Tóm tắt nội dung bài viết: Về cương vị ngôn ngữ học của “tiếng” (TIẾNG VIỆT: mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa Cao Xuân Hạo, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007) Bài viết dài 33 trang (179 211) gồm 7 đề mục. Nội dung chung quy chia thành 2 phần: 1. Mặt ngữ âm của “tiếng” (mục 1) 2. Việc phân định “từ” Tiêu chí xác định “từ” (mục 2) 3 nhóm bị một số tác giả phủ nhận tư cách “từ” (mục 3,4,5,6) Mục 7 kết luận của bài viết.
Trang 2Về cương vị ngôn ngữ học
của “tiếng”
Bài viết
(Cao Xuân Hạo, 1985)
Người trình bày
1 Huỳnh Chí Thiện
2 Nguyễn Thị Mỹ Linh Ngày 12 tháng 11 năm 2016
Trang 31 Mặt ngữ âm của hình vị tiếng Việt
2 Việc phân định “từ”
3 Quan hệ cú pháp
và quan hệ hình thái học
Trang 4Quan hệ giữa Âm tiết và Hình vị
3 quan điểm:
1 Hình vị = Âm tiết
Bồ hóng
Xà bông
Cà phê
…
2 Hình vị > Âm tiết
Trang 53 Hình vị < Âm tiết
đâu, đây, đấy, đó bao, bây, bấy
nào, _ nấy, nay, này, sao, vầy, vậy
(Thompson, 1963)
-ao, -ào, -âu: “nghi vấn”
-ấy, -ó: xa (người nói) -ay, -ày: gần (người nói)
đ- có nghĩa “nơi chốn”
b- chỉ “số lượng”
n- “tính từ chỉ định”
s/v- chỉ “phương thức”
Trang 6hình vị có kích thước âm tiết chiếm một đa số tuyệt
đối và có sức áp đảo rất lớn (khoảng 97%), làm
thành “nét đặc trưng loại hình chủ đạo của tiếng
Việt” (Trần Ngọc Thêm 1984:32) (1)
Tiếng = Hình vị = Âm tiết
Trang 7…vì con người nói chung quen nhận diện từ chứ
không quen nhận diện hình vị (Ahtgren 1975)
Il n’y a plus de faucons là-haut: on n’y trouve plus que de vrais cons
(Trên cao nguyên ấy không còn chim ó (faucons) nữa: trên ấy chỉ còn thấy những thằng chó đẻ đích thực (vrais cons) mà thôi)
Pháp: conte, condor, condition…
Việt: Cuba, Baku, Addis Ababa…
(Quy-ba, A-đích Abeba…)
Tiếng = Hình vị = Từ
Trang 8Tiêu chí phân định “từ”
Từ là “hình thái tự do nhỏ nhất ”
(Bloomfield 1926: 156)
2
1
acide lactique, acide méphitique, pois chiche, dieu lare…
nai (lưng), è (cổ), chép (miệng)…
bên, lần, phen, giọt, mống…
Một loạt hư từ
Không phải là “từ”
Trang 9- “the”: the book, the university…
…là một từ mặc dù đó là một hình thái ràng buộc,
vì trong tiếng Anh nó “đóng vai trò rất giống với
this và that vốn là những hình thái tự do”
This là “từ”
(có thể đứng ‘tự do”)
This is my book
This book is mine
- Blackbird /´blæk¸bə:d/: chỉ mang một trọng âm
…tiêu chuẩn phân định là phải rút ra từ cấu trúc
của ngôn ngữ đang xét…
Trang 10tôi và anh, dưa hấu ngon, đỏ au lên…
Quy tắc phụ: “một hình thái có thể đứng giữa hai hình thái tự do là một hình thái tự do”
people incapable of thinking, …
Quy tắc bổ sung: …có những khi kết hợp với
những hình thái ràng buộc và do đó tỏ rõ
mình là một từ tố (tiền tố, hậu tố…) thì nó vẫn phải được coi là một hình thái ràng buộc
Một chuẩn tắc ít hiệu lực như thế, cần vá víu nhiều đến thế…
Trang 11NỘI DUNG 2
Trong việc phân định “từ”, tiêu chuẩn “tự do/ràng buộc” mắc quá nhiều lỗi…
Trang 12Quan hệ cú pháp Quan hệ hình thái học
1 Hoa hồng ( chính – Phụ)
2 Quốc gia (đẳng- lập)
Sự kết hợp giữa 2 hình thái tự do từ
1 Infamous (tiền tố in-, từ căn famous)
2 Book (vĩ tố zero- số ít)
Sự kết hợp của căn tố với những phụ tố, vĩ
tố làm thành một đơn vị rõ ràng gọi là từ
học
Trang 13 Cao Xuân Hạo: Lý do của sự phân biệt giữa cú pháp
và hình thái học chính là sự đối lập phức hợp gồm
nhiều tiêu chí giữa cấu trúc của từ và cấu trúc của từ
tổ, giữa hình vị và từ tương ứng:
VD: incommode: pas commode; atonal: sans
tonalite’…
BÌNH DIÊN HÌNH THÁI HỌC, NÉT ĐẶC THÙ
CỦA NGÔN NGỮ BIẾN HÌNH
thái học trong ngôn ngữ đơn lập
Trang 14 Các tiếng “Hán- Việt” được dùng trong tổ hợp hai tiếng theo
những quy tắc kết hợp của cú pháp Hán
đi sau một (hay hai) tiếng nhất định VD: (dưa) hấu, (đỏ) au,
(áo) xống, vv
hay “từ láy kép” VD: bâng khuâng, long lanh, vv
khác với mối quan hê cú pháp trong những tổ hợp gồm
những tiếng được nhất trí công nhận là từ như thế nào?
(nhân danh tiêu chuẩn “tự do/ ràng buộc)
Trang 15Hán Việt Thuần Việt
Dịch giả (dịch:
định ngữ)
Cường kích
Đại bác
Người dịch (dịch: vị ngữ) Đánh mạnh Súng lớn
Trật tự các thành phần trong tổ hơp Hán-Việt ngược với trật tự trong các tổ hợp thuần Việt Cường kích: cách đánh của không quân chống
lục quân, đánh mạnh : đánh mạnh
Ấn tượng chặt chẽ của sự kết hợp, không phải tính ràng buộc của yếu tố trong tổ hợp
1 Xóm này bất an hơn(không yên
bằng)
2 Xóm này không yên hơn
Bất an – không yên : chặt hơn, hai từ
gắn lại bằng mối quan hệ chặt chẽ, từ
ghép
Trang 16Ví dụ Kết luận
1 Trong tiếng Pháp: căn tố
chant- (+ 30 phụ tố và vĩ tố) :
chanter, chance’, chante,
chantez, chantant, …
2 Poise chiche, acide lactique
3 (dưa) hấu, (bò) tót, (bọ) chét,
(gạo) de…
Chant- và –er có thể tham gia vào sự thành lập tổ hợp khác
Các từ này thường xuyên bị cột chặt vào nhau
vĩ tố và hư từ có thuộc tính là yếu tố hồi quy rất cao, có khả năng kết hợp rộng rãi với nhiều đơn
vị khác nhau, và phụ tố cũng có yếu tố hồi quy không thể làm căn tố được (kết hợp được với một
số vĩ tố lớn hơn 1, nếu không được thì không là căn
tố mà là từ) hình vị cấu tao từ và hư từ: ràng buộc, nhưng không tuyệt đối
Không phải từ: không độc lập, không có nghĩa chỉ có
vỏ âm thanh (Phan Thiều, 1984) Hấu là 1 từ: hình thái ràng buộc tuyệt đối, có chức năng cú pháp(định ngữ), được kết hợp với một từ (dưa– không là căn tố hay phụ tố, không là 1 từ)
Trang 17 Gồm 2 từ đồng loại có chức năng cú pháp giống nhau và quan
hệ ngữ nghĩa gần gũi nhau
Trang 18 Cao Xuân Hạo : trong tiếng Việt đơn vị có cương vị
ngôn ngữ học của âm vị là tiếng chứ không phải là âm
tố như trong ngôn ngữ Âu Châu
ngôn ngữ học (bằng chức năng khu biệt và thế đối lập
về trật tự từ), tiếng Nhật, Triều Tiên và các ngôn ngữ
đơn lập: đại lượng ngữ âm có tư cách là âm vị chứ
không phải là âm tố (tiếng Âu Châu hiện đại)
Trang 19Chân thành cám ơn thầy và các anh chị đã
lắng nghe!