gân cốt, thông kinh hoạt lạc [3], [9]
Trong dân gian, C orchioides được dùng chữa nam giới tinh lạnh, liệt dương, người già đái
són, lạnh dạ, kém ăn, tê thấp, lưng gối vận động khó khăn Còn dùng chữa hen hoặc tiêu chảy, làm thuốc bổ, giã nát đắp ngoài chữa lở loét, bệnh ngoài da [3], [9]
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, nước sắc thân củ C orchioides được dùng làm thuốc bổ
chung chữa suy nhược cơ thể, đau lưng, viêm khớp, viêm thận mạn tính và điều kinh Ở Ấn Độ,
Trang 64
Nepal và Philippine, thân củ C orchioides được dùng làm thuốc lợi tiểu và kích dục, chữa bệnh
ngoài da, loét dạ dày tá tràng, trĩ, lậu, bạch đới, hen, vàng da, tiêu chảy và nhức đầu Ở Ấn Độ
người ta còn dùng thân củ C orchioides để gây sẩy thai ở dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột uống với đường, sữa C orchioides có độc, dùng liều cao kéo dài sẽ gây cường dương, hao tinh tổn lực
Người hư hỏa không nên dùng [3], [9]
Dược liệu phơi khô, thái nhỏ dùng hoặc tán thành bột mịn, ngâm rượu hoặc sắc uống, liều 3 –
9 g/ngày Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác [9]
Một số bài thuốc có C orchioides được dùng trên lâm sàng [3]:
• Chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng:
Sâm cau 8g; Sâm bố chính, Hoài sơn, Trâu cổ, Kỷ tử, Ngưu tất, Tục đoạn, Thạch hộc, mỗi
vị 12g; Cam thảo nam, Cáp giới, Ngũ gia bì, mỗi vị 8g Sắc uống ngày một thang
• Chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược, liệt dương:
Sâm cau 50g thái nhỏ sao vàng, rượu trắng 650ml Ngâm trong 7 ngày hoặc hơn Mỗi ngày uống hai lần vào trước hai bữa ăn chính, mỗi lần 25-30ml
• Chữa nam giới liệt dương, phụ nữ tử cung lạnh khó thụ thai:
Sâm cau 20g; Thục địa, Ba kích, Phá cố chỉ, Bồ đào nhục, mỗi vị 16g, Hồi hương 4g Sắc uống ngày một thang
• Chữa tê thấp, đau mình mẩy:
Sâm cau, Hy thiêm, Hà thủ ô, mỗi vị 50g, rượu trắng 650ml Ngâm trong 7 ngày hoặc hơn Ngày uống 50ml chia hai lần
• Chữa sốt xuất huyết:
Sâm cau 20g, Cỏ nhọ nồi 12g, Trắc bách diệp 10g, quả Dành dành 8g, tất cả các vị sao đen Sắc uống ngày một thang
• Chữa huyết áp cao, nhất là phụ nữ thời kỳ mãn kinh:
Sâm cau, Ba kích, Dâm dương hoắc, Tri mẫu, Hoàng bá, Đương quy, mỗi vị 12g Sắc uống ngày một thang
Trang 75
Danh pháp IUPAC: methylphenoxy)oxane-3,4,5-triol
(2R,3S,4S,5R,6S)-2-(hydroxymethyl)-6-(3-hydroxy-5-Tên gọi khác: Orcinol glucoside, sakakin
Trọng lượng phân tử: 286,28 g/mol
1.2.2 Tác dụng dược lý
Orcinol-β-D-glucoside là một hợp chất phenolic glucoside chính trong thân củ C orchioides,
là một trong những mới được Lee và cs phân lập vào năm 2009 [31] Các nghiên cứu trên thế giới công bố đã chỉ ra rằng hợp chất Orcinol-β-D-glucoside có tác dụng chống oxy hóa [32], [40]; điều hòa miễn dịch [20], [30]; chống loãng xương [22]; giảm căng thẳng [39]; chống suy nhược [25] và hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày, ruột kết, gan [34] Đồng thời nghiên cứu của Nguyễn Duy Thuần và Nguyễn Thị Phương Lan (2001) cũng đã chỉ ra khả năng chống oxy hóa của dược liệu khá cao (66,25%) [17]
Về tác dụng chống suy nhược, Ge và cs (2014) khi nghiên cứu trên mô hình chuột bị căng
thẳng trường diễn ở mức độ trung bình không đoán trước trong 3 tuần liên tiếp cho kết quả: Orcinol-β-D-glucoside cải thiện hành vi trầm cảm trên đối tượng chuột nói trên bằng cách giảm tính hoạt động mạnh của trục vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, tăng biểu hiện của hoocmon BNDF (Brain-derived neurotrophic factor) và sự phosphoryl hóa của enzyme ERK1/2(Extracellular signal-regulated kinase) ở vùng dưới đồi [25]
Về tác dụng chống oxy hóa, Wu và cs (2005), Liu và cs (2013) đã chứng minh tác dụng chống oxy hóa của Orcinol-β-D-glucoside trong thân rễ C orchioides [32], [41] Bên cạnh đó, Lee
và cs (2009) đã kết luận rằng các hoạt chất curculigoside trong đó bao gồm Orcinol-β-D-glucoside
có thể điều trị sự lão hóa da [31]
Về tác dụng giảm căng thẳng, Wang và cs (2014) khi nghiên cứu trên chuột đã kết luận
Orcinol-β-D-glucoside là một trong hai tác nhân giảm căng thẳng mà không gây hiệu ứng an thần, trên cơ sở đó hướng đến khả năng cao dùng chất này để điều trị chứng căng thẳng [40]
1.2.3 Các phương pháp định lượng Orcinol-β-D-glucoside
Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về phương pháp định lượng Orcinol-ß-D-glucoside khác nhau Theo Bian và cs (2013), Orcinol-ß-D-glucoside được định lượng bằng phương pháp HPLC – DAD với dung môi là methanol, mẫu được xử lý bằng siêu âm và ly tâm [21] Vào năm
Trang 8Tóm lại, hiện nay trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về cây Sâm cau
Ở Việt Nam, hiện nay đã có những nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng dược lý, nhân giống Sâm cau nhưng còn rất ít Hiện ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá về các chỉ tiêu
hình thái, hóa sinh và hoạt chất Orcinol-ß-D-glucoside của C orchioides xuất xứ ở các vùng phân
bố khác nhau
Trang 97
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Loài Sâm cau Curculigo orchioides Gaertn
+ Loài Curculigo orchioides Gaertn
Hình 2.1 Curculigo orchioides Gaertn mọc trong tự nhiên
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi không gian: Sâm cau được lấy mẫu từ một số tỉnh gồm Lai Châu, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Lâm Đồng
- Về phạm vi thời gian: 8/2018 – 11/2019
- Về một số chỉ tiêu hình thái: lá, thân củ, hoa
- Về một số chỉ tiêu hóa sinh: định lượng đường khử, hoạt độ enzyme catalase, vitamin C, lipid và hàm lượng hoạt chất Orcinol-ß-D-glucoside
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trang 108
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
* Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài C orchioides ở một số địa phương
* Nội dung 2: Xác định một số chỉ tiêu hóa sinh và hoạt chất của loài C orchioides ở một số
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
a Phương pháp thu thập mẫu
C orchioides được thu hái tại 7 địa phương có phân bố: Lai Châu, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum và Lâm Đồng Riêng ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 5 địa điểm (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Các địa điểm thu mẫu Curculigo orchioides Gaertn
4 Ngự Bình – Thừa Thiên Huế 16º26’34.64’’N 107º35’54.02’’E
5 Chín Hầm – Thừa Thiên Huế 16º24’22.32’’N 107º35’20.36’’E
6 Thủy Bằng – Thừa Thiên Huế 16º24’40.48’’N 107º36’12.46’’E
7 Hương Thọ – Thừa Thiên Huế 16º21’45.2’’N 107º36’49.78’’E
8 Phú Bài – Thừa Thiên Huế 16º22’56.02’’N 107º 40’5.63’’E
Trang 119
Hình 2.2 Bản đồ phân bố Curculigo orchioides Gaertn tại Thừa Thiên Huế [15]
Trang 1210
Hình 2.3 Bản đồ phân bố các quần thể Curculigo orchioides Gaertn tại Việt Nam [28]
b Phương pháp bảo quản mẫu
Mẫu sau khi thu hái ngoài tự nhiên được rửa sạch, loại bỏ phần sâu bệnh và bảo quản tủ lạnh
ở nhiệt độ 4ºC để thực hiện các thí nghiệm phân tích các chỉ tiêu hóa sinh và hàm lượng hoạt chất orcinol-ß-D-glucoside:
+ Đối với các thí nghiệm định lượng đường khử, vitamin C, lipid, hoạt độ calatase, dùng mẫu đã bảo quản
+ Đối với thí nghiệm định lượng hoạt chất Orcinol-ß-D-glucoside, mẫu được nghiền trong cối sứ bằng ni-tơ lỏng rồi sấy khô ở 60ºC trong 48h Sau cùng, mẫu được nghiền thành bột mịn, cho vào hủ thủy tinh và bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh để tiến hành các bước tiếp theo
2.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái loài Curculigo orchioides Gaertn
Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực vật học của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [16] Mẫu C orchioides lấy từ các địa phương được mô tả về đặc điểm hình thái loài với các thông tin chủ yếu
như:
Dạng sống: Mô tả dạng sống là cây bụi, cây gỗ
Thân củ: Chiều dài, đường kính
Lá: Hình dạng chóp lá, kích thước lá trưởng thành (chiều dài, đường kính)
Cuống lá: Chiều dài, màu sắc
Hoa: Màu sắc hoa và màu sắc lá đài
2.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
a Xác định hàm lượng đường khử
Được xác định theo phương pháp Bertrand [10]
b Hàm lượng lipid
Được xác định theo phương pháp Soxhlet [10]
c Hoạt độ enzyme catalase
Được xác định theo phương pháp chuẩn độ bằng KMnO4 [2], [10]
d Hàm lượng vitamin C
Được xác định theo phương pháp chuẩn độ bằng iot [10]
e Định lượng Orcinol-ß-D-glucoside bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Bước 1: Chuẩn bị mẫu
Bước 2: Chuẩn bị dịch chiết
Bảng 2.2 Các công thức dùng để khảo sát ảnh hưởng của dung môi và phương pháp tách
chiết đến kết quả định lượng Orcinol-β-D-glucoside
Trang 1311
5 CT-5 (Đối chứng) Hòa tan 1mg chất chuẩn Orcinol-β-D-glucoside vào 1ml
methanol 100%
Bước 3: Pha chất chuẩn
Bước 4: Chạy sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Bước 5: Tính toán hàm lượng Orcinol-β-D-glucoside từ kết quả chạy HPLC
2.2.2.5 Phân tích thống kê
Các số liệu thu thập được xử lý trên máy vi tính bằng chương trình thống kê SPSS 20 Đọc kết quả dựa vào bảng ANOVA, bảng trung bình và bảng so sánh khác biệt giữa các nghiệm thức