1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tieu luan tac pham kinh dien chong duy rinh

23 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Ph. Ăngghen (Sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 mất ngày 5 tháng 8 năm 1895) nhà lý luận chính trị, là một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19, người cùng với C. Mác đã sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản và là lãnh tụ của phong trào công nhân thế giới và Quốc tế I. Trong suốt cuộc đời của mình, Ăngghen đã viết nhiều tác phẩm kinh điển. Trong hoàn cảnh lịch sử mới hiện nay, những tác phẩm của Ăngghen không hề mất đi tính thời sự. Người đọc vẫn tìm thấy chân giá trị vĩnh hằng trong những tư tưởng của ông đối với khoa học hiện đại ở nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống: về bản chất con người, về quan hệ giữa người và người, giữa con người và thiên nhiên, về tự do của con người, về ý nghĩa của cuộc. Trong đó không thể không kể đến tác phẩm bất hủ “Chống Đuy rinh” “Chống Đuy rinh” là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ăngghen. Tác phẩm còn có tên “ Ông Oighen Đuyrinh đảo lộn khoa học” được Awngghen viết trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1876 đến tháng 7 năm 1878, là một trong những công trình tổng thể, nhưng không dàn trải, mà tập trung vào những vấn đề cốt lõi, trong đó có những vấn đề được giải quyết một phần như vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tồ tại, đạo đức, pháp quyền…, có những vấn đề được trình bày khá hoàn chỉnh, trở thành tư tưởng kinh điển như phép biện chứng. Vì đây là tác phẩm luận chiến, nên Ăngghen cần đến các chất liệu sống để tăng sức thuyết phục cho quan điểm của mình. Chúng chính là những thành quả của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên. Sự liên minh giữa triết học và khoa học tự nhiên có tác dụng đối với cả hai. Trong “Chống Đuy rinh” Ăngghen chỉ rõ rằng, nếu không dựa trên những bằng chứng sống động của khoa họa và hoạt động của khoa học và của hoạt động thực tiễn thì tư duy triết học chỉ là những đồ thức luận trống rỗng, vô nghĩa. Vì thế, chỉ có thể đứng trên những diễn đàn tư tưởng phức tạp cần đọc và hiểu các phát minh mới nhất của khoa học. Nhà triết học cần phải là người am hiểu sâu rộng các lĩnh vực khác. Mặt khác, nếu không đứng vững trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, thì các nhà khoa học có thể rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường hoặc chủ nghĩa duy tâm thần bí ngay cả trong việc giải thích về mặt lý luận các phát minh khoa học của họ. Đuy rinh chính là điển hình của trường hợp này. “Chống Đuy rinh”, như tên gọi của cuốn sách, trước hết là chống lại thế giới quan duy tâm và duy vật tầm thường, phê phán phương pháp siêu hình, chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa không tưởng chính trị, xác lập phương pháp biện chứng thống nhất với chủ nghĩa duy vật, đưa ra cách hiểu đúng đắn về mối quan hệ giữa triết học và các khoa học cụ thể, giữa triết học và đời sống. Toàn bộ tác phẩm gồm có “ Lời tựa cho ba lần xuất bản”, “ Phần mở đầu”, “ Phần 1: Triết học”, “Phần 2: Kinh tế chính trị học”, “Phần 3: Chủ nghĩa xã hội”. Trong lời mở đầu, ngoài việc chứng minh sự thống nhất của ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, Ăngghen phân tích phép biện chứng duy vật và sự khác nhau cơ bản của nó với phép siêu hình và phép biện chứng duy tâm của Hê ghen. Dưới đây chúng ta cùng làm rõ sự đối lập phương pháp tư duy biện chứng và phương pháp tư duy siêu hình qua tác phẩm “Chống Đuy rinh” để thấy được những đóng góp to lớn của Ăngghen cho Phép biện chứng của chủ nghĩa Mác cũng như những đóng góp to lớn vào sự phát triển tư duy triết học nhân loại.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ph Ăngghen (Sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 mất ngày 5 tháng 8 năm1895) nhà lý luận chính trị, là một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19,người cùng với C Mác đã sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản và là lãnh tụcủa phong trào công nhân thế giới và Quốc tế I

Trong suốt cuộc đời của mình, Ăngghen đã viết nhiều tác phẩm kinh điển.Trong hoàn cảnh lịch sử mới hiện nay, những tác phẩm của Ăngghen không hề mất

đi tính thời sự Người đọc vẫn tìm thấy chân giá trị vĩnh hằng trong những tư tưởngcủa ông đối với khoa học hiện đại ở nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống: vềbản chất con người, về quan hệ giữa người và người, giữa con người và thiên nhiên,

về tự do của con người, về ý nghĩa của cuộc Trong đó không thể không kể đến tácphẩm bất hủ “Chống Đuy rinh”

Trang 2

“Chống Đuy rinh” là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ăngghen.Tác phẩm còn có tên “ Ông Oighen Đuyrinh đảo lộn khoa học” được Awngghenviết trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1876 đến tháng 7 năm 1878, là mộttrong những công trình tổng thể, nhưng không dàn trải, mà tập trung vào những vấn

đề cốt lõi, trong đó có những vấn đề được giải quyết một phần như vấn đề cơ bảncủa triết học, vấn đề tồ tại, đạo đức, pháp quyền…, có những vấn đề được trình bàykhá hoàn chỉnh, trở thành tư tưởng kinh điển như phép biện chứng Vì đây là tácphẩm luận chiến, nên Ăngghen cần đến các chất liệu sống để tăng sức thuyết phụccho quan điểm của mình Chúng chính là những thành quả của khoa học, nhất làkhoa học tự nhiên Sự liên minh giữa triết học và khoa học tự nhiên có tác dụng đốivới cả hai Trong “Chống Đuy rinh” Ăngghen chỉ rõ rằng, nếu không dựa trênnhững bằng chứng sống động của khoa họa và hoạt động của khoa học và của hoạtđộng thực tiễn thì tư duy triết học chỉ là những đồ thức luận trống rỗng, vô nghĩa

Vì thế, chỉ có thể đứng trên những diễn đàn tư tưởng phức tạp cần đọc và hiểu cácphát minh mới nhất của khoa học Nhà triết học cần phải là người am hiểu sâu rộngcác lĩnh vực khác Mặt khác, nếu không đứng vững trên cơ sở thế giới quan vàphương pháp luận khoa học, thì các nhà khoa học có thể rơi vào chủ nghĩa duy vậttầm thường hoặc chủ nghĩa duy tâm thần bí ngay cả trong việc giải thích về mặt lýluận các phát minh khoa học của họ Đuy rinh chính là điển hình của trường hợpnày “Chống Đuy rinh”, như tên gọi của cuốn sách, trước hết là chống lại thế giớiquan duy tâm và duy vật tầm thường, phê phán phương pháp siêu hình, chủ nghĩacải lương và chủ nghĩa không tưởng chính trị, xác lập phương pháp biện chứngthống nhất với chủ nghĩa duy vật, đưa ra cách hiểu đúng đắn về mối quan hệ giữatriết học và các khoa học cụ thể, giữa triết học và đời sống

Toàn bộ tác phẩm gồm có “ Lời tựa cho ba lần xuất bản”, “ Phần mở đầu”, “Phần 1: Triết học”, “Phần 2: Kinh tế chính trị học”, “Phần 3: Chủ nghĩa xã hội”.Trong lời mở đầu, ngoài việc chứng minh sự thống nhất của ba bộ phận cấu thành

Trang 3

của chủ nghĩa Mác, Ăngghen phân tích phép biện chứng duy vật và sự khác nhau cơbản của nó với phép siêu hình và phép biện chứng duy tâm của Hê ghen.

Dưới đây chúng ta cùng làm rõ sự đối lập phương pháp tư duy biện chứng vàphương pháp tư duy siêu hình qua tác phẩm “Chống Đuy rinh” để thấy được nhữngđóng góp to lớn của Ăngghen cho Phép biện chứng của chủ nghĩa Mác cũng nhưnhững đóng góp to lớn vào sự phát triển tư duy triết học nhân loại

NỘI DUNG Chương 1: Hoàn cảnh ra đời, kết cấu của tác phẩm “Chống Đuyrinh”

của Ăngghen

1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ăngghen còn có một tên gọi khác là “ÔngOighen Đuyrinh đảo lộn khoa học”, được Ăngghen viết trong khoảng thời gian từtháng 5 năm 1876 đến tháng 7 năm 1878 Lần đầu tiên tác phẩm được công bố làdưới dạng một bài báo đăng trên tạp chí “Tiến lên” – cơ quan ngôn luận của trungương Đảng công dân Dân chủ - Xã hội Đức Đầu năm 1878, tác phẩm mới được inthành sách nhưng lại cấm được lưu hành

Tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ăngghen ra đời trong bối cảnh lịch sửchính trị -xã hội nước Đức những năm 70 của thế kỷ 19 với những đặc điểm nổibật sau đây:

Trang 4

Phong trào đấu tranh của công nhận phát triển mạnh, chủ nghĩa Mác đượctruyền bá rộng dài ở Đức Điều đó đã đưa tới sự ra đời của Đảng Dân chủ xã hộiĐức để lãnh đạo phong trào công nhân Nhưng đồng thời các phần tử tiểu tư sảncũng chui vào hàng ngũ những người vô sản, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội rađời Mà đại diện của nó trong những năm 70 ở Đức không ai khác chính là Látxan,hắn tự xưng là học trò của C.Mác nhưng thực tế lại là kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác.Chính vì vậy, khi tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ông ta không đi quáviệc lập các hội sản xuất do nhà nước trợ cấp, nghĩa là ông ta chỉ muốn hướngphong trào công nhân theo chủ nghĩa cải lương.

Năm 1875, Oighen Đuyrinh (1833-1921), giáo sư của trường Đại học Béclin,xuất hiện trên sân khấu triết học và tuyên bố về những khám phá mới của mình, đãgây ra sự chú ý từ các nhà hoạt động chính trị và hoạt động khoa học Nhà tư tưởngđại diện cho chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản phản động đã viết một loạt những bài báothể hiện những quan điểm sai lầm của ông về triết học, về kinh tế chính trị học vàchủ nghĩa xã hội Đặc biệt phải kê đến 3 tác phẩm của ông ta được xuất bản là:

“Bài giảng về triết học”; “Bài giảng về kinh tế chính trị và kinh tế xã hội” và “ Lịch

sử phê phán của khoa kinh tế chính trị và kinh tế xã hội” Trong những tác phẩmnày, Đuyrinh đã công kích thậm tệ chủ nghĩa Mác, thậm chí phủ nhận những quanđiểm của C.Mác Thực chất những quan điểm triết học của ông Đuyrinh là sự phatrộn một cách chiết trung chủ nghĩa duy vật tầm thường và chủ nghĩa thực chứng.Vậy mà rất nhiều người trong số lãnh tụ của phong trào chủ nghĩa lại đánh giá caonhững cuốn sách đó Coi chúng là những tác phẩm hay chỉ sau bộ “Tư bản” củaC.Mác Và thậm chí họ còn có ý định phổ biến rộng rãi những cuốn sách đó chocông nhân Đó thật sự là một điều nguy hiểm cho phong trào công nhân và làm chonội bộ của Đảng Dân chủ - Xã hội Đức lúc đó bị chia rẽ, không thống nhất, phongtrào công nhân mất phương hướng

Trước tình hình đó một số người bạn của C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề nghịcác ông viết bài phê phán học thuyết của Đuyrinh trên tờ “Tiến lên” Để ngăn chặn

Trang 5

khuynh hướng sai lầm, chia rẽ trong Đảng Dân chủ - Xã hội và bảo vệ chủ nghĩaMác, Ph.Ăngghen đã tạm gác việc viết tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” để thựchiện nhiệm vụ này

Còn một điểm nữa là lúc này nhận thức của người công nhân về tình hìnhkinh tễ, xã hội, chính trị, về chủ nghĩa xã hội còn rất ấu trĩ tức là họ chưa phân biệtđược đầu là thực sự khoa học, đâu là phản khoa học, chưa hiểu được nội dung sâu

xa của vấn đề Trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản từ nửa sau thế kỷXIX, trong lực lượng công nhân, mà một bộ phận của nó lấy chủ nghĩa Mác làm lýluận nền tảng, đã diễn ra quá trình nhận thức lại về nội dung của chủ nghĩa Mác,trong đó có cả những vấn đề về thế giới quan, phương pháp luận, đặc biệt là phươngpháp luận đấu tranh cách mạng, các học thuyết xét lại và cơ hội sau Công xã Parisbắt đầu đưa ra những giải thích mới về chủ nghĩa Mác, mà thực chất là xa rời nhữngluận điểm cơ bản của nó, chủ trương dung hòa với trật tự xã hội hiện tại, hoặc tìmkiếm một cương lĩnh chính trị dựa trên sự thỏa hiệp giai cấp nhân danh tiến bộ xãhội và văn minh Sự ấu trĩ về nhận thức còn thể hiện ở chỗ họ chưa phân biệt đượcđâu thực sự là khoa học, đâu là phản khoa học, thích đưa ra những lời nói rỗngtuyếch khoa trương và tiến cử những kẻ lên mặt huyênh hoang về một “khoa học”

mà thực sự chưa học được cái gì cả Chính sự hạn chế về nhận thức như thế nên hệthống các quan điểm sai lầm của Đuyrinh càng dễ dàng được chấp nhận Do vậyviệc phê phán Đuyrinh càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

Cùng với tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và một số tác phẩmkhác của C.Mác và Ph.Ăngghen, tác phẩm “Chống Đuyrinh” được xem là tác phẩm

“gối đầu giường” của những người cộng sản.Ở tác phẩm này, trong khi bóc trần bảnchất cơ hội của Đuyrinh, Ăngghen đã trình bày một cách rõ ràng và có hệ thốngnhững quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác bao gồm cả ba bộ phận cấu thành làtriết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, từ đó phát triển và bảo

vệ chủ nghĩa Mác, chống lại những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, duyvật siêu hình hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác

Trang 6

Khi viết tác phẩm này, mục đích chính mà Ph.Ăngghen muốn thực hiện làlàm rõ vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản, tức là làm rõ ba vấn

đề lớn sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội lad gì? Tức là trên phương diện lý luận phải vạch

ra những nét đại thể của nó Triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoahọc đều chỉ ra xu hướng tất yếu của sự phát triển đưa tới sự ra đời của xã hội chủnghĩa, thay thế chủ nghĩa tư bản

Thứ hai, giải đáp câu hỏi lực lượng nào có khả năng xây dựng được chủnghĩa xã hội? Theo C.Mác và Ph.Ăngghen đó là giai cấp vô sản, là giai cấp côngnhân công nghiệp Điều này đang là vấn đề cấp bách và có nhiều ý kiến khác nhau

Thứ ba, cũng là giải đáp câu hỏi xem vì sao giai cấp vô sản lại có sứ mạnglịch sử đó và muốn hoàn thành sứ mạng đó nó phải được tổ chức như thế nào?

Như vậy, qua những mục đích trên cho thấy tác phẩm này không đơn thuầnchỉ là sự phê phán, mà còn bao hàm một nội dung quan trọng hơn, đó là luận chứngcho sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội, sứ mạng lịch sử của giai cấp vô sản Đây

là một tác phẩm thể hiện rõ thế giới quan và hệ tư tưởng chính trị của giai cấp vô sản

1.2 Kết cấu của tác phẩm

Toàn bộ tác phẩm “Chống Đuyrinh” gồm có “Lời tựa cho ba lần xuất bản”;

“Phần mở đầu” gồm 2 chương là “Nhận xét chung” và “Ông Đuyrinh hứa những gì”;

“Phần I: Triết học”; “Phần II: Kinh tế chính trị học”; “Phần III: Chủ nghĩa xã hội”

Sau đây chúng tôi sẽ trình bày cụ thể nội dung của từng phần trong kết cấuđó:

Trong “Lời tựa cho ba lần xuất bản” Ph.Ăngghen trình bày vắn tắt hoàn cảnh

ra đời, mục đích của tác phẩm, vai trò của tác phẩm đối với sự phát triển lý luận vàthực tiễn xã hội, những thay đổi trong mỗi lần xuất bản

Phần mở đầu gồm hai chương: “chương 1: Nhận xét chung” và “chương 2:Ông Đuyrinh hứa những gì” Trong phần này Ăngghen tóm tắt sự phát triển củatriết học, đặc biệt là sự phát triển của phép biện chứng, vai trò của phép biện chứng

Trang 7

duy vật đối với việc nghiên cứu lịch sử xã hội, vạch ra mâu thuẫn trong xã hội tưbản yếu dẫn đến sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thay vào đó là chủ nghĩa xãhội Ăngghen cũng chỉ ra những lời huênh hoang của Đuyrinh.

“Phần I: Triết học” gồm 12 chương, từ chương III đến chương XIV, trong đóĂngghen đã phê phán quan điểm triết học của Đuyrinh trên một loạt các vấn đề nhưmối quan hệ giữa hình ảnh trong tư duy của chúng ta về thế giới với bản thân thếgiới ấy; về tính thống nhất của thế giới; về không gian, thời gian, về sự vận động vàđứng im của vật chất; về nguồn gốc sự sống và sự phát triển của thế giới có sựsống; về những quy luật và phạm trù triết học của phép biện chứng duy vật Ăngghen đã vạch rõ rằng: Quan điểm triết học của Đuyrinh thực chất là quan điểmduy tâm, siêu hình, không đưa ra được một tư tưởng nào mới, mà đơn giản chỉ là sựlặp lại có tính chất chiết chung những tư tưởng của Hêghen và một số nhà triết họctrước kia Đồng thời với việc phê phán quan điểm triết học của Đuyrinh, Ăngghen

đã trình bày một cách có hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng,khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại để chứng minh tính khoahọc của các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt với các quanđiểm duy tâm, siêu hình trong triết học

“Phần II: Kinh tế chính trị học” gồm 10 chương Ở đây Ăngghen tập trungphê phán quan điểm của Đuyrinh về những vấn đề kinh tế chính trị học Awngghen

đã chỉ rõ phương pháp của Đuyrinh khi nghiên cứu kinh tế chính trị là có tính chấtduy tâm, siêu hình, phi lịch sử Vì thế Đuyrinh đã không thấy được thực chất mốiquan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa phương thứcsản xuất hiện tại với phương thức sản xuất cũ, giữa kinh tế với chính trị và văn hóa,giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Đuyrinh đã không thể nào hiểu đượcquy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất đãquy định sự thay thế các phương thức sản xuất trong lịch sử, tính chất tạm thời củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, không hiểu được rằng đời sống kinh tễ sẽquyết định đời sống chính trị Những quan điểm của ông Đuyrinh về quan hệ xã hội

Trang 8

chỉ là sự tưởng tượng từ trong đầu óc của ông ta Cùng với việc phê phán quan điểmduy tâm, siêu hình của Đuyrinh, Ăngghen đã trình bày một cách có hệ thống quanđiểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong luận giải các vấn đề kinh tế chính trịhọc Ông khẳng định quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng coi sản xuất vậtchất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Do vậy việc xem xét sự vậnđộng của sản xuất xã hội trong lịch sử là chìa khóa để xem xét sự biến đổi của cácmặt khác của đời sống xã hội; giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứngvới nhau, nhưng suy đến cùng kinh tế đóng vai trò quyết định đối với chính trị,chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại kinh tế nhưng cũngkhông thể vượt qua những điều kiện kinh tế cho phép, không thể thoát ly trình độphát triển kinh tế Trong sự phát triển của sản xuất vật chất thì quan hệ sản xuất phảiphù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy, quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa ra đời và tồn tại là do sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hộiquyết định Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư nhận về tưliệu sản xuất ngày càng trở nên chật hẹp, không phù hợp với lực lượng sản xuất cótính chất xã hội hóa cao, do vậy nhất định nó phải bị thay thế bằng một quan hệ sảnxuất mới phù hợp hơn – quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đó chính là sự tất yếukinh tế của sự tồn tại tạm thời của chủ nghĩa tư bản.

“Phần thứ III: Chủ nghĩa xã hội” gồm 5 chương Trong phần này, Ăngghentập trung phê phán quan điểm siêu hình của Đuyrinh về những vấn đề của chủ nghĩa

xã hội Ăngghen chỉ rõ tính chất sai lầm của Đuyrinh trong những việc đánh giánhững học thuyết của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng là Ôoen Xanhximông

và Phuriê Sai lầm của Đuyrinh là ở chỗ phủ định sạch trơn những học thuyết của

họ, không thấy được những mặt tích cực của các học thuyết đó, không thấy được cơ

sở kinh tế của những mặt hạn chế trong các học thuyết ấy Chính vì vậy, ôngĐuyrinh cũng rơi vào sai lầm không tưởng Những dự kiến của Đuyrinh về việc xâydựng một xã hội mới không phải xuất phát từ những yêu cầu của hiện thực kháchquan, mà chỉ xuất phát từ mong muốn thuần túy chủ quan của cá nhân ông ta mà

Trang 9

thôi Đối lập với quan điểm của Đuyrinh, Ăngghen trình bày quan điểm duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác cho rằng sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, dovậy phải xuất phát từ những quan hệ sản xuất hiện thực để giải thích các mặt củađời sống xã hội Áp dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản đãcho thấy chính mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa cao vớiquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn này biểu hiệnthành mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Việc giải quyết mâu thuẫnnày tất yếu đưa đến việc thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệsản xuất khác, thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội mới – xã hội cộng sản chủnghĩa Đó chính là tất yếu kinh tế của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Chương 2: Những nội dung triết học cơ bản của tác phẩm

“Chống Đuyrinh”

Như đã giới thiệu ở phần trên, Ăngghen phê phán những quan điểm củaQighen Đuyrinh trên cả ba lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội.Chính vì vậy mà nội dung của tác phẩm “Chống Đuyrinh” được Ăngghen trình bàytrên cả ba mảng triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trongphạm vi của một bài tiểu luận thì chúng tôi không thể tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ

cả ba lĩnh vực đó được Do vậy, ở đây chúng tôi chỉ xin trình bày những nội dungtriết học cơ bản của tác phẩm, còn nội dung về kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội

sẽ xin dành cho những nghiên cứu về sau

2.1 Quan điểm của Ăngghen về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại

Đây là quan điểm thể hiện rõ tính đảng trong triết học Do vậy, để chỉ ra thựcchất quan điểm triết học của ông Đuyrinh, Ăngghen đã chú ý xem xét quan niệm

Trang 10

của ông Đuyrinh về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, qua đó làm rõ quan niệmcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ này.

Ăngghen chỉ rõ, ông Đuyrinh giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tư duy vàtồn tại trên quan điểm, lập trường duy tâm Bởi vì trước hết theo Đuyrinh “nhữngnguyên lý được rút ra từ tư duy, chứ không phải từ thế giới bên ngoài, nhữngnguyên lý hình thức phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và loài người, do đó giới

tự nhiên và loài người phải phù hợp với chúng”1 Điều đó cho thấy ông Đuyrinh đãđảo lộn mối quan hệ hiện thực, đã “cấu tạo ra thế giới hiện thực từ tư duy, từ những

đồ thức, những phương án, hay những phạm trù tồn tại vĩnh viễn ở đâu đó trước khi

có thế giới, hoàn toàn theo kiểu của một Hêghen nào đó”2 Đối chiếu “đồ thức luậnchung” của Đuyrinh với “Bách khoa toàn thư” của Hêghen thì thấy nó có logic bêntrong hoàn toàn như nhau Chính vì vậy, Ăngghen mới viết: “Trước hết chúng tathấy ở ông Đuyrinh cái đồ thức chung về vũ trụ, cái mà ở Heeghen gọi là lôgích.Sau đó, chúng ta lại thấy cả hai đều ứng dụng những đồ thức hay phạm trù lôgích

ấy vào giới tự nhiên: đó là triết học tự nhiên, và sau cùg ứng dụng vào loài người;

đó là cái mà Hêghen gọi là triết học tinh thần” “Do đó ông ta rơi vào một cáchkhông thể cứu vãn được vào một hệ tư tưởng làm cho ông trở thành kẻ hậu sinh củaHêghen Thứ hai, Đuyrinh đã tách tư duy ra khỏi cơ sở hiện thực duy nhất trên đóchúng ta tìm thấy nó, tức ra khỏi con người và giới tự nhiên” “Lẽ dĩ nhiên trên một

cơ sở tư tưởng như vậy thì không thể lập ra được bất cứ một học thuyết duy vậtnào”3

Phê phán,phản đối những quan điểm trên, Ăngghen khẳng định quan điểmduy vật về quan hệ giữa tư duy và tồn tại là thừa nhận rằng: “Các nguyên lý khôngphải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối cùng của nó; nhữngnguyên lý ấy không phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và vào lịch sử loài người,

1 Ph.Ăngghen, “Chống Đuyrinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,

1994, tr54.

2 Sđd, tr54.

3 Sđd, tr 56.

Trang 11

mà được trừu tượng hóa từ giới tự nhiên và lịch sử loài người; không phải tự nhiên

và lịch sử loài người phải phù hợp với các nguyên lý, mà trái lại các nguyên lý chỉđúng trong chừng mực chúng phù hợp với tự nhiên và lịch sử Đó là quan điểm duyvật duy nhất đối với sự vật”4 Ăngghen còn giải thích rằng giữa tư duy và tồn tại,giữa những quy luật của tư duy và những quy luật của tồn tại có sự phù hợp vớinhau, vì tư duy, ý thức là “sản vật của óc con người và bản thân con người là sảnvật của giới tự nhiên, một sản vật đã phát triển trong một môi trường nhất định vàcùng với môi trường cũng là những sản vật của giới tự nhiên, - không mâu thuẫn

mà lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên”5

Ăngghen còn mở rộng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật về quan hệ giữa tưduy và tồn tại vào trong lĩnh vực toán học đề phê phán quan điểm duy tâm củaĐuyrinh Ông này đã lợi dụng tính chất trừu tượng của các khái niệm toán học đểchứng minh tính hợp lý của quan điểm của mình về sự tồn tại độc lập của tư duy.Theo ông Đuyrinh, “có thể trực tiếp rút ra toàn bộ môn toán học thuần túy từ đầu óccủa con người một cách tiên nghiệm, nghĩa là không cần đến kinh nghiệm mà thếgiới bên ngoài cung cấp cho chúng ta”, “trong toán học thuần túy, lý tính phải đượcđụng chạm tới những sản vật mà bản thân nó sáng tạo ra một cách tự do”; nhữngkhái niệm về số và hình là đối tượng đầy đủ của toán học và do bản thân toán họcsáng tạo ra, và vì thế toán học có một ý nghĩa độc lập với kinh nghiệm đặc biệt vàđối với nội dung hiện thực của thế giới”6

Ăngghen cho rằng quan niệm như trên của ông Đuyrinh là sai lầm, rơi vàoquan điểm duy tâm Bởi vì theo Ăngghen: “Những khái niệm về số lượng và hìnhdáng không thể rút ra từ đâu khác, mà chỉ là từ thế giới hiện thực mà thôi” “Phải cónhững vật có hình thức xác định và người ta phải đem so sánh các hình thức củanhững vật ấy, trước khi có thể đi đến một khái niệm về hình dáng Đối tượng củatoán học thuần túy là những hình không gian và những quan hệ số lượng của thế

4 Sđd, tr54.

5 Sđd, tr55.

6 Sđd, tr58.

Ngày đăng: 26/01/2018, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w