4 Hành vi của con người được cấu trúc hóa chứ không phải ngẫu nhiên Kết vị học cũng dựa trên bốn định đề: 1 Tất cả các hành vi có mục đích, trong đó có cả ngôn ngữ được chia thành các đơ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-HOÀNG THỊ THU PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU KẾT VỊ HỌC TIẾNG VIỆT CỦA NGUYỄN ĐĂNG LIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-HOÀNG THỊ THU PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU KẾT VỊ HỌC TIẾNG VIỆT CỦA NGUYỄN ĐĂNG LIÊM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thiện Giáp
Hà Nội - 2014
Trang 3Do thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu, hạn hẹp về thời gian nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Kính mong Quý thầy cô, các nhà khoa học, những người quan tâm đến đề tài góp ý để tôi hoàn thiện và rút kinh nghiệm cho những nghiên cứu sau
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 12
Chương 1 Những cơ sở lý thuyết 12
1.1.Kết vị và kết vị học 12
1.1.1 Khái niệm về kết vị 12
1.1.2 Khái niệm về kết vị học 12
1.2 Khái niệm về hình thái cách và quan hệ cách 16
1.2.1 Khái niệm về hình thái cách 16
1.2.2 Khái niệm về quan hệ cách 18
1.2.2.1 Nghiên cứu các quan hệ cách 18
1.2.2.2 Nghiên cứu quan hệ cách trong Việt ngữ học 20
Chương 2 Quan hệ cách và hình thái cách 23
2.1 Quan hệ cách và hình thái cách trong tiếng Việt 23
2.1.1 Cách như một kết vị trong tiếng Việt 36
2.1.2 Kết vị bắt buộc và tùy ý 37
2.2 Hệ thống hình thái cách và quan hệ cách 38
2.2.1 Hệ thống quan hệ cách 38
2.2.1.1.+AGT, Tác thể (Agentive) 38
2.2.1.2.+OBJ, Đối thể (Objective) 40
2.2.1.3.+DAT, Tặng thể (Dative) 41
2.2.1.4.+BEN, Lợi thể (Benefactive) 42
2.2.1.5.+COM, Cách liên đới (Comitative) 43
2.2.1.6.+INS, Công cụ (Instrumental) 43
2.2.1.7.+LOC, Vị trí (Locative) 44
2.2.1.8.+Dir, Phương hướng (Direction) 44
2.2.1.9.+TIM, thời gian (time) 45
2.2.1.10.+SRC, Nguồn (Source) 46
2.2.1.11.+GOL, Đích (Goal) 46
Trang 52.2.1.12.+EXT, tầm hoạt động (Extent) 46
2.2.1.13.Những trường hợp cách giống kết vị 47
2.2.2 Hệ thống hình thái cách 47
2.2.2.1 +NM, Danh cách (Nominative) 47
2.2.2.2 +O, Đối cách (Objective) 49
2.2.2.3 +D, Tặng cách (Dative) 50
2.2.2.4 +B, Lợi cách (Benefactive) 51
2.2.2.5 +C, Cách liên đới (Comitative) 51
2.2.2.6.+I, Cách công cụ (Instrument) 51
2.2.2.7.+L, Cách vị trí (Location) 52
2.2.2.8.+D, Cách phương hướng (Direction) 53
2.2.2.9.+Sr, Cách nguồn (Source) 54
2.2.2.10.+Gl, Cách đích (Goal) 54
2.2.2.11.+Ex, Cách chỉ tầm hoạt động (Extent) 54
2.2.2.12.Hình thái cách phương thức và mục đích 54
2.2.2.13.Trật từ kết vị và tùy ý 55
Chương 3 Tiểu cú và các kiểu tiểu cú 58
3.1 Loại tiểu cú và sự phân loại động từ 58
3.1.1 Loại tiểu cú 58
3.1.1.1 Tiểu cú có liên từ 59
3.1.1.2 Tiểu cú có động từ biểu hiện tình thái 59
3.1.1.3 Tiểu cú phục tùng 60
2.1.4 Tiểu cú ngoại động từ 60
3.1.1.5 Tiểu cú nội động từ 61
3.1.2 Phân loại động từ 61
3.1.2.1 là 61
3.1.2.2 chậm 63
3.1.2.3 lạnh 65
3.1.2.4 chết 65
3.1.2.5 bị 65
Trang 63.1.2.6 mua 67
3.1.2.7 bán 68
3.1.2.8 chọn 69
3.1.2.9 ăn 70
3.1.2.10 nói 70
3.1.2.11 biết 70
3.1.2.12 ghét 71
3.1.2.13 ở 72
3.1.2.14 ra 72
3.1.2.15 đi 73
3.1.2.16 tới 73
3.1.2.17 có 74
3.2 Lớp tiểu cú 74
3.2.1 Tiểu cú trần thuật 76
3.2.2 Tiểu cú mệnh lệnh 76
3.2.3 Tiểu cú nghi vấn song tuyển (lựa chọn) 79
3.2.4 Tiểu cú nghi vấn đúng- sai: 80
3.2.5 Tiểu cú nghi vấn chỉ khả năng 82
3.2.6 Tiểu cú nghi vấn Có- Không 83
3.2.7 Tiểu cú chủ cách nghi vấn 84
3.2.8 Tiểu cú tân cách nghi vấn 85
3.2.9 Tiểu cú nghi vấn mở rộng 86
3.2.10 Tiểu cú liên hệ phụ thuộc 87
3.2.11 Tiểu cú chủ cách phụ thuộc 88
3.2.12 Tiểu cú tân cách phụ thuộc 90
3.2.13 Tiểu cú phụ thuộc mở rộng 90
3.3 Đơn vị tiểu cú 92
Chương 4 Câu và các kiểu câu 94
4.1 Lớp câu 94
4.1.1.Những câu không được đánh dấu trong tiếng Việt 94
Trang 74.1.2.Lớp câu 95
4.1.2.1 Câu trần thuật độc lập 95
4.1.2.2.Câu mệnh lệnh độc lập 95
4.1.2.3.Câu nghi vấn cấu trúc độc lập 96
4.1.2.4.Câu nghi vấn độc lập có ngữ điệu 96
4.1.2.5.Cân dẫn phụ thuộc 97
4.1.2.6.Câu phụ thuộc có kết vị 98
4.2 Loại câu 99
4.2.1 Câu chính đơn giản 99
4.2.2 Câu ghép chính 100
4.2.3 Câu phức chính 101
4.2.4 Câu phụ 102
4.3 Đơn vị câu 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Trong những năm chiến tranh, với nhu cầu thực tiễn phục vụ mục đích quân
sự, ở Mĩ người ta đề ra một chương trình "dạy tiếng cấp tốc" Các nhà ngôn ngữ học và các nhà sư phạm phải xây dựng những giáo trình dạy tiếng thực hành, dạy nói chứ không phải dạy lí thuyết về một ngôn ngữ Từ những năm 1933, Leonard Bloomfield tham gia rất tích cực công việc này Ông xây dựng cơ sở lí thuyết cho việc dạy tiếng nước ngoài Vào những thập niên 50 và 60, nhiều luận văn tiến sỹ
áp dụng phương pháp dạy ngoại ngữ để nghiên cứu về phân tích tương phản giữa hai ngôn ngữ Đó là ngôn ngữ nguồn (tiếng mẹ đẻ) và ngôn ngữ đích (ngoại ngữ)
Như chúng ta biết thì tiếng mẹ đẻ rất quan trọng trong việc học ngoại ngữ và người học ngoại ngữ thường sử dụng khá nhiều hệ thống âm vị và ngữ pháp của ngôn ngữ mình rồi sau đó chuyển sang hệ thống âm vị và ngữ pháp của ngôn ngữ mình đang học Chính điều đó sẽ giúp cho người học phần nào chỉ ra cái giống và khác nhau giữa hai hệ thống ngôn ngữ Sự khác biệt mà càng lớn thì sẽ gây khó khăn cho việc dạy và học Vì vậy, phân tích nêu bật sự tương phản chính là tài liệu
cơ sở chuẩn bị cho việc phân tích kết vị học mà các nhà ngôn ngữ học áp dụng nghiên cứu sau này
Ngôn ngữ học ứng dụng không chỉ là một hệ thống độc lập mà nó còn có quan hệ khá gần gũi với hành vi con người (Dẫn theo Pike 1954, 1955 và 1960) Khi con người học ngôn ngữ mới tức là tiếp xúc với văn hóa mới, tạo nên hành vi văn hóa mới Người học sẽ được rèn luyện và có một thói quen nói “khác” so với thói quen nói bằng chính ngôn ngữ của mình Muốn học được ngoại ngữ thì không
có cách nào khác là rèn luyện “Ngôn ngữ là kỹ năng, mà kỹ năng là kết quả của thói quen” (UNESCO, 1953) Như vậy chìa khóa của việc học ngôn ngữ chính là rèn luyện (J.H.Cooper, 1963) Chính vì thế, giáo viên dạy ngoại ngữ có thể tạo ra những phương thức áp dụng về học thuyết ngôn ngữ hiện nay để hoàn thiện hơn về tài liệu giảng dạy của mình
Trong bài viết “Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt” của Nguyễn Văn Hiệp đăng trên Tạp chí ngôn ngữ năm 2002 [22], tác giả đã có cái nhìn tổng quát về bức tranh nghiên cứu cú pháp tiếng Việt Ông cho rằng, lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt có thể tạm chia ra làm 3 giai đoạn lớn: giai đoạn trước năm 1945, giai đoạn từ sau 1945 đến những năm 80 và giai đoạn từ những
năm 90 trở lại đây Giai đoạn trước năm 1945 thể hiện rất rõ tinh thần “dĩ Âu vi
trung” mà ở trong địa hạt cú pháp là cách tiếp cận mang tính “từ bản vị” Giai
đoạn sau năm 1945 đi theo khuynh hướng “cú bản vị” Giai đoạn từ những năm 90
trở lại đây, lĩnh vực nghiên cứu cú pháp tiếng Việt sôi động hẳn với việc công bố
cuốn Tiếng Việt Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1 của Cao Xuân Hạo Tác
giả cho rằng, cấu trúc chủ vị, như vẫn thường được hiểu, chỉ thích hợp cho việc miêu tả các thứ tiếng châu Âu Còn đối với một thứ tiếng như tiếng Việt, cái cấu
trúc cú pháp cơ bản ấy là một cấu trúc khác: cấu trúc Ðề- Thuyết
Trang 9Trở lại những năm 60,70, khi tiếng Việt được giảng dạy một cách sâu rộng trong nhà trường, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã phân tích câu tiếng Việt thoát khỏi khuôn mẫu của câu tiếng Pháp một số đặc trưng của câu tiếng Việt đã được phát hiện Chẳng hạn, loại thành phần câu trong tiếng Việt được thừa nhận
không có trong các sách ngữ pháp tiếng Pháp với tên gọi là chủ đề (Nhóm nghiên cứu Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê), khởi ngữ (Nguyễn Kim Thản) hay từ-
chủ đề (nhóm Nguyễn Tài Cẩn, I.X Bwxxtrov, N.V Xtankevich…) Theo cách tiếp
cận khác khi phân tích và miêu tả câu tiếng Việt, hai tác giả Yu.K Lekomtsev và L.C Thompson đã vận dụng phân tích thành tố trực tiếp để nghiên cứu câu tiếng
Việt Thompson đã gọi loại thành phần câu trong tiếng Việt với tên gọi bổ ngữ chủ
vị ngữ Cấp độ thứ ba là cấp độ cụm vị ngữ gồm một hạt nhân vị ngữ Cấp độ thứ
tư là cấp độ hạt nhân vị ngữ gồm 4 vị trí là vị ngữ, tiểu ngữ, tân ngữ và bổ ngữ
Cũng chọn con đường kết hợp ngữ pháp Tagmemic nhưng tác giả Nguyễn Đăng Liêm với công trình “Case, clause and sentences in Vietnamese” (Cách, tiểu
cú và câu trong tiếng Việt) xuất bản năm 1973, đã miêu tả câu tiếng Việt theo mô hình của ngữ pháp cách Mục đích nghiên cứu của ông chính là giúp cho người nói tiếng Anh có thể học tiếng Việt một cách dễ dàng và có tác dụng cho nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt của người bản ngữ tiếng Việt Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Đăng Liêm đã vận dụng ngôn ngữ phát triển của Pike trong tác phẩm
“Language in relation to a unified theory of the structure of human behavior, three
volumes Santa Ana: summer Institute of Linguistic” (1954,1955,1960) và mô hình
ngữ pháp cách của Fillmore trong các tác phẩm “The case for Case” (1968),
“Toward a Theory of Case” (1969) và “Some problems for case grammar” (1971),
nhằm miêu tả cú pháp câu tiếng Việt Từ đó, tác giả đã sử dụng khái niệm “kết vị”
để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt, dựa theo so sánh đối chiếu của hình thái cách và quan hệ cách Nguyễn Đăng Liêm cũng chính là người đầu tiên nghiên cứu về kết
vị học trong tiếng Việt
Kết vị học tuy không phải là vấn đề mới nhưng kết vị học chưa mang tính
phổ quát Cho nên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu kết vị học tiếng Việt của
Nguyễn Đăng Liêm” Hiện nay, công trình nghiên cứu “kết vị học” tiếng Việt của
Nguyễn Đăng Liêm chưa có bản dịch ở Việt Nam Vì thế, với tư cách là học viên ngôn ngữ học, chúng tôi muốn giới thiệu quan niệm về kết vị học tiếng Việt của Nguyễn Đăng Liêm để góp phần bổ sung vào ngữ pháp học tiếng Việt từ các phương diện khác nhau
Trang 10Việc nghiên cứu đề tài này có các ý nghĩa sau đây:
- Về mặt lý luận: Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về kết vị học của Nguyễn Đăng Liêm, chúng tôi có cái nhìn mới về việc mô tả cú pháp tiếng Việt theo mô hình ngữ pháp cách
- Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể có giá trị tham khảo về nghiên cứu cú pháp của tiếng Việt và có thể góp thêm ngữ liệu cho việc nghiên cứu, học tập về ngữ pháp tiếng Việt
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: quan điểm về “kết vị” của Nguyễn Đăng Liêm
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu kết vị học tiếng Việt trong cuốn “Cách, Tiểu cú và câu trong tiếng Việt” (Case, clause and sentences in Vietnamese) (Pacific Linguistics, series B-N 37 Department of Linguistics, Research school of Pacific studies, The Australian National University) của Nguyễn Đăng Liêm xuất bản năm 1973
3 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện mục đích ở trên, chúng tôi tự đặt ra cho mình nhiệm vụ ở luận văn là:
- Tìm hiểu về phương thức nghiên cứu kết vị học trong tiếng Việt của Nguyễn Đăng Liêm
- Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về khả năng vận dụng của kết vị học vào việc nghiên cứu tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu miêu tả Nguồn ngữ liệu chủ yếu được thu thập từ các giáo trình nghiên cứu ngữ pháp- ngữ nghĩa tiếng Việt, từ điển tiếng Việt
5 Bố cục của luận văn:
Bố cục của luận văn chia làm 3 phần:
Chương 1: Những cơ sở lý thuyết
Trong chương này, luận văn sẽ trình bày lịch sử khái niệm, lịch sử ứng dụng của
kết vị Mặt khác, do Nguyễn Đăng Liêm đã ứng dụng ngữ pháp cách trong việc
miêu tả ngữ pháp tiếng Việt, cho nên luận văn này cũng sẽ nêu bật khái niệm về hình thái cách và quan hệ cách
Trang 11Chương 2: Luận văn sẽ đi vào mô tả những áp dụng của Nguyễn Đăng Liêm về ngữ pháp cách khi miêu tả ngữ pháp tiếng Việt Theo đó, tác giả miêu tả, phân tích ngữ pháp tiếng Việt theo hướng so sánh đối chiếu của hình thái cách và quan hệ cách Trong chương này, chúng tôi cũng nêu bật cụ thể hệ thống các hình thái cách
và quan hệ cách
Chương 3: Dựa trên khái niệm về kết vị, quan hệ cách và hình thái cách, chúng tôi
đã miêu tả lại sự phân loại các loại tiểu cú, lớp tiểu cú và đơn vị tiểu cú của Nguyễn Đăng Liêm Trong đó, Nguyễn Đăng Liêm cũng phân loại vị từ tiêu biểu đại diện các nhóm
Chương 4: Vận dụng các khái niệm của chương 2 và chương 3, chúng tôi cũng miêu tả lại việc xác định các loại câu, lớp câu và đơn vị câu theo quan điểm của Nguyễn Đăng Liêm
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Những cơ sở lý thuyết 1.1.Kết vị và kết vị học
1.1.1 Khái niệm về kết vị
Trường phái cấu trúc luận Mỹ có một bước tiến triển mới với sự ra đời của kết vị học (tagmemics) do K.L Pike đề xuất Trong kết vị học, đơn vị ngữ pháp cơ bản là kết vị (tagmeme)
Thuật ngữ kết vị được Bloomfield sử dụng vào năm 1933 để chỉ các đơn vị
nhỏ nhất của hình thức ngữ pháp có nghĩa
Theo định nghĩa của Wikipedia [53], kết vị còn tương quan như là một chức năng cú pháp ví dụ như là chủ đề, chủ ngữ và các từ loại như danh từ, đại từ hoặc danh từ riêng Các kết vị kết hợp với nhau tạo thành hệ thống kết vị
Trong tác phẩm “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” GS.TS Nguyễn Thiện Giáp [14] đã đề cập đến kết vị Theo đó, kết
vị là mối tương quan của một chức năng ngữ pháp loại biệt với lớp các đơn vị thực hiện chức năng này Nói cách khác, mỗi kết vị xảy ra ở một chỗ hoặc một ô (slot) riêng biệt trong một câu, ở đó nó thực hiện đầy đủ chức năng, ví dụ như chủ ngữ, vị ngữ, trung tâm (head), bổ ngữ (modifier) mà các đơn vị thuộc các lớp của
nó (danh từ, danh ngữ, động từ, đoản ngữ vị từ, tính từ) có khả năng thực hiện Cả
ô và lớp đều phải được thực hiện trong một kết vị, bởi vì chúng thể hiện các kiểu thông báo khác nhau, không cái nào có thể được chuyển hóa từ cái kia
Như vậy, kết vị là một đơn vị được trừu tượng hóa về mặt ngữ pháp và là đơn vị của ngữ pháp nói chung và cú pháp nói riêng Xét về bản chất, nó gần tương
đương như thành phần câu, thay vì tên gọi là chủ ngữ, bổ ngữ…thì Nguyễn Đăng Liêm gọi là kết vị Kết vị có thể bao gồm một hoặc nhiều nét khu biệt ngữ pháp
Trong đó, nét khu biệt ngữ pháp là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất mà phân biệt ý nghĩa, nhưng bản thân nó không mang nghĩa [14: 112]
1.1.2 Khái niệm về kết vị học
Kết vị học là khoa học nghiên cứu về kết vị của ngôn ngữ
Trong cuốn sách “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” [14], từ trang 112 đến trang 116, Nguyễn Thiện Giáp đã vẽ lại bức tranh về lịch sử nghiên cứu về kết vị học, từ người khởi xướng là Pike [1912, 1967, 1982], Longacre Robert E [1965], Waterhouse [1974], Jones Linda K [1980]
Kết vị học dựa trên giả định rằng ngôn ngữ không thể nhìn nhận như là 1 hệ thống tự chủ và do đó, ngôn ngữ học không thể là ngôn ngữ tự chủ mà phải dựa trên những phân tích sâu hơn từ tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học
Kết vị học dựa trên bốn giả định sau:
(1) Ngôn ngữ là… một kiểu hành vi của con người
Trang 13(2) Như vậy, ngôn ngữ phải được xem xét trong ngữ cảnh và trong quan
hệ với hành vi của con người như là cái tổng thể (3) Một lý thuyết ngôn ngữ học thỏa đáng là lý thuyết có thể ứng dụng cho các kiểu hành vi khác và ứng dụng cho sự kết hợp của hành vi ngôn từ và hành vi phi ngôn từ Như thế, nó là một lý thuyết thống nhất
(4) Hành vi của con người được cấu trúc hóa chứ không phải ngẫu nhiên Kết vị học cũng dựa trên bốn định đề:
(1) Tất cả các hành vi có mục đích, trong đó có cả ngôn ngữ được chia thành các đơn vị
(2) Các đơn vị xảy ra trong từng ngữ cảnh
(3) Các đơn vị này được sắp xếp theo tôn ti
(4) Bất kỳ yếu tố nào đều có thể được nhìn nhận từ những quan điểm khác nhau
Như vậy, kết vị học chính là nghiên cứu về kết vị của ngôn ngữ, dựa trên hành
vi có mục đích của con người Trong đó, ngôn ngữ được chia thành các đơn vị và một đơn vị có thể có các hình thức vật lý khác nhau Nó có thể được phân biệt với các đơn vị khác bởi các tính năng đặc biệt của nó và mối quan hệ của nó với các đơn vị khác trong một lớp, một chuỗi nối tiếp hoặc hệ thống Ngoài ra, các đơn vị này xảy ra trong từng ngữ cảnh và được sắp xếp theo tôn ti
Khái niệm tôn ti (hierarchy) là cơ sở của lý thuyết kết vị học Dẫn theo [14: 113], tôn ti có nghĩa là mối quan hệ bộ phận- toàn bộ, trong đó các đơn vị nhỏ nhất diễn ra với tư cách là các bộ phận của những cái lớn hơn Ngôn ngữ được xem như
là có một cấu trúc ba môđun: âm vị học, ngữ pháp học và sự quy chiếu Sự quy chiếu bao gồm ngữ dụng và nhiều lý thuyết hành động ngôn từ, trong khi ngữ nghĩa học được tìm thấy những nét nghĩa trong âm vị học và ngữ pháp học
và trong các bình diện khác nhau của sự quy chiếu Các phương thức và cấp độ của chúng phối hợp chặt chẽ với nhau bởi vì các đơn vị ở mỗi cấp độ, hoặc có thể được bao gồm các đơn vị nhỏ hơn cùng cấp độ ấy, hoặc các đơn vị từ cấp
độ khác và chúng có thể gia nhập các đơn vị lớn hơn của cùng một cấp độ, hoặc các đơn vị của cấp độ khác Các cấp độ biểu nghĩa cấu trúc quan trọng của tôn
ti ngữ pháp bao gồm hình vị (căn tố), tổ hợp hình vị (thân từ), từ, đoản ngữ, cú, câu, đoạn văn, diễn ngôn độc loại, trao đáp đối thoại, và hội thoại đối thoại
Kết vị học đôi khi được gọi là ngữ pháp điền vào ô [14: 113] Theo đặc trưng
về kết vị đã đề cập ở trên thì mỗi kết vị xảy ra ở một chỗ hoặc một ô (slot) riêng biệt trong một câu, ở đó nó thực hiện đầy đủ chức năng, ví dụ như chủ ngữ, vị ngữ, trung tâm (head), bổ ngữ (modifier) mà các đơn vị thuộc các lớp của nó (danh
từ, danh ngữ, động từ, đoản ngữ vị từ, tính từ) có khả năng thực hiện Cả ô và lớp đều phải được thực hiện trong một kết vị, bởi vì chúng thể hiện các kiểu thông báo khác nhau, không cái nào có thể được chuyển hóa từ cái kia
Trang 14Chẳng hạn như trong tiếng Anh, từ “student” (sinh viên) là một danh từ Tuy
nhiên, tùy vị trí nó xuất hiện sẽ thể hiện chức năng cụ thể Như thế, “student” là bổ ngữ trong cụm danh từ “the student employees”, nhưng là chủ ngữ trong “the
student went to bed early”
Thay vì chuẩn bị hai nhận định độc lập về một câu, một là chia câu ra thành các đơn vị như đoản ngữ danh từ và đoản ngữ vị từ và thứ hai là phân chia chức năng ngữ pháp như chủ ngữ và vị tố cho những đơn vị này, kết vị học muốn phân tích thành một chuỗi các kết vị, mỗi một kết vị đồng thời cung cấp thông tin về chức năng của một đơn vị trong một cấu trúc lớn hơn và về các lớp có thể thực hiện chức năng này [14: 114]
Waterhouse với công trình “The history and development of tagmemics” [1974] đã có cuộc khảo sát toàn diện ngôn ngữ để phân tích kết vị học Trong khi Longacre tiếp tục sử dụng một kết vị với hai đặc trưng thì Pike thông qua một quan điểm bốn đặc trưng của kết vị trong các tác phẩm sau này của ông Ông thêm vào ô (slot) và lớp (class) các đặc trưng về vai (role) và liên kết (cohesion) Jones [1980] đã tượng trưng cho bốn đặc trưng như một bộ bốn tế bào:
Ô Lớp
Vai Liên kết
Vai có thể là người hành động (actor), đối tượng bị tác động (undergoer), người hưởng lợi (benefactee) và tầm tác động (scope), mà bao gồm cách vị trí ở bên trong (inner locative), đích (goal) và một số nghiệm thể (experiencer) Liên kết
ở đây là khả năng kết hợp ngữ pháp, những trường hợp trong đó hình thức hoặc sự xuất hiện của đơn vị ngữ pháp này được ưa thích bởi một đơn vị ngữ pháp khác trong ngôn ngữ Nó bao gồm những đặc trưng phù ứng như phù ứng về số trong tiếng Anh và phù ứng về giống trong nhiều ngôn ngữ Roman
Các kết vị là thành tố của các cú pháp vị (syntagmemes), còn được gọi là các
mô hình (patterns) hoặc kết cấu (constructions) Một số kết vị là bắt buộc và được đánh dấu +, trong khi các kết vị không bắt buộc được đánh dấu -
Trong ký hiệu bốn tế bào, Tiểu cú nội động từ “The famer walks” sẽ có hai kết vị, kết vị thứ nhất biểu hiện là “the farmer” và kết vị thứ hai thể hiện là
“walks”:
Theo Jones [1980] thì kết vị có 4 đặc trưng đó là ô, lớp, vai và liên kết Như
vậy, kết vị “The famer” được phân tích theo đặc trưng như sau: Đặc trưng ô thì kết
vị “the famer” thuộc chủ ngữ, lớp: thuộc đoản ngữ danh từ, vai: chỉ người hành động, liên kết: thuộc danh từ chỉ số ít Số của chủ ngữ “the famer” sẽ chi phối số
của vị ngữ
Tương tự như phân tích trên, kết vị “walk” cũng được phân tích theo 4 đặc
trưng Đặc trưng về ô: vị ngữ, lớp: vị từ, vai: nêu nhận định, liên kết: do kết vị
“famer” là danh từ chỉ số ít nên kết vị “walk” phụ thuộc vào số của chủ ngữ
Sự kết hợp hai kết vị tạo thành tiểu cú nội động từ và có thể tổng quát theo
mô hình sau:
Trang 15Tiểu cú nội động từ = Chủ ngữ Đoản ngữ danh từ
Phù hiệu của mũi tên ở các tế bào liên kết ở trên biểu thị các quy tắc liên kết như:
Số của chủ ngữ: Số của chủ ngữ chi phối số của vị ngữ
Nội động từ: đòi hỏi lẫn nhau của chủ ngữ (như hành thể) và kết vị vị ngữ
Nếu mũi tên ở bên phải, kết vị là nguồn chi phối; nếu mũi tên bên trái, kết vị
là đích chi phối
Sự phân tích có thể được tóm lược trong một dãy như IndeDecITCLRt= + S:
NP + ITPred: ITVP, có thể đọc như sau: Gốc tiểu cú nội động từ tường thuật độc lập (Independent Declarative Intransitive Clause Root), gồm ô chủ ngữ bắt buộc được điền bằng một đoản ngữ danh từ, theo sau là một ô vị ngữ nội động từ được điền bằng cụm động từ/ đoản ngữ vị từ nội động từ bắt buộc Có một số hữu hạn các kiểu cấu trúc ở mỗi cấp bậc ngữ pháp của câu, tiểu cú, đoản ngữ, từ, hình vị và
về mặt này, kết vị học giống với ngữ pháp thang độ và phạm trù (scale and category grammar) Các kết vị là đơn vị bản chất của sự phân tích kết vị học Các kết vị có thể phân tích ra thành các đơn vị chất liệu nhỏ hơn được gọi là kết tố (tagma), chúng là các biến thể kết vị (allotagmas) của kết vị
Có thể nói, mục đích cuối cùng của kết vị học là cung cấp một lý thuyết hòa hợp thông tin về từ vựng, ngữ pháp, và âm vị học Thông tin này được trình bằng thuật ngữ ma trận (matrices), mạng lưới (networks) của các đại lượng giao nhau của các đặc trưng tương phản Tuy nhiên, quan điểm coi ngôn ngữ như là một phần của hành vi con người đòi hỏi một sự công nhận rằng ngôn ngữ không thể được hình thức hóa một cách chính xác Không một hệ thống biểu trưng nào có thể điều tiết tất cả các sự kiện quan yếu của ngôn ngữ, và kết vị học tìm kiếm một sự cân bằng giữa sự cần thiết phải khái quát hóa về ngôn ngữ, cả tính riêng biệt và sự biến thiên cũng tìm thấy ở đó Tuy nhiên, kết vị học chấp nhận những cách trình bày khác nhau đối với các mục đích khác nhau và không khăng khăng chỉ có một ngữ pháp hoặc lý thuyết ngôn ngữ chính xác
Kết vị học khác với hầu hết các ngữ pháp của thời kỳ này Nó đã phát triển trong một cái nhìn trên câu tới toàn bộ cấu trúc của văn bản Tác phẩm của Longcare ở địa hạt này rất nổi tiếng Longacre đòi hỏi tất cả các diễn ngôn độc thoại có thể được phân loại theo bốn thông số: (1) Chuỗi thời gian tùy thuộc
(Contingent temporal succession), (2) Hướng tác thể (Agent orientation), (3) Sự phóng chiếu (projection), và (4) Độ căng, áp lực (tension)
Trang 16Năm 1971, Dương Thanh Bình đã vận dụng lí thuyết kết vị học vào việc nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt trong công trình: A tagmemic comparison of the structure of English and Vietnamese sentences, Mouton, the Hague - Paris,
1971 (So sánh kết vị của cấu trúc câu tiếng Anh và tiếng Việt)
Năm 1973, Nguyễn Đăng Liêm cũng đã vận dụng lí thuyết kết vị học vào nghiên cứu tiếng Việt trong công trình Case, clause and sentences in Vietnamese (Cách, tiểu cú và câu trong tiếng Việt) (Pacific Linguistic, series B-N 37 Department of Linguistics, Research school of Pacific studies, The Australian National University, 1973) Ông đã chọn con đường kết hợp ngữ pháp kết vị học (Tagmemic) với mô hình của ngữ pháp Cách để miêu tả tiếng Việt, đồng thời thừa nhận những quan hệ về cách giữa các danh ngữ khác nhau với động từ vị ngữ
1.2 Khái niệm về hình thái cách và quan hệ cách
1.2.1 Khái niệm về hình thái cách
Hình thái cách thực chất là cách Thuật ngữ “cách” đã được các nhà ngôn ngữ dùng với nhiều thuật ngữ khác nhau: quan hệ ngữ nghĩa (semantic relations), vai nghĩa (roles hay case-roles); hoặc vai tham tố (thematic roles, theta-roles)
Theo Encyclopedia of Language & Linguistics [47], cách (case) là phạm trù ngữ pháp thể hiện chức năng của các danh từ/danh ngữ trong câu, tồn tại ở một số ngôn ngữ biến hình như tiếng Hy Lạp, tiếng Latin, tiếng Đức, tiếng Nga… Cách là phạm trù ngữ pháp tồn tại bên cạnh phạm trù giống, phạm trù số ở danh từ và là 1 khái niệm đặc thù
Trong tiếng Đức có 4 cách: danh cách, đối cách, tặng cách, cách sở hữu Tiếng Nga có 6 cách: nguyên cách, sinh cách, dữ cách, đối cách, tạo cách và giới cách
Như vậy, cách chính là một khái niệm của ngữ pháp Âu châu, gắn liền với sự
biến đổi hình thái của danh từ tùy thuộc vào vị từ Trong bài viết “Một vài quan sát
về giới từ trong quan hệ chủ cách- tặng cách (đích) tiếng Việt” [30], Nguyễn Văn Phổ đã chỉ ra quan niệm về cách của J Lyons Theo đó, cách “là phạm trù biến hình ngữ pháp đặc biệt nhất” “vì nó không có phạm trù tương ứng trong các khoa học anh em với nó là logic học, nhận thức luận và siêu hình học” Còn Fillmore [1968] lại cho rằng, cách được hiểu như là các vai / diễn tố của vị từ, nghĩa là một khái niệm thuộc về nghĩa học (semantic roles), và người ta xem nó như một phổ quát cho ngôn ngữ nhân loại bởi vì ngôn ngữ nào cũng có cách diễn đạt
Vấn đề nghiên cứu cách là vấn đề mới ở Việt Nam nên nó mới chỉ được đề
cập tới ở một số công trình nghiên cứu gần đây về ngữ pháp chức năng hoặc các công trình ngữ pháp có vận dụng tư tưởng của ngữ pháp chức năng Theo tác giả Cao Xuân Hạo viết trong cuốn “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” [15], Trương Vĩnh Ký là người đi trước các nhà ngôn ngữ học trong việc miêu tả các các
phương tiện diễn đạt ý nghĩa cách trong một ngôn ngữ không biến hình Ông cho rằng, tiếng Việt không có cách hiểu theo nghĩa hẹp như tiếng La Tinh Vì cách là
sự biến hình trong vĩ tố (désinence) của từ tùy theo cái vai trò mà nó đảm đương trong câu; nhưng trong tiếng Việt, cái mà sự biến hình ấy chỉ rõ lại được thể hiện
Trang 17bằng những tiểu tố tiền vị (particules prépositives): đó dĩ nhiên không phải là cách
thực sự Và theo Trương Vĩnh Ký, các danh từ của tiếng Việt dùng trong câu có thể ở vào một trong 8 cách, đó là:
cho
Ø - Không đánh dấu
ớ- bớ khỏi- bởi bằng nơi, trong…
Năm 1973, Nguyễn Đăng Liêm cũng vận dụng khái niệm cách của tiếng Latin
vào tiếng Việt và đã có những kiến giải về các cách trong tiếng Việt Theo đó, có
11 cách trong tiếng Việt được nhận bởi vị từ, và một số được đánh dấu bởi giới từ
Hình thái cách đó là:
NM Vị trí của danh cách đứng ngay trước động từ, không có giới từ
O Vị trí của cách đối tượng đứng ngay sau động từ, không có giới từ
D Giới từ “cho” chính nhận diện của hình thái cách tặng thể
B Hình thái của cách lợi thể với nhận diện là giới từ “giùm” hoặc “hộ”
C Hình thái cách liên đới nhận diện là giới từ “với”
I Hình thái cách công cụ nhận diện là giới từ “bằng”
L Hình thái cách vị trí nhận diện là giới từ “ở”
Di Hình thái cách phương hướng nhận diện là những giới từ như “lên, xuống, qua, lại…”
SR Hình thái cách nguồn nhận diện là giới từ “từ”
GL Hình thái cách đích nhận diện là giới từ “tới” hoặc “đến”
EX Hình thái cách tầm hoạt động nhận diện là giới từ “được”
Như vậy, theo quan niệm trên, cách trong tiếng Việt không phải là một phạm
trù ngữ pháp mà nó chỉ là một hiện tượng cú pháp được đánh dấu bởi vị từ hoặc giới từ Do tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình và là ngôn ngữ đơn lập cho nên
Trang 18các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt cho rằng, thuật ngữ “case” - cách thực chất là các
vai nghĩa trong tiếng Việt
1.2.2 Khái niệm về quan hệ cách
1.2.2.1 Nghiên cứu các quan hệ cách
Trong cuốn “ Longman Dic.of language teaching and applied linguistics” [46]
có đề cập đến ngữ pháp cách Fillmore chính là người đi tiên phong về ngữ pháp cách, vì vậy trong suốt cuối thập niên 1960 và đầu những năm 1970, có nhiều công trình về ngữ pháp cách (case grammar) đã được nghiên cứu
Với công trình nổi tiếng “The case for case” (Tác dụng của cách) năm 1968,
Fillmore cho rằng có thể xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tố của nó
Quan hệ cách chính là những quan hệ ngữ nghĩa- cú pháp ngầm được giả định tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh, tồn tại ngầm đối với những ngôn ngữ có vĩ tố Và dạng thức cách của các mối quan hệ cách vẫn là sự biểu đạt trong ngôn ngữ có thể thực hiện được nhờ những phụ tố, hoặc nhờ các giới từ, hoặc với các cách khác [Dẫn theo 23: 27]
Các mối quan hệ mà Fillmore gọi là quan hệ cách này theo ông có tính chất phổ quát và có số lượng hữu hạn Fillmore đã giới thiệu 6 cách:
Tác cách (Agentive) chỉ vai chủ thể của hành động do động từ biểu thị
Công cụ cách (Instrumental) chỉ vai công cụ của hành động do động từ biểu thị
Tặng cách (Dative), chỉ vai động vật chịu ảnh hưởng của trạng thái hay hành động do động từ biểu thị
Hành cách (Factitive) chỉ vai của vật sinh ra do kết quả của trạng thái hay hành động do từ biểu thị
Vị trí (Locative) chỉ vị trí của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
Đối tượng (Objective) là cách trung hòa nhất về nghĩa, chỉ bất kỳ vật gì được biểu thị bằng một danh từ mà vai trò trong hành động hay trạng thái được động từ biểu thị được chính cách thuyết minh nghĩa của động từ quy định [Dẫn theo 23: 28]
Trong các công trình tiếp theo, Fillmore đã dần bổ sung thêm một số cách
khác:
Lực tác động (Counter- Agent) là sức mạnh hay sức đối kháng qua đó hành động mà vị từ biểu thị được tiến hành
Nguồn (Source) là điểm xuất phát của hành động hay chuyển động
Kẻ thể nghiệm hay Nghiệm thể (Experiencer) tương đương với Cảm thể (Senser) của M.A.K Halliday [1994: 117- 119] [Dẫn theo 34: 6-7]
Trang 19Người/Vật trải qua sự biến (Undergoer) tương đương với Động thể (Processed) của một số tác giả sau Fillmore
Bên cạnh ngữ pháp cách của Fillmore (1968), nhiều nhà ngôn ngữ học cũng nghiên cứu về ngữ pháp cách như W.Chafe [1970], J.M Anderson [1971], J.T Platt [1971], R E Longacre [1976], M Clark [1978], W A Cook [1978], S.C Dik [1978], T Givón [1984] và S Starosta [1988]
Trong cuốn “Case Grammar Theory” của Walter A.Cook, S.J [45], ngữ pháp cách được một số tác giả quan tâm như Platt [1971] cho rằng có 7 cách gồm Tác thể (Agent), Sự tham gia (Participative), Công cụ (Instrument), Đối tượng (Object), Lợi thể (Benefactive), Định vị (Locative), và Mục đích (Purposive) Tác giả R E Longacre [1976] đưa ra 10 cách gồm Nghiệm thể (Experiencer), Đối thể (Patient), Tác thể (Agent), Cương vực (Range), Biện pháp (Measure), Instrument (Công cụ), Locative (Định vị), Source (Nguồn), Goal (Mục tiêu), Path (Lối đi)
Công trình nghiên cứu của W A Cook [1978] nêu ít cách hơn trong bộ cách của mình, gồm: Tác thể (Agent), Nghiệm thể (Experiencer), Lợi thể (Benefactive), Đối thể (Object), Định vị (Locative)
T Givón [1984] trình bày hai loại cách trong các câu- các cách chính và các cách tùy chọn Theo Givón, các cách chính bao gồm:
- Tác thể (Agent) chỉ người/ vật chủ ý bắt đầu một sự tình
- Tiếp thể (Dative) chỉ tham thể có nhận thức tiếp nhận một sự việc/trạng thái
- Đối thể (Patient) chỉ trạng thái hoặc sự thay đổi của trạng thái vô ý thức
- Định vị thể (Locative) chỉ một điểm cụ thể so với một vị trí hay sự thay đổi
vị trí của một tham tố khác trong câu
Các cách tùy chọn của Givón gồm có:
- Lợi thể (Benefactive) chỉ tham tố có nhận thức được hưởng lợi từ hành động hay sự việc do Tác thể khởi xướng
- Công cụ (Instrument) chỉ công cụ được Tác thể sử dụng để thực hiện hành động hoặc tạo ra sự tình hoặc trạng thái hiện có
- Liên hội thể (Associative) chỉ Đồng tác thể (Co- agent) hay Đồng tiếp thể (Codative) không phải là tiêu điểm chính trong câu
- Phương thức (Manner) chỉ kiểu hiện trạng của một sự tình
- Thời gian (Time) gồm cả Thời đoạn (Duration), sự lặp lại (Repetition) và Sự thường xuyên (Frequency)
- Mục đích (Purpose) chỉ mục đích của hành động mà Tác thể khởi xướng
S Starosta [1988] cũng trình bày một bộ cách khác gồm Đối thể (Patient), Tác thể (Agent), Địa điểm (Locus), Tiếp thể (Correspondent)- một tên gọi khác của Dative hay Experiencer, và Phương tiện (means)
Trang 201.2.2.2 Nghiên cứu quan hệ cách trong Việt ngữ học
Như đề cập ở trên, nghiên cứu cách là vấn đề mới ở Việt Nam, nó chỉ được đề cập tới một số công trình nghiên cứu gần đây về ngữ pháp chức năng
Sử dụng lại những quan hệ về cách do Fillmore khởi xướng (1968), Nguyễn Đăng Liêm [1973] cho rằng có 12 quan hệ về cách trong tiếng Việt gồm Cách tác nhân (Agentive case), Cách đối tượng (Objective case), Cách tặng thể (Dative), Cách công cụ (Instrument), Cách Lợi thể (Benefactive), Cách liên đới (Commitative), Cách vị trí (Locative), Cách phương hướng (Directional), Cách nguồn (Source), Đích (Goal), Cách tầm hoạt động (Extent), và Cách thời gian (Time)
Cách tác nhân (AGT): tác thể là người chủ định thực hiện hành động được
nêu ở vị từ Điều này thừa nhận rằng chủ thể không nhất thiết đồng nghĩa với “ý định”, theo nghiên cứu gần đây về Tagalog (Ramoss 1974) chỉ ra rằng một số điều chung chung không thể thâu tóm được trừ khi cho phép các chủ thể không cố ý cũng như có chủ định của phi chủ thể
Cách đối tượng (OBJ): diễn tố đối cách là cách hầu hết trung lập về ngữ
nghĩa, bất kỳ cách nào thể hiện danh từ chỉ hành động hoặc động từ chỉ trạng thái được xác định bằng việc giải thích ngữ nghĩa của chính động từ đó Nói chung, vị
từ sẽ là yếu tố mà thực thi hành động trên, hoặc trạng thái hoặc tồn tại Mối quan
hệ này xếp vào một số đã được xử lý, như là sự khác biệt trong ngữ pháp cách khác bao gồm cả Cách trải nghiệm, và cách kết quả/hành cách Hai loại được xử lý giống như là cách giải thích được đưa ra cho các đối cách trung lập khi nó xuất hiện với động từ tâm lý và sáng tạo tương ứng
Cách tặng thể (DAT): cách của động vật chịu tác động của tình trạng, hành
Cách công cụ (INS): diễn tố cách công cụ là cách của động lực bất động vật
hoặc đối tượng ngẫu nhiên liên quan đến hành động hoặc trạng thái được nêu ra ở
vị từ (Fillmore 1968: 24)
Cách vị trí (LOC): diễn tố cách định vị chỉ ra địa điểm hoặc định hướng đặc
biệt của hành động hoặc trạng thái được nêu ra ở vị từ
Cách phương hướng (DIR): diễn tố cách chỉ hướng chỉ ra hướng của hành
động hoặc trạng thái được nêu ra ở vị từ
Cách thời gian (TIM): diễn tố cách thời gian được xác định là thời gian thiết
lập của hành động hoặc trạng thái được nêu ra ở vị từ
Cách nguồn (SRC): diễn tố cách chỉ nguồn chỉ ra địa điểm hoặc thời gian mà
hành động bắt đầu thực hiện
Trang 21Cách đích (GOL): diễn tố chỉ đích chỉ ra không gian hoặc thời gian theo
hướng mà hành động hoặc trạng thái đã xảy ra được nêu ra bởi vị từ
Cách tầm hoạt động (EXT): diễn tố cách phạm vi chỉ ra khoảng không gian
hoặc thời gian thông qua hành động hoặc trạng thái đã xảy ra được nêu ra ở vị từ Trong số 12 cách, tác giả Nguyễn Đăng Liêm cho rằng chỉ có Cách tác nhân
và Cách đối tượng là hạt nhân của câu, Cách tặng thể, Cách lợi thể và Cách công
cụ là hạt nhân phụ (cách bán nòng cốt) trong ý nghĩa mà nó có thể được dẫn chỉ bởi loại vị từ nào đó, và các cách còn lại, Cách liên đới, Cách định vị, Cách chỉ hướng, Cách chỉ nguồn, Cách chỉ đích, Cách thời gian và Cách phạm vi là những cách vệ tinh xoay quanh hầu hết các vị từ ngoại trừ những vị từ được đánh dấu khác
Cũng giống như Nguyễn Đăng Liêm, Trương Vĩnh Ký với mục đích giúp người phương Tây hiểu ngữ pháp tiếng Việt, ông đã miêu tả cách biểu hiện các quan hệ ngữ pháp trong khung vị ngữ của câu bằng những thuật ngữ của các cách tiếng Latin Trương Vĩnh Ký cho rằng, tiếng Việt có 8 quan hệ cách: Danh cách,
Sở hữu cách, Đối cách, Hô cách, Tác cách, Công cụ cách, Vị trí cách
Do tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình cho nên, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã cho rằng, “case” được hiểu là vai nghĩa Trong lịch sử phát triển cú pháp tiếng Việt nói riêng, ngữ pháp học nói chung, nhiều nhà ngôn ngữ học đã đưa
ra danh sách các vai nghĩa Chẳng hạn như Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng đã nêu lên 22 vai nghĩa cần phân biệt mà học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam phải nắm cho được: Người hành động, Người tác động, Lực tác động, Người thể nghiệm, Người/vật trải qua sự biến, Người/vật bị tác động, Vật tạo tác, Người/vật mang trạng thái, Người nhận, người hưởng lợi, nơi chốn, Đích, Hướng, Nguồn, Lối đi, Phương thức, Công cụ, Thời gian, Khoảng cách không gian, Nguyên nhân, Điều kiện, Trở ngại và Người/vật tồn tại [12: 12]
Nguyễn Văn Hiệp trong công trình nghiên cứu gần đây nhất “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” [22], đã liệt kê ra danh sách các cách/vai nghĩa như sau:
- Vai tác thể (Agent): biểu thị người gây ra hành động
- Vai nghiệm thể (Expriencer): biểu thị chủ thể trải nghiệm một trạng thái nào
đó
- Vai tiếp thể: (Recipient): biểu thị kẻ tiếp nhận trong hành động trao tặng
- Vai kẻ hưởng lợi (Benefactive): biểu thị kẻ được hưởng thành quả từ một hành động do một ai đó thực hiện
- Vai lực tự nhiên (Force): chỉ tác nhân tự nhiên gây ra một biến cố , thay đổi nào đó
- Vai bị thể (Patient): chỉ vật, người chịu sự tác động, dẫn đến một thay đổi nào đó Sự thay đổi này có thể là sự thay đổi về vật lí, tâm lí…
- Vai công cụ (Instrument): chỉ công cụ được dùng để thực hiện hành động
Trang 22- Vai địa điểm, vị trí (Location): chỉ nơi chốn của sự tình, vị trí tồn tại của sự vật
- Vai điểm xuất phát, hay nguồn của trạng thái (Source): chỉ điểm xuất phát của chuyển động, hay nguồn của trạng thái
- Vai điểm đến (Goal): chỉ đích đến của một chuyển động
- Vai kẻ tham chiếu (Reference): chỉ người hay vật được dùng để tham chiếu trong một trạng thái, quan hệ
- Vai kẻ cùng hành động (Comcomitant): chỉ người cùng hành động trong một hành động
- Vai hướng chuyển động (Direction) hay lối đi (Path): chỉ hướng của chuyển động
- Vai thời điểm (Temporal): chỉ thời điểm của sự tình
- Vai chủ sở hữu (Possessor): chỉ chủ sở hữu của sự vật
- Vai thời lượng (Duration): chỉ thời gian kéo dài của hành động
- Vai nội dung (Content): chỉ nội dung của sự hiểu biết
- Vai thể chuyển động (Theme): chỉ một thực thể tồn tại ở một vị trí nào đó, hoặc thực thể chuyển động, chịu một sự thay đổi về một vị trí do một tác nhân nào
đó
Có thể nói, với sự phát triển của ngôn ngữ, việc nghiên cứu cách cũng được phát triển theo thời gian Tuy nhiên vào thời điểm đầu những năm 70, quan hệ cách của Fillmore được coi là “mở màn” được rất nhiều nhà ngôn ngữ áp dụng Với việc ứng dụng của ngữ pháp cách, đặc biệt là sử dụng ngữ pháp cách của Fillmore, Nguyễn Đăng Liêm đã miêu tả, phân tích ngữ pháp tiếng Việt theo so sánh đối chiếu của hình thái cách và quan hệ cách
Trước đó, Nguyễn Đăng Liêm cũng có một số tác phẩm nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như công trình “Vietnamese Grammar, a Combined Tagmemic and Transformational Approach” (1969) (Ngữ pháp tiếng Việt, tổ hợp kết vị và cách tiếp cận cải biến), “Clauses and Cases in Vietnamese- First International Conference on Austroasiatic Linguistics” (1973a) (Tiếu cú và cách trong tiếng Việt- Hội nghị quốc tế đầu tiên trên ngôn ngữ hệ Nam Á”), “Case and Clauses in Southeast Asian Languages (Cambodian, Cantonese, Lao, Thai and Vietnamese) in Relation to Culture and Thought” (1973) (Cách và tiểu cú trong ngôn ngữ Đông Nam Á (Campuchia, tiếng Quảng Đông, Lào, Thái Lan và Việt Nam) trong mối quan hệ với văn hóa và tư duy)
Trang 23Chương 2 Quan hệ cách và hình thái cách
2.1 Quan hệ cách và hình thái cách trong tiếng Việt
Khi miêu tả cú pháp tiếng Việt, có nhiều cách tiếp cận để mô tả cú pháp tiếng Việt Nguyễn Đăng Liêm trong tác phẩm “Cases, clauses and sentences in Vietnamese” đã chọn con đường kết hợp ngữ pháp Tagmemic với mô hình của ngữ pháp Cách để miêu tả câu tiếng Việt, tức thừa nhận các cấp độ phân tích trên, đồng thời thừa nhận những quan hệ về cách giữa các danh ngữ khác nhau với động từ vị ngữ
Với mục đích giúp cho người nói tiếng Anh học tiếng Việt, Nguyễn Đăng Liêm đã sử dụng thêm hình thái cách để giúp người nói tiếng Anh có thể đối chiếu
từ tiếng Anh sang tiếng Việt một cách dễ dàng Ông đã phân loại 11 hình thái cách:
NM, O, D, B, C, I, L, Di, SR, GL, EX Hình thái cách được nhận diện bởi vị từ và một số được đánh dấu bởi giới từ
Sử dụng lại những quan hệ về cách do Fillmore khởi xướng (1968), Nguyễn Đăng Liêm cho rằng giữa các cách có quan hệ cách Ông cũng xác định 12 quan hệ
về cách trong tiếng Việt gồm Cách tác nhân (ký hiệu là AGT), Cách đối tượng (OBJ), Cách tặng thể (DAT), Cách công cụ (INS), Cách Lợi thể (BEN), Cách liên đới (COM), Cách vị trí (LOC), Cách phương hướng (DIR), Cách nguồn (SRC), Đích (GOL), Cách tầm hoạt động (EXT), và Cách thời gian (TIM)
Từ 12 quan hệ cách và 11 hình thái cách, Nguyễn Đăng Liêm đã chỉ ra 25 khả năng kết hợp giữa quan hệ cách và hình thái cách:
Trang 24Tác giả cũng sử dụng phương pháp loại trừ để phân loại các kết vị như bảng 2 dưới đây:
+TIM –TIM + LOC +Sr -Sr
1 2 3 4 5 [+O] [+O] [+O] [+O] [+O] [+O] [+O] [+C] [+Sr] [+OBJ] [+DAT][+BEN][+INS][+LOC] [+GOL] [+EXT] [+COM] [+SRC]
Trang 251 [+NM, +AGT] được nhận diện bởi tác thể ngoại động
1.1 Ông ấy mua báo
He bought newspapers
[+NM] [+O]
[+AGT] [+OBJ]
Sở dĩ ô kết vị của từ “ông ấy” là [+NM, +AGT] do:
- Do đứng trước động từ “mua” cho nên “ông ấy” là danh cách, vì vậy hình thái cách của “ông ấy” là [+NM]
- Chủ thể hành động của hành động “mua” là “ông ấy” nên quan hệ cách của
2.2a Ông ấy chậm lắm
He is slow very (he is very slow)
Trang 26[+NM]
[+OBJ]
Về hình thái cách: “ông ấy” đứng trước động từ Cho nên, hình thái cách “ông ấy” thể hiện là [+NM]
Từ “chậm (slow), lạnh (cold), chết (dead)” đều biểu hiện trạng thái, tính chất
và đứng ở vị trí sau danh cách Theo quan niệm của Nguyễn Đăng Liêm, danh cách
mà nó thể hiện đứng trước vị từ biểu hiện trạng thái thì quan hệ cách của nó là đối cách Cho nên, xét về quan hệ cách, “ông ấy” thể hiện là đối cách, [+OBJ]
Vì vậy, ô kết vị “ông ấy” là [+NM, +OBJ] Nó vừa là người hành động thể hiện danh từ, chủ ngữ trong câu
2.3a Ông ấy ở Saigon
He stays in Saigon
[+NM] [+O]
[+OBJ] [+LOC]
2.3b Ông ấy ra Saigon
He went out to Saigon
Trang 27He was forced to go
- Quan hệ cách: do chịu tác động của hành động nêu ở vị từ Mà vị từ ở đây là
từ “bị” Cho nên, “ông ấy” thể hiện là một tặng cách [+DAT]
Vì vậy, “ông ấy” thể hiện kết vị [+NM, +DAT] với chức năng danh từ, chủ ngữ trong câu
3.2a Ông ấy biết bà ấy
He knows her
[+NM] [+O]
[+DAT] [+OBJ]
3.2b Ông ấy biết (rằng) bà ấy đi rồi
He knew (that) she had gone already
[+NM] [+O]
[+DAT] [+OBJ]
3.2c Ông ấy muốn (rằng) bà ấy đi rồi
He wanted (that) she went already
[+NM] [+O]
[+DAT] [+OBJ]
3.2d Ông ấy muốn (cho) bà ấy đi rồi
He wished (that) she had gone already
[+NM] [+O]
[+DAT] [+OBJ]
Tương tự như vậy, “ông ấy” trong các trường hợp 3.2a, 3.2b, 3.2c, 3.2d, hình thái cách của “ông ấy” vẫn là [+NM] Quan hệ cách do chịu tác động của hành động “biết” và “muốn” (rằng) cho nên, “ông ấy” thể hiện quan hệ cách là tặng cách [+DAT]
Trang 28Vì vậy, ô kết vị “ông ấy” thể hiện ở trong các ví dụ trên là [+NM, +DAT] và thể hiện chức năng là danh từ, chủ ngữ trong câu
4 [+NM, +INS] được nhận diện bởi cách tác thể của nội và ngoại động
4.1 Dao này cắt thịt
Knife this cuts meat (this knife cuts meat)
[+NM] [+O]
[+INS] [+OBJ]
4.2 Xe này đi Saigon
Vehicle this goes to Saigon (this vehicle goes to saigon)
[+NM] [+O]
[+INS] [+DIR]
Ở 2 ví dụ 4.1 và 4.2, “dao này” và “xe này” có kết vị là [+NM, +INS]
- Hình thái cách: do đứng trước động từ “cắt” và “đi” nên hình thái cách của
“dao này” và “xe này” thể hiện là danh cách [+NM]
- Quan hệ cách: do danh cách là bất động vật, liên quan đến hành động của tác thể.Cho nên, “dao này” và “xe này” đều là cách công cụ [+INS]
Vì vậy, kết vị của “dao này” và “xe này” đều là [+NM, +INS] với chức năng
là danh từ, chủ ngữ và nằm trong một tiểu cú
Tác giả Nguyễn Đăng Liêm cũng chú ý ở đây chỉ có những danh từ “tiềm năng” xảy ra ở ô [+NM, +INS]
5 [+NM, +LOC] được đăng xuất bởi động từ biểu hiện trạng thái
5.1 Phòng này lạnh
Room this is cold (this is a cold.)
[+NM]
[+LOC]
“Phòng này” có kết vị là [+NM, +LOC] Sở dĩ có ô kết vị này là do:
- Hình thái cách: nó đứng trước động từ nên “phòng này” là danh cách [+NM]
- Quan hệ cách: mặc dù đứng trước vị từ chỉ biểu hiện trạng thái nhưng
“phòng này” là danh cách chỉ địa điểm cụ thể cho nên “phòng này” có quan hệ cách là cách vị trí [+LOC]
Vì thế, “phòng này” có kết vị là [+NM, +LOC]
6 [+O, +OBJ] được đăng xuất bởi ngoại động từ
6.1 Ông ấy mua sách
He bought books
[+NM] [+O]
Trang 29[+AGT] [+OBJ]
6.2 Ông ấy biết chuyện ấy
He knows story that (he knows that story)
[+NM] [+O]
[+DAT] [+OBJ]
Ở những ví dụ trên, chúng ta đã phân tích rất rõ “ông ấy” ở ví dụ 6.1 và 6.2 có kết vị là [+NM, +AGT] và [+NM, +DAT] Vì vậy, ở ví dụ này, chúng ta sẽ phân tích kết vị của từ “sách” và “chuyện ấy”
- Xét về hình thái cách: “sách” và “chuyện ấy” đều đứng ngay sau Động từ Theo quan niệm về hình thái cách của Nguyễn Đăng Liêm thì hình thái cách của
“sách” là [+O]
- Quan hệ cách: cách thể hiện danh từ mà được xác định và giải thích ngữ nghĩa cho chính động từ “mua”,”biết” thì đó là những cách đối tượng [+OBJ]
Vì vậy, “sách” và “chuyện ấy” đều có kết vị là [+O, +OBJ]
7 [+O, +DAT] được nhận diện bởi động từ tặng cách có 2 bổ ngữ
7.1 Ông ấy bán tôi sách
He sold me books
[+NM] [+O] [+O]
[+AGT] [+DAT] [+OBJ]
Trong trường hợp này, có 3 ô kết vị:
- “Ông ấy” như phân tích ở những ví dụ trên, có kết vị là [+NM, +AGT]
- “tôi” và “sách” đều đứng sau động từ “bán” cho nên hình thái cách của chúng là [+O]
Xét về quan hệ cách: Cách thể hiện danh từ “tôi” chịu tác động của hành động nêu ở vị từ “bán” vì vậy, quan hệ cách của “tôi” là [+DAT]
Còn “sách” lại được xác định, giải thích ngữ nghĩa cho động từ “bán” Cho nên “sách” là cách đối tượng [+OBJ]
Vì vậy, “tôi” có kết vị là [+O, +DAT], “sách” có kết vị là [+O, +OBJ]
8 [+O, +BEN] được nhận diện bởi động từ hưởng lợi có 2 bổ ngữ
8.1 Ông ấy mua tôi sách
Trang 30Tương tự như ví dụ 8.1 thì „ông ấy” có kết vị là [+NM, +AGT], “sách” là [+O, +OBJ], “tôi” có kết vị [+O, +DAT]
Tuy nhiên, “tôi” còn có kết vị là [+O, +BEN] Xét về hình thái cách thì “tôi” vẫn thể hiện hình thái cách là [+O] Về quan hệ cách, do “tôi” được hưởng lợi từ hành động “mua” của chủ thể là “ông ấy” Cho nên, “tôi” là cách lợi thể [+BEN] Như vậy, ở ví dụ này, chúng ta thường sẽ có 2 cách nhìn nhận, “tôi” có thể là kết vị [+O, +BEN] hoặc [+O, +DAT]
9 [+O, +INS] được nhận diện bởi ngoại động từ hoặc nội động từ (Có thể chúng chỉ là những ngoại động từ đặc biệt mà có thể đăng đẫn [+O, +INS]
9.1 Ông ấy dùng dao
Mặt khác, đối tượng “dao” và “xe đò” đều liên quan đến hành động của vị từ
mà chủ thể tác động đến “dùng” và “đi” tức là “Ông ấy dùng cái gì?” và “ông ấy đi
xe gì?” Như vậy, “dao” và “xe đò” đều là cách công cụ [+INS]
Cho nên, “dao” và “xe đò” đều có ô kết vị là [+O, +INS]
10 [+O, +LOC] được nhận diện bởi nội động từ chỉ địa điểm
10.1 Ông ấy ở Saigon
He stays in Saigon (giống ví dụ 2.3a)
[+NM] [+O]
[+OBJ] [+LOC]
Tương tự như cách phân tích ở trên, “ông ấy”có kết vị là [+NM, +OBJ]
“Sài gòn” có kết vị là [+O, +LOC] do quan hệ cách của nó chỉ ra địa điểm của hành động “ở” cho nên “Sài gòn” là cách vị trí Hình thái cách của “Sài gòn” là [+O] do đứng sau động từ “ở”
11 [+O, +DIR] được nhận diện bởi nội động từ chỉ hướng
11.1 Ông ấy ra Saigon
He went out to Saigon (giống ví dụ 2.3c)
Trang 31[+NM] [+O]
[+OBJ] [+DIR]
11.2 Ông ấy đi Saigon
He went to Saigon (giống ví dụ 2.3c)
[+NM] [+O]
[+OBJ] [+DIR]
“Ông ấy” có kết vị là [+NM, +OBJ]
“Sài gòn” trong các ví dụ 11.1 và 11.2 có kết vị [+O, +DIR] là do đứng sau động từ “ra” và “đi” nên “Sài Gòn” có hình thái cách là [+O] Mặt khác, chúng đều chỉ ra hướng của hành động “ra” và “đi”, cho nên, “Sài Gòn” là cách phương hướng [+DIR]
12 [+O, +TIM] được nhận diện bất kỳ động từ nào, bởi vậy có thể được coi là
1 ô kết vị câu và do vậy nó không chỉ là ô kết vị tiểu cú mà có thể được định nghĩa giống như sự kết hợp của hình thái cách và quan hệ cách
12.1 Ông ấy đi hôm qua
13 [+O, +GOL] được nhận diện bởi nội động từ chỉ đích
13.1 Ông ấy tới Saigon
He arrived in Saigon (giống ví dụ 2.3d)
[+NM] [+O]
[+AGT] [+GOL]
Phân tích tương tự như vậy, “Sài Gòn” ở ví dụ 13.1 có kết vị là [+O, +LOC]
do nó chỉ ra không gain đích đến mà nêu ở vị từ
14 [+O, +EXT] được nhận diện bởi bất kỳ động từ nào trừ những động từ được đánh dấu khác
14.1 Ông ấy đi hai ngày
He went for two days
[+NM] [+O]
[+OBJ] [+EXT]
14.2 Ông ấy đi hai dặm
Trang 32He went for two miles
[+NM] [+O]
[+OBJ] [+EXT]
“Hai ngày”, “Hai dặm” đều có kết vị là [+O, +EXT] vì nó đứng sau động từ
“đi” và chỉ ra phạm vi trong khoảng không gian, thời gian mà hành động đã xảy ra
15 [+D, +DAT] được nhận diện bởi động từ tác thể ngoại động
15.1 Ông ấy bán sách cho tôi
He sold books to me
[+NM] [+O] [+D]
[+AGT] [+OBJ] [+DAT]
Như phân tích ở trên, “ông ấy” và sách” lần lượt có kết vị là [+NM, +AGT] và [+O, +OBJ]
”Tôi” có kết vị [+D, +DAT] do “tôi” đứng sau giới từ “cho” nên hình thái cách thể hiện là [+D] Mặt khác, “tôi” chịu tác động của hành động “bán” của chủ thể là “ông ấy” tức là “ông ấy bán sách cho ai” Như vậy, “tôi” là cách tặng thể
16 [+D, +BEN] được nhận diện bởi nội động từ và ngoại động từ (Cấu trúc này khá mơ hồ bởi vì [+D] có thể là [+BEN] hoặc là [+DAT]
16.1 Ông ấy mua sách cho tôi
He bought books for me
[+NM] [+O] [+D]
[+AGT] [+OBJ] [+BEN]
[+D]
[+DAT]
Cũng giống như vụ dụ 15.1, “ông ấy” có kết vị [+NM, +AGT], “sách‟ có kết
vị [+O, +OBJ] và “tôi” có kết vị [+D, +DAT]
Tuy nhiên, “tôi” còn có kết vị là [+D, +BEN] do “tôi” được hưởng lợi từ hành động “mua” của chủ thể “ông ấy” Vì vậy, “tôi” ở trường hợp này là cách lợi thể [+BEN]
16.2 Ông ấy đi cho tôi
He went for me
Trang 3317.1 Ông ấy mua sách giùm tôi
He bought books for me
[+NM] [+O] [+B]
[+AGT] [+OBJ] [+BEN]
17.2 Ông ấy đi giùm tôi
He went for me
[+NM] [+B]
[+OBJ] [+BEN]
Ở ví dụ 17.1, 17.2, “tôi” có kết vị là [+B, +BEN] do:
- đứng sau giới từ “giùm” cho nên hình thái cách thể hiện là [+B]
- nhận hưởng lợi từ hành động “mua (sách)” và “đi” của chủ thể nên quan hệ cách là cách lợi thể [+BEN]
18 [+C, +COM] được nhận diện bởi bất kỳ động từ nào trừ những động từ được đánh dấu khác
18.1 Ông ấy mua sách với tôi
He bought books with me
[+NM] [+O] [+C]
[+AGT] [+OBJ] [+COM]
18.2 Ông ấy đi với tôi
He went with me
[+NM] [+C]
[+AGT] [+COM]
Trong ví dụ 18.1, 18.2, “tôi” đều có kết vị là [+C, +COM] vì:
- Đứng sau giới từ “với” cho nên hình thái cách thể hiện của “tôi” là [+C]
- “Tôi” có liên quan và đi kèm với chủ thể “ông ấy” để thực hiện hành động
“mua” cho nên “tôi” là cách liên đới [+COM]
19 [+I, +INS] được nhận diện bởi nội động từ, ngoại động từ và một số động
từ chỉ tình trạng như “chết” (to be dead)
19.1 Ông ấy mua sách bằng tiền Việt Nam
He bought books by means of Vietnam money
[+NM] [+O] [+I]
[+AGT] [+OBJ] [+INS]
19.2 Ông ấy đi bằng xe đò
He went by bus
Trang 34Vì vậy, “tiền Việt Nam” và “xe đò” đều có kết vị là [+I, +INS]
20 [+L, +LOC] được nhận diện bởi bất kỳ động từ nào trừ những động từ được đánh dấu khác
20.1 Ông ấy mua sách ở Mỹ
He bought books in America
[+NM] [+O] [+L]
[+AGT] [+OBJ] [+LOC]
“Mỹ” có kết vị là [+L, +LOC] do nó đứng sau giới từ “ở” chỉ địa điểm và nó chỉ địa điểm mà chủ thể “ông ấy” thực hiện hành động “mua sách”
21 [+L, +SRC] được nhận diện bởi nội động từ, và có thể là [+L, +LOC] hoặc thậm chí là [+O, +LOC] nếu từ “ở” “to stay‟ trong ví dụ dưới đây được coi là động từ chính trong tiểu cú
21.1 Ông ấy ở Mỹ qua
He stay American came over (he came over from American)
Tuy nhiên, trong trường hợp này, “Ông ấy ở Mỹ qua” cũng có thể hiểu là
“Mỹ” chính là địa điểm mà hành động bắt đầu thực hiện, tức là “ông ấy” bắt đầu
“ở Mỹ qua” Vì vậy, quan hệ cách của “Mỹ” chính là cách nguồn [+SRC] Xét về
Trang 35hình thái cách thì nó đứng sau giới từ “ở” nên hình thái cách là [+L] Vì vậy, “Mỹ” cũng có kết vị là [+L, +SRC]
22 [+Di, +DIR] được nhận diện bởi nội động từ và ngoại động từ
22.1 Ông ấy đem sách lên Saigon
He bought books up to Saigon
[+NM] [+O] [+Di]
[+AGT] [+OBJ] [+DIR]
22.2 Ông ấy đi lên Saigon
He went up to Saigon
[+NM] [+Di]
[+OBJ] [+DIR]
„Sài Gòn” trong ví dụ 22.1 và 22.2, có kết vị [+Di, +DIR] do:
- Nó đứng đằng sau giới từ “lên” nên hình thái cách thể hiện là [+Di]
- Nó chỉ ra hướng hành động “đem sách lên” và “đi lên” nên “Sài Gòn” là cách phương hướng [+DIR]
23 [+Sr, +SRC] được nhận diện bởi tất cả các động từ nếu nó có nghĩa là nguồn chỉ thời gian và hết hết các động từ trừ những động từ được đánh dấu khác nếu nó
có nghĩa là nguồn chỉ nơi chốn
23.1 Ông ấy đi từ Mỹ
He went from American
[+NM] [+Sr]
[+OBJ] [+SRC]
23.2 Ông ấy đi từ hôm qua
He went since yesterday
[+NM] [+Sr]
[+OBJ] [+SRC]
“Mỹ” và “hôm qua” có kết vị là [+Sr, +SRC] vì:
- Chúng đứng sau giới từ “từ” nên hình thái cách của chúng là [+Sr]
- Chúng chỉ ra nguồn địa điểm mà hành động “đi” bắt đầu thực hiện từ địa điểm
“Mỹ” và thời gian “hôm qua” Cho nên, quan hệ cách của chúng là cách nguồn [+SRC]
24 [+Gl, +GOL] được nhận diện bởi tất cả động từ nếu nó có nghĩa là đích chỉ thời gian và nó được nhận diện bởi hầu hết động từ trừ những động từ được đánh dấu khác nếu nó có nghĩa là đích chỉ nơi chốn
24.1 Ông ấy đi tới hai giờ
Trang 36He went till two o‟clock
[+NM] [+Gl]
[+OBJ] [+GOL]
24.2 Ông ấy đi tới Saigon
He went to (and arived at) Saigon
[+NM] [+Gl]
[+OBJ] [+GOL]
Ở hai ví dụ 24.1, 24.2, “hai giờ” và “Sài gòn” đều có kết vị [+Gl, +GOL]:
- Do chúng đều đứng sau giới từ “từ” nên hình thái cách của chúng là [+Gl]
- Chúng đều chỉ không gian chỉ đích và thời gian theo hướng mà hành động đã xảy
ra nên chúng là cách đích [+GOL]
25 [+Ex, +EXT] được nhận diện bởi tất cả động từ nếu nó có nghĩa chỉ phạm vi thời gian, và nó chỉ được nhận diện bởi hầu hết động từ trừ những động từ khác được đánh dấu khi nó có nghĩa chỉ phạm vi nơi chốn
25.1 Ông ấy đi được hai giờ
He went for two hours
[+NM] [+Ex]
[+OBJ] [+EXT]
25.2 Ông ấy đi được hai dặm
He went for two miles
2.1.1 Cách như một kết vị trong tiếng Việt
Từ những nghiên cứu về quan hệ cách và hình thái cách trên, trong tiếng Việt có hai cách giống kết vị: phương thức và mục đích Cách phương thức chứa cụm tính từ hoặc cụm danh từ và cách mục đích chứa cả cụm giới từ hoặc cụm động từ
Trang 37[+OBJ] [+MANNER]
Ông ấy đi một cách chậm- chạp
He go one manner slow
(he went in a slow manner)
[+NM] [+Phương thức]
[+OBJ] [+MANNER]
Ví dụ về Mục đích:
Ông ấy đi để mua báo
He go in order to buy newsspapers
(he went in order to buy newspapers.)
Trang 38ràng trong hệ thống thứ bậc ngôn ngữ cao hơn so với chính bản thân tiểu cú Dưới đây là dẫn chứng cụ thể về câu trả lời trong câu hỏi có hay không thì không cần có
nó [+NM, +OBJ] bởi vì nó được hiểu khá rõ ràng:
Ông đi không?
You go no? (Are you going?)
[+NM]
[+OBJ]
Đi
Go (Yes, I am going)
2.2 Hệ thống hình thái cách và quan hệ cách
Trong việc học và dạy ngôn ngữ nước ngoài cần phải lưu ý 2 khía cạnh: sản sinh và thừa nhận Ở cấp độ sản sinh, người học ngôn ngữ nước ngoài cần sử dụng đúng hình thái cách để chuyển sang quan hệ cách trong ngôn ngữ đích Giả định ở đây quan hệ cách khá phổ biến, trong khi hình thái cách là ngôn ngữ cụ thể
Hệ thống quan hệ cách và hình thái cách trong tiếng Việt giống như là ngôn ngữ đích và tiếng Anh là ngôn ngữ nguồn (ngôn ngữ mẹ đẻ) của người học, sau đó phải trình bày như thế nào với các quan hệ cách và hình thái cách khác nhau được phân loại trong hai ngôn ngữ cụ thể
2.2.1 Hệ thống quan hệ cách
Quan hệ cách phổ biến có thể được nhận ra trong sự giống hoặc khác nhau
về hình thái cách trong ngôn ngữ đích và nguồn Trong việc dạy và học thì chúng đều xảy ra nhiều vấn đề phát sinh Nguyễn Đăng Liêm đã chỉ ra cách nhận diện hệ thống quan hệ cách trong tiếng Việt và sau đó so sánh nó hoặc giữa chúng với hình thái cách trong tiếng Anh Lĩnh hội từ công trình nghiên cứu của Nguyễn Đăng Liêm, chúng tôi đưa ra danh sách 12 quan hệ cách trong tiếng Việt:
He was beaten by them
Trang 39[+NM] [+A ]
[+AGT] [+AGT]
Ông ấy bị họ đánh
He suffer they beat
(He was beaten by them.)
Ông ấy được họ thưởng
He receive they award,
(He was awarded by them )
Nhà này được xây – cất năm ngoái
House this receive build year last
(This house was built last year.)
[+NM]
Trang 40Sách này được viết bởi ông Hai
Book this receive write by Mr Hai
(This book was written by Mr Hai)
[+NM] [+A]
[+DAT] [+AGT]
Sách này do ông Hai viết
Book this by Mr Hai write
(This book was written by Mr Hai.)
2.2.1.2.+OBJ, Đối thể (Objective)
Quan hệ cách đối tượng được thực hiện bằng ô danh cách trong cấu trúc chỉ tình thái hoặc cấu trúc nội động và bằng ô cách đối tượng trong cấu trúc ngoại động: