1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận cao học , tác PHẨM KINH điển chủ nghĩa cơ hội trong tác phẩm “làm gì” ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở nước ta hiện nay

40 204 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 357,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội đã trở thành một quy luật vận động và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đó là cuộc đấu tranh tất yếu để bảo vệ sự trong sáng, tính cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác và để hiện thực hóa trong cuộc sống, trong thực tiễn vận động cách mạng của giai cấp công nhân. Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng trước quan điểm của chủ nghĩa cơ hội. Thắng lợi của cuộc đấu tranh ấy có ý nghĩa to lớn đối với phong trào công nhân quốc tế và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội hiện nay. Những kẻ cơ hội chủ nghĩa rất tinh vi và xảo quyệt, bằng trực quan chúng ta không thể xét đoán được bộ phận nào trong giai cấp công nhân có chủ nghĩa cơ hội. Vì vậy muốn loại trừ chủ nghĩa cơ hội, vừa phải đấu tranh mạnh mẽ, vừa phải đi sâu, sát quần chúng, vào phong trào công nhân để hiểu rõ, hiểu đúng từng loại chủ nghĩa cơ hội. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa Mác là lịch sử của đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội xét lại, do đó nhận diện chủ nghĩa cơ hội trong từng giai đoạn lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng để những người cộng sản chủ động đấu tranh giữ vững sự trong sạch của đội ngũ, tính khoa học cách mạng của học thuyết Mác Lênin đảm bảo luôn là kim chỉ nam dẫn dắt hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Xuất phát từ lý do trên em xin chọn đề tài: “Chủ nghĩa cơ hội trong tác phẩm “Làm gì”. Ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở nước ta hiện nay” làm bài tiểu luận hết môn cho mình. 2. Phạm vi nghiên cứu Tìm hiểu về chủ nghĩa cơ hội và biểu hiện của nó trong thực tế. Thông qua tư tưởng của V.L.Lênin về chủ nghĩa cơ hội để phát hiện và tố cáo chủ nghĩa cơ hội ngày càng xảy ra và diễn biến phức tạp. Nghiên cứu về cách phòng chống chủ nghĩa cơ hội của Đảng ta và ý nghĩa cuộc sống khi chủ nghĩa cơ hội bị loại bỏ. 3. Mục đích và ý nghĩa a, Mục đích Thời đại ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng đòi hỏi cao hơn và nhiều hơn ở mỗi người. Cũng chính vì thế mà chủ nghĩa cơ hội ngày càng trở nên phổ biến , diễn biến của nó ngày càng phức tạp và khó nhận biết. Nó đang đe dọa tới vấn đề chính trị và các mối quan hệ trong cuộc sống. Ở Việt Nam cũng vậy, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện ở mọi mặt của cuộc sống, ngay cả trong sự quản lí của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, hiểu hơn và nắm rõ hơn về chủ nghĩa cơ hội là một điều cần thiết để chúng ta có thể phòng ngừa, tiêu diệt chủ nghĩa cơ hội. b, Ý nghĩa Ở đâu có chủ nghĩa cơ hội, ở đó có lòng tham. Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội là một điều rất cần thiết, nó giúp cho cuộc sống lành mạnh và ổn định hơn. Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển Đảng trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều. 4. Bố cục của đề tài Tiểu luận gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết thúc.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội đã trở thành một quy luật vận động vàphát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đó là cuộc đấu tranhtất yếu để bảo vệ sự trong sáng, tính cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác

và để hiện thực hóa trong cuộc sống, trong thực tiễn vận động cách mạng củagiai cấp công nhân Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã đấutranh không khoan nhượng trước quan điểm của chủ nghĩa cơ hội Thắng lợicủa cuộc đấu tranh ấy có ý nghĩa to lớn đối với phong trào công nhân quốc tế

và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh chống chủnghĩa cơ hội hiện nay

Những kẻ cơ hội chủ nghĩa rất tinh vi và xảo quyệt, bằng trực quan chúng

ta không thể xét đoán được bộ phận nào trong giai cấp công nhân có chủ nghĩa

cơ hội Vì vậy muốn loại trừ chủ nghĩa cơ hội, vừa phải đấu tranh mạnh mẽ,vừa phải đi sâu, sát quần chúng, vào phong trào công nhân để hiểu rõ, hiểuđúng từng loại chủ nghĩa cơ hội Lịch sử phát triển của chủ nghĩa Mác là lịch

sử của đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội xét lại, do đó nhận diện chủ nghĩa

cơ hội trong từng giai đoạn lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng để nhữngngười cộng sản chủ động đấu tranh giữ vững sự trong sạch của đội ngũ, tínhkhoa học cách mạng của học thuyết Mác- Lênin đảm bảo luôn là kim chỉ namdẫn dắt hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp giải phóng con người khỏi mọi sự

áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Xuất phát từ lý

do trên em xin chọn đề tài: “Chủ nghĩa cơ hội trong tác phẩm “Làm gì” Ýnghĩa đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở nước ta hiện nay”làm bài tiểu luận hết môn cho mình

2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu về chủ nghĩa cơ hội và biểu hiện của nó trong thực tế Thông qua

tư tưởng của V.L.Lênin về chủ nghĩa cơ hội để phát hiện và tố cáo chủ nghĩa

cơ hội ngày càng xảy ra và diễn biến phức tạp Nghiên cứu về cách phòngchống chủ nghĩa cơ hội của Đảng ta và ý nghĩa cuộc sống khi chủ nghĩa cơ hội

bị loại bỏ

Trang 2

3 Mục đích và ý nghĩa

a, Mục đích

Thời đại ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng đòi hỏi cao hơn vànhiều hơn ở mỗi người Cũng chính vì thế mà chủ nghĩa cơ hội ngày càng trởnên phổ biến , diễn biến của nó ngày càng phức tạp và khó nhận biết Nó đang

đe dọa tới vấn đề chính trị và các mối quan hệ trong cuộc sống Ở Việt Namcũng vậy, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện ở mọi mặt của cuộc sống, ngay cảtrong sự quản lí của Đảng và Nhà nước Vì vậy, hiểu hơn và nắm rõ hơn vềchủ nghĩa cơ hội là một điều cần thiết để chúng ta có thể phòng ngừa, tiêu diệtchủ nghĩa cơ hội

b, Ý nghĩa

Ở đâu có chủ nghĩa cơ hội, ở đó có lòng tham Đấu tranh chống chủ nghĩa

cơ hội là một điều rất cần thiết, nó giúp cho cuộc sống lành mạnh và ổn địnhhơn Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển Đảng trở nên dễ dàng và hiệuquả hơn rất nhiều

4 Bố cục của đề tài

Tiểu luận gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết thúc

Trang 3

NỘI DUNG

I CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI TRONG TÁC PHẨM “LÀM Gè?”.

1 Hoàn cảnh ra đời của tỏc phẩm

Trong hoàn cảnh, chế độ nông nô bị bãi bỏ (1861), Chủ nghĩa t bản ở Ngaphát triển mạnh, nhng công nhân và nông dân Nga vẫn phải sống dới áchthống trị tàn bạo của Nga hoàng Công nhân và nông dân không đợc hởng mộtchút quyền tự do chính trị nào

Giai cấp cụng nhõn ở Nga phát triển rất nhanh về số lợng từ 7 vạn (1965)sang đầu thế kỷ XX tăng lên 3 triệu ngời và bắt đầu thức tỉnh để đấu tranh, lúc

đầu bằng cách đập phá máy móc, cửa kính trong xởng Phá hoại phòng làmviệc và các cửa hàng làm việc của chủ , rồi họ dần hiểu rằng, muốn đấu tranhchống t bản thắng lợi, công nhân phải có tổ chức và thông qua tổ chức Vì lẽ

đó, Hai tổ chức đầu tiên là: Hội liên hiệp công nhân miền nam Nga thành lập ở

ôđétxa (1875) , sau đó Hội liên hiệp công nhân miền Bắc Nga (1878) ởpêtécbua Nhng bị Nga hoàng đàn áp và phá tan, còn phong trào công nhâncàng phát triển lên cao, trong 5 năm(1881-1886) có tới 48 cuộc bãi công, sốcông nhân tham gia có tới 8 vạn ngời

Nhờ cao trào công nhân trong nớc và chịu ảnh hởng của phong trào côngnhân Tây Âu, các tổ chức mácxít đầu tiên đợc thành lập ở Nga Nhóm đầu tiêngọi là: “Nhóm giải phóng lao Động” tổ chức ở giơnevơ do Plêkhanốp lãnh đạo,nhóm này đã cố gắng và có nhiều hình thức để truyền bá chủ nghĩa Mác vào n-

ớc Nga, nhng lại bị Phái dân túy đang chiếm u thế trong công nhân tiên tiến vàtầng lớp tri thức có tinh thần cách mạng ngăn cản Theo Phái dân túy, lực lợngcách mạng chính là nông dân, và có thể lật đổ Nga hoàng bằng các cuộc bạo

động của nông dân, họ đã không hiểu gccn là lực lợng cơ bản của cách mạng,phủ nhận vai trò của quần chúng nên không hoạt động cách mạng trong quầnchúng công nhân và nông dân Với quan điểm và phơng pháp hoạt động nhthế, nên Phái dân túy đã làm cho quần chúng lao động lạc hớng, sao nhãngcuộc đấu tranh chống lại giai cấp áp bức bóc lột, lật đổ nền thống trị về chínhtrị của nó Họ làm cho GCCN không nhìn thấy vai trò của mình, và cản việcthành lập một chính Đảng độc lập của GCCN Vì vậy, muốn truyền bá chủnghĩa Mác vào Nga thì phải đấu tranh chống chủ nghĩa dân túy Nhóm giảiphóng lao động đã không đánh bại đợc t tởng của Phái dân túy, vì họ cònphạm những sai lầm nghiêm trọng, ngay trong bản cơng lĩnh đầu tiên của họcòn ảnh hởng của Phái dân túy, họ không đả động gì đến vai trò của giai cấpnông dân trong cách mạng, mà lại cho rằng giai cấp t sản tự do Nga là một lựclợng cách mạng có thể ủng hộ cách mạng mặc dù sự ủng hộ không vững trắc,hơn thế nữa họ cũng nh các tổ chức mácxít khác cha hề liên hệ với phong trào

Trang 4

công nhân (PTCN) Cho nên họ chỉ thành lập đợc Đảng dân chủ xã hội Ngatrên lí thuyết, cha kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học (CNXHKH) với PTCN.PTCN tự phát ngày càng phát triển mạnh ở Nga, đồng thời cũng đặt ra yêucầu phải kết hợp CNXHKH với PTCN Lần đầu tiên ở Nga, Lênin đã tổ chứclại các tổ chức của công nhân ở Pêtécbua thành hội liên hiệp chiến đấu giảiphóng giai cấp công nhân pêtécbua Tổ chức đó là mầm mống chủ yếu, tổ chứctiền thân của một đảng cách mạng dựa vào PTCN Nhng không không bao lâu,hội bị chính quyền Nga hoàng khủng bố Lênin và các bạn chiến đấu của ngời

bị bắt, trong thành phần của ban lãnh đạo hội liên hiệp giai phóng GCCN ởPêtécbua có sự thay đổi lớn, một số nhân vật tự nhận là “thanh niên” còn lênin

và các bạn chiến đấu của ngời là “già” Họ chủ trơng: công nhân chỉ nên đấutranh về kinh tế chống lại bọn chủ, còn đấu tranh chính trị là công việc củagiai cấp t sản (GCTS) tự do và quyền lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị nên đểcho GCTS tự do Đó là phái “kinh tế”, bao gồm bộn cơ hội, thỏa hiệp đầu tiêntrong hàng ngũ các tổ chức mácxít ở Nga Lênin cho rằng phái “kinh tế” làtrung tâm chính sách thỏa hiệp và chủ nghĩa cơ hội, nếu phái đó lãnh đạophong trào công nhân có nghĩa là phong trào cách mạng tan rã và chủ nghĩaMác thất bại Do đó, muốn thành lập đợc chính đảng của GCCN phải đánh bạiphái “kinh tế”

Năm 1898, Đại hội lần 1 của Đảng công nhân dân chủ-xã hội Nga tuyên

bố thành lập Đảng Đại hội không thông qua đợc cơng lĩnh và điều lệ, BCH

TW do đại hội bầu ra đều bị bắt Nên sau Đại hội, sự dao động về t tởng, phântán về tổ chức của Đảng càng biểu hiện rõ rệt Song điều đó không làm chophong trào công nhân chậm phát triển, mà yêu cầu cấp bách đòi hỏi phải thànhlập một đảng cách mạng tập trung thống nhất của GCCN, có đủ khả năng lãnh

đạo PTCM, nhng lại gặp rất nhiều khó khăn: Chính quyền Sa hoàng đàn áp dãman phong trào cách mạng và dùng mọi thủ đoạn bỏ tù cho đi đày các cán bộ -

u tú của Đảng; Một số lớn các ban chấp hành các địa phơng và cán bộ địa

ph-ơng quen làm việc trong tình trạng lộn xộn về t tởng, phân tán về tổ chức, nênkhông thấy sự cần thiết cấp bách của một đảng thống nhất tập trung; Trong

Đảng lúc đó co một nhóm cơ quan ngôn luận riêng (nh: báo T tởng công nhân

và báo Sự nghiệp công nhân) đòi bào chữa về mặt lí luận cho sự giao động về

t tởng, phân tán về tổ chức, họ phản đối việc thành lập một chính đảng cáchmạng tập trung thống nhất Nhóm đó chính là phái “kinh tế” trong Đảng xãhội dân chủ xã hội Nga Thực chất khuynh hớng của phái “kinh tế” ở Nga lúc

đó là phủ nhận vai trò lí luận cách mạng cách mạng, tức là vai trò củaCNXHKH Sùng bái tính tự phát của PTCN, phủ nhận vai trò lãnh đạo của

Đảng đối với PTCN, phủ nhận CMVS và CCVS

Trang 5

Từ những điều trên Lênin nhận thấy, muốn thành lập một chính đảng tậptrung thống nhất, trớc hết phải đánh bại các quan điểm t tởng cơ hội của phái

“kinh tế” biểu hiện chủ nghĩa cơ hội Béstanh ở Nga

Tác phẩm “làm gì ?” bao gồm: Lời tựa, 5 chơng và phụ lục, với hơn 245trang, đây là tác phẩm lớn Trong tác phẩm Lênin vạnh trần bản chất, nguồngốc, đặc điểm của chủ nghĩa cơ hội, phê phán chủ nghĩa cơ hội sùng bái chủnghĩa “công liên”, mà thực chất là phủ nhận vai trò lí luận Mác xít, phủ nhậnvai tò lãnh đạo của đảng cách mạng, Lênin chỉ ra sự khác nhau căn bản vềquan điểm nhiệm vụ chính trị của đảng kiểu mới với đảng kiểu cũ theo quan

điểm công liên chủ nghĩa cơ hội lũng loạn Đảng kiểu cũ cho rằng: đảng vàgiai cấp công nhân không phải đi lật đổ nhà nớc t sản mà là thừa nhận nó, chỉnên đấu tranh đòi những cải cách về dân sinh, dân chủ trong khuân khổ chế độ

đó Ngời chỉ rõ: “cuộc đấu tranh kinh tế chống chính phủ” đó là công liên chủnghĩa, từ đó đến chính tri dân chủ xã hội thì còn cách và rất xa, mục tiêunhiệm vụ chính trị của đảng kiểu mới là làm cách mạng vô sản, lật đổ chế độ tbản, thiết lập chuyên chính vô sản Về hình thức vcà tính chất đấu tranh khôngchỉ đơn thuần đấu tranh về kinh tế mà cơ bản bao trùm và tập trung hơn là đấutranh chính trị, “không những là để đạt đợc những điều kiện có lợi trong việcbán sức lao động, mà còn để thủ tiêu cái chế độ xã hội nó bắt buộc những ngờitay trắng phải bán mình cho bọn nhà giầu”1; Khảng định vai trò tầm quantrọng của lí luận cách mạng đối với phong trào công nhân và Đảng dân chủ xãhội Nga, Lênin viết: “chỉ Đảng nào đợc một lí luận tiên phong hớng dẫn mới

có khả năng làm tròn chiến sĩ tiên phong”; Chỉ ra khâu quyết định, mắt xíchquan trọng nhất để thành lập đảng là phải ra đợc tờ báo chính trị bất hợp pháp

Đây còn là tác phẩm chuyên khảo về xây dựng đảng và mang tính bút chiếnsâu sắc để đấu tranh đánh bại chủ nghĩa cơ hội Những luận điểm trong tácphẩm là bớc phát triển lớn trong học thuyết Mác - Lênin về Đảng cộng sản, đãxác lập cơ sở chính trị t tởng, tổ chức của đảng kiểu mới, là tiêu trí để phânbiệt với các đảng dân chủ Tây âu đang bị lũng loạn

Để nhận diện chủ nghĩa cơ hội, Lênin đã vạch rõ nguồn gốc, bản chất đặc

điểm của chủ nghĩa cơ hội nói chung và phái kinh tế ở Nga nói riêng

Chủ nghĩa cơ hội xuất hiện ở trong hàng ngũ những ngời Dân chủ- xã hộivào năm 1875, việc sát nhập hai tổ chức “Tổng hội liên hiệp công nhân Đức”của Lát san vào Đảng “Dân chủ - xã hội Đức” do lít nếc lãnh đạo thanhd Đảng

“Công nhân dân chủ-xã hội Đức” tai gô ta với cơng lĩnh sai lầm về dờng lốithỏa hiệp hữu khuynh, nhợng bộ phái lát san, đã làm xuất hiện mầm mống chủnghĩa cơ hội đối với latsan cơng lĩnh về chính trị cơng lĩnh chính trị là đấutranh cho quyền phổ thông đầu phiếu, cơng lĩnh về kinh tế là đòi thành lập cácnghiệp đoàn do nhà nớc tự cấp Phái latsan là tiền thân của chủ nghĩa cơ hội

1 Trang 82

Trang 6

trong §¶ng c«ng nh©n x· héi d©n chñ §øc vµ t tëng cña ph¸i nµy lµ mét trongnh÷ng nguån gèc cña chñ nghÜa c¬ héi.

2 Những tư tưởng cơ bản của tác phẩm.

Sự phát triển của xu hướng cơ hội chủ nghĩa ở những năm cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX, trong phong trào công nhân là sự phản ánh cuộc đấutranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Xu hướng ấy phát triểnđặc biệt nhanh chóng trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khichủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc

Ở nước Nga đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phong trào đấu tranh củagiai cấp công nhân đã nổ ra ở nhiều nơi và phát triển nhanh chóng đã đặt rayêu cầu bức thiết phải thành lập một đảng cách mạng thống nhất và tập trungcủa giai cấp công nhân có đủ khả năng để lãnh đạo được phong trào cáchmạng Mặc dù lúc này ở Nga có nhiều tổ chức Mácxít ra đời và phát triển songmang tính tự phát và chịu ảnh hưởng của “phái dân túy” và sau đó là ảnhhưởng quan điểm của “phái kinh tế”

Để thành lập được một chính đảng cách mạng nhất, tập trung nhất dựa trênquan điểm tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Ăngghen, một đảng côngnhân mácxít thì theo Lênin là phải đánh bại những quan điển tư tưởng cơ hộicủa “phái kinh tế” ở Nga Chính vì vậy trong tác phẩm “Làm gì?” này, Lênindành sự chú ý chủ yếu cho việc thành lập một đảng mácxít ở Nga, một đảngkhác về bản chất so với các đảng xã hội cải lương của Quốc tế II và có khảnăng lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân để thủtiêu chủ nghĩa tư bản

Lênin đã luận chứng và phát triển một cách phù hợp với hoàn cảnh lịch sửmới, những tư tưởng của Mác - Ăngghen về Đảng như là một lực lượng cáchmạng hóa phong trào công nhân, tổ chức và lãnh đạo phong trào đó Việcchuẩn bị và thành lập một đảng như vậy diễn ra trong tình hình của một cuộcđấu tranh gay gắt giữa hai khuynh hướng được hình thành vào thời kỳ đótrong phong trào dân chủ - xã hội quốc tế, xu hướng mácxít cách mạng và xuhướng cơ hội chủ nghĩa Từ thực tiễn phong trào công nhân Nga và lịch sử các

nước, Lênin đã chỉ rõ: “công nhân trước đây không thế có ỷ thức dân chủ - xã

hội được Ý thức này chỉ có thế là từ bên ngoài đưa vào Lịch sử tất cả các

Trang 7

nước chứng thực rằng chỉ do lực ỉượng của độc bản thân mình thôi thì giai câp công nhân chỉ có thê đi đên ý thức công liên chủ nghĩa, tức là đi đến chỗ tin rằng phải đoàn kết lại thành hội liên hiệp, phải đẩu tranh chổng bọn chủ, phải đòi hỏi Chính phủ ban hành những luật này hay ỉuật khảc cần thiết cho cồng nhân Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh từ các lý luận triết

học, lịch sử, kinh tế do những người có học thức trong các giai cấp hữu sản,

những trỉ thức xây dựng nên”2

Lênin phê phán quan điểm của “phái kinh tế” khi họ đánh giá quá cao hệ

tư tưởng và đánh giá quá đáng vai trò của yếu tố tự phát Tức là phong tràocông nhân thuần túy khi cho rằng có khả năng tạo ra và sẽ tạo ra cho nó một

hệ tư tưởng độc lập, chỉ cần là công nhân, gành được vận mệnh của mìnhtrong tay những người lãnh đạo

Như vậy, ý thức chủ nghĩa xã hội là một yếu tố từ bên ngoài đưa vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, chứ không phải là một cái gì xuất hiện một cách tự phát từ cuộc đấu tranh đó và Lênin chỉ rõ: “Sai lầm cơ bản của khuynh hướng mới trong Đảng dân chủ - xã hội Nga là sùng bải tính tự phát,

là không hiếu được rằng tính tự phát của quần chúng đòi hỏi chủng ta, những người dân chủ - xã hội, phải biểu hiện một tính tự giác cao Cao trào tự phát của quần chúng càng tăng lên và phong trào càng mở rộng thì sự cần thiết có một ỷ thức cao trong công tác lỷ ỉuận, chỉnh trị và tố chức của Đảng dân chủ

- xã hội phải tăng lên vó cùng nhanh chóng hơn” 3

Từ sự phân tích trên Lênin khẳng định: “Đã không thể có một hệ tư tưởng

độc ỉập, do chính ngay quần chúng công nhân xây dựng nên trong quá trình phong trào của họ, thì vấn đề đặt ra chỉ là như thế này: hệ tư tưởng tư sản hoặc hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa Không có hệ tư tưởng trung gian Vì vậy, mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội

triển của cao trào tự phát đã phản ảnh tính tự giác phôi thai và mặc dù pháttriển đến đâu cao trào tự phát vẫn không tránh khỏi chủ nghĩa công liêm vàphụ thuộc vào hệ tư tưởng tư sản, bản thân cuộc đấu tranh thuần túy công liêm

2 Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1975, tập 6, trang 38

3 Sách đã dẫn, trang 66-67

4 Sách đã dẫn, trang 49-50

Trang 8

chủ nghĩa của giai cấp cụng nhõn khụng sản sinh được hệ tư tưởng giai cấpcụng nhõn giỳp cho họ đấu tranh chống chớnh quyền, chế độ chuyờn chớnhphong kiến, chống lại giai cấp tư sản một cỏch triệt để mà đũi hỏi phải cú sự rađời của chớnh đảng vụ sản - là người cú khả năng đem hệ tư tưởng giai cấpcụng nhõn do những tri thức xõy dựng nờn vào để giỏc ngộ cho giai cấp cụngnhõn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mỡnh là giải phúng giai cấp, giảiphúng toàn dõn tộc.

Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa cơ hội trong quốc tế hai cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX không phải là một hiện tợng ngẫu nhiên, nó có nguồn gốccủa nó và nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và GCTStrong nội bộ PTCS và PTCN ngày càng quyết liệt sâu sắc, sau khi Ăngghenmất bọn Bestanh và những đai biểu của những trào lu thù địch với chủ nghĩaMác trong phonh trào dân chủ - xã hội Đức và quốc tế đã nấp dới chiêu bài “tự

do phê bình” để tiến hành xét lại chủ nghĩa Mác Chúng đã xuyên tạc và phủnhận những nguyên lí Triết học, Kinh tế, Chính trị của chủ nghĩa Mác và thaynhững nguyên lí đó bằng những lí luận t sản về điều hòa mâu thuẫn giai cấp,

về sự hợp tác giai cấp Besctanh lí luận rằng dới chế độ t bản, công nhân không

bị bần cùng hóa mà còn đợc thờng xuyên cải thiện điều kiện hoạt động nh vớigiai cấp t sản tự do, nhờ đó mà đã thu đợc những thắng lợi to lớn trong cáccuộc tuyển cử và hoạt động nghị trờng

Lênin đã vạch rõ quan điểm của bestanh, chủ nghĩa cơ hội xết lại : “ông taphủ nhận khả năng đem lại cho chủ nghĩa cơ họi một cơ sở khoa học và khảnăng chứng minh theo quan điểm duy vạt lịch sử, rằng chủ nghĩa xã hội là tấtyếu không thể tránh khỏi, ông ta phủ nhận tình trạng bần cùng hóa ngày càngtăng , phủ nhận sự vô sản hóa và tình trạng những mâu thuẫn TBCN ngày càngtrầm trọng ; ông ta tuyên bố rằng ngay cả quan niệm về “mục đích cuối cùng”cũng không vững chắc gì và kiên quyết bác bỏ chuyên chính vô sản, ông traphủ nhận sự đói lập về nguyên tắc giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghã xã hội,

ông ta phủ nhận đấu tranh giai cấp; cho là không thể áp dụng đợc lí luận đóvào một xã hội thực sự dân chủ đợc quản lí theo ý chí của đa số vv ”

Nh vậy, về thực chất tự do phê bình của chủ nghĩa xét lại là khuynh hớngmang bản chất t sản đối với chủ nghĩa Mác, là đòi thay thees chủ nghĩa Mácchỉ lấy ở chủ nghĩa Mác những điều gì mà gia cấp t sản có thể chấp nhận đợc ,Lênin chỉ rõ: “ tự do phê bình là tự do của khuynh hớng cơ hội chủ nghĩatrong đảng dân chủ xã hội, là tự do biến Đảng dân chủ - xã hội thành một đảngdân chủ cải lơng, là tự do đa những t tởng t sản và những thành t sản vào trongchủ nghĩa xã hội”5, đó chính là bản chất của tự do phê bình

5 tr11

Trang 9

Chủ nghĩa cơ hội là ngời bạn đồng hành của chủ nghĩa xét lại, chúng giảdanh là những ngời Mác xít để chống lại chủ nghĩa Mác quan điểm củachúng là thỏa hiệp, cải lơng về mục đích về nhiệm vụ chính trị của GCCN vàcuộc đấu tranh của GCCN chống lại GCTS điều đó có nghĩa là chúng chốnglại cách mạng vô sản, CCVS Bản chất của CNCH là tuy không công khai phủnhận chủ nghĩa Mác nhng chumngs xuyên tạc hoài nghi chủ nghĩa Mác, chúngchỉ giữ lại hình thức mà vứt bỏ nội dung, giữ lai thể xác mà vứt bỏ linh hồn củachủ nghĩa Mác , nh vậy, về bản chất CNCH và xét lại là một Chúng có mỗiquan hệ chặt chẽ, tác động và chuyển hóa lẫn nhau, chúng đều phủ nhậnnhững nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác, ranh giới giữa chúng là khôngphân biệt, chúng luôn ẩn mình, luồn lách để phá hoại Đảng, phá hoại PTCS vàPTCN

Sau khi Đảng dân –xa hội Đức ra đời thì hàng loạt các đảng ở các nớckhác đợc thành lập Tính đến năm 1896, toàn châu âu đã có trên dới mời lămnớc có đảng của gia cấp công nhân và phần đều mang tên dân chủ- xã hội, đây

là các đảng Mác xít chân chính lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng t tơpngr líluận Sau khi Ăngghen mất, CNCH xét lại do Becstanh và bọn phản động trongquốc tế II đã lũng loạn các đảng dân chủ –xã hội, biến các đảng “từ một đảngchủ trơng cách mạng xã hội thành một đảng dân chủ cải lơng xã hội” những

đảng này trở thành đảng có t tởng mập mờ, mơ hồ, dao động, hoài nghi chủnghĩa Mác, phản lại lợi ích GCCN, phản bội PTCN, thỏa hiệp với GCTS

Bằng những hoạt động lí luận và thực tiễn, thông qua tác phẩm lí luận cótính chiến đấu cao chống chủ nghĩa cơ hội, bằng sự ra đời của Đảng công nhândân chủ xã hội Nga và quốc tế III, các đảng dõn chủ xã hội bị phân hóa sâusắc các đabgr phái tả là các đảng cộng sản kiên trì vận dụng và phát triển chủnghĩa Mác để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Còn các đảng phái hữu làcác đảng dân chủ xã hội còn tồn tai cho đến ngày nay, các đảng này đặc biệtphát triển vào những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX và nhiều đảng đã nắmchính quyền ở các nớc t sản quan điểm của các đảng này về kinh tế là xâydựng một nền kinh tế tộng hợp, trong đó kinh tế nhà nớc chiếm một tỷ lệ rấtnhỏ trên nền tảng kinh tế t bảng chủ nghã, về chính trị chủ trơng điều hòa giaicấp, thỏa hiệp giai cấp, về xã hội chủ trơng mở rộng bảo hiểm, bảo đảm đờisống tối thiểu cho ngời lao động, đòi chích một tỉ lệ rất nhỏ trong lợi nhuậnkhổng lồ của GCTS để tăng phúc lợi công cộng Tóm lại quan điểm của các

đảng này là không triệt để, không nhất quán

Về nguồn gốc của chủ nghã cơ hội, Lênin chỉ rõ nó ra đời trên những điềukiện kinh tế, điều kiện lịch sử, xã hội nhất định vào cuối thế kỷ XIX Trong

điều kiện tơng đối ổn định hòa bình, chủ nghĩa t bản phát triển mạnh mẽ thẻhiện rõ tính chất u việt trong sản xuất vật chất LLSX không lồ của CNTB đãtao ra một khối lợng vật chất vô cùng to lớn vì vậy nó có điều để đáp ứng một

Trang 10

phần những yêu cầu đấu tranh đòi cải thiện đời sống của ngời lao động, sảnxuất phát triển đòi hỏi gia cấp t sản phải sự dụng một bộ phận GCCN làm quản

lí, điều hành sản xuất Đây là những công tích cực, có tay nghề cao, có uy tín,khi tham gia vào quá trình quản lí điều hành sản xuất, tầng lớp này trở thànhmột bộ phận gián tiếp tham gia sản xuất và biến thành tẩng lớp trên củaGCCN

Bằng sự xâm chiếm thuộc địa và sản xuất phát triển, bọn t sản đã thu đợclợi nhuận béo bở Chúng dùng một phần lợi nhuận ấy để trả lơng cho tầng lớptrên của GCCN cao hơn những công nhân trực tiếp sản xuất nhằm mục đíchmua chuộc họ, trung thành với GCTS, lôi kéo họ làm tay sai cho chúng Nhvậy trong GCCN đã xuất hiện tầng lớp công nhân quý tộc, “áo trắng, cổ cồn”

và thực tế tầng lớp này chiếm tỷ lệ khá cao, nh ở Anh có đến 10-15% vàp đầuthees kỉ XX Vậy là trong cuộc đấu tranh để thoát khỏi qua cảnh khốn cùng doCNTB gây ra, GCCN không thể không đồng thời chống lại những xu hớng cảilơng, cơ hội của chính bộ phận công nhân bị CNTB làm cho biến chất

Về nguòn gốc lịch sử, nh đã phân tích, đây là thời kì CNTB phát triển tơnghòa bình, ổn định Trong thời kì này (1870-1890), GCCN đã sáng tạo ra mộthình thức mới Đấu tranh nghị trờng, thiên hớng này đợc nhiều Đảng dân chủ–xã hội áp dụng đã thắng lợi, nh ở Pháp, ở Đức, ở Aó, và nh vậy có những

đại biểu của GCCN tham gia nghị viện t sản những đại biểu này có tráchnhiịem thông qua hoạt động của nghị viện để đấu tranh đòi quyền lợi choGCCN ; để giáo dục và giác ngộ quần chúng, đấu tranh để xóa bỏ các tổ chứcphản động do GCTS lập gia Nhng trong fđiều kiện đó, những đại biểu củaGCCN dễ bnị GCTS lôi kéo mua chuộc, hoạc vì quyền lợi cá nhân đã ngả theochúng và thực tế bộn lãnh tụ cơ hội chủ nghĩa đã tham gia chính quyền t sảnphản động và sau này chúng là những ngời ủng hộ chiến tranh thế giới lần thứ

I

Trong tác phẩm Lênin đã mỉa mai rằng: “Thật vậy, nếu Đảng dân chủ –xãhội thực ra chỉ là một đảng cải lơng, thì những ngời xã hội chủ nghiã khôngnhững có quyền tham gia mà còn phải luôn luôn có gắng để đợc tham gia nôicác t sản nền dân chủ, về thực chất có phải là thủ tiêu sự thống trị giai cấp, thìviêvj gì mà một bọ trởng XHCN lại không dùng những bài diẽn văn về hợp tácgiai cấp để làm đẹp lòng thế giới t sản ? việc gì mà bộ trởng đó lại không giữchức vụ của mình, ngay cả sau khi ngững vụ cảnh binh tàn sát công nhân đãvạch rõ hàng trăm hàng nghìn lần, thực chất của sự cộng tác dân chủ giữa cácgiai cấp ? việc gì mà vị bộ trởng đó lại không đích thân tham gia chcs mừngNga hoàng, kẻ mà những ngời xã hội chủ nghĩa Pháp đã không gọi bằng cáitên nào khác, mà gọi là tên treo cổ ngời, tên đánh ngời bàng roi da và tên bắtngời đi đày”6 và kết quả đấu tranh nghị trờng của bọn cơ hội , xết lại cũng chỉ

6 Sđd, tr 10

Trang 11

là: “Nững cải cách nhỏ nhặt, nhỏ đến nỗi mà ngời ta đã từng buộc đợc nhữngchính phủ t sản phải làm nhiều hơn nữa”7; Mặt khác, hình thức đấu tranh nghịtrờng, đấu tranh câu lạc bộ cùng với sự lỏng lẻo về tổ chức của các đảngcông nhân và các đảng dân chủ xã hội và với thành phần rộng mở của công

đoàn đã tạo thuận lợi cho GCTS len lỏi, cài cắm ngời của chúng vào trong

Đảng để lũng loạn ngay trong nội bộ Đảng và PTCN

Về nguồn gốc xã hội, những năm cuối thế kỉ XIX đánh dấu sự phát triểnchủ nghĩa Mác, lúc này chủ nghĩa Mác đã thắng lợi tuyệt đối với tất cả các hệ

t tởng khác của PTCN Chủ nghĩa Mác trở thành một hiện tợng mới lạ trong

đời sống chính tri xã hội ở các nớc Tây âu chính vì vậy nó thu hút sự chú ýcủa các tầng lớp thanh niên trí thức tiểu t sản gia nhập Đảng, nhng họ lại cha

đợc nghiên cứu kỹ chủ nghiã Mác, cha hiểu đúng chủ nghĩa Mác “mà chỉ biếtchủ nghĩa Mác qua từng mẩu vụn vặt trình bày trong cac sách báo hợp pháp”

điều đó có nghĩa là họ vào đảng một cách tự phát, cảm tính chứ hoàn toànkhông phải giác ngộ mục tiêu lí tởng của Đảng, tự nguyện đứng trong hàngngũ của Đảng để hi sinh phấn đấu cho mục tiêu lí tởng đó Họ đã đem vào

Đảng tính tự do vô chính phủ, tâm lí do dự thiếu kiên quyết của t tởng tiểu tsản mà họ vẫn chua gột rửa đợc Vì vậy khi phong trào gặp khó khăn, gian khổthì tất yếu họ sẽ giao động, mất lòng tin, hoài nghi, từ giã lập trờng giai cấpcông nhân thỏa hiệp với giai cấp t sản điều này Lênin chỉ ra rất rõ là: “Việctầng lớp “các viện sĩ” tham gia đông đảo vào phong trào XHCN trong mấynăm gần đây đã đảm bảo cho chủ nghĩa becstanh đợc phổ biến nhanh tróng”8.Mặt khác GCTS và các thế lực thù địch thờng xuyên tiến hành tuyêntruyền, giáo dục chống lại các t tởng của Mác, vì vậy nó làm cho một bộ phậngiới trẻ trí thức tiểu t sản bịi ảnh hởng, cũng nh bằng “việc phê bình chủ nghĩaMác đợc tiến hành trên các diễn đàn chính trị và trên giảng dờng đại học, trongrất nhiều sách vở và tromng một loạt các trớc tác uyên bác, vì từ hàng chụcnăm nay, nó đã đợc nhồi nhét một cách có hệ thống vào thế hệ trẻ của các tầnglớp có học, nên không lấy gì làmlạ rằng khuynh hớng “phê bình mới” trong

Đảng dân chủ –xã hội xuất hiện ra là để thành hình hẳn hoi”9 Lênin cho rằng

về hình thức chủ nghĩa cơ hội quốc tế đợc biểu hiện dới nhiều mầu sắc, nhiềudạng loại khác nhau và những điều kiện chinh trị của từng nớc, nhng về bảnchất nội dung thì chúng giống hệt nhau nh đã nói ở phàn trên

Phái “kinh tế” là chủ nghĩa cơ hội quốc tế đợc biểu hiện dới hình thức

“Chủ nghĩa kinh tế ở Nga Về bản chất nó hiện nguyên hình là chủ nghĩa cơhội xét lại, nó là mối nguy cơ đặc biệt đối với cách mạng Nga

Chính vì đặc điểm là mập mờ, không định hình rõ ràng cụ thể, khó hiểu,không rứt khoát nên chủ nghĩa cơ hội nói chung và phái kinh tế Nga nói riêng

7 Sđd, tr10

8 Sđd, tr 13

9 Sđd, tr 9

Trang 12

rất sợ công bố rất sợ phê bình Họ sợ công bố ngay cả cơng lĩnh của họ, cảnhững điều mà họ nghĩ ra, viết ra và họ làm, Lênin viết: “Tác giả những dòngnày, ngời đã góp phần vào việc phơi bày ra ánh sáng cái “cơng lĩnh mới đó”,

đã có dịp nghe thấy lời phàn nàn và trách móc rằng, bản tốm tắt những quan

điểm của những diễn giả, do họ phác ra, đã bị đem ra phổ biến bằng nhiều bảnsao và thậm trí lại bị công bố trên báo trí cùng lời phản đối, sở dĩ chúng tôinhắc đến tình hình đó, chính vì nó vạch rõ một đặc điểm rất kì lạ của “chủnghĩa kinh tế” ở nớc ta là sợ công bố đó đúng là một đặc điểm “chủ nghĩakinh tế” nói chung chứ không phải từng đặc diểm riêng của từng tác giả , đậc

điểm ấu biểu hiện cả trong tờ “T tởng công nhân” cả trong tờ “Sự nghiệp côngnhân” cũng nh đã đại biểu ở nhiều đại biểu riêng lẻ của “chủ nghĩa kinh tế”chủ trơng thu hẹp và hạ thấp nhiệm vụ đấu tranh chính trị của GCCN xuốngtrình độ của chủ nghĩa công liên mục tiêu của họ xa dời mục đích cuối cùngcảu GCCN Mà trong tuyên ngôn Đảng cộng sản C.Mác và Ăngghen đã xác

định H0ọ muốn cuộc đấu tranh của GCCN tập trung vào tổ chức kinh tế, tốcáo tình trạng bất công ,về đời sống khổ cực của công nhân ở trong phạm vitừng công xởng, từng nhà máy, từng nhành nghề nhất định, với mục đích là đòiquyền lợi kinh tế để cải thiện điều kiện sinh sống và làm việccủa mình Vìvậymà Lênin gọi bọn họ là “ bộnbecstranh cải trang” Về tình trạng đó trongtác phẩm Lênin chỉ rõ: “đại đa số những ngời dân chủ xã hội Nga, t4rong thờigiaqn vừa qua, gần nh hoàn toàn bị thu hút vào tổ chức những sự tố cáo ấy vềcác công xởng ngời ta quyên rằng thực ra hoạt động ấy, tự bản thân nó, chaphải là dân chủ xã hội, mà chỉ là công liên chủ nghĩa mà thôi”10 Kết quả củaviệc đấu tranh kinh tế đó chỉ đạt đến “dậy cho ngời bán sức lao động biết bán

“thứ hàng hóa” ấy một cách có lợi hơn và biết đấu tranh chống ngời mua trênlĩnh vực giao dịch thuần túy có tính chất mua bán”11

Phái “kinh tế” hạ thấp vai trò đấu tranh chính trị của GCCN, cho rằng đóchỉ là một hình thức của đấu tranh kinh tế, đi sâu vào đấu tranh kinh tế mà thôi

và coi đấu tranh kinh tế là phơng sách duy nhất có thể “áp dụng rộng rãi nhất”

và chính điều này đã làm thu hẹp một cách tai hại đấu tranh chính trị

Lênin chỉ rõ đối với những ngời dân chủ –xã hôi chan chính phải tích cựcgiáo dục chính trị lí luận chủ nghĩa Mác cho GCCN để nâng cao ý thức giácngộ chính trị, tổ chức họ đáu tranh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chínhtrị xã hội coi đấu tranh kinh tế để phục vụ cho mục đích chính trị, nhằm lật đổ

sự thống trị của GCTS thiết lập quyền lực chính trị của GCCN Lênin viết:

“Đảng dân chủ xã hội đạt cuộc đấu tranh đòi những cải cách –coi đó là các

bộ phận của toàn bộ- phụ thuộc vào cuộc đấu tranh cách mạng cho tự do vìchủ nghĩa xã hội”12 và mục đích cuối cùng của GCCN và nhân dân lao động

10 Sđd, tr 17

11 Sđd, tr 71

12 Sđd, tr 79

Trang 13

“chỉ có thể thỏa mãn đợc bằng một cuộc cách mạng chính trị thay thế chuyênchính của GCTS bằng CCVS”13.

Về mạt t tởng, “Chủ nghĩa kinh tế” ở Nga sùng bái tính tự phát của phongtrào công nhân họ cho rằng phong trào tự phát ấy phát triển tất yếu sẽ tạo nên

sự giác ngộ xã hội chủ nghiã, tạo nên hệ t tởng độc lập của GCCN, bì vậy

Đảng không nên là một lực lợng lãnh đạo và can thiệp vào tính t3j phát củaPTCN mà phải chờ đợi phong trào đó phát triển Từ đó họ hạ thấp vai trò củachủ nghĩa Mác, tầm thờng hóa chủ nghĩa Mác, phủ nhận chủ nghhĩa Máctrong việc xây dựng ý thức tự giác trong PTCN

Lênin xác định rõ, hệ t tởng GCCN không thể tự phát sinh từ phong trào tựphát của GCCN Tính tự phát đó chỉ dẫn phong trào đến chỗ lệ thuộc, theo

đuôi GCTS, chỉ dãn đến làm nô lệ cho hệ t tởng t sản lênin viết: “Cong nhântrớc đây không thể có ý thức dân chủ xã hội đợc ý thức này chỉ có thể từ bênngoài đa vào lịch sử tất cả các nớc chứng thực rằng dù cho lực lợng của độcbản thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi dến ý thức công lienchủ nghã, tức là đi đến chỗ tin rằng phải đoàn kết lại thành hội liên hiệp, phải

đấu tranh chống nbọn chủ, phải đòi hỏi chính phủ ban hành những luật nàyhay luật khác cần thiết cho công nhân”14 ngời cho rằng, chủ nghĩa Mác một hệthống lí luận cách mạng khoa học đó là kết quả phát triển lịch sử t tởng củanhân loại, do những nhà khoa học thuộc tầng lớp hữu sản, những trí thức cáchmạng có diều kiện học tập, nghiên cứu, phát triển khái quát nên, hệ thống líluận này phản ánh mục tiêu, quan điểm, lập trờng của GCCN và PTCN Chủnghĩa Mác và phong trào cong nhân có cùng nguồn gốc là phơng thức sản xuấtTBCN, nhng lại xuất phát từ những tiền đề khác nhau, vì vậy nó xuất hiẹnhoàn toàn dộc lập với phong trào tự phát của công nhân, để PTCN phát triểnthành phong trào tự giác thì phải làm cho chủ nghĩa Mác đợc truyền bá thâmnhập vào giai cấp công nhân đồng thời cũng phải đa chủ nghĩa Mác “đi vàotất cả các giai cấp trong dân c, phải cử các đội ngũ trong đội quân của mình đi

về tất cả các ngả Lênin chỉ ra rằng giữa hệ t tởng XHCn và hệ t tởng t sản luôndiễn ra cuộc đấu tranh gay gắt “vấn đề đặt là chỉ nh thế này: Hệ t tởng t sảnhoặc Hệ t tởng XHCN Không có hệ t tởng trung gian , vì vậy mọi sự coi nhẹ

hệ t tởng XHCN đều có nghĩa là tăng cờng hệ t tởng t sản”15

Về mặt tổ chức, phái kinh tế cho rằng: Không cần thiết phải có một đảngtập trung thống nhất, mà chủ trơng duy trì đanghr ở các tiểu tổ, địa phơng đểtiến hành đấu tranh chống bọn chủ và chính phủ với lối làm việc thủ côngnghiệp Vấn đề hết sức trầm trọng nữa là: Chúng hạ thấp và thu hẹp vai tròcông tác tổ chức của đảng vào phạm vi chật hẹp Chúng muốn Đảng trở thànhmột câu lạc bộ phù hợp với đấu tranh nghị trờng, chúng muốn xây dựng Đảng

13 Sđd, tr 59

14 Sđd, tr 38

15 Sđd, tr 50

Trang 14

là một tổ chức theo kiểu “đánh chống nghi tên”, đánh đồng chức năng cuả

Đảng với chức năng của nghiệp đoàn, lẫn lộn Đảng với giai cấp và nh vậy thựcchất là chúng ủng hộ quan điểm bè phái chia rẽ trong Đảng

Xuất phát từ mục đích chính trị cao cả của Đảng, Lênin cho rằng cuộc đấutranh chính trị của GCCN, của Đảng có quy mô to lớn, tính chất phức tạpquyết liệt hơn nhiều so với cuộc đấu tranh kinh tế mà phái “kinh tế” chủ trơng.Lênin phân biệt rõ Đảng với các tổ chức khác của GCCN: “tổ chức của côngnhân trớc hết phải có tính nghề nghiệp; thứ hai phải càng rộng càng tốt , tráilại tổ chức của những ngời các mạng phải bao gồm trớc hết và chủ yếu lànhững ngời lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp , tất nhiên tổ chức ấykhông phải quá rộng và nó phải càng bí mật càng tốt”16

Nh vậy là rất rõ, Đảng phải bao gồm những cá nhân u tú, giác nhộ cao vềchủ nghĩa Mác tự động đứng vào hàng ngũ để đấu tranh cho mục tiêu lí tởng

và hoạt động cách mang chuyên nghiệp Đảng phải là một tổ chức chọn lọc, cótrình độ tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, là đội tiền phong của GCCN.Lênin chủ trơng Đảng phải là một tổ tập trung thống nhất trong toàn Nga

có cơ quan lãnh đạo và tổ chức đồng bộ từ trung ơng tới cơ sở, đợc xây dựng

và hoạt đọng theo nguyên tắc thống nhất, thực hiện chế độ tập trung nghiêmngặt Lênin đánh giá cao vai trò của tổ chức, ngời nói rằng: “hãy cho tôi một tổchức những ngời cách mạng và chúng tôi sẽ đảo ngợc nớc Nga lên”17 nh vậytrình độ tổ chức chính là điều kiện để nâng cao sức mạnh của Đảng cách mạngcủa GCCN

Từ lập trờng chính trị, quan điểm t tởng, nguyên tắc tổ chức nh vậy, nênsách lợc đấu tranh của chủ nghĩa cơ hội nói chung, phái “kinh tế” nói riêng, đãnói lên tính thiếu kiên định, thỏa hiệp, cải lơng, chỉ tập vào đấu trnh đòi quyềndân sinh dân chủ, đòi quyền lợi kinh tế trong khuôn khổ chủ nghĩa t bản, từ bỏcon đờng cách mạng cách mạng vô sản, để lật đổ GCTS, thiêt lập CCVS Họchỉ quan tâm đấu tranh với quy mô tiểu tổ, phờng hội, nghiệp đoàn mà bổ quaviệc tập trung quy mô thống nhất toàn diện Nội dung đấu trannh chống chế độ

t bản chỉ trêncơ sở những lợi ích hàng ngày, đến mục tiêu trớc mắt mà thôi,

điều này đợc Lênin viết trong tác phẩm là: “tính tự phát của nhnmgx ngời côngnhân bị cám dỗ bởi các lí lẽ cho rằng tăng thêm đợc dù là mỗi Rúp, mộtCôbếch cũng còn thân thiết và quý giá hơn bất cứ CNXH và chính trị nào vàcho rằng phải: “đấu tranh vì họ hiểu rằng làm nh thế không phải là cho nhữngthế hẹ tơng lai nào đó mà là cho bản thân họ và con cái họ”

16 Sđd, tr 143

17 Sđd, tr 162

Trang 15

II BẢN CHẤT VÀ NGUỒN GỐC CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI

TRONG QUỐC TẾ II.

1 Sự ra đời của Quốc tế II và bản chất, nguồn gốc của chủ nghĩa cơ

hội trong quốc tế II

Chủ nghĩa cơ hội xuất hiện ở trong hàng ngũ những người Dân chủ- xãhội vào năm 1875, việc sát nhập hai tổ chức “Tổng hội liên hiệp công nhânĐức” của Látsan vào Đảng “Dân chủ - xã hội Đức” do Liếpnếch lãnh đạothành Đảng “Công nhân dân chủ-xã hội Đức” tại Gô ta với cương lĩnh sai lầm

về đường lối thỏa hiệp hữu khuynh, nhượng bộ phái Lát san, đã làm xuất hiệnmầm mống chủ nghĩa cơ hội Đối với Látsan cương lĩnh về chính trị là đấutranh cho quyền phổ thông đầu phiếu, cương lĩnh về kinh tế là đòi thành lậpcác nghiệp đoàn do nhà nước tự cấp Phái Latsan là tiền thân của chủ nghĩa cơhội trong Đảng công nhân xã hội dân chủ Đức và tư tưởng của phái này là mộttrong những nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tư bản sau năm 1870 đã là chogiai cấp vô sản các nước tăng nhanh về số lượng và chất lượng Sau công xãPari 1871 quốc tế I giải tán Phong trào công nhân bắt đầu thời kỳ mới tập hợplực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh tương lai chống chủ nghĩa tư bản.Đảng của giai cấp công nhân Đức thành lập năm 1869- Đảng xã hội dân chủĐức- trở thành chính Đảng đầu tiên và có vai trò to lớn trong phong trào côngnhân quốc tế Cùng với đó là sự thành lập các đảng công nhân ở các nước HàLan (1870), Đan Mạch (1871), Mĩ (1876), Pháp (1879), Tây Ba Nha (1879),Nhóm giải phóng lao động ở Nga (1883), Bỉ (1885), Na Uy( 1887) Sự ra đờicủa các chính Đảng công nhân dù còn nhiều mặt hạn chế cũng đánh dấu việclớn lên của phong trào công nhân các nước

Phong trào công nhân quốc tế so với thời kỳ trước công xã đã phát triểnrộng rãi hơn, hoạt động trên phạm vi lớn hơn ở nhiều nước tạo nên mảnh đấttốt cho chủ nghĩa Mác thâm nhập Nhưng nhiều người lãnh đạo phong tràocông nhân còn mang tư tưởng cơ hội chủ nghĩa nặng nề Những người theochủ nghĩa Mác như Bêben, Liếpnech, Ghenxơ, Laphácgơ….dưới sự lãnh đạocủa Ănghen đã vạch ra kế hoặch tổ chức một quốc tế mới mang tính tổ chức

Trang 16

và tính nguyên tắc cao Ănghen đã nhắc các lãnh tụ quốc tế phải đề phòng bọn

cơ hội ở Anh, Pháp Như vậy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa cơ hội vànhững người Mác xít đã diễn ra quyết liệt ngay từ đầu

Ngày 14-7-1889 ngày kỷ niệm 100 năm phá ngục Baxti, hai hội nghịquốc tế, một của phái Mácxit, một của phái “có thể” đều khai mạc ở Pari Đạihội của phái “có thể” tuy có 606 đại biểu nhưng 524 đại biểu là người Pháp

Do đó đại hội do họ triệu tập không thể trở thành lực lượng lãnh đạo phongtrào công nhân quốc tế

Quốc tế II được thành lập tại đại hội do những người Mácxit triệu tập.Đại hội gồm 395 đại biểu, đại diện cho hầu hết phong trào công nhân Châu

Âu, có cả đại biểu Mĩ, Achentina tham dự

Đại hội Pari 1889 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt Nó khôi phục tổ chứcquốc tế của phong trào công nhân, tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cho thắng lợicủa chủ nghĩa Mác

Trong thời kỳ đầu của Quốc tế II, Ănghen trực tiếp lãnh đạo, cuộc đấutranh về tư tưởng trong Quốc tế II Đấu tranh chống phái vô chính phủ trởthành đấu tranh tư tưởng chính từ đại hội I Pari (1889) qua đại hội II ởBruyxen, đại hội III ở Xuyrich, và kết thúc căn bản ở đại hội IV ở Luân Đôn(1896)

Năm 1895 Ăngghen mất, gây nên một tổn thất to lớn cho phong tràocông nhân Bọn cơ hội xét lại dần chiếm ưu thế trong Quốc tế II Chủ nghĩa

Đế quốc đã tạo những tiền đề xã hội cho chủ nghĩa cơ hội tồn tại và phát triển.Cuối thế kỷ XIX, các đảng trong Quốc tế II dần dần thành các đảng cải lương

Trong những năm đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh tư tưởng trong Quốc

tế II diễn ra găy gắt và phức tạp Những vấn đề chính được thảo luận trong cácđại hội tập trung: phương pháp giành chính quyền, vấn đề thuộc địa, vấn đềthái độ với cách mạng Nga 1905, về chủ nghĩa quân phiệt và nguy cơ chiếntranh Một trong những vấn đề quan trọng thuộc về chiến lược và sách lượccủa các Đảng xã hội là vấn đề thái độ của công nhân đối với nghị viện vàchính phủ tư sản, vấn đề chính quyền của giai cấp công nhân

Trang 17

Vấn đề đấu tranh nghị trường, vấn đề giành chính quyền về tay giai cấp

vô sản, các lãnh tụ Quốc tế II say sưa với chiến thắng đạt được trong các cuộcbầu cử ở các nước tư bản, tuyên truyền con đường hòa hợp cải lương, chỉ chủtrương đấu tranh hợp pháp, họ coi đấu tranh nghị trường, tham gia chính phủ

tư sản là biện pháp duy nhất và chủ yếu đem lại khả năng giàng chính quyềnthống trị cho giai cấp công nhân Về cơ bản họ chỉ tiến hành đấu tranh đòi cảicách vụn vặt mà hy sinh quyền lợi lâu dài của giai cấp công nhân, lừa dối giaicấp công nhân Giai đoạn này đa số các lãnh tụ Quốc tế II đã lộ rõ lập trườngđầu hàng, không dám đề ra những hình thức đấu tranh cách mạng giành chínhquyền, thiết lập chuyên chính vô sản Quốc tế II đã bị lũng đoạn bởi chủ nghĩa

cơ hội do Bécstanh và Cauxky đứng đầu

Bécstanh (1850-1932) công khai đòi xét lại chủ nghĩa Mác một cáchtoàn diện Bécstanh xuất bản cuốn sách có tên “Tiền đề của chủ nghĩa xã hội

và nhiệm vụ của đảng xã hội dân chủ” Trong cuốn sách đó Bécstanh tuyên bốhọc thuyết Mác đã lỗi thời, chứng minh mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản cóchiều hướng hòa hoãn, lên tiếng bênh vực chủ nghĩa đế quốc, chứng minhrằng các tổ chức lũng đoạn xuất hiện sẽ làm cho chủ nghĩa tư bản có thể tránhđược khủng hoảng

Đối với phong trào công nhân, Bécstanh chủ trương “Phong trào là tất

cả, mục đích cuối cùng là không đáng kể”, phủ nhận quan điểm giai cấp côngnhân phải làm cách mạng, phủ nhận chuyên chính vô sản Bécstanh đã sửa đổichủ nghĩa Mác về mặt triết học, kinh tế chính trị học và học thuyết đấu tranhgiai cấp Chúng phủ nhận và cho rằng chủ nghĩa Mác là một học thuyết giáođiều và đã lạc hậu Thực chất là phủ nhận chủ nghĩa Mác

Bécstanh lý luận rằng dưới chế độ tư bản, công nhân không bị bần cùnghóa mà còn được thường xuyên cải thiện điều kiện hoạt động như với giai cấp

tư sản tự do, nhờ đó mà đã thu được những thắng lợi to lớn trong các cuộctuyển cử và hoạt động nghị trường

Đối với vấn đề thuộc địa các nước đế quốc đang tiến hành các cuộcchiến tranh xâu xé thị trường Ở các đại hội Luân đôn (1896), Pari (1900),Stutga (1907) thì các vấn đề liên quan đến tình hình quốc tế này, thì Quốc tế II

Trang 18

không thể làm ngơ Họ phải tỏ rõ thái độ của giai cấp công nhân Đại hội Pari(1900) đã có nghị quyết đúng đắn lên án chính sách thuộc địa của chủ nghĩa

đế quốc Nghị quyết kêu gọi đấu tranh chống lại các cuộc phiêu liêu thuộc địa,kêu gọi thành lập các đảng Xã hội ở các thuộc địa và thống nhất hành độngvới các đảng đó Đến đại hội Stutga (1907) vấn đề thuộc địa trở thành vấn đềtranh luận sôi nổi nhất và qua đó lột trần bộ mặt thật của các đại biểu cơ hội.Các đại biểu là Vancon, Fonma, Bécstanh đã bênh vực chủ nghĩa thực dân,bênh vực chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Họ cho rằng chế độthuộc địa có thể tồn tại và nên tồn tại trong chế độ tư bản chủ nghĩa để “khaihóa”các nước lạc hậu Theo họ những người xã hội cũng có thể và cần phảithực hiện “chính sách thuộc địa xã hội chủ nghĩa” Bécstanh cho rằng sự bảo

hộ của các dân tộc văn minh đối với các dân tộc không văn minh là cần thiết

Như vậy bọn cơ hội trong Quốc tế II đã công khai thừa nhận và ủng hộchính sách nô dịch dân tộc của chủ nghĩa đế quốc, chống lại nguyên tắc vềquyền dân tộc tự quyết, về quyền đấu tranh vì độc lập tự do của các dân tộc bị

áp bức Những quan điểm của các lãnh tụ cơ hội trong Quốc tế II hoàn toàn xa

lạ với chủ nghĩa Mác về vấn đề thuộc địa

Trước những vấn đề cơ bản đó, những người lãnh đạo Quốc tế II bịphân chia thành ba phái:

Phái cơ hội xét lại-cải lương công khai như Bécstanh thì cực lực phảnđối quyền lãnh đạo của Đảng vô sản và giai cấp công nhân trong cách mạngdân chủ tư sản Bécstanh kiên quyết bác bỏ tư tưởng cách mạng dân chủchuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa

Phái giữa đứng đầu là Cauxky đi theo quan điểm cơ hội cho rằng giaicấp vô sản chỉ có thể giành được địa vị lãnh đạo tạm thời và muốn giành thắnglợi hoàn toàn thì giai cấp vô sản phải biến thành đa số trong nhân dân Pháigiữa không tỏ rõ thái độ trước sự can thiệp của nước ngoài và sự tàn bạo củaNga hoàng Họ chống lại hình thức bãi công chính trị của giai cấp công nhân.Thực ra phái giữa về bản chất là đại biểu của chủ nghĩa cơ hội giấu mặt, khoác

áo Mácxit để chống lại những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác Đó cũng là tưtưởng của những phần tử công nhân quý tộc, tiểu tư sản nhằm tìm mọi cách

Trang 19

thỏa hiệp quyền lợi giai cấp vô sản với quyền lợi của giai cấp tư sản, thực chất

là bảo vệ giai cấp tư sản Causky đưa ra cái gọi là “dân chủ thuần tuý” nhằm

tô son trát phấn cho nền dân chủ tư sản, phủ phục trước nền dân chủ ấy, chorằng nó là nền dân chủ cho mọi giai cấp, nó tồn tại vĩnh viễn và ngày cànghoàn thiện Causky hoàn toàn phủ nhận bạo lực cách mạng Causky cũng phủnhận việc dùng bạo lực để trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột sau khigiai cấp vô sản đã nắm chính quyền, cho rằng dùng bạo lực là xoá bỏ dân chủ,

là rơi vào những biện pháp cực đoan Vả lại khi giai cấp vô sản và quần chúnglao động đã trở thành đa số thì nói đến sử dụng bạo lực là vô lý, là thừa Tất cảnhững lập luận xét lại đó chỉ nhằm đi tới phủ nhận sự cần thiết phải dùng bạolực để đập tan nhà nước tư sản và thiết lập chuyên chính vô sản

Như vậy dù có biểu hiện dưới hình thức nào, với tên gọi từng giai đoạnkhác nhau, thì bản chất của chủ nghĩa cơ hội là tư tưởng tư sản, tiểu tư sảntrong phong trào công nhân quốc tế, sẵn sàng hy sinh quyền lợi cơ bản, lâu dàicủa giai cấp công nhân vì những lợi ích trước mắt, cục bộ của một nhóm nhỏ,

là sự thoả hiệp đầu hàng trước hệ tư tưởng tư sản và là sự phản bội chủ nghĩaMác- Lênin

Phái tả là phái cách mạng có các đại biểu như Lôrra.Lucxambua, ClaraXétkin và V.I.Lênin Họ kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc của chủ nghĩaMác chống lại mọi trào lưu cơ hội trong phong trào công nhân

Việc xuất hiện chủ nghĩa cơ hội xuất hiện vào những năm cuối thế kỷXIX đòi hỏi phong trào công nhân phải có đối sách của mình và cần thiết phải

có một lãnh tụ chỉ đạo phong trào Vào những năm 1898-1899 một số lãnh tụphái tả trong các đảng công nhân như Plekhanop,Bêben, Rôra Lucxembua…

có lên tiếng phê phán chủ nghĩa xét lại Bécstanh nhưng các cuộc đấu tranh

đó không triệt để, kết quả hạn chế do đó chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn Quốc tế II

và nó làm cho Quốc tế II chết một cách “nhục nhã”

Trong bối cảnh đó, những người Mácxit Nga đã dẫn đầu cuộc đấu tranhchống khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa Tình hình đó đặt ra cho V.I.Lênin vànhững người bạn của ông là phải truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong tràocông nhân Nga để tiến tới thành lập chính đảng cách mạng ở Nga Năm 1895

Trang 20

tại Pêtécbua, V.I.Lênin đã thống nhất các tổ chức của công nhân và lấy tên

“Hội liên hiệp giải phóng giai cấp công nhân” Đây là tổ chức tiền thân củaĐảng cách mạng dựa vào phong trào công nhân Nhưng không được bao lâu,

tổ chức này bị Chính phủ Nga Hoàng đàn áp V.I.Lênin và những người lãnhđạo của Hội bị bắt đưa đi đầy ở Xibêri Ban lãnh đạo mới của Hội được thànhlập do Máctưnốp đứng đầu, thực chất họ là “phái kinh tế”, quan điểm của họđối lập hoàn toàn với V.I.Lênin.Với đường lối chính trị sai lầm, cơ hội cảilương, chủ trương của họ là đấu tranh kinh tế, phủ nhận đấu tranh chính trị.V.I.Lênin cho rằng “phái kinh tế” là trung tâm của chính sách thoả hiệp và chủnghĩa cơ hội V.I.Lênin đã vạch trần sai lầm của chủ nghĩa Bécstanh và tác hại

to lớn của nó đối với sự nghiệp của giai cấp công nhân Để nhận diện chủnghĩa cơ hội V.I.Lênin đã phân tích nguồn gốc kinh tế và xã hội, kiên quyếtđấu tranh để loại trừ chủ nghĩa cơ hội ra khỏi đảng công nhân

Khi nói về nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội V.I.Lênin khẳng định tuyệtnhiên không phải là ngẫu nhiên mà nó đều có nguồn gốc của nó V.I.Lênin đãchỉ ra chủ nghĩa cơ hội có nguồn gốc kinh tế lịch sử xã hội của nó Nó xuấthiện từ rất sớm vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ra đời trong tổ chức củaphong trào công nhân, ngay trong hàng ngũ của những người Mácxít

Trước hết về nguồn gốc kinh tế: Đó là sự mua chuộc của giai cấp tư sản

với tầng lớp trên của giai cấp công nhân bằng hình thức siêu lợi nhuận Đó là

bộ phận công nhân có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, có uy tín trong tậpthể công nhân được giai cấp tư sản sử dụng giúp tư sản trong tổ chức, quản lýsản xuất, giám sát kỹ thuật Sau đó bị giai cấp tư sản mua chuộc, chi phối bằnglợi ích vật chất, hình thành nên tầng lớp công nhân “quý tộc” Từ đó bị biếnchất trở thành tay sai cho giai cấp tư sản, tầng lớp công nhân quý tộc này đãtác động làm cho chủ nghĩa cơ hội phát triển trong phong trào công nhân

Nguồn gốc lịch sử: Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển tương đối ổn

định và hoà bình, các hình thức đấu tranh nghị trường, đấu tranh trong các câulạc bộ là hình thức đấu tranh phổ biến đã làm cho nhiều người lầm tưởng bảnchất của giai cấp tư sản và coi đấu tranh nghị trường là hình thức duy nhất.Mặt khác do sự phát triển hoà bình, ổn định không xảy ra mâu thuẫn xung đột

Ngày đăng: 29/05/2020, 15:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w