Trong 10 năm qua 2001 – 2010 công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy t
Trang 1Lam tieu luan giao dat
TP Hai Phong
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quí giá của đất nước Vì vậy, mỗi chúng ta phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng đất có hiệu quả Xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, trải qua các cuộc chiến tranh song sau 25 năm đổi mới, đất nước ta đang trên đà phát triển Kinh tế nông nghiệp đã thoát khỏi tình trạng
tự cấp, tự túc và chuyển sang sản xuất hàng hóa Việt Nam trở thành một trong những nước đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Cơ cấu sử dụng đất được chuyển đổi cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế Diện tích đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị tăng nhanh đáp ứng phần lớn nhu cầu sử dụng đất của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với đó, công tác quản lý quản lý đất nông nghiệp đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết
I/ Thực trạng quản lý đất nông nghiệp tại thành phố Hải Phòng
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, thành phố Hải Phòng có tổng diện tích tự nhiên là 152.337,94 ha trong đó đất nông nghiệp là
83.887,04 ha (chiếm 55%) đất trồng lúa là 46.178,8 ha.
Trong 10 năm qua (2001 – 2010) công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy tính tự chủ của địa phương như việc lập và thực hiện qui hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng, thu hồi đất bồi thường giải phóng mặt bằng để chuyển sang mục đích sử dụng khác Những kết quả trên tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả hơn
Tuy nhiên, tình hình quản lý và sử dụng đất đai hiện nay còn bộc lộ nhiều yếu kém thể hiện ở chỗ: Hệ thống qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, việc lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở cấp xã, cấp huyện còn chậm Qua thanh tra cho thấy hầu hết cấp xã không thực hiện việc lập qui hoạch,
kế hoạch sử dụng đất theo qui định, thiếu đồng bộ giữa qui hoạch sử dụng đất và qui hoạch chi tiết của các ngành, qui hoạch không gian
đô thị của thành phố Cùng với việc lập và phê duyệt qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn chậm, tính khả thi chưa cao, việc công bố công khai và tổ chức thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn yếu kém dẫn đến việc phải điều chỉnh qui hoạch, kế hoạch sử dụng
Trang 2đất Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm của thành phố chưa sát với kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
Về chất lượng qui hoạch sử dụng đất của thành phố và các quận, huyện vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn
Việc giao đất, cho thuê đất vào mục đích chuyên dùng và đất ở tại các địa phương còn một số tồn tại như sử dụng không đúng vị trí, sai lệch diện tích được giao, sử dụng sai mục đích, tiến độ xây dựng chậm hoặc bỏ hoang hóa, không sử dụng đất, chậm nộp tiền thuê đất Cơ chế tài chính về đất đai thiếu hiệu quả, thị trường bất động sản còn hoạt động tự phát, tình trạng đầu cơ đất đai đã đẩy giá đất lên cao gây tác động xấu đến môi trường đầu tư
Cơ quan quản lý đất đai các cấp nhìn chung còn nhiều yếu kém, cán
bộ địa chính ở cơ sở còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ Tình trạng vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai còn phổ biến biểu hiện dưới nhiều hình thức giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích trái thẩm quyền, lấn chiếm đất công, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển nhượng đất trái pháp luật Tranh chấp đất đai diễn biến phức tạp dẫn đến khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài có
xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội Qua thanh tra tại 14 quận, huyện đã phát hiện các sai phạm về đất đai là 2.138,73 ha gồm các dạng sai phạm: giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền 43,86 ha cho 2.554 trường hợp; sử dụng đất sai mục
đích 1.687,34 ha (trong đó chuyển sang nuôi trồng thủy sản, làm
trang trại, VAC là 999,35 ha; chuyển sang đất ở, xây nhà trái phép 84,4 ha 3.800 trường hợp; chuyển sang đất sản xuất kinh doanh, dịch vụ 42,28 ha; chuyển sang lập vườn trồng cây lâu năm 439,03 ha; chuyển sang các mục đích khác 122,25 ha); chuyển quyền sử
dụng đất trái pháp luật 43,14 ha; lấn chiếm đất công 41 ha; để hoang hóa đất không đưa vào sử dụng 361,83 ha; nhiều dự án đã thu hồi đất nông nghiệp nhưng thực hiện chậm để lãng phí đất
Những yếu kém nêu trên xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:
Về nguyên nhân khách quan
- Việc phân cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai hiện nay chưa hợp lý, còn chồng chéo về thẩm quyền giữa các cấp, các ngành trong việc tổ chức lập và thực hiện qui hoạch, kế hoạch
sử dụng đất và qui hoạch xây dựng đô thị; Thanh tra, kiểm tra, giải
Trang 3quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lư vi phạm pháp luật về đất đai do có nhiều ngành, nhiều cấp tham gia thực hiện các công việc
vì vậy trách nhiệm của từng ngành, cấp không rõ ràng ảnh hưởng đến chất lượng công việc và kéo dài thời gian thực hiện
- Sự hạn chế, bất cập của hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai Mặc dù những văn bản, chính sách về đất đai đã thay đổi nhiều nhưng chưa toàn diện và có chính sách chưa phù hợp với thực tế cuộc sống làm khó khăn cho công tác quản lý đất đai
Về nguyên nhân chủ quan:
- Đội ngũ cán bộ, công chức ngành địa chính ở các cấp còn quá mỏng; Trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế Đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong việc giám sát thi hành luật đất đai của địa phương và các đối tượng sử dụng đất, nhưng chưa được đào tạo sâu về chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu phương tiện làm việc Chức năng, nhiệm vụ của ngành địa chính chưa rõ ràng còn mang nặng tính tham mưu, giúp việc hơn là một cơ quan chuyên trách về quản lý đất đai
- Chưa phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm, thiếu kiên quyết trong khắc phục hậu quả các hành vi sai phạm Thậm chí
có việc còn tiếp tay cho sai phạm vì lợi ích cục bộ của địa phương và quyền lợi của cá nhân mà làm trái các qui định về quản lý đất đai
- Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về đất đai chưa được tiến hành thường xuyên, đội ngũ chưa đủ mạnh, trách nhiệm chưa cao, xử lý chưa kiên quyết, chưa đồng bộ, hiệu quả còn hạn chế
- Trách nhiệm của người đứng đầu chưa được qui định chặt chẽ, chế tài xử lý chưa rõ ràng, thiếu gương mẫu, buông lỏng trong công tác quản lý
II/ Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố.
Xuất phát từ tầm quan trọng của an ninh lương thực, khai thác thế mạnh của đất nước, thực hiện chủ trương mà Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIII đã thông qua về việc phải giữ cho được 3,8 triệu ha đất nông nghiệp; xuất phát từ tình hình thực tế của Hải Phòng là thành phố công nghiệp – dịch vụ nhưng diện tích đất nông nghiệp còn lớn (chiếm 55%), để qui hoạch, kế hoạch và quản lý sử dụng đất nông nghiệp ngày càng có hiệu quả, bài viết đề xuất một số giải pháp sau
Trang 41/ Trước hết phải xác định qui hoạch thành phố lâu dài và ổn định, xây dựng qui hoạch không gian đô thị phù hợp với qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Trên cơ sở đó mới xây dựng qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất Thành phố tập trung chỉ đạo xây dựng các qui hoạch trên mang tính liên kết với nhau nâng cao chất lượng của qui hoạch để đỡ điều chỉnh, giảm lãng phí Khi có qui hoạch lâu dài và ổn định, thì phải lập kế hoạch sử dụng đất theo từng giai đoạn tránh tình trạng dễ làm, khó bỏ phá vỡ kế hoạch và các qui hoạch khác có liên quan
Việc công khai qui hoạch cũng phải được coi trọng để mỗi một người dân, và các cấp chính quyền hiểu được tương lai gần, tương lai xa các khu vực đất sẽ được sử dụng vào mục đích gì? để cả cộng đồng
có ý thức trách nhiệm bảo vệ quĩ đất đó
2/ Quản lý chặt chẽ tài nguyên đất
Con người ngày càng tăng, nhưng nguồn tài nguyên đất thì không tăng vì vậy phải quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất và đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả Muốn đạt được mục tiêu an ninh lương thực 3,8 triệu ha đất trồng lúa thì mỗi địa phương phải duy trì hợp lý quĩ đất sản xuất nông nghiệp Hải Phòng là thành phố công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp nhưng hiện nay diện tích đất nông nhiệp chiếm 55% và đến năm 2020 trong qui hoạch phát triển kinh tế
- xã hội phải giữ được 45% diện tích đất nông nghiệp Để đạt được mục tiêu này phải tăng cường công tác quản lý chặt chẽ tài nguyên đất Trước hết, phải rà soát lại tổng thể từ cấp xã về diện tích đất nông nghiệp trong đó phân loại diện tích đất nông nghiệp nằm trong các khu dân cư, nằm kẹt giữa các khu công nghiệp, những vùng sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, hệ thống thủy lợi bị phá vỡ và các vùng đất nông nghiệp chuyên canh, chuyên sản xuất hàng hóa Từ
đó để có các phương án quản lý nghiêm ngặt đất trồng lúa, đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả Và cũng từ thực tiễn quản lý để đưa các diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả qui hoạch thành đất khác Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra, kiên quyết xử lý thu hồi và khắc phục hậu quả các trường hợp vi phạm qui hoạch sử dụng đất
3/ Xử lý các vi phạm đất đai
Kết quả của chuyên đề thanh tra diện rộng tại 14 quận, huyện đã phát hiện nhiều sai phạm trong quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
Trang 5Để lập lại công tác quản lý đất đai trước hết các cấp, ngành tập trung
xử lý các sai phạm theo các biện pháp sau:
- Đối với trường hợp tự chuyển đổi mục đích đất trồng lúa sang đất nông nghiệp khác mà có hiệu quả kinh tế cao thì cho phép lập hồ sơ chuyển đổi cơ cấu sản xuất hoặc chuyển sang hình thức thuê đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp
- Đối với trường hợp tự ý chuyển đất nông nghiệp sang đất ở nhưng phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì cho phép lập hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất sát giá thị trường nộp ngân sách nhà nước Nếu không phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt thì lập hồ sơ thu hồi đất đúng theo quy định của pháp luật
- Đối với trường hợp tự ý chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất SXKD, dịch vụ hoặc mới san lấp mặt bằng, lập hồ sơ chi tiết nếu phù hợp với quy hoạch thì cho phép chuyển sang hình thức thuê có thu tiền sử dụng đất Nếu không phù hợp với quy hoạch thì buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc ra quyết định thu hồi
- Đối với đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư, xen kẽ giữa khu dân cư và khu công nghiệp, khu sản xuất nông nghiệp không có hiệu quả, hệ thống tưới tiêu không còn hoạt động thì cho phép lập hồ
sơ chuyển sang làm nhà ở để đấu giá hoặc chuyển sang đất phi nông nghiệp khác để cho thuê theo quy định
- Đối với trường hợp cấp đất ở trái thẩm quyền (bao gồm đã xây
dựng hay chưa xây dựng) nếu phù hợp với quy hoạch sử dụng đất
thì hợp thức hoá, áp dụng Nghị định 84 để tính lại tiền đất, nếu không phù hợp quy hoạch thì xem xét cho thuê đất hoặc thu hồi đất
- Đối với các dự án đã giao đất nhưng chưa triển khai, để lãng phí thì lập hồ sơ thủ tục đề nghị thành phố thu hồi đất
- Đối với các quyết định cấp đất ở đã thu hồi đất nông nghiệp, đã xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc chưa hoàn thiện nhưng chưa giao đất thì
rà soát lại trình thành phố phương án cho đấu giá đất hoặc giao đất
ở thu tiền sát với giá thị trường ở thời điểm giao đất
4/ Nâng cao trình độ quản lý của cán bộ ngành địa chính
Về thực trạng cho thấy cán bộ của ngành địa chính còn quá mỏng Đặc biệt, ở cấp xã chỉ có 01 cán bộ địa chính, lại thường không được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về đất đai mà chủ yếu là quản lý theo
Trang 6kinh nghiệm Do đó, thực tế cán bộ địa chính không nắm bắt được kịp thời và đầy đủ về quản lý đất đai tại thôn, làng, kể cả tổ dân phố
vì vậy khi xảy ra vi phạm không ngăn chặn được kịp thời và càng để lâu lại càng khó xử lý
Vì vậy cần thiết phải tăng cường lực lượng cán bộ của ngành địa chính đủ mạnh về cả số lượng và chất lượng, đồng thời được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn thường xuyên để đảm nhận công việc, đáp ứng được yêu cầu quản lý
Mặt khác phải giáo dục về tinh thần trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ địa chính kiên quyết đấu tranh với những hành vi tiêu cực, tham nhũng
5) Nâng cao nhận thức của nhân dân
Bác Hồ đã dạy: “Khó trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong”
Sức mạnh của toàn dân có ý nghĩa vô cùng to lớn trong mọi lĩnh vực Người dân khi được tuyên truyền giáo dục, thuyết phục vì lợi ích chung của đất nước thì người dân sẵn sàng hy sinh cao cả Trong lĩnh vực quản lý đất đai cũng vậy Trước hết, phải tuyên truyền pháp luật về đất đai để cho dân hiểu, dân ủng hộ, phải nâng cao nhận thức của người dân chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, mọi người dân đều có trách nhiệm bảo vệ đất và sử dụng đất đúng qui hoạch, kế hoạch và có hiệu quả cao nhất không được hủy hoại, lấn chiếm, lãng phí hoặc sử dụng đất sai mục đích
6/ Xác định trách nhiệm của người đứng đầu
Người đứng đầu trước một tập thể bao giờ cũng phải là người gương mẫu có trách nhiệm cao với công việc thuộc phạm vi quản lý
Ở lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trách nhiệm của người đứng đầu phải xác định từ thôn, làng, tổ dân phố đây là những cán bộ gần dân, sát dân nhất, những biến động về đất đai phát hiện sớm nhất, với trách nhiệm và thẩm quyền phải giải quyết nhanh nhất, vượt quá thẩm quyền thì báo cáo ngay về xã, phường, thị trấn
Trách nhiệm của người đứng đầu được xác định trên các phương diện, người đứng đầu chấp hành đúng pháp luật, bản thân và gia đình không vi phạm luật đất đai Người đứng đầu chịu trách nhiệm quản lý và xử lý những vi phạm theo thẩm quyền Mặt khác phải nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và có chế tài xử lý đối với người đứng đầu nếu để xẩy ra vi phạm thuộc phạm vi quản lý
Trang 7Với phạm vi của việc tổng kết thực tiễn thông qua chuyên đề thanh tra diện rộng về qui hoạch, kế hoạch, quản lý sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Hải Phòng trong 10 năm qua (2001 – 2010), hy vọng qua đây thành phố sẽ nghiên cứu, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn các ngành, các cấp thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu nêu trên
để nâng cao chất lượng công tác quản lý đất nông nhiệp trên địa bàn thành phố, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thúc đẩy kinh tế
-xã hội thành phố phát triển bền vững./
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC DUYỆT QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011-2015) HUYỆN MÊ
LINH
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2003, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Căn cứ Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ
về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố Hà Nội;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình
số 7105/TTr-TNMT-KHTH ngày 24 tháng 12 năm 2013,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Mê Linh với các nội dung chủ yếu như sau:
1 Các chỉ tiêu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Mê Linh:
a) Diện tích, cơ cấu các loại đất:
Đơn vị tính: ha
Trang 8STT Chỉ tiêu Mã
Hiện trạng năm
2010 Diện tích đến 2020
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích cấp
TP phân bổ(ha)
Diện tích chênh lệch (ha)
Diện tích cấp huyện xác định (ha)
Cơ cấu (%)
Trang 9Tổng diện
tích đất tự
nhiên
14.250,92 100 14.250,92 100
1 Đất nông
nghiệp
NNP 8.010,57 56,215.613,90 +786,11 6.400,01 44,91
Trong đó:
1.1 Đất trồng lúa LUA 5.487,40 38,513.176,10 +474,20 3.650,30 25,61
- Trong đó: Đất
chuyên
trồnglúa nước
(2 vụ trở lên)
LUC 5.424,1 8 38,063.169,80+ 425,20 3.595,00 25,23
1.2 Đất trồng cây
lâu năm
CLN 494,15 3,47 461,30 +1,60 462,90 3,25
1.3 Đất rừng sản
xuất
RSX 3,11 0,02 3,10 + 0,01 3,11 0,02
1.4 Đất nuôi
trồng thủy sản
nước ngọt
TSN 333,81 2,34 295,80 + 3,00 298,80 2,10
2 Đất phi nông
nghiệp
PNN 5.748,43 40,348.475,60 -786,09 7.689,51 53,96
Trong đó:
2.1 Đất xây dựng
trụ sở cơ
quan, công
trình sự
nghiệp
2.2 Đất quốc
phòng
2.3 Đất an ninh CAN 0,82 0,01 12,00 12,00 0,08 2.4 Đất khu công
nghiệp
SKK 475,50 3,34 751,40 -44,53 706,87 4,96
2.5 Đất cơ sở sản
xuất kinh
SKC 482,22 3,38 621,11 621,11 4,36
Trang 102.6 Đất sản xuất
vật liệu xây
dựng gốm sứ
SKX 45,09 0,32 + 38,92 38,92 0,27
2.7 Đất cho hoạt
động khoáng
sản
2.8 Đất di tích
danh thắng
DDT 14,27 0,10 14,30 -0,03 14,27 0,10
2.9 Đất để
xử lý, chôn
lấp chất thải
2.10Đất tôn giáo,
tín ngưỡng
TTN 33,36 0,23 33,90 + 6,10 40,00 0,28
2.11Đất nghĩa
trang, nghĩa
địa
NTD 112,36 0,79 134,20 +7,46 141,66 0,99
2.12Đất có
mặt nước
chuyên dùng
MNC 192,18 1,35 291,78 291,78 2,05
2.13Đất phát triển
hạ tầng
DHT 1.739,62 12,212.903,30 2.903,30 20,37
Đất cơ sở văn
hóa
DVH 167,70 1,18 210,00 +3,52 213,52 1,50
Đất cơ sở y tế DYT 33,91 0,24 64,90 -10,34 54,56 0,38 Đất cơ sở giáo
dục - đào tạo
DGD 83,49 0,59 484,60 -343,57 141,03 0,99
Đất cơ sở thể
dục - thể thao
DTT 146,69 1,03 156,70+ 151,06 307,76 2,16
2.14Đất ở nông
thôn
ONT 1.747,83 12,26 1.905,51 1.905,51 13,37 2.15Đất ở đô thị ODT 261,73 1,84 540,70 -258,43 282,27 1,98