1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận cao học phe phan cuong linh go ta tác phẩm kinh điển)

33 663 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 216 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Mở đầuLịch sử xã hội loài người là sự phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Xuất phát từ thế giới quan duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho rằng, mọi sự biến đổi của các chế độ xã hội trong lịch sử đều là quá trình phát triển lịch sử tự nhiên. Đó là do sự chi phối của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Từ thời kì phong kiến sang thời kì tư bản chủ nghĩa là cả một bước tiến lớn của nhân loại. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản, bên cạnh những thành tựu to lớn mà nó đã đạt được thì bản thân nó cũng tồn tại không ít những khuyết tật, những khuyết tật ngày càng trầm trọng hơn và không thể khắc phục được. Chính chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những tiền đề lịch sử để phủ định lại nó.Đầu thế kỉ XIX, khi đại cách mạng công nghiệp cơ bản hoàn thành ở các nước tư bản phát triển, cũng là khi giai cấp công nhân trở thành lực lượng chính trị đông đảo. Và kể từ ngày Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời (năm 1848), chủ nghĩa Mác trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ở hầu hết các nước. Nghĩa là chủ nghĩa Mác đã đánh bại mọi trào lưu tư tưởng khác như: trào lưu của chủ nghĩa xã hội không tưởng; trào lưu tiểu tư sản; trào lưu của những người vô chính phủ...Song kẻ thù không chịu khoanh tay, mà nó tìm mọi cách để chống lại. Đặc biệt là xuất hiện một hình thức mới – hình thức chủ nghĩa cơ hội. Những kẻ cơ hội này tìm cách đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản và tấn công những người vô sản trước hết trên lĩnh vực tư tưởng lý luận.Trong quá trình đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, mơ hồ, cải lương, thủ đoạn và thâm độc của kẻ thù, những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã cho ra đời nhiều tác phẩm mang tính bút chiến. Tiêu biểu phải kể đến tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” của C.Mác được Ăngghen công bố năm 1891. Trong tác phẩm này, Mác và Ăngghen đã bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về nhà nước, về thời kỳ quá độ, về phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và đặc biệt là vấn đề lao động và phân phối sản phẩm của lao động – một trong những vấn đề cơ bản và là cơ sở lý luận để giai cấp công nhân đấu tranh với giai cấp tư sản, xây dựng xã hội mới, ở đó người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất, của cải xã hội phân phối bình đẳng.Nhân thức về ý nghĩa lý luận, thực tiễn và tính luận chiến sâu sắc của vấn đề lao động và phân phối sản phẩm của lao động trong tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gôta”. Trong bài tiểu luận này, em xin được đưa ra một số phân tích về sự phê phán của Mác đối với những quan điểm sai lầm về: lao động và phân phối sản phẩm của lao động trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô – ta”. Kết cấu của tiểu luận ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung gồm 3 phần: 1. Về C.Mác, Ph.Ăngghen và tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gôta”.II.Phê phán những quan điểm sai lầm về lao động và phân phối sản phẩm của lao động.III. Ý nghĩa của vấn đề phê phán quan điểm lao động và phân phối sản phẩm lao động trong tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gôta”.IV. Vấn đề lao động và phân phối sản phẩm lao động ở Việt Nam.Tuy nhi ên do kiến thức còn hạn chế, vấn đề nghiên cứu lại rộng và rất phức tạp, nên trong quá trình phân tích, trình bày của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và góp ý của thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.

Trang 1

A Mở đầu

Lịch sử xã hội loài người là sự phát triển, thay thế lẫn nhau giữa cáchình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao Xuất phát từ thế giới quan duy vật vềlịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho rằng, mọi sự biến đổi của các chế độ xãhội trong lịch sử đều là quá trình phát triển lịch sử tự nhiên Đó là do sự chiphối của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Từ thời kì phong kiến sang thời kì tư bản chủnghĩa là cả một bước tiến lớn của nhân loại Sự ra đời, tồn tại và phát triểncủa chủ nghĩa tư bản, bên cạnh những thành tựu to lớn mà nó đã đạt được thìbản thân nó cũng tồn tại không ít những khuyết tật, những khuyết tật ngàycàng trầm trọng hơn và không thể khắc phục được Chính chủ nghĩa tư bản đãtạo ra những tiền đề lịch sử để phủ định lại nó

Đầu thế kỉ XIX, khi đại cách mạng công nghiệp cơ bản hoàn thành ởcác nước tư bản phát triển, cũng là khi giai cấp công nhân trở thành lực lượngchính trị đông đảo Và kể từ ngày Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời (năm1848), chủ nghĩa Mác trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ở hầu hếtcác nước Nghĩa là chủ nghĩa Mác đã đánh bại mọi trào lưu tư tưởng khácnhư: trào lưu của chủ nghĩa xã hội không tưởng; trào lưu tiểu tư sản; trào lưucủa những người vô chính phủ

Song kẻ thù không chịu khoanh tay, mà nó tìm mọi cách để chống lại.Đặc biệt là xuất hiện một hình thức mới – hình thức chủ nghĩa cơ hội Những

kẻ cơ hội này tìm cách đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản và tấn côngnhững người vô sản trước hết trên lĩnh vực tư tưởng lý luận

Trong quá trình đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, mơ hồ,cải lương, thủ đoạn và thâm độc của kẻ thù, những nhà kinh điển của chủnghĩa Mác đã cho ra đời nhiều tác phẩm mang tính bút chiến Tiêu biểu phải

kể đến tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta” của C.Mác được Ăngghen

Trang 2

công bố năm 1891 Trong tác phẩm này, Mác và Ăngghen đã bổ sung và pháttriển những vấn đề lý luận về nhà nước, về thời kỳ quá độ, về phương thứcsản xuất cộng sản chủ nghĩa và đặc biệt là vấn đề lao động và phân phối sảnphẩm của lao động – một trong những vấn đề cơ bản và là cơ sở lý luận để giaicấp công nhân đấu tranh với giai cấp tư sản, xây dựng xã hội mới, ở đó ngườilao động làm chủ những tư liệu sản xuất, của cải xã hội phân phối bình đẳng.

Nhân thức về ý nghĩa lý luận, thực tiễn và tính luận chiến sâu sắc củavấn đề lao động và phân phối sản phẩm của lao động trong tác phẩm “phêphán cương lĩnh Gô-ta” Trong bài tiểu luận này, em xin được đưa ra một sốphân tích về sự phê phán của Mác đối với những quan điểm sai lầm về: laođộng và phân phối sản phẩm của lao động trong tác phẩm “Phê phán cươnglĩnh Gô – ta”

Kết cấu của tiểu luận ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung gồm 3 phần:

1 Về C.Mác, Ph.Ăngghen và tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gô-ta”.

II.Phê phán những quan điểm sai lầm về lao động và phân phối sản phẩm của lao động.

III Ý nghĩa của vấn đề phê phán quan điểm lao động và phân phối sản phẩm lao động trong tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gôta”.

IV Vấn đề lao động và phân phối sản phẩm lao động ở Việt Nam.

Tuy nhi ên do kiến thức còn hạn chế, vấn đề nghiên cứu lại rộng và rấtphức tạp, nên trong quá trình phân tích, trình bày của em khó tránh khỏinhững thiếu sót Em kính mong nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và góp ýcủa thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

- -B Nội dung

I Về C.Mác, Ph.Ăngghen và tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gô-ta”.

1a Tiểu sử C.Mác.

C.Mác sinh ngày 05/05/1818 tại nước

Đức Cha ông là một luật sư người Do Thái, gia

đình sống phong lưu và có học thức Năm 1835,

C.Mác tốt nghiệp trường phổ thông trung học và

vào học Luật tại trường Đại học tổng hợp Bon,

sau đó chuyển lên trường Đại học Berlin Sức

học của C Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt C Mác

nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập

sáng tạo C Mác cũng tỏ ra có năng lực về toán học

Ở trường Đại học, năm 1836, ngoài luật học, sử học và ngoại ngữ C.Mác bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học Mùa xuân 1837, C Mác bắt đầunghiên cứu kỹ những tác phẩm của Hê-ghen, sang năm 1839 thì vùi đầu vàonghiên cứu triết học, suốt cả năm 1939 và một phần của năm 1840 C Mác tậptrung nghiên cứu những vấn đề lịch sử triết học Cổ đại Ngày 15 Tháng Tư

1841, khi mới 23 tuổi, C Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án

Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrite, và triết học tự nhiêncủa épicure tại trường Iêna Từ năm 1842, bắt đầu cuộc đời hoạt động sôi nổi,đầy sáng tạo và vinh quang của ông

Năm 1843, C.Mác cưới Jenny làm vợ

Năm 1844, gặp Ph.Ăngghen và hai ông trở đôi bạn thân thiết nhất Haiông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trongtất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn

Năm 1847, hai ông gia nhập tổ chức “Đồng minh những người cộngsản” và trở thành những người lãnh đạo của tổ chức này và sau này đổi tênthành Quốc tế cộng sản

Trang 4

Năm 1849, C.Mác bị trục xuất khỏi nước Đức và sang sống ở Anh chođến cuối đời.

C.Mác không phải chỉ là nhà lý luận, mà ông còn là một nhà hoạt độngthực tiễn Ông đã hiến trọn cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp

vô sản và quần chúng lao động trên toàn thế giới C.Mác là người tổ chức và

là lãnh đạo của Quốc tế cộng sản I thành lập ngày 28 tháng 9 1864, ở đôn Năm 1876 sau khi Quốc tế cộng sản đệ nhất giải tán, C.Mác nêu lên ýkiến thành lập các Đảng vô sản ở các nước là nhiệm vụ chính trị hàng đầutrong phong trào công nhân

Luân-Công tác thực tiễn đã làm thay đổi cơ bản thế giới quan của C Mácchuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật và từ chủ nghĩa dân chủ

- cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản Năm 1844, C.Mác viết bài bài “Góp phần phê phán triết học pháp luật của Hê-ghen” Năm 1844, viết “Bản thảo kinh tế - triết học” Tháng hai 1845, cuốn sách “Gia đình thần thánh” của

C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết chung ra đời phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duytâm chủ quan của phái Hê-ghen trẻ Thời kỳ hoạt động của C.Mác ở Pa-ri kếtthúc (tháng Hai 1845), một thời kỳ mới sau đó mở ra với mục đích rõ ràng màC.Mác tự đặt ra cho mình: đề xuất một học thuyết cách mạng mới Năm 1846,

C.Mác cùng với Ph.Ăng-ghen viết “Hệ tư tưởng Đức”, năm 1847 viết “Sự bần cùng của triết học” Năm 1848, C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”- một văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ

nghĩa C.Mác và đảng vô sản Tháng Sáu năm 1859, công trình thiên tài của C

Mác “Góp phần phê phán môn chính trị kinh tế học” ra đời, cơ sở của học

thuyết kinh tế của C Mác Năm 1867 bộ Tư bản (tập I)- tác phẩm chủ yếu của

C Mác ra đời

C.Mác mất ngày 14/03/1883, trên chiếc ghế bành làm việc của mìnhnhư một chiến sĩ trên vị trí chiến đấu

Trang 5

1b Tiểu sử Ph.Ăngghen.

Ph.Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 tại nước

Đức Ông là con một gia đình tư sản, cha ông là

chủ xưởng dệt Ông là người tài năng ở nhiều lĩnh

vực: thơ, nhạc, họa, thể thao, văn học, quân sự,

ngoại ngữ, toán và kinh tế chính trị

Từ nhỏ Ph.Ăng-ghen đã bộc lộ tính cách

độc lập Cho đến năm 14 tuổi, Ph.Ăng-ghen học ở

trường tại thành phố Barmen Ph.Ăng-ghen sớm

bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ Tháng Mười 1834, Ph.Ăng-ghen chuyểnsang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấygiờ Năm 1837, theo yêu cầu của bố, Ph.Ăng-ghen buộc phải rời bỏ trườngtrung học khi chưa tốt nghiệp để bắt đầu công việc buôn bán ở văn phòng của

bố ông Trong thời gian này ông tự học các ngành sử học, triết học, văn học,ngôn ngữ và thơ ca Tháng 6 năm 1838, Ph.Ăng-ghen đến làm việc tại vănphòng thương mại ở thành phố cảng Barmen

Cuối năm 1839 Ph Ăng-ghen bắt tay vào nghiên cứu các tác phẩm củaHêghen Năm 1841, tham gia binh đoàn pháo binh ở Berlin, ở đây ông đãtham gia nhóm Hêghen và Feuerbach trẻ và chịu ảnh hưởng tư tưởng của haiông

Năm 1844, Ăngghen kết bạn với C.Mác, hai ông cùng hợp sức viếtcông trình nổi tiếng và cùng với C.Mác trở thành lãnh tụ của Quốc tế cộngsản I và II

Ph.Ăngghen cũng không chỉ là một nhà lý luận mà còn là một nhà hoạtđộng thực tiễn hết sức sôi nổi Bên cạnh họat động nghiên cứu lý luận, viếtbáo, làm thơ , ông còn là một nhà hoạt động kinh doanh năng động, là mộtnhà hoạt động quân sự có tài Tháng giêng năm 1849, khi cuộc đấu tranh cáchmạng bùng nổ ở Tây và Nam nước Đức (tháng 5/1849) Ph Ăng-ghen đã vạch

Trang 6

ra một kế hoạch hoạt động quân sự, thành lập quân đội cách mạng tiến hànhcuộc khởi nghĩa Trong thời kỳ này, ông tham gia trực tiếp bốn trận đánh lớn,trong đó có trận Rastatt Năm 1871, Ph.Ăng-ghen tham gia vào việc tổ chứcchiến dịch bảo vệ công xã Pari Sau này Ph.Ăng-ghen đã viết trước tác Luậnvăn quân sự nổi tiếng.

Đối với phong trào công nhân, Ăng-ghen quan tâm nhiều đến hoạtđộng của BCH Trung ương Liên đoàn những người cộng sản Cùng vớiC.Mác, Ph.Ăngghen tham gia lãnh đạo Quốc tế cộng sản I

Ph.Ăng-ghen đã viết một số tác phẩm có giá trị lý luận, góp phần tolớn cho việc hoàn thiện lý luận cho chủ nghĩa C.Mác Sau khi C.Mác qua đời(1883), Ph.Ăng-ghen là người lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa

xã hội ở châu Âu, chuẩn bị cho in tập 2 và 3 của bộ Tư bản mà C.Mác chưakịp hoàn thành Ph.Ăngghen mất ngày 05/08/1895

2 Về tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”.

Nửa sau của thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa Mác đã trở thành hệ tư tưởngcủa giai cấp công nhân ở hầu hết các nước cũng là lúc kẻ thù của giai cấp vôsản đẩy mạnh sự chống phá, đặc biệt là thông qua những hình thức mới tinh

vi hơn, khó nhận biết hơn – hình thức chủ nghĩa cơ hội

Thực hiện chủ nghĩa cơ hội, chúng tìm cách đứng trong hàng ngũ củaĐảng, của giai cấp công nhân, dương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác đểchống lại chủ nghĩa Mác Điều này thể hiện trước hết ở nước Đức

Vào những năm 60 của thế kỷ XIX, ở Đức hình thành hai Đảng củagiai cấp công nhân với hai đường lối trái ngược nhau Một là, Tổng hội liênhiệp công nhân Đức do Lát-xan lập ra, bề ngoài phỏng theo những nguyên lýcủa chủ nghĩa Mác nhưng thực ra là đường lối vừa cơ hội, vừa bè phái, từ bỏđấu tranh giai cấp, từ bỏ cách mạng và chuyên chính vô sản, đi lên chủ nghĩa

xã hội bằng con đường “giản đơn”, “hòa bình” Một là, Đảng công nhân Xã

Trang 7

hội – Dân chủ Đức mang tính chất cách mạng triệt để, tuân thủ theo nguyên lýcủa tuyên ngôn Đảng cộng sản, dương cao ngọn cờ đấu tranh cách mạng,chống lại đường lối cải lương, cơ hội của phái Lát-xan.

Trước sự đàn áp ngày càng dã man của giai cấp tư sản, yếu cầu tất yếuđặt ra là phải thống nhất hai tổ chức Đảng Tháng 5/1875, Đại hội thống nhấthai Đảng được tổ chức ở Gô-ta Đại hội thông qua cương lĩnh của Đảng vớitinh thần cơ bản là dựa trên những tư tưởng cơ hội, cải lương của phái Lát-xan

Phái Látxan trở thành tiền thân của chủ nghĩa cơ hội ở trong Đảng xãhội dân chủ Đức Tư tưởng của phái Látxan trở thành một trong những nguồngốc lý luận của chủ nghĩa cơ hội

Trước tình hình trên, Mác và Ăngghen kiên quyết đấu tranh để vạchtrần những luận điểm mơ hồ, cải lương của cương lĩnh Gô-ta, để xây dựngmột cương lĩnh mới, có tinh thần cách mạng để lãnh đạo phong trào đấu tranhcủa giai cấp công nhân Tác phẩm: “Phê phán cương lĩnh Gô-ta” ra đời từ đó,

và có thể coi đó là một thắng lợi lớn của Mác và Ăngghen trong việc vạchtrần bộ mặt của chủ nghĩa cơ hội

“Phê phán cương lĩnh Gô-ta” là một tác phẩm mang tính chất bút chiếncủa Mác và Ăngghen nhằm vạch trần những quan điẻm sai trái, mơ hồ mangtính chất cải lương chủ nghĩa trong cương lĩnh Gô-ta, để tiến tới xây dựngmột cương lĩnh cách mạng, làm cơ sở lý luận cho cuộc đấu tranh cách mạngcủa giai cấp vô sản

Bất chấp sự phản đối của bọn cơ hội trong Quốc tế II năm 1891,Ăngghen cho xuất bản lần đầu tiên tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” củaMác Ăngghen công bố rằng, với tinh thần cách mạng mácxít, “Phê phánCương lĩnh Gôta” đã giáng một đòn nặng nề vào bọn cơ hội chủ nghĩa “Phêphán Cương lĩnh Gôta là một trong những văn kiện có tính chất cương lĩnhcủa chủ nghĩa Mác cách mạng và khoa học

Trang 8

II Phê phán những quan điểm sai lầm về lao động và phân phối sản phẩm của lao động.

1 Phê phán về vấn đề lao động.

a Lao động và vai trò của lao động.

Như chúng ta đều thừa nhận, từ khi xuất hiện, con người đã tiến hành

các hoạt động khác nhau như: kinh tế, xã hội, văn hoá, trong đó hoạt độngkinh tế luôn luôn giữ vị trí trung tâm và là cơ sở cho các hoạt động khác Sảnxuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội

Xã hội càng phát triển, các hoạt động càng phong phú, đa dạng vàphức tạp hơn thì đòi hỏi của con người về thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phươngtiện đi lại và các thứ cần thiết khác càng phải cao hơn Để có những thứ đó,con người phải tiến hành sản xuất và không ngừng sản xuất với quy mô ngàycàng mở rộng Xã hội sẽ không thể tồn tại nếu ngừng hoạt động sản xuất Bởivậy, sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và làhoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người

Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếutố: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Vì vậy, sức lao động

và lao động luôn là một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại vàphát triển của xã hội loài người Trong quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ cũ,xây dựng chế độ mới, vấn đề lý luận về lao động thường được chủ thể hệ tưtưởng rất chú ý Những quan điểm khác nhau về lao động không chỉ phản ánhtrình độ lý luận của từng giai cấp mà còn phản ánh lợi ích và lập trường củacác giai cấp khác nhau trong xã hội

Chúng ta đều thừa nhân, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thứccủa con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhucầu của con người Nó là sự tiêu dùng sức lao động trong thực tiễn

Trang 9

Lao động là hoạt động bản chất nhất và là phẩm chất đặc biệt của conngười, nó khác với hoạt động theo bản năng của con vật C.Mác viết: "Connhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việcxây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiếntrúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất vớicon ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiếntrúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi".

Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người màcòn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực và trílực "Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó

và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính củachính nó"

Hoạt động lao động không những biến đổi tự nhiên, mà còn hoànthiện, phát triển ngay cả bản thân con người Trong quá trình lao động, conngười tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoànthiện cả thể lực và trí lực

b Vấn đề lao động trong cương lĩnh Gôta.

Cũng là lẽ thường khi Đảng vô sản ở Đức vừa được hợp nhất đề cậptới vấn đề lao động trong cương lĩnh của mình Tuy nhiên, với một tổ chứcĐảng không thuần nhất, được thống nhất một cách vội vàng, bị những kẻ cơhội lợi dụng thì không gì có thể đảm bảo cho tính đúng đắn, khoa học trongbản cương lĩnh của nó

Trong cương lĩnh Gôta ghi: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải và mọi văn hóa, và vì lao động hữu ích chỉ có thể có ở trong xã hội và do xã hội”.

Vai trò của lao động là không thể phủ nhận Tuy nhiên, về vai trò đócần phải có một sự đánh giá đúng đắn và khoa học Điều này, bản cương lĩnhGôta chưa làm được

Trang 10

Theo Mác, về vấn đề lao động, trong cương lĩnh ghi có mấy cái sai sau:

Một là, lao động là nguồn gốc của mọi của cải và mọi văn hóa.

Đây là điều không đúng, vì lao động không phải là nguồn gốc của mọicủa cải và mọi văn hóa

Như đã nêu ở trên, quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của

ba yếu tố: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Như vây, lao

động không phải là nguồn gốc duy nhất của của cải và văn hóa “Giới tự nhiên, cũng như lao động, là nguồn của những giá trị sử dụng (vì của cải vật chất lại chính là gồm những giá trị này!) và bản thân lao động cũng chỉ là biểu hiện của một sức tự nhiên, sức lao động của con người” (tr26, t 19, C.Mác Ăngghen toàn tập, NXB chính trị QG) Đó là quan điểm của C.Mác.

Trước Mác, nhiều nhà lý luận đã đề cập đến vấn đề lao động, trong đó,

nhà kinh tế tư sản cổ điển W.Petty có đưa ra luận điểm nổi tiếng: “lao động

là cha, còn đất đai là mẹ của mọi của cải” Điều này có nghĩa rằng, lao động

chỉ trở thành nguồn gốc của mọi của cải khi nó kết hợp với yếu tố của giới tựnhiên, đó là đất đai

Do đó, muốn có của cải thì phải có quá trình kết hợp giữa lao động và

tự nhiên, tức là con người dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng laođộng Chỉ khi đó, lao động của con người mới trở thành nguồn gốc của mọicủa cải Vì vậy, một cương lĩnh của một Đảng cộng sản không thể có một câurỗng tuếch thế được

Cho nên, muốn có của cải, người lao động phải có điều kiện để laođộng, nghĩa là phải có tư liệu sản xuất

“Chỉ trong chừng mực mà con người ngay từ đầu đối xử với giới tự nhiên, - nguồn gốc đầu tiên của mọi tư liệu lao động và đối tượng lao động - với tư cách là kẻ sở hữu; chừng nào mà con người đối xử với giới tự nhiên coi đó là một vật thuộc về mình thì chừng ấy, lao động của con người mới trở

Trang 11

thành nguồn gốc của các giá trị sử dụng, do đó mới trở thành nguồn gốc của cải” (tr28, t 19, C.Mác Ăngghen toàn tập, NXB chính trị QG)

Nếu người lao động ngoài sức lao động ra, họ không có tư liệu sảnxuất, thì trong mọi hình thái kinh tế xã hội nhất định sẽ phải làm nô lệ chonhững người nắm giữ tư liệu sản xuất, tức là trở thành người lao động làmthuê

Như vậy, với quan điểm của cương lĩnh coi lao động là nguồn gốc củamọi của cải đã làm cho người lao động quên đi một điều cơ bản là họ đã mấthết điều kiện khách quan của lao động, đó là tư liệu sản xuất Những tư liệusản xuất này đang nằm trong tay giai cấp tư sản, nên nó đã biến họ thànhnhững người lao động làm thuê

Bọn tư sản gán cho lao động cái sức sáng tạo siêu tự nhiên là có

những lí do của nó Chúng làm cho ta nhầm tưởng rằng, con người có laođộng là có tất cả những điều kiện để sở hữu của cải vật chất mà quên mấtrằng, nếu con người không có sở hữu nào khác ngoài sức lao động thì nhấtđịnh sẽ phải trở thành nô lệ cho những kẻ nắm trong tay những điều kiện củalao động

Khi không thấy vấn đề này thì giai cấp công nhân không có mục tiêu

và động cơ đấu tranh Đó chính là cái nguy hại của quan điểm sai lầm

Từ những sự phân tích, Mác cho đưa ra kết luận rằng: "Vì lao động là nguồn của mọi của cải cho nên không một ai trong xã hội có thể chiếm hữu của cải bằng cách nào khác hơn là chiếm hữu sản phẩm của lao động Vậy nếu kẻ nào tự mình không lao động thì kẻ đó sống nhờ vào lao động của người khác, và cái văn hoá của hắn, hắn cũng phải nhờ vào lao động của người khác mới có được"(tr35, t 19, C.Mác Ăngghen toàn tập, NXB chính trị QG)

Như vậy, lao động là nguồn gốc của mọi của cải, chiếm hữu của cảitrong xã hội chính là chiếm hữu sản phẩm của lao động Bởi thế, người lao

Trang 12

động phải là người làm chủ mọi của cải - những của cải do chính họ làm ra, vìvậy mà làm chủ xã hội Còn những kẻ không lao động - bọn tư sản, không tạo

ra của cải vật chất thì nhất định phải sống nhờ vào lao động của người khác,

và không có lí do gì để chúng được sống trên người khác

Tuy nhiên, bản cương lĩnh của Đảng xã hội dân chủ Đức lại khôngnhững không đi tới được kết luận quan trong như vậy, mà còn tiếp tục đưa ranhững quan điểm rỗng tuếch và phản khoa học

Hai là, lao động hữu ích là do xã hội mà có.

Xét ngay trong mệnh đề thứ nhất và mệnh đề này ta đã nhận thấy một

sự mâu thuẫn, không nhất quán Theo mệnh đề thứ nhất, lao động là nguồncủa mọi của cải và mọi văn hoá, vậy chẳng phải đã khẳng định lao động lànguồn gốc của xã hội hay sao? Ấy thế mà đến mệnh đề thứ hai, chúng ta lạiđược biết rằng không có xã hội thì không thể có một lao động "có ích" nào cả

Lao động "có ích" là lao động nào đem lại hiệu quả có ích mà người ta

đã dự tính Còn lao động không có ích là lao động không đem lại hiệu quảnào, thậm chí còn làm hại cho xã hội

Tuy nhiên, theo Mác, ở đây không đi sâu bàn lao động nào là lao động

có ích hay không có ích, mà chỉ phân tích mối quan hệ giữa lao động và xãhội Theo tinh thần đó thì quan điểm của cương lĩnh là sai lầm và lộn ngược

Thực tiễn nhân loại đã chứng minh rằng: chính lao động đã làm chovượn biến thành người, do đó lao động là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hộiloài người Khi vượn biết dùng một hòn đá để ném chết một con thú - tứcthực hiện một lao động có ích thì nó đã trở thành con người chứ không phải làvượn nữa Như thế, lao động có ích của vượn đã biến nó thành người, biếnbầy vượn thành bầy người nguyên thủy - xã hội nguyên thủy Như vậy, rõràng là có lao động có ích thì mới có xã hội chứ không phải như cương lĩnh

đã nêu

Trang 13

Mệnh đề thứ hai này đã phủ nhận vai trò sáng tạo ra xã hội của laođộng có ích Điều này có thể khiến ta hiểu rằng chỉ có trong xã hội, người tamới có thể sống mà không lao động hay tồn tại lao động vô ích cũng là một lẽthường tình Luận điểm này vô tình đã bảo vệ cho lợi ích của giai cấp tư sản -những kẻ không lao động mà vẫn sống sung sướng, giàu có, những kẻ thừanhận sự tồn tại và phát triển của công nghiệp sản xuất vũ khí phục vụ chiến

tranh như một tất yếu “Thế thì người ta cũng rất có thể nói rằng chỉ có trong

xã hội thì lao động vô ích và thậm chí có hại cho xã hội mới có thể trở thành một ngành công nghiêpu; rằng chỉ có trong xã hội, người ta mới có thể sống

mà không lao động, v.v và v.v , - tóm lại là chép nguyên văn Rousseau” (tr32, t 19, C.Mác Ăngghen toàn tập, NXB chính trị QG)

2.Phê phán về quan điểm phân phối sản phẩm của lao động.

Trong cương lĩnh nêu: “Và vì lao động có ích thì chỉ có thể có được trong xã hội và do xã hội cho nên thu nhập do lao động đem lại là thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cát xén theo những quyền lợi ngang nhau”.

Thoạt nghe chúng ta tưởng như câu này không có gì mâu thuẫn, màtrái lại là rất lôgíc Nếu lao động có ích chỉ có thể có được trong xã hội và do

xã hội thì thu nhập do lao động đem lại là thuộc về xã hội Nhưng theo Mác,đây là những ý niệm mơ hồ, rỗng tuếch đưa ra để thay thế cho những kháiniệm kinh tế nhất định như: sản phẩm của lao động, quyền lợi bình đẳng

“Và thật vậy, trong mọi thời đại, những kẻ bảo vệ cho mỗi trật tự xã hội nhất định đều nêu lên luận điểm đó Trước hết là những tham vọng của chính phủ với tất cả những cái gắn liền vào chính phủ đó, vì chính phủ là cơ quan của xã hội để duy trì trật tự xã hội; rồi đến các loại tham vọng của những kẻ sở hữu tư nhân vì các loại sở hữu tư nhân đều là cơ sở của xã hội, v.v Như người ta thấy, những câu rỗng tuếch ấy có thể tha hồ lật đi lật lại

Trang 14

theo nghĩa nào cũng được” (tr36, t 19, C.Mác Ăngghen toàn tập, NXB chính trị QG)

Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, bon tư sản cũng đưa ra quan điểm nhưvậy, chúng cho rằng của cải do lao động làm ra phải được phân phối một cáchkhông cắt xén và thuộc về toàn xã hội Và thực tế chúng ta đã thấy, nhữngnhà tư sản luôn được nhận phần nhiều, còn phần thuộc về người lao động

riêng lẻ thì “chỉ còn lại những gì không cần thiết cho sự duy trì "điều kiện" của lao động, tức là duy trì xã hội mà thôi” Và họ cho đó là bình đẳng.

C.Mác phân tích luận điểm của cương lĩnh và chỉ ra sự bất hợp lí

Thứ nhất, sản phẩm của lao động.

Vấn đề đặt ra là: sản phẩm của lao động là gì? Đó là đồ vật (tư liệu sảnxuất hay tư liệu tiêu dùng), hoặc là giá trị của đồ vật đó? Chứ ở đây không cósản phẩm của lao động chung chung

Thứ hai, theo quyền lợi bình đẳng, sản phẩm của lao động phải toàn

vẹn thuộc về mọi thành viên trong xã hội.

Theo Mác, mệnh đề này có nhiều mâu thuẫn

Thứ nhất, Nếu sản phẩm thuộc về mọi thành viên trong xã hội thì

những người lao động riêng lẻ sẽ ra sao? Giả sử họ cũng có đủ những điềukiện để sản xuất, họ cũng có thể tạo ra những giá trị sử dụng Tuy nhiên đóchỉ là những giá trị sử dụng chứ họ lại không thể tạo ra của cải, cũng khôngthể tạo ra văn hoá được vì sản phẩm làm ra chủ yếu là để tiêu dùng cá nhân,gia đình, không phải đem trao đổi trên thị trường Chẳng lẽ sản phẩm củanhững người lao động riêng lẻ này cũng phải đem ra chia đều cho cả xã hộisao?

Theo Mác: "Lao động là nguồn của của cải và của văn hoá, chỉ khi nào

nó là lao động xã hội", "khi nó được tiến hành trong xã hội và do xã hội", còn

lao động riêng lẻ không phải là nguồn của của cải và văn hóa

Trang 15

Thứ hai, Nếu sản phẩm thuộc về mọi thành viên trong xã hội, thì như

vậy kể cả những người có sức lao động mà không lao động thì cũng đượchưởng, đó là điều không đúng Thực tế trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sựnghèo khổ và cảnh sống vất vưởng lại càng phát triển ở phía người lao động,còn của cải và văn hoá lại ngày càng phát triển ở phía giai cấp tư sản – nhưng

kẻ không lao động Đó là một sự bất hợp lí trong phân phối của cải xã hội

Trước thực tế như vây, cương lĩnh của một Đảng cộng sản cần phải chỉ

ra một cách rõ ràng là trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay, những điềukiện vật chất và những điều kiện khác khiến người lao động ngày càng khốnkhổ hơn còn bọn tư bản ngày càng giàu có hơn Vì thế, cần thiết phải thay đổihoàn cảnh ấy bằng cách giành về tay người lao động những điều kiện vật chất

để họ có thể làm chủ của cải do mình làm ra

Thứ ba, Nếu sản phẩm chỉ thuộc về những người lao động, thì những

thành viên khác trong xã hội sẽ ra sao? Những người ở ngoài độ tuổi laođộng, những người không có khả năng tham gia lao động sản xuất cũng cầnphải nhận được sự quan tâm của xã hội để họ có đủ điều kiện sống, để nhữngngười chưa đến tuổi lao động được phát triển những năng lực của mình, bổxung cho lực lượng lao động xã hội

Vậy phân phối thế nào là hợp lí, là “công bằng” Để làm rõ nghĩa củachữ phân phối "công bằng", Mác đã tiến hành đối chiếu đoạn này với một

đoạn sau của cương lĩnh Đoạn này cho rằng "thu nhập của lao động là thuộc

về tất cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén, theo những quyền ngang nhau", đoạn sau lại đưa ra giả định một xã hội trong đó "Sự giải phóng lao động đòi hỏi phải nâng tư liệu lao động lên thành tài sản chung của xã hội và phải điều tiết một cách tập thể toàn bộ lao động, đồng thời phân phối một cách công bằng thu nhập của lao động"

"Thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội" ư? Kể cả những kẻ

không lao động ư? Thế thì còn đâu là cái "thu nhập không bị cắt xén của lao

Trang 16

động" nữa ? Nó chỉ thuộc về những thành viên có lao động trong xã hội thôi ư? Thế thì cái "quyền ngang nhau" của tất cả mọi thành viên trong xã hội sẽ ra

sao?”

3 Mô hình phân phối sản phẩm lao động của C.Mác.

Sau khi phê phán những quan điểm sai lầm của cương lĩnh Gô-ta vềvấn đề phân phối sản phẩm của lao động, Mác đưa ra sơ đồ phân phối tổngsản phẩm xã hội như sau:

Trước hết, Mác lấy từ ngữ "thu nhập của lao động" theo nghĩa là sảnphẩm của lao động, như thế thì thu nhập tập thể của lao động sẽ có nghĩa là

tổng sản phẩm xã hội Trong tổng sản phẩm đó, phải khấu đi:

Một là: phần để thay thế những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng.

Hai là: một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất.

Ba là: một quỹ dự trữ hoặc quỹ bảo hiểm để phòng những tai nạn,

những sự rối loạn do các hiện tượng tự nhiên gây ra, v.v

Những khoản khấu trừ như thế vào "thu nhập không bị cắt xén của laođộng" là một tất yếu kinh tế, và khấu trừ nhiều hay ít là tuỳ theo những tư liệu

và những lực lượng hiện có, một phần là nhờ lối tính xác suất, nhưng dù saongười ta cũng không thể dựa vào sự công bằng để tính những khoản khấu trừ

và xã hội mới càng phát triển thì phần đó sẽ càng giảm xuống

Hai là: những khoản dùng để cùng chung nhau thoả mãn những nhu cầu, như trường học, cơ quan y tế, v.v Phần này lập tức tăng lên khá nhiều

Ngày đăng: 13/01/2018, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Giới thiệu tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gôta”, báo điện tử Đảng cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: phê phán cương lĩnh Gôta
1. C.Mác và Ăngghen toàn tập, tập 19, NXB Chính trị quốc giá, 1995 Khác
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, NXB Chính trị quốc gia, 1995 Khác
3. Giáo trình hướng dẫn tác phẩm kinh điển Mác-Lênin Khác
5. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì đổi mới, năm 1991 Khác
6. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, năm 2001 Khác
7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, năm 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w