1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bình Định

93 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 682,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thi hành án nói chung và trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự nói riêng, ở nước ta trong những năm qua, bên c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VŨ THƯ

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học và Luận văn Thạc sỹ của mình, trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các khoa, phòng, thầy cô giáo Học viện Khoa học Xã hội đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sỹ

Em xin trân trọng cám ơn PGS TS Vũ Thư - Thầy hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn

Thạc sỹ Luật học “Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản

để thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là hoàn toàn trung thực và

không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Vũ Thư

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Tài

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ

LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự 7 1.2 Các yếu tố cấu thành xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự 15 1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN

SỰ TỈNH BÌNH ĐỊNH 37

2.1 Các đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự tại tỉnh Bình Định 37 2.2 Quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự 42 2.3 Thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoat động kê biên tài sản để thi hành án dân sự tại tỉnh Bình Định 45

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 64

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động

kê biên tài sản để thi hành án dân sự 64 3.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự 66

Trang 6

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự 68

KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CHV Chấp hành viên

QLHCNN Quản lý hành chính nhà nước QLNN Quản lý Nhà nước

TA Tòa án

TAND Tòa án nhân dân

THADS Thi hành án dân sự

UBND Ủy ban nhân dân

VKSND Viện kiểm sát nhân dân XLVPHC Xử lý vi phạm hành chính XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng số vụ việc bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án từ năm 2015 – 2017 40 Bảng 2.2 Số vụ việc vi phạm và số đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính từ năm 2015 đến 2017 49 Bảng 2.3 Kết quả thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính từ năm

2015 đến năm 2017 50 Bảng 2.4 Tổng số Quyết định XPVPHC và số tiền xử phạt từ năm 2015 đến 2017 59

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực sự của dân, do dân, vì dân; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó vai trò của pháp luật trực tiếp thể hiện ý chí của Nhà nước, kết tinh quyền lực của nhân dân; pháp luật phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện Vì vậy, yêu cầu hàng đầu là phải coi trọng pháp luật và pháp chế trong quản lý xã hội, QLNN, pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh

Hiến pháp năm 2013, tại Điều 106 khẳng định: “Bản án, quyết định của

Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [37] Đây chính là thể hiện của đòi hỏi thượng tôn pháp luật, bảo đảm pháp

chế trong Nhà nước pháp quyền XHCN Hoạt động THADS có một ý nghĩa quan trọng thực hiện quy định Hiến pháp và trực tiếp góp phần giữ vững kỷ cương phép nước, bản án, quyết định của TA và các quyết định của cơ quan tài phán khác được thi hành nghiêm chỉnh chính là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống

Thực trạng công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thi hành

án nói chung và trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự nói riêng, ở nước ta trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số tồn tại như: Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động THADS, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi áp dụng các quy định của pháp luật để xử phạt Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận những người phải thi hành án và người

Trang 10

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động THADS, nhất là trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự còn chưa cao; tại nhiều địa phương, đã để xảy ra tình trạng chống đối cơ quan thi hành án dân sự bằng nhiều hình thức như tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án, thậm chí là phá huỷ niêm phong, huỷ hoại tài sản đã kê biên Thực tế đó đã chứng tỏ vi phạm hành chính trong lĩnh vực này hàng năm không những chưa giảm mà còn có xu hướng ngày càng nhiều hơn và phức tạp hơn

Mặt khác, thực tế cho thấy, các qui định về XPVPHC trong hoạt động

kê biên tài sản để thi hành án dân sự thời gian qua vẫn chưa phát huy hiệu quả, việc phòng ngừa, xử lý vi phạm vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều hành vi vi phạm trong THADS diễn ra phổ biến nhưng chưa được xử lý kịp thời Người

có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của cơ quan THADS còn “ngại” việc xử phạt vi phạm hành chính, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc xử phạt Thống kê cho thấy một số địa phương trong nhiều năm không thực hiện việc XPVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự; Chấp hành viên và các cơ quan THADS không thực hiện việc XPVPHC hoặc né tránh XPVPHC do ngại phải tổ chức thi hành quyết định XPVPHC Nhiều hành vi vi phạm xảy ra thường xuyên nhưng rất ít khi bị xử lý hành chính, điển hình như những hành vi: Đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai nhưng không đến địa điểm mà không có lý do chính đáng, không cung cấp thông tin, không thực hiện quyết định khấu trừ thu nhập của người có thẩm quyền… Ngoài ra còn có quan điểm còn cho rằng nếu ra quyết định XPVPHC thì việc xử phạt không có tính khả thi, số tiền phải thi hành tăng dẫn đến người phải thi hành án sẽ tiếp tục chống đối, cản trở việc thi hành án, không thực hiện quyết định XPVPHC, trong khi việc tổ chức cưỡng chế để thi hành quyết định XPVPHC không hề dễ dàng …

Để góp phần giải pháp những đòi hỏi của thực tiễn công tác XLVPHC

Trang 11

trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự trên toàn quốc nói chung

và tại tỉnh Bình Định nói riêng đạt hiệu quả cao, phù hợp với tình hình thực tế

như hiện nay; tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài "Xử lý vi phạm hành chính

trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bình Định" làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành luật hành chính

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Những năm gần đây, trước những đòi hỏi khách quan của công tác THADS, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể là:

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi

hành án", mã số 96-98- 027/ĐT (Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì

thực hiện 1996);

- Đề tài cấp Nhà nước đang thực hiện: "Luận cứ khoa học của việc đổi

mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới", (Bộ Tư

pháp chủ trì, 2000);

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Kim Chiếm "Quản lý nhà

nước về thi hành án dân sự" (Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 1997);

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Công Long về "Các

biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện", (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2000);

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi

hành án dân sự ở Việt Nam", (Trường Đại học Luật Hà Nội 2002);

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới

tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam"(2003);

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục

thi hành án dân sự ở Việt Nam" (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004);

- Luận văn tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thanh Thủy về "Hoàn

thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" (Học viện Chính trị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008);

Trang 12

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Đậu Thị Thủy "Quản lý nhà nước

về thi hành án dân sự qua thực tế ở Thanh Hóa", (Viện Nhà nước và Pháp luật,

2008);

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thế Ánh về "Thực hiện

pháp luật về thi hành án dân sự qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên” (Học viện khoa

Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự, Giáo trình chuyên ngành Luật Hành chính của trường Đại học Luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; Sổ tay Nghiệp vụ THADS của Tổng Cục THADS

và một số bài viết đăng trên các Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…

Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về THADS ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu về XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, luận văn này tập trung nghiên cứu vấn đề đó qua thực tiễn ở tỉnh Bình Định để đề xuất các biện pháp thực hiện có hiệu quả hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận xung quanh hiện tượng pháp lý

XLVPHC

- Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành về XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự và đánh giá đầy đủ, toàn diện kết quả hoạt động XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

và tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản trên địa bàn

tỉnh Bình Định, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh hoạt động XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiêm cứu của luận văn: Chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích các số liệu từ các vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm

2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật; về QLNN và cưỡng chế nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội; về đấu tranh với vi phạm hành chính

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn: Phương pháp luật học so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp thống

hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần hoàn thiện cơ chế thực hiện và bảo vệ pháp luật, giáo dục pháp luật theo chủ trương, đường lối của Đảng Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu xây dựng pháp luật XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay; đồng thời, bổ sung những tài liệu cần thiết cho cán bộ, sinh viên trong công tác, học tập và nghiên cứu khoa học; Luận văn có thể là tài liệu tham khảo của các cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có

cơ cấu như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án

Chương 2 Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê

biên tài sản để thi hành án dân sự tỉnh Bình Định

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN

1.1.1.1 Khái niệm về thi hành án dân sự

Để làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong

hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, trước hết cần làm rõ khái

niệm THA và THADS Theo từ điển Luật học thì THA là "giai đoạn kết thúc

trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của toà án nhất định có hiệu lực pháp luật" [51, tr.464]

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh, THA là một giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp Bởi lẽ hoạt động THA có tính chất chính trị, pháp lý, xã hội của nó Về bản chất, hoạt động THA được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu như: xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình THA; tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan THA; đặc thù trong các quan hệ về thủ tục THA (đây là một vấn đề có thể dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng) Quan hệ thủ tục THA có thể bao gồm cả quan hệ tố tụng

và quan hệ khác mang tính hành chính - tư pháp, nhưng các quan hệ mang tính hành chính tư pháp chủ yếu hơn THA là hoạt động của cơ quan nhà nước Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực, một số công việc, Nhà nước có thể xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện xã hội hóa hoạt động này Đây là điểm khác so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực Tư

pháp, không thể xã hội hóa [49, tr.10,11]

Trang 16

Như vậy, THA có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của TA trên thực tế Bản án, quyết định của TA được hiểu là là văn bản pháp lý của

TA nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ

án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Việc thực hiện bản án, quyết định của TA có hiệu quả, một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là TA, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức

và công dân bị xâm hại

Từ sự phân tích ở trên, có thể THADS là hoạt động hành chính - Tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của TA hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Đối với lĩnh vực THADS, có thể hiểu THADS là thực hiện các bản án, quyết định dân sự của TA hoặc các quyết định khác do pháp luật quy định, trên thực tế Về nguyên tắc, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của

TA được những người, đơn vị liên quan, còn gọi là những người được THA

và người phải THA tự nguyện thi hành Trường hợp các đương sự không tự nguyện, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật sẽ được cơ quan THADS thi hành theo quy định của pháp luật THADS

Các bản án, quyết định được cơ quan THADS đưa ra thi hành đó là Bản

án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản

án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của

TA và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải THA của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Quyết định của Trọng tài thương mại Ngoài ra, pháp luật về THADS còn quy định các bản án, quyết

Trang 17

định được cơ quan THADS đưa ra thi hành, bao gồm các bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật và một số bản án, quyết định của TA tuy chưa có

hiệu lực pháp luật (có thể vẫn bị kháng cáo hoặc kháng nghị) nhưng vẫn được

đưa ra thi hành để bảo vệ quyền lợi cấp thiết của người được THA đó là, bản

án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc và quyết định khẩn cấp tạm thời của TA

Có thể nói THADS là giai đoạn độc lập, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bao gồm tổng hợp các hành vi pháp lý nhằm thi hành các bản án, quyết định của TA, các quyết định của cơ quan khác do Nhà nước quy định và có những nét đặc trưng riêng xuất phát từ việc các bản án, quyết định được đưa ra thi hành tuy rất đa dạng, nhưng chủ yếu là những quyết định mang tính tài sản đặc trưng của quan hệ dân sự, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự

Tóm lại, từ sự phân tích ở trên, “THADS là hoạt động mang tính hành chính- Tư pháp do cơ quan THA, CHV tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định dân sự của TA hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN”

1.1.1.2 Khái niệm kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Quá trình tổ chức thi

Trang 18

hành án, Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự sử dụng nhiều biện pháp theo quy định của pháp luật, trong đó có các biện pháp cưỡng chế nói chung

và biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án nói riêng, nhằm mục đích đảm bảo cho việc thi hành án, mang lại quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan

Cưỡng chế thi hành án là một biện pháp thi hành án thể hiện rõ nhất bản chất của việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình mà cụ thể là thông qua hoạt động của Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự để tác động đến người phải thi hành án để đảm bảo hiệu lực trên thực tế của các Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Từ những nội dung phân tích trên, có thể khái niệm: Kê biên tài sản để thi hành án dân sự là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự,

là cơ chế thi hành án do pháp luật quy định, theo đó Chấp hành viên của Cơ quan Thi hành án dân sự sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc bên phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên hoặc các quyết định của cơ quan tài phán khác

1.1.1.3 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy định của Pháp lệnh Xử lý

vi phạm hành chính năm 1989, sửa đổi, bổ sung 1995 và các văn bản pháp luật có liên quan mới chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định hướng cho việc XPVPHC Thời điểm đó, chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để tiến hành xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp nói chung, trong hoạt động THADS nói riêng

Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực thi hành 01/7/2013; Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-

CP Đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý chi tiết, cụ thể nhất và trực tiếp nhất

Trang 19

hiện nay cho việc tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động THADS

XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án có nhiều hoạt động vi phạm hành chính khác nhau như: Hành vi đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai của người có thẩm quyền thi hành án nhưng không đến địa điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng; hành vi không cung cấp thông tin, không giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền thi hành án mà không có lý

do chính đáng; trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án; không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhân dân; cung cấp chứng cứ giả cho cơ quan Thi hành án dân sự; làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản; phá hủy niêm phong tài sản đã kê biên…

XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự bao quát lĩnh vực rộng, nhưng thực chất chỉ là được dùng để chỉ việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án Từ đó, có thể quan niệm:

Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về XPVPHC XPVPHC Trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, là một trong những chế định quan trọng của pháp luật nhằm đấu tranh phòng và chống các vi phạm hành chính, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, góp phần đưa các bản án, quyết định

có hiệu lực của Toàn án được thực thi trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức

1.1.2 Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự có các

Trang 20

đặc điểm như sau:

Thứ nhất, XLVPHC là việc áp dụng trách nhiệm pháp lý do Nhà nước

quy định đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau tuỳ theo tính chất, mức

độ của vi phạm và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Cưỡng chế hành chính

là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định nhằm mục đích ngăn chặn hay phòng ngừa, vì lý do an ninh quốc phòng hoặc vì lợi ích quốc gia

Thứ hai, XLVPHC là việc áp dụng trách nhiệm hành chính (bao gồm

xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả) đối với đối tượng vi phạm hành chính do chủ thể nhất định áp dụng theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định Chủ thể có thẩm quyền áp dụng các chế tài xử phạt hành chính hoặc các biện pháp xử lý hành chính là những chức danh thuộc cơ quan hành chính Nhà nước do pháp luật quy định cụ thể Vi phạm hành chính mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, do đó các biện pháp, chế tài

áp dụng có mức độ nghiêm khắc thấp hơn

Thứ ba, việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật hành chính

trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự do nhiều cơ quan, nhiều người có thẩm quyền thực hiện (ví dụ như: Tổng Cục trưởng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp; Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về công tác Thi hành án dân sự; Cục trưởng Cục Thi hành án, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án cấp huyện, Chấp hành viên )

Thứ tư, đối tượng bị XLVPHC bao gồm cá nhân, tổ chức đã cố ý hoặc

vô ý vi phạm pháp luật về QLNN Như vậy, đối tượng bị áp dụng xử lý hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện vi phạm hành chính (cũng

có thể là pháp nhân đối với việc xử lý vi phạm pháp luật dân sự, như quy định

về trách nhiệm dân sự đối với pháp nhân) Trong khi đó, đối tượng bị xử lý do

vi phạm pháp luật hình sự chỉ là cá nhân Đối tượng bị XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự là các cá nhân, tổ chức đã cố ý hoặc

Trang 21

vô ý vi phạm pháp luật về QLNN trong lĩnh vực Thi hành án dân sự

Thứ năm, Pháp luật quy định hành vi đó phải bị xử phạt vi phạm hành

chính Việc XLVPHC được thực hiện theo một trình tự, thủ tục riêng do pháp luật hành chính quy định Các loại xử lý vi phạm pháp luật khác cũng theo trình tự, thủ tục riêng tương ứng đối với mỗi loại xử lý vi phạm pháp luật (Ví

dụ, trình tự, thủ tục áp dụng xử lý vi phạm pháp luật hình sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Trình tự, thủ tục áp dụng xử lý vi phạm pháp luật dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự Đối với việc XLVPHC trong lĩnh vực Thi hành án dân sự thì được thực hiện theo Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và Nghị định số 110/2013/NĐ-

CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có hiệu lực kể từ ngày

11 tháng 11 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số:

67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP;

1.1.3 Vai trò của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

XLVPHC có vai trò hết sức quan trọng, vì nó là phương tiện, công cụ không thể thiếu để duy trì, bảo vệ trật tự xã hội (trong đó có trật tự, an toàn giao thông), tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển xã hội Vai trò của XLVPHC trong lĩnh vực hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, thể hiện trên những điểm sau:

Thứ nhất, XLVPHC có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quy

tắc, trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, được xác định trong các quy phạm pháp luật hành chính Ví dụ: Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động thi hành án dân sự, được quy định tại Điều 52 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 14/9/2013 của Chính phủ quy định xử

Trang 22

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ Tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, Thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, với rất nhiều hình thức khác nhau (cảnh cáo, phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả), mức độ khác nhau phù hợp với các vi phạm hành chính trong THADS rất đa dạng

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung và trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự nói riêng, nếu cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân,

tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động Thi hành án dân sự còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung; ngoài hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn

có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả

Thứ hai, thông qua việc áp dụng các biện pháp XLVPHC có tác dụng

tuyên truyền giáo dục pháp luật, nhằm răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho chủ thể vi phạm và những người khác về sự đúng đắn, công bằng, hợp đạo đức của biện pháp được áp dụng, giáo dục cho mọi công dân tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật, tâm trạng tích cực đối với nhà nước, đối với pháp luật, hình thành ở họ lối sống tuân theo pháp luật Qua đó, bảo đảm trật tự pháp luật nói chung, trật tự QLNN trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành

án dân sự nói riêng

Thứ ba, XLVPHC có vai trò trong việc trừng phạt các chủ thể vi phạm

pháp luật qua đó gây tác động đến nhận thức của người vi phạm về ý thức về tính chính đáng của biện pháp trách nhiệm được áp dụng, răn đe người vi pháp luật và những người không vững vàng, dễ vi phạm pháp luật khác

Luật hành chính có vai trò quan trọng trong giữ gìn an ninh chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội bằng cách đặt ra trong một loạt luật và pháp lệnh những quy chế đặc biệt, như: Quy chế biên giới quốc gia; quy chế bảo vệ

bí mật Nhà nước; quy chế xử dụng vũ khí, súng săn; chế độ quản lý cư trú

Trang 23

Thứ tư, XLVPHC có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa các vi

phạm của các chủ thể Thông qua việc xử lý các hành vi vi phạm và tác dụng giáo dục của biện pháp trách nhiệm được áp dụng pháp luật các chủ thể vi phạm và những người khác kiềm chế không thực hiện hành vi trái pháp luật

Các quy phạm của Luật hành chính định ra những giới hạn, những hình thức và phương pháp tác động của cơ quan hành chính nhà nước đối với những đối tượng bị quản lý Các quy định này là kết quả của sự tìm kiếm tối

ưu, có ý nghĩa rất quan trọng bảo đảm hiệu quả hoạt động của mọi mắt xích trong cơ chế quản lý về kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị

Thứ năm, XLVPHC là công cụ bổ trợ cho QLNN trong lĩnh vực hoạt

động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

1.2 Các yếu tố cấu thành xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

kê biên tài sản để thi hành án dân sự

1.2.1 Vi phạm hành chính

Khi đề cập đến pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thì một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt hành chính Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm hành chính được pháp luật quy định Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành vi vi phạm hành chính mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước Xác định được đúng hành vi vi phạm hành chính, tức là xác định đúng cơ sở xử phạt, thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự quản lý Nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục, người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được sự tuỳ tiện trong xử phạt hành chính

Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu

Trang 24

chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hành chính Ví dụ Pháp lệnh của Hội đồng bang Milaca,

Minnesota (Bang Minesota, Hoa Kỳ) định nghĩa VPHC là hành vi vi

phạm quy định của Pháp lệnh này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…” Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân

Trung Hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi

phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác,

bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định” [28] Trong khi

đó, theo quy định của Bộ luật xử phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên

bang Nga, cụ thể tại Điều 2.1 Bộ luật xử phạt hành chính của Cộng hòa liên

bang Nga, thì vi phạm hành chính được định nghĩa là “hành động (không

hành động) của thể nhân hoặc pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính” [4]

Đối với pháp luật Việt Nam, thì khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm

hành chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm

hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [48] Định nghĩa

này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật

về quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp

luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” [38]

Từ quy định trên đây có thể hiểu, những vi phạm do pháp luật quy định

Trang 25

trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước nhưng chưa đến mức bị xử lý hình sự theo quy định của quy định pháp luật hình sự thì được coi là vi phạm hành chính và chúng ta thấy rằng, vi phạm hành chính có các dấu hiệu sau:

- Tính xâm hại các quy tắc QLNN: Đây là một đặc điểm riêng của vi phạm hành chính Tính chất, mức độ xâm hại khác với tính nguy hiểm cho xã hội theo quan niệm của luật hình sự Do đó, có thể khẳng định vi phạm hành chính không phải là tội phạm mà là hành vi xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại các quan hệ xã hội trong QLNN Khi nói đến tính xâm hại quy tắc quản lý Nhà nước tức là nói đến khả năng vi phạm đến trật tự QLNN, làm tổn hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ Tính xâm hại các quy tắc QLNN là một dấu hiệu của vi phạm hành chính Điều này thể hiện rõ ý chí của Nhà nước trong quan niệm về vi phạm hành chính, nó nói lên tính giai cấp, tính xã hội của pháp luật hành chính trong việc đưa ra các quy định về xử phạt vi phạm hành chính

- Tính có lỗi của vi phạm hành chính: Lỗi là trạng thái tâm lý, thái độ của người vi phạm đối với hành vi, hậu quả của hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi Những người bình thường đạt tới độ tuổi nhất định đều có khả năng điều khiển, nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội Không có lỗi thì không coi là vi phạm hành chính Như vậy, lỗi là dấu hiệu cơ bản trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính, là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi hành vi do cá nhân thực hiện Hành vi vi phạm được coi là có lỗi thể hiện ở ý thức của người vi phạm tức là người vi phạm biết được tính xâm hại cho quan

hệ xã hội của hành vi trái pháp luật Nếu không nhận thức được tính xâm hại cho cho quan hệ xã hội của hành vi thì không có lỗi

- Tính trái pháp luật hành chính: Là hành động thực hiện ngược lại với quy định của pháp luật, hành động bị pháp luật cấm thực hiện hoặc không thực hiện hành động mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện Hay nói cách khác: Vi phạm hành chính là hành vi xâm hại các quy tắc quản lý Nhà nước các quy tắc này do pháp luật hành chính quy định Do đó, vi phạm hành

Trang 26

chính là hành vi xâm hại các trật tự quản lý xã hội do Luật hành chính bảo vệ Một hành vi được coi là trái pháp luật khi hành vi đó không phù hợp với yêu cầu của quy phạm pháp luật hoặc là đối lập với yêu cầu đó Hành vi hành chính được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động hoặc không hành động (Ví dụ: hành động sử dụng nguyên liệu thực phẩm trong sản xuất,chế biến thực phẩm) Như vậy, tính trái pháp luật hành chính thể hiện ở chỗ hành vi vi phạm đó phải xâm hại đến quan hệ xã hội được Luật hành chính bảo vệ Nếu một hành vi trái pháp luật nhưng không do Luật hành chính điều chỉnh thì không phải vi phạm hành chính Một hành vi xâm hại một quan hệ xã hội nhưng không được pháp luật bảo vệ và cũng không được Luật hành chính bảo

vệ thì cũng không phải là vi phạm pháp luật hành chính

- Tính bị xử phạt hành chính: Đây là một dấu hiệu của vi phạm hành chính, nó được xem là thuộc tính của vi phạm hành chính Điều này được thể hiện ngay trong định nghĩa vi phạm hành chính (theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính) Dấu hiệu này vừa có tính quy kết vừa là thuộc tính của vi phạm hành chính Tính quy kết thể hiện ở chỗ có vi phạm hành chính thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Thuộc tính thể hiện ở chỗ phải theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Như vậy, một hành vi xâm hại quy tắc quản lý Nhà nước trái pháp luật hành chính nhưng pháp luật hành chính không quy định phải bị xử phạt thì không gọi là

vi phạm hành chính Điều này cho thấy sự khác biệt giữa vi phạm hành chính

và các loại vi phạm pháp luật khác Trong thực tế có nhiều hành vi xâm hại các nguyên tắc QLHCNN trái pháp luật hành chính, nhưng lại không có văn bản quy định xử phạt cho nên không thể coi là vi phạm hành chính

Từ những nội dung trên, ta có thể xác định: Vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị XLVPHC

Trang 27

Với các quy định của pháp luật đã trình bày ở trên, có thể xác định những dấu hiệu cơ bản đối với vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản như sau: Là hành vi thể hiện bằng hành động hoặc không hành động mà xâm phạm đến hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự; là hành vi trái pháp luật; là hành vi có lỗi (cố ý hoặc vô ý); là hành vi mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính tức là áp dụng chế tài theo quy định của luật hành chính

Cũng như các vi phạm hành chính khác, vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản được hợp thành bởi các thành tố nhất định Những thành

tố đó được gọi là “cấu thành”, bao gồm mặt khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của vi phạm hành chính

Chúng ta sẽ xem xét dưới đây những đặc điểm của cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự:

- Khách thể của vi phạm hành chính: Cũng như mọi vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân

sự cũng nhằm vào những khách thể nhất định, gây tác hại cho chính những khách thể ấy trong một chừng mực nhất định Nói một cách khái quát khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là cái mà vi phạm hành chính xâm hại tới, là cái mà các quy định của pháp luật về hoạt động kê biên tài sản

để thi hành án dân sự hướng tới để bảo vệ khỏi sự xâm hại

- Mặt khách quan của vi phạm hành chính: Mặt khách quan của vi phạm hành chính là biểu hiện của vi phạm hành chính diễn ra bên ngoài thế giới khách quan, tác động vào các quan hệ xã hội mà pháp luật hành chính

Trang 28

bảo vệ, với các dấu hiệu: Hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội, các điều kiện bên ngoài khác như mối quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm

- Mặt chủ quan của vi phạm hành chính: Mặt chủ quan của vi phạm hành chính bao gồm các dấu hiệu lỗi, động cơ, mục đích vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ mặt khách quan của vi phạm hành chính phản ánh mặt chủ quan của vi phạm hành chính Đồng thời, mặt chủ quan được biểu hiện thông qua mặt khách quan của vi phạm hành chính Tuy nhiên các dấu hiệu về mặt chủ quan của vi phạm hành chính không bao giờ cũng thể hiện đầy đủ với hình thức và mức độ như nhau trong mặt chủ quan của các vi phạm hành chính Vì vậy, trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính, có những dấu hiệu là mang tính bắt buộc chẳng hạn như dấu hiệu “ lỗi” Nhưng cũng có dấu hiệu như “động cơ”, “mục đích” thường không mang tính bắt buộc vì phần lớn các vi phạm hành chính không có động cơ rõ rệt (trừ trường hợp cố ý) và mục đích của chúng cũng không rõ nét, đa số vi phạm hành chính nói chung là họ không muốn (trừ trường hợp cố ý)

Đối với vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành

án dân sự, lỗi thì thường là lỗi cố ý và nếu xác định động cơ, mục đích là dấu hiệu mang tính bắt buộc

Ví dụ: Theo nội dung Bản án số 35/2016/DS-ST ngày 12/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, thì vợ chồng ông Trịnh Công Sơn và bà Hoàng Thị Lan, trú tại tổ 5, KV5 phường Nhơn Phú, thành phố Quy Nhơn phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Hương số tiền 1,5 tỷ đồng Quá trình tổ chức thi hành án, vợ chồng ông Sơn, bà Lan không

tự nguyện thi hành án và không thực hiện theo nội dung giấy triệu tập của Chấp hành viên (Giấy triệu tập được tống đạt hợp lệ cho ông Sơn, bà Lan)

Rõ ràng chúng ta xác định được lỗi ở đây là lỗi cố ý, nhằm mục đích gây khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên, nhằm trì hoãn,

Trang 29

kéo dài việc thi hành án

1.2.2 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự

1.2.2.1 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Theo quy định của Luật hành chính của nước ta hiện nay thì các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: Cảnh cáo và phạt tiền

* Cảnh cáo

Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản, chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính

* Phạt tiền

Phạt tiền là hình thức phạt tác động đến tài sản của người vi phạm bằng cách buộc người vi phạm thực hiện nghĩa vụ bổ sung là phải nộp một khoản tiền cho nhà nước do vi phạm Trong hoạt động THADS, các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt những hành vi vi phạm hành chính đó đã được quy định cụ thể tại Điều 52 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 11 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định

số 110/2013/NĐ-CP

Về hình thức xử phạt, việc XPVPHC trong hoạt động THADS không

áp dụng hình thức xử phạt bổ sung mà chỉ áp dụng hình thức xử phạt chính, gồm hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền

Trang 30

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã tách các hành vi vi phạm hành chính trước đây thành các hành vi riêng biệt và áp dụng 07 mức xử phạt theo các khung sau:

+ Khung 1: Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng;

Thứ nhất, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000

đồng đối với hành vi đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai của người có thẩm quyền thi hành án nhưng không đến địa điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng

Thứ hai, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành

vi không cung cấp thông tin, không giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý

để thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền thi hành án mà không

có lý do chính đáng

Thứ ba, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một

trong 04 hành vi: không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định; trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án; không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhân dân; cung cấp chứng cứ giả cho cơ quan THADS

Thứ tư, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một

Trang 31

trong 03 hành vi: làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản; phá hủy niêm phong tài sản đã kê biên; không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc trừ vào thu nhập

Thứ năm, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với

một trong các hành vi: tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản; sử dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên; hủy hoại tài sản đã kê biên; không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; cố ý không thực hiện quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay

Thứ sáu, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với

một trong các hành vi: không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc khấu trừ tài khoản, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án; không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án

về việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án; về việc thu tiền của người phải thi hành án đang giữ

Thứ bảy, phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với

hành vi không thực hiện việc phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án theo quyết định của người có thẩm quyền thi hành án

1.2.2.2 Các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật

về quản lý nhà nước mà không phải tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính Ngoài ra, cá nhân , tổ chức còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra; phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính của mình gây ra; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện

Trang 32

thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện

Nhóm các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực THADS được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2015, bao gồm các biện pháp chủ yếu sau:

- Biện pháp buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn:

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã được công bố, đưa tin trên chính phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử đã công bố, đưa tin; nếu cá nhân, tổ chức

vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện

Ví dụ: Theo nội dung Bản án số 15/2015/KDTM-ST ngày 12/12/2015 của Tòa án ND thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, thì ông Nguyễn Tấn Việt phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 1 tỷ đồng Do ông Việt không

tự nguyện thi hành án nên, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn đã ra Quyết định cưỡng chế, kê biên toàn bộ tài sản thế chấp là ngôi nhà và đất (diện tích đất 100 m2 và diện tích xây dựng là 80 m2) của ông Nguyễn Tấn Việt để đảm bảo cho việc thi hành án Sau khi cưỡng chế, kê biên xong, Hội đồng cưỡng chế ra về không làm hư hỏng, hoặc làm mất mát tài sản gì của đương sự, trước sự chứng kiến của Chính quyền địa phương và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn Nhưng sau đó, ông Việt có đơn tố cáo Chấp hành viên chủ trì cưỡng chế, trong quá trình đo

vẽ đã làm vỡ một bức tranh cổ của gia đình ông (bức tranh trị giá 200 triệu đồng) và gia đình ông bị mất mười chỉ vàng SIJ Do vậy, ông yêu cầu Chấp hành viên phải bồi thường Sau khi nhận đơn của ông cơ quan có thẩm quyền

đã xác minh và kết luận việc ông Việt tố cáo Chấp hành viên có hành vi như trên là không đúng sự thật Do đó buộc ông Việt phải cải chính thông tin sai

sự thật trên phương tiện thông tin đại chúng

- Biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi

Trang 33

phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật:

Cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức

đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng

bị chiếm đoạt; phải nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện đó đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không

tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện

Với số lượng các chế tài hành chính nêu trên, có thể nói, các chế tài về

cơ bản đã tương thích với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự xảy ra rất đa dạng

1.2.3 Chủ thể có thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án

Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản

để thi hành án dân sự, thì hiện nay pháp luật Việt Nam quy định được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau, như:

- Thanh tra Bộ Tư pháp;

- Tổng cục Thi hành án dân sự;

- Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh;

- Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện

Để thực hiện xử phạt hành chính đúng thì phải xác định đúng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong THADS Thẩm quyền XPVPHC trong THADS theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2015 gồm 02 loại cơ quan, là cơ quan thanh tra (Điều 46 Luật XLVPHC) và cơ quan THADS (Điều 49 Luật XLVPHC)

Điều 67 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền XPVPHC của thanh tra viên Bộ Tư pháp đang thi hành công vụ và của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Tư pháp Tuy nhiên, ngày

Trang 34

29/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp, có hiệu lực thi hành ngày 20/7/2014 Theo quy định của Nghị định này thì chỉ hoạt động thanh tra hành chính, không có hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực THADS Như vậy, trên thực

tế, về thẩm quyền xử phạt của cơ quan thanh tra chỉ còn lại thẩm quyền XPVPHC của Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp Theo quy định tại Khoản 3, Điều

67 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp có quyền: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực THADS và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các chương V của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP Với thẩm quyền về mức phạt tiền như trên, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp có quyền xử phạt đối với tất cả các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực THADS được quy định tại Điều 52 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do các hành vi:

+ Làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản

+ Tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản;

+ Sử dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên

- Thẩm quyền của cơ quan THADS

Trong hoạt động THADS thì cơ quan THADS là cơ quan thường xuyên

và trực tiếp phải xử lý những vi phạm hành chính của người phải thi hành án

và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác Thẩm quyền này được quy định cụ thể như sau:

Chấp hành viên THADS đang thi hành công vụ có quyền:Phạt cảnh cáo

và phạt tiền đến 500.000 đồng

Tương tự như thẩm quyền đối với Thanh tra viên, CHV chỉ có thể xử

Trang 35

phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1, Điều

Chấp hành viên THADS là Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của

vụ việc phá sản có quyền: Phạt cảnh cáo và Phạt tiền đến 5.000.000 đồng

Đây là thẩm quyền của Chấp hành viên THADS là Tổ trưởng tổ quản

lý, thanh lý tài sản của vụ việc phá sản được xử phạt đối với các hành vi vi

phạm hành chính trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại chương VI của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP Theo đó, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thấp nhất là cảnh cáo và phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng Các mức phạt tiền tiếp theo tăng lên theo công tác, mức độ của vi phạm, tối đa không quá 5.000.000 đồng

Cục trưởng Cục THADS, Trưởng phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu có quyền: Phạt cảnh cáo và Phạt tiền đến 20.000.000 đồng

Tương tự như đối với Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Tư

pháp, đối chiếu với quy định tại Điều 52, thì Cục trưởng Cục THADS, Trưởng

phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền xử phạt vi phạm

chính đối với các hành vi được quy định từ Khoản 1 đến Khoản 5 (Điều 52) Nghị định số 110/2013/NĐ-CP

Tổng cục trưởng Tổng cục THADS có quyền:

Theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2015, tương tự như Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, Tổng cục trưởng có quyền xử phạt đối với tất cả các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực THADS và áp dụng các

Trang 36

biện pháp khắc phục hẩu quả được quy định tại Điều 52 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP

1.2.4 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính Khi vi phạm nếu bị phát hiện thì tổ chức, cá nhân sẽ bị

xử phạt vi phạm hành chính Thủ tục và các vấn đề liên quan được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính

Thủ tục hành chính được xem là một bộ phận cấu thành của ngành luật hành chính, bên cạnh các quy phạm vật chất cũng thuộc ngành luật này Thủ tục hành chính bao gồm nhiều loại khác nhau, nhưng đều là trình tự, cách thức thực hiện các hành vi thủ tục do các chủ thể được luật hành chính quy định nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ vật chất của các bên tham gia quan

hệ pháp luật hành chính

Thủ tục XLVPHC có một số đặc điểm cơ bản như sau: Là thủ tục được

áp dụng trong lĩnh vực QLHCNN, không thuộc lĩnh vực Tư pháp Cơ quan tiến hành thủ tục chủ yếu là cơ quan hành chính Nhà nước Thủ tục áp dụng trách nhiệm hành chính đơn giản hơn nhiều so với thủ tục tư pháp giải quyết các vụ việc do các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện Nếu chia các thủ tục hành chính thành hai loại, thủ tục thực hiện pháp luật và thủ tục bảo vệ pháp luật, thì thủ tục hành chính XLVPHC là thủ tục loại bảo vệ

Qua nghiên cứu các quy định về thủ tục hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện nay thì có thể thấy thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự gồm các giai đoạn như sau:

Giai đoạn thứ nhất:

Khởi xướng vụ việc, giai đoạn này cơ quan XLVPHC trên cơ sở các

Trang 37

thông tin có được chủ động hoặc bị động thực hiện việc lập biên bản ghi nhận

về tình trạng vi phạm hành chính theo các nội dung được pháp luật quy định Trong những trường hợp nhất định, số này không nhiều, vụ việc có thể đòi hỏi các hoạt động có tính chất điều tra nhất định Cũng từ đây, có một số tác giả đã đặt vấn đề xác định một giai đoạn của thủ tục hành chính là xác minh

vi phạm hành chính

Giai đoạn thứ hai:

Xem xét và ra quyết định việc vi phạm hành chính Ở đây, trên cơ sở

xem xét, đánh giá về tính xác thực, đúng đắn của vi phạm hành chính, cân nhắc tính chất, mức độ vi phạm cũng như các tình tiết khác nhau của vi phạm diễn ra trong thực tế, việc lựa chọn tương ứng các quy định của pháp luật cũng như các yếu tố khác như năng lực phán đoán, kinh nghiệm, hiểu biết về quản lý nhà nước lĩnh vực bị vi phạm, các yếu tố thuộc về người vi phạm Cơ quan, người có thẩm quyền sẽ áp dụng chế tài hành chính tương ứng trên nguyên tắc bảo đảm sự ngang bằng giữa vi phạm hành chính và chế tài hành chính

Cũng ở giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền XLVPHC có thể phải áp dụng một số biện pháp xác minh về thực trạng vi phạm hành chính…

Giai đoạn thứ ba:

Thi hành quyết định áp dụng các biện pháp trách nhiệm hành chính Đối với lĩnh vực tư pháp, các bản án, quyết định của Toà án khi đã có hiệu lực pháp luật mới có thể thi hành Nhưng trong lĩnh vực QLHCNN, cụ thể ở đây

là XLVPHC thì hầu như các quyết định XLVPHC được thi hành trước khi người bị xử lý khiếu nại

Các chế tài hành chính đa dạng và biến hoá đòi hỏi thủ tục về thực hiện các chế tài cũng có những quy định tương ứng khác nhau Việc thi hành các chế tài, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm (trong các trường hợp nhất định) phải xem xét những phương diện khác nhau như: Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi phạm

Trang 38

hành chính trong trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản; hoãn thi hành quyết định phạt tiền; giảm, miễn tiền phạt; thủ tục nộp tiền phạt, nộp tiền phạt nhiều lần; thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu…

Giai đoạn thứ tư:

Khiếu nại quyết định XLVPHC Pháp luật về vi phạm hành chính ở Việt Nam dù là ở giai đoạn nào cũng đều xác nhận đây là quyền của công dân, đồng thời là cách thức bảo đảm pháp chế, bảo vệ quyền của người khiếu nại và để cơ quan QLNN thấy được khiếm khuyết để thực hiện Ở giai đoạn này, pháp luật có quy định đáng chú ý là trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định XLVPHC bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật

1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

1.3.1 Mức độ hoàn thiện của quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Để cho pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong mọi lĩnh vực nói chung và trong hoat động kê biên xử lý tài sản để thi hành án dân sự nói riêng phù hợp với thực tế, thì phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng

bộ, thể chế hóa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, phù hợp với những đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước Pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự cũng vậy, muốn thực hiện tốt phải có

hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, đơn giản, dễ hiểu và tạo ra một khung pháp lý đầy đủ, hoàn chỉnh đảm bảo được sự thống nhất quản lý, làm cơ sở cho việc phân loại vi phạm, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia

QLNN về XLVPHC trong hoạt động Thi hành án dân sự nói chung và

Trang 39

trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự nói riêng phù hợp với tình hình thực tế, tránh việc khiếu nại, khiếu kiện của các chủ thể tham gia, thì các văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC phải được sửa đổi, bổ sung thường xuyên Chúng ta, khẳng định rằng một số quy định về XLVPHC trong lĩnh vực Thi hành án dân sự cũng như quy trình thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này do nhiều bộ, cơ quan ngang bộ, ban ngành ban hành để điều chỉnh cùng một vấn đề nên đã bộc lộ nhều bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định về XLVPHC trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Vấn đề nổi cộm đang được đặt ra hiện nay là phải làm sao để các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về vi phạm hành chính thống nhất, đồng bộ nhằm phục vụ có hiệu quả công tác XLVPHC trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự

1.3.2 Ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia

Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật Cho nên ý thức pháp luật càng được nâng cao, mức độ hiểu biết pháp luật càng sâu thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái

độ tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật càng được bảo đảm Do đó, ý thức pháp luật của các đối tượng là một yếu tố có ý nghĩa rất lớn ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự Nếu như các tổ chức cá nhân nắm vững, hiểu rõ và chỉ làm những gì pháp luật không cấm, hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật

Các chủ thể tham gia trong hoạt động Thi hành án dân sự, nhất là trong giai đoạn kê biên tài sản để thi hành án dân sự, thông thường người phải thi hành án có những hành vi chống đối quyết liệt, như cố tình vắng mặt tại buổi cưỡng chế kê biên tài sản; đập phá tài sản, hủy hoại tài sản kê biên; hoặc có nhiều lời lẽ xúc phạm, lăng mạ đối với Hội đồng kê biên tài sản

Để nâng cao ý thức pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

kê biên tài sản để thi hành án dân sự, trước tiên đội ngũ cán bộ công chức Thi

Trang 40

hành án dân sự phải nắm bắt và tinh thông về pháp luật xử phạt hành chính để vận dụng và áp dụng đúng quy định Mặt khác để nâng cao hơn nữa của ý thức pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, thì phải tích cực trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật một cách sâu rộng phù hợp với từng đối tượng bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như trên các thông tin đại chúng truyền hình, truyền thanh, tờ gấp, tờ rơi, lồng ghép vào chương trình kế hoạch của các hội đoàn thể chính trị, xã hội Nếu làm tốt những nội dung này, chúng tôi tin chắc rằng ý thức pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài

sản để thi hành án dân sự ngày càng được cải thiện hơn

Như vậy, ý thức pháp luật tức là thước đo, chuẩn mực trong thi hành pháp luật về Kê biên tài sản để thi hành án dân sự Ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động kê biên tài sản giúp cho việc phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm hành chính về hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự

và xử lý đúng, nghiêm những hành vi này theo quy định của pháp luật Tránh được tình trạng áp dụng không đúng hình thức xử lý đối với hành vi vi phạm hành chính về kê biên tài sản

Mặt khác, ý thức pháp luật trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành

án dân sự còn có ảnh hưởng lớn đối với chủ thể tham gia Những chủ thể này khi có ý thức pháp luật về hoạt động kê biên tài sản sẽ có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về kê biên tài sản để thi hành án dân sự Đồng thời đối tượng này cũng hiểu được các hành vi vi phạm hành chính khi đã được các cơ quan quản lý phát hiện xử lý Đây là điều xã hội luôn mong muốn cũng như hiệu quả quản lý nhà nước

1.3.3 Tổ chức bộ máy xử lý vi phạm hành chính

Tổ chức bộ máy xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên tài sản để thi hành án dân sự, ảnh hưởng không nhỏ tới việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động Thi hành án dân sự nói chung và trong lĩnh vực kê biên tài sản nói riêng, bởi chỉ khi tổ chức bộ máy

xử lý vi phạm hành chính hoàn chỉnh, hợp lý thì việc thực hiện pháp luật mới

Ngày đăng: 07/06/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm