1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN ĐIỂM CỦA NGUYỄN BẠT TỤY VỀ ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT

19 368 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 684,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Quan điểm của Nguyễn Bạt Tụy về âm vị học tiếng Việt. Bao gồm:Những nhận xét về âm thanh của Nguyễn Bạt TụyNguyễn Bạt Tụy đưa ra những nguyên tắc mới về âm thanhNguyễn Bạt Tụy bác bỏ thuyết tính kêu thay bằng thuyết độ chạmÂm chínhÂmcuốiNguyên âm a trong anh; ach là e ngắn; i trong inh, ich là i ngắnNguyên tắc mới về thanhVề phương ngữ và những biến đổi của phụ âm (âm cuối) trong ngữ 3 miền

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

TIỂU LUẬN

ÂM VỊ HỌC

Đề tài:

TRÌNH BÀY NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT NHẤT TRONG QUAN ĐIỂM CỦA NGUYỄN BẠT TỤY VỀ

ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT

CBHD: PSG.TS LÊ KHẮC CƯỜNG SVTH: TRƯƠNG THỊ LY LY

LỚP: NGÔN NGỮ K12 MSSV: 1256010093

TP HCM, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: VỀ ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT 2

PHÂN II NGUYỄN BẠT TỤY VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM NỔI BẬT CỦA ÔNG TRONG ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT 3

1 Giới thiệu Nguyễn Bạt Tụy 3

2 Quan điểm nổi bật của Nguyễn Bạt Tụy về âm vị học tiếng Việt 4

2.1 Những nhận xét về âm thanh của Nguyễn Bạt Tụy 4

2.2 Nguyễn Bạt Tụy đưa ra những nguyên tắc mới về âm thanh: 4

2.3 Nguyễn Bạt Tụy bác bỏ thuyết tính kêu thay bằng thuyết độ chạm 5

2.4 Âm chính 6

2.5 Âmcuối 8

2.6 Nguyên âm a trong -anh; -ach là e ngắn; i trong -inh, -ich là i ngắn 9

2.7 Nguyên tắc mới về thanh 12

2.8 Về phương ngữ và những biến đổi của phụ âm (âm cuối) trong ngữ 3 miền 12 PHẦN III KẾTLUẬN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

PHẦN I: VỀ ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT

Ngành nghiên cứu âm thanh cho một ngôn ngữ được gọi là âm vị học Ngữ âm học là một ngành khoa học nghiên cứu các đặc điểm âm thanh của tiếng nói con người Ngữ âm học nghiên cứu các phổ quát âm thanh Ví dụ: Nhờ vào bộ máy cấu âm, con người có thể phát ra các chuỗi âm thanh khác nhau Ngữ âm học chia các loại âm thanh này thành các phạm trù ngữ âm khác nhau: nguyên âm, phụ âm, tắc, xát… Còn âm vị học thì không nghiên cứu rộng như vậy Âm vị học nghiên cứu xem trong một ngôn ngữ có bao nhiêu đơn vị âm

thanh là có chức năng khu biệt nghĩa Hoặc, trong ngôn ngữ, những nét ngữ âm nào trở thành những nét khu biệt và có ý nghĩa Chính vì vậy, ngữ âm học có số

đơn vị là vô hạn, quen gọi là các âm tố (sounds) Còn âm vị học, có số đơn vị hữu hạn, đếm được Đơn vị của âm vị học là âm vị (phonemes) Âm vị học là ngành nghiên cứu âm thanh của một cộng đồng ngôn ngữ cụ thể, chính vì vậy,

nó có số lượng đơn vị hữu hạn, có cách thức riêng để cấu trúc các âm vị lại thành một vỏ từ theo cách riêng của nó (Quy luật kết hợp âm vị) Cuối cùng, các đặc điểm ngữ âm đã được biến thành các nét khu biệt nhằm phác hoạ và nhận dạng theo một cách riêng đối với từng âm vị của một cộng đồng Ngữ âm học nghiên cứu cái chung, cái phổ quát (mang tính nhân loại) còn âm vị học nghiên cứu cái riêng, cái đặc thù (mang tính dân tộc, cộng đồng)

Trang 4

PHÂN II NGUYỄN BẠT TỤY VÀ NHỮNG QUAN

ĐIỂM NỔI BẬT CỦA ÔNG TRONG

ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT

1 Giới thiệu Nguyễn Bạt Tụy

Nguyễn Bạt Tụy (1920 – 1995) là một nhà dân tộc học, nhà ngôn ngữ học của Việt Nam, quê quán Hà Nội Nguyễn Bạt Tụy lớn lên ở Hà Nội nhưng từ năm 1945 ông sống và làm việc tại Sài Gòn, Đà Lạt Thuở nhỏ học Tiểu học ở

Hà Nội, đậu bằng Thành chung và Brivet Elémentaire năm 1938, qua năm sau (1939) ông đậu Tú tài I Pháp Sau khi tốt nghiệp Tú tài vài năm sau (1943) ông vào Nam sống bằng nghề dạy tư tại Sài Gòn, thời gian sau làm phiên dịch cho người Nhật bỏ việc, tiếp tục dạy học tư Những năm 1960-1970 ông được Học viện Viễn Đông bác cổ Paris và trường Đại học Sorbonne trợ cấp hàng tháng trong nhiều năm giúp ông có điều kiện khảo sát, nghiên cứu về ngôn ngữ học, dân tộc học thuộc các sắc dân thiểu số trên dãy Trường Sơn (từ Quảng Trị đến Bình Long ) Năm 1973 ông dự định thành lập một trung tâm nghiên cứu Dân

tộc học và ngôn ngữ học có tên Trung ương Nguyễn Bạt Tụy nghiên cứu dân ngữ (Nguyễn Bạt Tụy Centre for Ethnological cal anô linguistic Researohas) để

khai thác số tài liệu ông sưu tầm được trong gần 30 năm Đây là kho tư liệu tư nhân đồ sộ, phong phú mà chưa có kho tư liệu nào (cả tư lẫn công) có thể sánh kịp.Ông là một nhà lập thuyết về ngôn ngữ học (nhất là ngữ âm học); chính ông

là ngưởi phát kiến ra “thuyết độ chạm” (degré de Contact) trong ngữ âm nói chung và ngữ âm tiếng Việt nói riêng Phát hiện này của ông được nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp (Gustave Meillon, François Martini, Maurice Durant,

Martine Piat) đồng tình và tán thưởng Từ sau năm 1975, ông bị bệnh và không

có điều kiện, phương tiện nhằm giới thiệu các công trình nghiên cứu về Dân tộc học, Ngôn ngữ học và Sử học của mình

Các tác phẩm chính:

- Chữ và vần Viêt Nam khoa học (1949)

- Ngôn ngữ học (1950)

- Phonologie Vietnamretnaenne (Học âm - lời Việt Nam) (1960) và rất nhiều

bản thảo

Trang 5

2 Quan điểm nổi bật của Nguyễn Bạt Tụy về âm vị học tiếng Việt

2.1 Những nhận xét về âm thanh của Nguyễn Bạt Tụy

- Những âm chính như e, a, o, ê, ơ,ô, i, ư, u là âm tự nó phát ra thành tiếng

bao giờ cũng kêu

- Những âm phụ như b, đ, g, p, t, k, m, n, ŋ, v.v… là những âm phát ra mau

phải dựa vào âm chính mới thành tiếng được, và khi thì kêu, khi thì mạt

- Những âm bán như o, y trong oa, ay vừa có tính cách kêu của các âm

chính, vừa có tính cách mau của các âm phụ

- Riêng về âm phụ, vì kiểu phát rất nhiều , người ta còn chia ra :

+ Những âm ép là âm do hai bộ phận sáp lại gần nhau cho hơi nói thoát ra như

“ép” Loại này gồm có: một âm hô (hô= thở ra) là âm do hơi nói bị ép trong

cuống họng mà ra như một hơi thở: h; những âm rung là âm do đầu lưỡi hay cạnh lưỡi bị khí trời làm rung lên mà thành: l, r; những âm phì là âm do hơi nói cọsát mà phì ra:v, ph; những âm xì là âm do hơi nói xì ra mà thành d, x, ;những

âm suỵt là âm do lưỡi uốn cong lên mà phát ra như khi ta nói “suỵt”: gi, c; một

âm khì là âm do hơi nói “khì”ra: kh

+Những âm cản ép là âm do hai bộphận đóng hẳn lạ như “cản” rồi mở cho hơi nói bật ra Cách thoát của hơi nói này rất mạnh như “phá” nền còn gọi là âm

phá:b, p, đ, l, g, k, m, n, ng, v.v…

+Những âm cản-ép là âm vừa bị “cản” vừa bị “ ép”mà thoát ra: ch và tr ở vài

trường hợp

2.2 Nguyễn Bạt Tụy đưa ra những nguyên tắc mới về âm thanh:

- Một âm kêu hay mạt theo độ chạm của các cơ quan phát âm Nếu lấy đ, t làm thí dụ thì đ là âm kêu vì đầu lưỡi “chạm lỏng” vào gan lợi, và t là âm mạt vì đầu lưỡi “chạm chặt” vào gan lợi: đ là một âm lỏng, t là một âm chặt Nhân đó

chia các âm Việt ra:

+ 12 phụ âm lỏng (kêu): l, r, v, d, gi, b, d, g, m, b, ng, nh đầu

+ 12 phụ âm chặt (mạt): ph, x, s, p, t, k, m chặt, n chặt, nh cuối, ch, tr ở vài ca + 1 phụ âm yếu (mạt ): h

- Một âm chỉ phát đóng khi độ khuếch rất hẹp Những âm chính không bao

giờ phát đóng vì có độ khuếch rất rộng, trừ ba âm hẹp l, ư, u là âm khi phát

Trang 6

đóng thì thành âm bán.Cũng vì vậy mà các âm ép chỉ phát đóng “dở” trong khi các âm cản mới thực là phát đóng “hẳn”

- Một âm mũi phát mở không bao giờ chặt Nếu có thêm đường rền qua mũi, những âm chặt phát mở rất khó khăn và vì vậy tới nay ta không nhận thấy

ba âm chặt của m, n, ng Ba âm bán cũng có những âm chặt khó phát mở vì lẽ

ấy

- Một âm chính “thường” hay “ngắn” theo độ chạm của âm phụ đứng sau

Nếu lấy ap, ăp làm ví dụ thì a trong ap “thường” vì p là một âm lỏng, nghĩa là thật ra là b, còn a trong ăp “ngắn” vì p là một âm chặt, nghĩa là chính p Nhân

đó m, n,ng trong ăm, ăn, ăng là những âm chặt khác m, n, ng lỏng như trong am,

an, ang và cần phải được chỉ bằng những chữ khác, cũng như nếu p trong ap là b,t trong at là đ, c trong ac chính là g và c trong ăc phải là k

- Khi hai âm chính đi với nhau thế nào cũng có một âm yếu, và âm yếu ấy

sẽ thành âm bán nếu là một âm hẹp Là kết quả của nguyên tắc trên, nguyên tắc

này căn cứ trên 9 âm chính trong đó ba âm hẹp có i, u thành âm bán trong các vần eu, êu, iu hay ai, ơi, ưi, và ba âm trung ê, ơ,ô vẫn là âm chính trong iê, ươ,

uô, tuy i, ư, u là âm mạnh Nhân đó ia, ưa, ua cũng chỉ là iê, ươ, uô vì một âm

yếu không thể là một âm rộng được

- Một âm bán có tính cách của âm phụ nên cũng có lỏng, chặt và vì có

giọng âm mũi nên cũng khó phát mở khi là âm chặt Những âm như i, u sau o, ê trong oi, êu là những âm bán lỏng, còn y, u sau a, â trong ay, âu là những âm

bán chặt

- Thanh là tính cách riêng của âm chính và bao giờ cũng thuộc vào âm chính mạnh nhất trong tiếng Thanh không bao giờ thuộc vào một âm phụ hay

một âm bán, và ngay trong một âm hai như iê, ươ, uô thanh vẫn thuộc vào âm chính mạnh là i, ư, u

2.3 Nguyễn Bạt Tụy bác bỏ thuyết tính kêu thay bằng thuyết độ chạm

Về âm vị học, Nguyễn Bạt Tụy cho rằng đó là học âm lời, đó là ngành

khảo cứu về âm của lời nói Người Âu phân biệt phonétique là ngành học về âm

ấy xét như một hiện tượng vật lý và ngành học phonologie là ngành học về âm

ấy xét như một hiện tượng hội sống Ông gọi cả là học âm lời phân biệt bốn ngành: học âm lời miêu tả, học âm lời tác dụng, học âm lời quan hệ và học âm lời đối chiếu

2.3.1 Âm đầu

Về âm đầu, muốn phát âm chữ l, r, v, d, gi, b, đ, g, m, n, ng lưỡi hay môi

chỉ chạm nhẹ vào các bộ phận khác: đó là cử động “lỏng” phát ra nhưng âm

Trang 7

lỏng.Trái lại muốn phát âm các chữ ph, x, p, t, k, m lưỡi hay mũi chỉ chạm mạnh

các bộ phận khác: đó là cử động “chặt” phát ra những âm chặt.Sự sai khác giữa

từng cặp âm đầu v- ph, b- p tỏ rằng những âm chặt có nhiều sức mạnh hơn

những âm lỏng, hay nói một cách khác sức mạnh của ph, p chứng tỏ rằng đó là những âm chặt, cũng như sức yếu của v, b chứng tỏ rằng đó là những âm

lỏng.Riêng âm mũi m đầu không có âm chặt cũng như các âm mũi đầu khác, vì

ở đầu một tiếng, âm mũi chặt rất khó phát, mà dù có phát được thì cũng không hợp với tính cách tự nhiên của ngôn ngữ Suy ra các âm khác, ta có bảng âm đầu xếp theo độ chạm sau đây:

Âm hô Âm rung Âm ép Âm cản Âm cản ép

Âm lỏng: h l,r v, d, gi b, đ, g, m, n, ng, nh

Âm chặt: ph, x, s, kh p, t, k (c) ch, tr ở vài ca

2.4 Âm chính

Âm chính Việt Nam chưa được người Âu biết rõ cho lắm, nhất là

vềư.Theo điểm phát ta phân biệt được, môi đưa lại phía sau, mép giành ra.Vì cửđộng đặc biệt này của mép, ta còn gọi được e, ê, ilà những âm giành

- Ba âm giữa: a, ơ ,ư, khi lưỡi và môi vẫn ở chỗ thường

- Ba âm sau: o, ô, u khi lưỡi phồng lên má rụt lại phía sau để cặp môi chúm tròn mà đưa về phía trước Vì cử động đặc biệt này của môi, ta còn gọi o, ô,u là

những âm chúm

Theo độ khuếch ta phân biệt được:

- Ba âm rộng: e, a, ovì dù ở trước, giữa hay sau, mặt lưỡi cũng ở cách xa cúa hơn hết mà để một lối rộng cho hơi nói thoát ra Riêng e và o của ta rỗng hơn của Pháp nên nhiều khi, ta lẫn hẳn e ,o trong exemple école thành ê,ô

- Ba âm trung: ê, ơ ,ôvì dù ở trước, giữa hay sau, mặt lưỡi cũng ở trung độ, không xa mà không gần cúa quá Âm ơ này ứng với âm của anh mà các nhà âm

lời Mỹ đã gọi là “âm chính giữa trung” (mid-central vowel)

- Ba âm hẹp: i, ư, uvì dù ở trước giữa hay sau,cuống lưỡi cũng ở gần cúa hơn hết mà để một lối rất hẹp cho hơi nói thoát ra Riêng ư, mà chưa một ai định

cho được một vị trí rõ ràng trong hệthống âm chính, đó là một âm ở sát cúa,

giữa i và u

Trang 8

Nếu ta kể thêm ba âm kéo dài,gọi là âm hai,của ba âm hẹp i,ư,uta có

bảng kê âm chính sau đây:

Điểm phát

Trước Giữa Sau

Rộng : E A O Trung: Ê Ơ Ô

Độ khuếch Hẹp : I Ư U

Kéo dài: IÊ(ia) ƯƠ(ưa) UÔ(ua)

- Hai âm ă,â chỉ là giọng ngắn của a, ơ và không thể kể là hai âm riêng biệt được Những nhà đặt ra chữ “quốc ngữ”, vì túng thế trước sự phân biệt a, ơ thường trong an, ơn với a, ơ ngắn trong ăn , ânnên đã phải tạo ra hai chữ ă, â Riêng tôi, nhận thấy chữ â, tiện hơn ơtừ đây tôi sẽ dùng âđể chỉ âm giữa cho đồng loại có dấu mũ với ê, ô

- Những chữ thừa phải bỏ: ă, â, oo, ôô Giọng dài, ngắn của âm chính trước

do âm phụ sau định đoạt Chữ âm phụ sau phải là một cái “dau” để chỉ rõ lượng

âm chính trước, vậy đặt những chữ để chỉ lượng ấy rất thừa Những chữ thừa

ấy, có dịp nói đến rất nhiều là: ă, â, oo, ôô, và nay bỏ đi sẽ đem số chữ âm chính

Việt từ 11 xuống 9, con số chính đánh mà vì túng thế trước bài toán “thường

ngắn”, các nhà đặt chữ đã tăng thêm một cách vô lý Nhờ bỏ hai chữ ă, â, ta sẽ

thoát được cái nạn phải nghe những cách đánh vần trối tai:

tằm: “tê á em tăm huyền tằm” với một âm chính có thanh trắc trong một tiếng

bằng

bắt : “bê á tê bắt sắc bắt” với một thanh trắc thêm vào một tiếng trong đó âm

chính đã có thanh trắc Nhưng một cái lợi nhất là nhờ đó các nhà “cải cách” đỡ bàn ra tán vào về một cái gì chỉ có ở trong trí tưởng tượng, và các nhà khảo cứu

Trang 9

từ nay chú ý được đến âm phụ cuối là động cơ chính trong những biến đổi về lượng của âm chính

2.5 Âm cuối

Ngoài quan điểm nổi bật thuyết độ chạm của Nguyễn Bạt Tụy thì quan điểm về âm cuối của ông cũng nổi bật không kém Cùng điểm qua một số giải pháp về âm cuối mà ông đã nêu:

- Âm cuối quyết định tính chất ngắn dài của âm chính Trong các âm tiết khác nhau có những phụ âm cuối khép mạnh, có phụ âm cuối khép yếu Với cách kết thúc âm tiết thứ nhất phụ âm xuất hiện vào lúc quá trình cấu âm của nguyên âm chưa đạt đến cao điểm trên đường cong đi lên rồi đi xuống bình thường của nó Nguyên âm do đó ngắn lại, còn trường độ của phụ âm cuối lớn hơn bình thường Điều này đã được những công trình thực nghiệm của M.V Gordina làm sáng tỏ Cách tiếp nối giữa nguyên âm và phụ âm cuối như vậy được gọi là tiếp hợp chặt Ngược lại với cách kết thúc âm tiết thứ hai quá trình cấu âm nguyên âm đã kết thúc hoàn toàn trước khi bắt đầu vào phụ âm, cách tiếp nối giữa nguyên âmvà phụ âm cuối như vậy được gọi là tiếp hợp lỏng

- Âm cuối tác động âm chính: trường hợp khi âm chính kết hợp âm cuối chặt sẽ tạo nên âm chính ngắn, ngược lại kết hợp âm cuối lỏng sẽ tạo nên âm

chính dài Muốn phát ra những âm vận áp, át, ác, am, an, ang, lưỡi hay môi

cũng chạm nhẹ vào các bộphận khác mà để âm chính kéo dài được: đó cũng là

những cửđộng lỏngphát ra những âm lỏng, và nếu m, n, ng sau a tỏ ra đồng loại với m, n, ng trước a, ( ma, na,nga), p, t, k sau a chính ra cũng ứng với b, đ, g trước a (ba, đa, ga) Ta phải có:áb, áđ, ág mới đúng vì âm cuối trong các vần này là những âm lỏng Trái lại, muốn phát ra những âm vận ấp, ắt, ắc, ăm,ăn, ăng, lưỡi hay môi chạm mạnh vào các bộ phận khác khiến âm chính không kéo

dài được mà có lượng rất ngắn: đó là những cử động chặt phát ra những âm

chặt, và nếu p, t, c (k) sau a tỏ ra đồng loại với p, t, c (k) trước a (pa, ta, ca), m,

n, ng sau a chính.Với các âm cuối còn quan hệ hơn vì ngoài sự tìm ra giọng

lỏng, chặt của mỗi âm nhờ sự so sánh sức mạnh phát âm, ta thấy thêm một mối liên quan chặt chẽ giữa phụ âm cuối và âm chính đứng trước

- Nguyễn Bạt Tuỵ là người cùng đi theo hướng với A.G Haudricourt và M.V Gordina, mặc dù con đường của ông hoàn toàn độc lập Tuy không làm việc với máy móc như M V Gordina, nhưng do mẫn cảm của người bản ngữ, ông cũng thấy được mối liên quan lui tới về trường độ giữa nguyên âm và phụ

âm cuối trong cùng một âm tiết Ông đề ra việc phân loại 2 loại phụ âm cuối:

Trang 10

Một loại kết thúc âm tiết chặt,

Một loại kết thúc âm tiết lỏng

Chính những phụ âm cuối này làm nguyên âm đứng trước tuỳ từng trường hợp

sẽ được thể hiện ngắn hoặc dài Theo đó tiếng Việt có 16 phụ âm cuối, gồm 4 bán nguyên âm, 12 phụ âm, xếp thành từng cặp đồng vị:

>>> > >

m n ŋ p t k w y (Chặt)

Tóm lại theo giải thuyết này, gánh nặng âm vị học được dồn cho âm cuối Không còn các nguyên âm đối lập nhau theo trường độ ngắn/dài: a/ă,

/,…Các nguyên âm đều có hai biến thể (kết hợp): ngắn – dài, phụ thuộc âm cuối (tiếp hợp chặt - lỏng) Ngoài ra, Nguyễn Bạt Tụy còn dùng dấu phát đóng

thông dụng trong học âm lời là > để đặt lên bốn chữ âm lỏng y, m, n, w để tạo

thành những âm chặt Dấu ấy không cồng kềnh cho lắm vì chỉ là một dấu mũ để

đứng, và nếu ta dùng được dấu mũ trong ê, â, ô không có lẽ gì ta không dùng

được dấu ấy trên bốn chữ này

2.6 Nguyên âm a trong -anh; -ach là e ngắn; i trong -inh, -ich là i ngắn

Quan điểm nổi bật thứ hai của Nguyễn Bạt Tụy là nhận thức được nguyên

âm a trong -anh, -ach là e ngắn và i trong -inh, -ich là i ngắn Đó là một ý kiến

rất sáng suốt không bị ràng buộc bởi chữ quốc ngữ hoặc người đi trước Giải pháp này có một ưu điểm lớn là tất cả các nguyên âm được phân bố rộng ngang nhau Các nguyên âm trong mỗi loạt vần đều có cùng một loạt âm sắc Mỗi nguyên âm đều có hai biến thể dài, ngắn Trong sự đối lập âm vị học của các vấn đề đang xét, đặc trưng về tr ường độ bị gạt hoàn toàn ra khỏi các nguyên

âm Về phát âm làa trong -anh, -ach chỉ là e vì theo cách phát âm, đầu lưỡi áp lên gan lợi mà phát ra một âm chính trước cùng loại với ê, i trong ênh, êch, inh, ich, và a, â trong ay, ây chỉ là e, ê vì cùng một cử động như thế trong khi a, â trong au, âu lại là o, ô vì cuống lưỡi đã nâng sát màng cúa mà phát âm

Thứ hai là về cách viết các tiếng anh, ách, ênh, ếch, inh, ích Từ trước đến nay người ta vẫn tin rằng ch, nh cuối; ch, nh trong đầu cha, nha nghĩa là những

âm đầu cúa, cũng như người ta tưởng rằng trong anh, ách có âm a, nghĩa là âm

giữa rộng Nguyễn Bạt Tụy đã chứng tỏ được rằng đây là một cách phát âm đặc biệt có tới hai điểm phát : một điểm chính ở đuôi của âm cuối trong những tiếng

Ngày đăng: 29/03/2018, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w