1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

âm vị học thực hành và âm vị học tiếng việt

193 1,5K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Âm thanh tiếng nói của con người là đối tượng nghiên cứu của 2 ngành nghiên cứu khác nhau: ngữ âm học và âm vị học. Hoạt động NN có một mặt cá nhân và một mặt xã hội, và không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được (…). Tất nhiên, hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau: NN là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói lại cần thiết để cho NN được xác lập; về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước (...). Cuối cùng, chính lời nói làm cho NN biến hoá.” (F. de Saussure, 1916).

Trang 1

ÂM VỊ HỌC

(PHONOLOGY)

PGS.TS Lê Khắc Cường Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TPHCM

Trang 2

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Âm thanh tiếng nói của con người là đối

tượng nghiên cứu của 2 ngành nghiên cứu khác nhau: ngữ âm học và âm vị học

file://localhost/LECTURES/PHONOLOGY/cha

rt 1.doc

Trang 3

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học

có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa NN và lời nói

Trang 4

1 Ngữ âm học và âm vị học

“Hoạt động NN có một mặt cá nhân và một mặt

xã hội, và không thể quan niệm mặt này mà

thiếu mặt kia được (…) Tất nhiên, hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau: NN là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói lại cần thiết để cho NN được xác lập; về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước ( ) Cuối cùng, chính lời nói làm cho NN biến hoá.” (F de Saussure,

Trang 5

file://localhost/LECTURES/PHONOL

OGY/gioi thieu GTNNHDC Saussure doc

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 6

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và

ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học

Trang 7

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Ngành khoa học nghiên cứu những đặc trưng

âm thanh từ góc độ vật lý (hoặc âm học)

hay sinh lý (cấu âm) là ngữ âm học

(phonetics)

 Ngành khoa học nghiên cứu những ước định,

giá trị mà cộng đồng gán cho các đặc trưng

âm thanh là âm vị học (phonology

phonemics)

Trang 8

1 Ngữ âm học và âm vị học

Peter Ladefoged, Hội thảo Từ âm thanh đến

ý nghĩa: hành trình hơn 50 năm khám phá

sự giao tiếp bằng lời, Viện Công nghệ

Massachusetts, 11-13 tháng 6 năm 2004

đã có những suy nghĩ thú vị về mối quan hệ giữa ngữ âm học và âm vị học:

 “ngữ âm học là phần chung thủy của cuộc hôn

nhân, trong khi âm vị học lăng nhăng chung

chạ trong cuộc thử nghiệm của nó với những

Trang 9

 Bất kể lĩnh vực khoa học này được gọi là

“phonemics” hay “phonology” thì cũng đều

có ba tuyến phân biệt như sau này được

trình bày trong nghiên cứu về âm vị học

hiện đại (Goldsmith, 1995)

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 10

 (1) Làm thế nào biểu diễn được những sự

đối lập từ vựng giữa các từ; (2) Cái gì là

giới hạn của các âm trong các đơn vị từ

vựng của một ngôn ngữ nhất định (hoặc cái

Trang 11

 Jakobson, Fant và Halle (1952) đã chủ yếu

quan tâm đến chủ đề thứ nhất Họ trình

bày những tương quan của tập hợp đặc

trưng tối thiểu cần để phân biệt các đối lập

từ vựng được tìm thấy trong các ngôn ngữ trên thế giới Theo họ, “các đặc trưng khu biệt vốn có mà chúng ta phát hiện ra trong các ngôn ngữ trên thế giới, cái nằm bên

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 12

 1) tính nguyên âm/tính không nguyên âm,

2) tính phụ âm/tính không phụ âm, 3) tính

bị ngắt quãng/tính liên tục, 4) tính bị cản/ tính không bị cản, 5) tính chói tai/tính êm dịu, 6) tính hữu thanh/tính vô thanh, 7)

tính đặc/tính khuếch tán, 8) tính trầm/ tính bổng, 9) tính giáng/bình thường, 10) tính thăng/bình thường, 11) tính căng/tính

chùng, 12) tính mũi/tính miệng” (Jakobson

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 13

bình diện khác nhau:

Trang 14

1 Ngữ âm học và âm vị học

Từ bình diện sinh lí cấu âm >

Ngữ âm học cấu âm (articulatory

phonetics)

Trang 15

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Từ bình diện thực thể âm thanh >

Ngữ âm học âm học (acoustic phonetics)

Trang 16

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Từ bình diện thẩm nhận âm thanh >

Ngữ âm học thính âm (audiotory phonetics)

Trang 17

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Ngược lại, âm vị học xem NN là một hiện

tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng

âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là dựa theo chức năng của âm thanh đó đối với giao tiếp xã hội

 Có rất nhiều đặc điểm âm thanh không được

sử dụng trong quan điểm âm vị học, nghĩa là

nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là thừa, không mang tính âm vị học

Trang 18

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ

chế tạo sinh và sự phân loại có tính hình

thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ

âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm

 Lí tưởng/hiện thực (tiềm năng/đã được sử

dụng): Những phác hoạ về mặt lí thuyết, tuân theo luật logic và cân đối hình thức, thường không được thực tế đáp lại (số

Trang 19

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của

sự tồn tại Xu hướng của con người là tìm

đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh được đánh dấu một cách quá phức tạp, khó phát âm, khó cảm thụ, khó nhớ

 Quan điểm của âm vị học: ngôn ngữ là của

con người, ngôn ngữ phải phục vụ con

người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị

Trang 20

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Nhiều ngôn ngữ trải qua quá trình tiếp xúc

với ngôn ngữ/những ngôn ngữ khác nhau Những va chạm ấy làm cho tính cân đối của

hệ thống âm thanh bị biến dạng

Trang 21

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô

thanh-hữu thanh trong tiếng Việt đã từng tồn tại trước thế kỉ XVII

p t c k

b d j gNhưng do áp lực từ những tiếp xúc với tiếng Hán mà âm /p/ đã bị mất

Trang 22

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Sự đối lập giữa loạt phụ âm tắc vô thanh

bật hơi và không bật hơi cũng đã từng tồn tại trong tiếng Việt:

p’ t’ c’ k’

p t c knhưng nay sự đối lập này hầu như không còn khi /p’/>/f/, có thể là do tiếp xúc với tiếng Pháp; ngoài ra c’>c (hay /s/?), /k’/>/

/ trong quá trình phát triển lịch sử của

tiếng Việt

Trang 23

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /--/ và

/-w/, /--/ và /-w/ để tạo nên các vần /w/

và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngữ Tày-Thái ở phía Bắc là những ngôn

ngữ mà âm // có tần số xuất hiện rất thấp nên trong phương ngữ Bắc bộ:

/w/>/iw/,

/w/> /iew/

Trang 24

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Phương ngữ Trung do không tiếp xúc trực

tiếp với tiếng Tày-Nùng nhất là trong thời kì hiện đại, nên phong vị cổ của 2 vần này

vẫn còn được giữ lại khá rõ

Trang 25

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người

với âm thanh của các loài vật khác, người

ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các

cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của

các cơ quan thính giác và thần kinh> mô tả theo ngữ âm học

Trang 26

 Ngữ âm học chia các loại âm thanh thành

các phạm trù ngữ âm khác nhau: nguyên

âm, phụ âm, tắc, xát…

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 27

 Âm vị học nghiên cứu xem trong một ngôn

ngữ có bao nhiêu đơn vị âm thanh là có chức

năng khu biệt nghĩa Hoặc, trong ngôn ngữ, những nét ngữ âm nào trở thành những nét

khu biệt và có ý nghĩa Ngữ âm học có số

đơn vị vô hạn là các âm tố (sounds) Âm vị học, có số đơn vị hữu hạn là các âm vị

(phonemes)

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 28

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì

đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh

con người, phân biệt với các loài khác Đó là

quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm

thanh con người Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại Ngay từ thế kỉ XIX,

các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình

một hội nghề nghiệp mang tên: Hội ngữ âm học quốc tế (IPA)

Trang 29

 Âm vị học không mang tính nhân loại, âm

vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm

thanh của một cộng đồng xác định

1 Ngữ âm học và âm vị học

Trang 30

1 Ngữ âm học và âm vị học

 Tóm lại: Có hai ngành nghiên cứu về âm

thanh tiếng nói con người Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con

người nói chung cho nên mang tính phổ

niệm, tính khái quát; một bên nghiên cứu

về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể

nên nó mang tính đặc thù

Trang 31

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

 Âm tố (sound) là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất,

không thể phân chia được nữa

 “Âm tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời

nói, có thể tách ra về mặt cấu âm–thính

giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường ứng với một âm vị”

(Đoàn Thiện Thuật, 1980).

 “Âm tố là đơn vị nhỏ nhất không thể phân

nhỏ hơn ra được nữa của ngữ âm” (Nguyễn

Trang 32

 Ngữ âm học hình dung ngữ lưu như một dãy

âm tố đoạn tính nối tiếp nhau thành một

tuyến trong thời gian

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 33

 Những thuộc tính đặc trưng của mỗi âm tố

như vậy được thể hiện trong các giai đoạn

tĩnh tại gọi là giai đoạn giữ (tenure);

 Trong mỗi âm tố còn có những giai đoạn

chuyển tiếp ngắn do những cử động mà các khí quan phát âm không thể không thực

hiện để chuyển từ tư thế này sang tư thế

kia khi hai âm tố kế tiếp nhau;

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 34

 Các giai đoạn tĩnh tại cho ta những âm tố

chính danh gọi là âm tố chính vị (speech

sounds proper)

 Khi phát âm, mục đích của người nói là

phát ra những âm chính vị Về lí tưởng, sau khi cấu âm âm chính vị, người nói tạm

ngừng việc cấu âm trong một khoảng thời

gian vừa đủ để cho các cơ quan phát âm

chiếm lĩnh một vị trí mới rồi mới phát âm

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 35

 Tuy nhiên do định luật tiết kiệm năng

lượng, việc phát âm vẫn tiếp diễn trong khi việc thực hiện các động tác không cố ý đó,

do đó vô tình phát ra những âm kí sinh, gọi

là âm trượt (glides);

 Khi nghiên cứu, cần bỏ những âm kí sinh đó

đi để phục hồi sự kế tiếp lí tưởng của những giai đoạn chuyển tiếp ở nơi giáp ranh giữa

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 36

 Ngữ âm học truyền thống cho rằng có thể

phân khúc ngữ lưu thành những đoạn có

ranh giới rõ ràng, trong đó phần giữa của

phân khúc (phần tĩnh, ổn định) là phần tiêu biểu của âm tố, và mọi âm tố bắt đầu đúng điểm kết thúc của âm tố đi trước

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 37

 Thực nghiệm cho thấy quan niệm này có

chỗ không thật đúng: những khúc băng từ

cắt khúc đúng vào những đoạn không cho

ta âm thanh tương ứng với âm tố mà ta đã tưởng; chẳng hạn cắt [o] trong [mon] ra

thì không nghe là [o] mà nghe như là [pot]!

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 38

 Thực nghiệm cũng cho ta thấy những âm ‘kí

sinh’mang nhiều thông tin hơn hẳn giai

đoạn tĩnh của các âm tố;

 Tóm lại, ngữ lưu là sự chuyển động liên tục

chứ không phải là một loạt những giai đoạn tĩnh tại được nối với nhau bằng những đoạn chuyển tiếp (kí sinh)

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 39

 Mọi hoạt động cấu âm đều được thực hiện

đồng thời, trừ những nguyên nhân sinh lí bất khả tiến hành đồng thời Chẳng hạn, để phát

âm âm tiết mlu: i) chúm hai môi, nâng gốc

lưỡi lên gần mạc để phát âm [u]; ii) nâng đầu lưỡi lên chạm với chân răng cửa để phát âm

âm [l]; iii) khép hai môi lại để cấu âm [m];

iv) dây thanh rung

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 40

sơ đồ bố trí các yếu tố của âm tiết theo thời

Trang 41

 Hiện tượng đồng cấu âm (coarticulation)

làm cho những đặc trưng tiêu biểu của mỗi

âm tố được phân bố trong nhiều âm đoạn

kế tiếp nhau, khiến mỗi âm đoạn thường

chứa những đặc trưng của hai, ba âm tố >

âm đoạn nguyên âm chứa đựng cả những

âm đoạn đi trước và cả sau nó

 Nếu phụ âm đi sau nguyên âm là một phụ

âm tăc, không có giai đoạn kết thúc rời

khỏi vị trí cấu âm (buông) thì âm đoạn

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 42

 Tính kế tiếp và tính đồng thời của các yếu

tố lớn nhỏ trong âm tiết được thể hiện

không rõ ràng Có thể tri giác những âm tố được thể hiện như sau (theo Cao Xuân Hạo, 1985):

Trang 43

 > Sự chồng lấn giữa các âm tố, âm đoạn

 > Con người có xu hướng tri giác tổng thể,

mà cái tổng thể ấy chính là âm tiết Cách

tri giác âm tiết như một đơn vị không có

kích thước thời gian tự nhiên hơn là cách tri giác nó như một loạt âm đoạn kế tiếp nhau

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 44

 Tuy nhiên, cần suy nghĩ hiện tượng sau:

 Toa: [t] > [t o ] vì /w/ phân bổ ngay sau [t];

nhưng:

 Tao: [t] không > [t o ] dù trong âm tiết vẫn có

âm tố tròn môi => [t] chỉ bị ảnh hưởng bởi chính âm tố đi ngay sau nó Ngoài ra: âm tố đi trước có thể ảnh hưởng đến âm tố đi sau,

nhưng ảnh hưởng theo chiều ngược lại thì không > Điều này cho thấy vẫn có phân đoạn.

2 NAH đoạn tính/không đoạn tính

Trang 45

3 Khái niệm âm vị học

1 Nguyên âm – phụ âm

 Dựa theo cách thoát ra của luồng thở phát

âm, các âm tố thường được phân ra làm hai loại chính: nguyên âm (vowel) và   phụ âm

(consonant)

 Sự phân biệt nguyên âm - phụ âm là hiện

tượng có tính phổ quát trong tất cả các

ngôn ngữ

Trang 46

3 Khái niệm âm vị học

 Đặc điểm âm học - cấu âm của nguyên âm:

- Luồng hơi ra tự do, không bị cản trở >

không có vị trí cấu âm

- Bộ máy phát âm căng thẳng toàn bộ

- Luồng hơi ra yếu

- Dao động tuần hoàn, có phổ

Trang 48

3 Khái niệm âm vị học

 Đặc điểm âm học - cấu âm của phụ âm:

- Luồng hơi bị cản trở hoàn toàn hoặc một phần, điểm cản trở gọi là vị trí cấu âm

- Cơ bộ máy phát âm không căng thẳng

toàn bộ mà chỉ căng thẳng ở vị trí cấu âm

- Luồng hơi ra mạnh

- Dao động không tuần hoàn, hầu như

không có phổ hoặc phổ không rõ

Trang 49

3 Khái niệm âm vị học

 Chức năng :

- Nguyên âm: Làm hạt nhân hay đỉnh âm tiết

- Phụ âm: thường là yếu tố đi kèm, không tạo

thành âm tiết (trừ các phụ âm vang)

- Những âm tố có đặc tính giống nguyên âm

nhưng chỉ có chức năng đi kèm, không làm đỉnh âm tiết được gọi là bán nguyên âm

(semi-vowel)

Trang 50

3 Khái niệm âm vị học

 Âm tiết ‘tao”

a (đỉnh)

t w

Trang 51

3 Khái niệm âm vị học

Phụ âm

Quan hệ tiếng thanh/tiếng ồn

Phương th ứ c cấu âm

Vị trí cấu âm

Trang 52

3 Khái niệm âm vị học

Quan hệ tiếng thanh/tiếng ồn

Trang 53

3 Khái niệm âm vị học

Phương thức

Trang 54

3 Khái niệm âm vị học

 Tắc (occlusive consonant):

Khi phát âm, lưỡi con nâng lên bịt đường

lên mũi, luồng hơi bị cản trở hoàn toàn bởi những cơ quan ở miệng Muốn thoát ra,

phải phá vỡ sự cản trở, tạo nên tiếng nổ:

[p, t, b, d, k, g …]: [g]: (tắc)- God (Anh),

год (Nga) ≠ [ ]: (xát)- gà, gối (Việt)

Trang 55

3 Khái niệm âm vị học

 Tắc xát (affricative consonant):

Bắt đầu một yếu tố tắc, tiếp đó là một yếu

tố xát: [tS] (chalk – Anh; [dz] (judge -

dd - Anh), …

Trang 56

3 Khái niệm âm vị học

 Mũi (nasal consonant):

Nhóm riêng của âm tắc: lưỡi con hạ, không khí không ra qua miệng mà qua mũi Phần lớn âm mũi là âm vang: [m, n, nh, ng]

Trang 57

3 Khái niệm âm vị học

 Tắc tiền mũi hoá (pre-nasalized

consonant): mb, nd > phụ âm âm tiết tính: mbô, ndrong– các NN Nam Bahnar, các NN châu Phi

 Lưu ý hiện tượng đồng cấu âm giữa hai phụ

âm: /mb, nd, c, k,…/

Trang 58

3 Khái niệm âm vị học

Trang 59

3 Khái niệm âm vị học

 Nửa xát (approximant consonant):

Luồng không khí thoát ra qua một lối thoát lớn, tiếng cọ xát vào thành bộ máy phát âm không đáng kể: vàng [ja]- Nam bộ; [l]: lu (Việt), [] red – Anh; [j]: yes (Anh);…

Trang 60

3 Khái niệm âm vị học

 Bên (lateral consonant):

Một kiểu của âm nửa xát: [l] (Việt): luồng hơi thoát ra ở hai bên cạnh lưỡi

Trang 61

3 Khái niệm âm vị học

 Rung (trill consonant):

Không khí bị chặn lại, vượt qua, lại bị chặn,

cứ như thế liên tiếp: /r/ tiếng Nga, nhiều ngôn ngữ dân tộc ít người ở VN là âm

rung Có thể rung môi - môi: [B], đầu lưỡi – răng [r], lưỡi con [R], [Я]];…

Trang 62

3 Khái niệm âm vị học

 Vỗ (tap, flap consonant):

Trang 63

Vị trí

Môi Răng Lợi Ngạc Mạc Lưỡi

con

Yết hầu

Thanh hầu

3 Khái niệm âm vị học

Trang 65

3 Khái niệm âm vị học

 Vị trí của lưỡi: nguyên âm dòng trước, giữa,

Trang 68

3 Khái niệm âm vị học

2 Nét khu biệt (distinctive feature) còn gọi là

thoả đáng âm vị học, nét cần yếu âm vị học

(relevant features): là đặc trưng ngữ âm có

chức năng xã hội

> ví dụ về 3 âm tiết ‘tô, thô, ta’:

- đặc trưng bật hơi có chức năng xã hội, giúp khu biệt sự mở đầu của‘tô – thô’ > nét khu biệt

- đặc trưng tròn môi không có chức năng xã

hội, không giúp khu biệt sự mở đầu giữa ‘tô – ta’ > nét không khu biệt

Ngày đăng: 22/08/2017, 17:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí các yếu tố của âm tiết theo thời - âm vị học thực hành và âm vị học tiếng việt
Sơ đồ b ố trí các yếu tố của âm tiết theo thời (Trang 40)
Hình ảnh chủ quan của con người về thế giới - âm vị học thực hành và âm vị học tiếng việt
nh ảnh chủ quan của con người về thế giới (Trang 176)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w