Câu1: Chính sách cạnh tranh: Chính sách cạnh tranh bao gồm tất cả các biện pháp của Nhà nước nhằm duy trì cạnh tranh, một mặt chủ động tạo ra các tiền đề cho cạnh tranh, mở cửa thị trường, loại bỏ các barrier cản trở xâm nhập thị trường, mặt khác thực thi các biện pháp chống lại các chiến lược hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp(Lê Viết Thái, “Chính sách cạnh tranh một công cụ cần thiết trong nền kinh tế thị trường” trong Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 2211996, tr 28.). Khái niệm chính sách cạnh tranh theo cách hiểu này bao gồm cả pháp luật, cơ chế bảo đảm thực hiện, cũng như những biện pháp kinh tế kích thích cạnh tranh trên thị trường. Có một cách hiểu chính sách cạnh tranh theo nghĩa hẹp, theo đó nó bao gồm các quy tắc và quy định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong một nền kinh tế quốc dân, một phần thông qua việc phân bổ có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên(Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế (sách dịch, NXB thống kê, 1997), tr 58.). Với cách hiểu này, pháp luật cạnh tranh là nội dung cơ bản của chính sách cạnh tranh. Nó bao gồm các quy định chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những biện pháp chống các hành vi hạn chế cạnh tranh. Trong phạm vi của nội dung này, chính sách cạnh tranh được giới thiệu theo nghĩa rộng, bao gồm tổng hợp các biện pháp xây dựng môi trường cạnh tranh trong đời sống kinh tế, các biện pháp duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Trong đó, nội dung quan trọng của pháp luật cạnh tranh với hai bộ phận cấu thành cơ bản là pháp luật chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống các hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo nghĩa rộng, chính sách cạnh tranh được xây dựng dựa trên những cơ sở khác nhau sau đây: Một, chủ trương phát triển kinh tế của quốc gia; tình hình thực tế của đời sống kinh tế và tương quan cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế chính trên thị trường; Ba, xu thế kinh tế quốc tế hiện đại; Bốn, tập quán kinh doanh truyền thống của quốc gia. Điều đó làm cho chính sách cạnh tranh của các nước luôn có những nết đặc thù khác nhau. Thậm chí ngay trong một quốc gia, chính sách cạnh tranh có nhiệm vụ và nội dung được thay đổi theo từng thời kỳ. Có thể thấy được những vấn đề nói trên bằng việc khảo cứu chính sách cạnh tranh của một số quốc gia điển hình. Chính phủ Hoa Kỳ với chủ trương thừa nhận tự do cạnh tranh, ngăn ngừa sự hình thành độc quyền và lạm dụng sức mạnh độc quyền để xâm hại lợi ích của các chủ thể khác nên chính sách cạnh tranh của nước này bao gồm luật chống độc quyền, các chính sách kinh tế khác (chính sách thuế, chính sách bảo hộ và hỗ trợ tài chính, nghiên cứu, triển khai…) để thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, Việt Nam lại chủ trương xây dựng thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó thành phần kinh tế quốc doanh với sự hiện hữu của các doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Do đó, chúng ta đã xác định sự cần thiết đối với độc quyền của doanh nghiệp Nhà nước trong các lĩnh vực thiết yếu, duy trì một thị trường cạnh tranh có mức độ. Bên cạnh đó, trong thực thi pháp luật còn tồn tại nhiều sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau, làm cho chính sách cạnh tranh của Việt Nam sẽ có nhiều nội dung đặc biệt. Tại Nhật Bản, yếu tố truyền thống trong tập quán kinh doanh đã có ảnh hưởng lớn đến chính sách cạnh tranh. Văn hoá của người Nhật ủng hộ các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau, thống nhất hành động và chấp nhận hạn chế cạnh tranh cho dù giá thị trường cao vì mục đích ổn định. Mặt khác, sau chiến tranh, thị trường Nhật bản chưa thừa nhận và phổ biến quan niệm cạnh tranh với nghĩa là sự ganh đua tự phát. Họ cho rằng, cạnh tranh là một hình thức quản lý của Nhà nước, chứ không phải là một nguyên tắc tổ chức của nền kinh tế. Vì thế chính sách cạnh tranh phải tập trung vào việc Chính phủ quản lý cho được những rủi ro và hạn chế cạnh tranh quá mức, Chính phủ phải kiểm soát sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp để xây dựng cạnh tranh bằng cách xác định và cân đối quan hệ cung cầu(Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh (NXB Giao thông vận tải, 2001), tr 376377.). Về vai trò của chính sách cạnh tranh, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mỗi quốc gia khác nhau sẽ trao cho chính sách cạnh tranh những nhiệm vụ khác nhau.Với sự ổn định về đầu tư, về trình độ công nghệ và nhịp độ tăng trưởng kinh tế, chính sách cạnh tranh của Hoa Kỳ tập trung vào các nhiệm vụ tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và bảo vệ quá trình cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế. Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới diễn ra xấp xỉ hai mươi năm, tuổi đời thị trường còn quá non trẻ, các thiết chế của thị trường chưa hình thành đầy đủ và chưa đồng bộ. Do đó, chính sách cạnh tranh còn tập trung vào việc xây dựng một thị trường cạnh tranh thực sự và hướng tới việc hình thành dần các thiết chế cần thiết để duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh. Các nhiệm vụ nổi bật trong quá trình đó là thu hút đầu tư để hình thành thị trường cạnh tranh; phân bổ các yếu tố sản xuất một cách tối ưu, chuyển nguồn lực xã hội từ nơi kém hiệu quả sang nơi hiệu quả hơn; xây dựng môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng; điều chỉnh hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp; bảo vệ người tiêu dùng. Nội dung CSCT ở Việt Nam: Với vai trò xây dựng môi trường cạnh tranh sôi động, lành mạnh để khuyến khích cạnh tranh phát triển và bảo vệ sự lành mạnh của thị trường, chính sách cạnh tranh luôn bao gồm các nhóm nội dung sau đây: a. Tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân kinh doanh – Xóa bỏ các phân biệt đối xử về mặt pháp lý giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế: – Xóa bỏ cơ chế hai giá giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; – Xóa bỏ ưu đãi thuế và tài chính doanh nghiệp (xây dựng nghị định chung về thuế thu nhập doanh nghiệp, xóa bỏ mức hạn chế chi phí quảng cáo của doanh nghiệp trong nước); – Đẩy mạnh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước; – Đưa cạnh tranh vào những lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước (lĩnh vực điện, lĩnh vực hàng không, lĩnh vực viễn thông); – Minh bạch hóa hoạt động của cơ quan Nhà nước các cấp để ngăn cản các hành vi can thiệp vào môi trường cạnh tranh từ các cơ quan Nhà nước; – Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. b. Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh – Xóa bỏ các trợ cấp của Nhà nước với doanh nghiệp, tách hỗ trợ tín dụng thương mại ra khỏi hỗ trợ mang tính chính sách (thành lập Ngân hàng chính sách chuyên cho vay xóa đói giảm nghèo); – Tổ chức nhiều giải thưởng tôn vinh doanh nghiệp hoạt động tốt (Sao đỏ, Sao vàng đất Việt); – Cải cách hành chính trong việc đăng ký bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp; – Tạo nhiều kênh để doanh nghiệp khiếu nại về thủ tục hành chính; – Tạo nhiều diễn đàn để doanh nghiệp lên tiếng cải thiện môi trường cạnh tranh (qua Phòng Thương mại và Công nghiệp, qua hiệp hội ngành nghề); – Xây dựng các thiết chế mới để bảo vệ cạnh tranh trên các thị trường đặc thù. c. Ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường – Luật hoá các nỗ lực chống l
Trang 1Câu1:
- Chính sách cạnh tranh:
Chính sách cạnh tranh bao gồm tất cả các biện pháp của Nhà nước nhằm duy trì cạnh tranh, một mặt chủ động tạo ra các tiền đề cho cạnh tranh, mở cửa thị trường, loại bỏ các barrier cản trở xâm nhập thị trường, mặt khác thực thi các biện pháp chống lại các chiến lược hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp(Lê Viết Thái, “Chính sách cạnh tranh một công cụ cần thiết trong nền kinh tế thị trường” trong Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 221/1996, tr 28.) Khái niệm chính sách cạnh tranh theo cách hiểu này bao gồm cả pháp luật, cơ chế bảo đảm thực hiện, cũng như những biện pháp kinh tế kích thích cạnh tranh trên thị trường
Có một cách hiểu chính sách cạnh tranh theo nghĩa hẹp, theo đó nó bao gồm các quy tắc và quy định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong một nền kinh tế quốc dân, một phần thông qua việc phân
bổ có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên(Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế (sách dịch, NXB thống kê, 1997), tr 58.) Với cách hiểu này, pháp luật cạnh tranh là nội dung cơ bản của chính sách cạnh tranh Nó bao gồm các quy định chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những biện pháp chống các hành vi hạn chế cạnh tranh
Trong phạm vi của nội dung này, chính sách cạnh tranh được giới thiệu theo nghĩa rộng, bao gồm tổng hợp các biện pháp xây dựng môi trường cạnh tranh trong đời sống kinh tế, các biện pháp duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng Trong đó, nội dung quan trọng của pháp luật cạnh tranh với hai bộ phận cấu thành cơ bản là pháp luật chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống các hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo nghĩa rộng, chính sách cạnh tranh được xây dựng dựa trên những cơ sở khác nhau sau đây:
Một, chủ trương phát triển kinh tế của quốc gia; tình hình thực tế của đời sống kinh tế và tương
quan cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế chính trên thị trường;
Ba, xu thế kinh tế quốc tế hiện đại;
Bốn, tập quán kinh doanh truyền thống của quốc gia.
Điều đó làm cho chính sách cạnh tranh của các nước luôn có những nết đặc thù khác nhau Thậm chí ngay trong một quốc gia, chính sách cạnh tranh có nhiệm vụ và nội dung được thay đổi theo từng thời kỳ
Có thể thấy được những vấn đề nói trên bằng việc khảo cứu chính sách cạnh tranh của một số quốc gia điển hình Chính phủ Hoa Kỳ với chủ trương thừa nhận tự do cạnh tranh, ngăn ngừa sự hình thành độc quyền và lạm dụng sức mạnh độc quyền để xâm hại lợi ích của các chủ thể khác nên chính sách cạnh tranh của nước này bao gồm luật chống độc quyền, các chính sách kinh tế khác (chính sách thuế, chính sách bảo hộ và hỗ trợ tài chính, nghiên cứu, triển khai…) để thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh trên thị trường Trong khi đó, Việt Nam lại chủ trương xây dựng thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó thành phần kinh tế quốc doanh với sự hiện hữu của các doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo Do đó, chúng ta đã xác định sự cần
Trang 2thiết đối với độc quyền của doanh nghiệp Nhà nước trong các lĩnh vực thiết yếu, duy trì một thị trường cạnh tranh có mức độ Bên cạnh đó, trong thực thi pháp luật còn tồn tại nhiều sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau, làm cho chính sách cạnh tranh của Việt Nam sẽ có nhiều nội dung đặc biệt
Tại Nhật Bản, yếu tố truyền thống trong tập quán kinh doanh đã có ảnh hưởng lớn đến chính
sách cạnh tranh Văn hoá của người Nhật ủng hộ các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau, thống nhất hành động và chấp nhận hạn chế cạnh tranh cho dù giá thị trường cao vì mục đích ổn định Mặt khác, sau chiến tranh, thị trường Nhật bản chưa thừa nhận và phổ biến quan niệm cạnh tranh với nghĩa là sự ganh đua tự phát Họ cho rằng, cạnh tranh là một hình thức quản lý của Nhà
nước, chứ không phải là một nguyên tắc tổ chức của nền kinh tế Vì thế chính sách cạnh tranh
phải tập trung vào việc Chính phủ quản lý cho được những rủi ro và hạn chế cạnh tranh quá
mức, Chính phủ phải kiểm soát sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp để xây dựng cạnh tranh
bằng cách xác định và cân đối quan hệ cung cầu(Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, Các vấn
đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh (NXB Giao thông vận tải, 2001), tr 376-377.)
Về vai trò của chính sách cạnh tranh, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mỗi quốc gia khác nhau sẽ trao cho chính sách cạnh tranh những nhiệm vụ khác nhau.Với sự ổn định về đầu tư, về trình độ công nghệ và nhịp độ tăng trưởng kinh tế, chính sách cạnh tranh của Hoa Kỳ tập trung vào các nhiệm vụ tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và bảo vệ quá trình cạnh tranh, tăng hiệu
quả kinh tế
Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới diễn ra xấp xỉ hai mươi năm, tuổi đời thị trường còn quá non trẻ, các thiết chế của thị trường chưa hình thành đầy đủ và chưa đồng bộ Do đó, chính sách cạnh tranh còn tập trung vào việc xây dựng một thị trường cạnh tranh thực sự và hướng tới việc hình thành dần các thiết chế cần thiết để duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh Các nhiệm vụ nổi bật trong quá trình đó là thu hút đầu tư để hình thành thị trường cạnh tranh; phân
bổ các yếu tố sản xuất một cách tối ưu, chuyển nguồn lực xã hội từ nơi kém hiệu quả sang nơi
hiệu quả hơn; xây dựng môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng; điều chỉnh hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp; bảo vệ người tiêu dùng
- Nội dung CSCT ở Việt Nam:
Với vai trò xây dựng môi trường cạnh tranh sôi động, lành mạnh để khuyến khích cạnh tranh phát triển và bảo vệ sự lành mạnh của thị trường, chính sách cạnh tranh luôn bao gồm các nhóm nội dung sau đây:
a Tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân kinh doanh
– Xóa bỏ các phân biệt đối xử về mặt pháp lý giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế: – Xóa bỏ cơ chế hai giá giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
Trang 3– Xóa bỏ ưu đãi thuế và tài chính doanh nghiệp (xây dựng nghị định chung về thuế thu nhập doanh nghiệp, xóa bỏ mức hạn chế chi phí quảng cáo của doanh nghiệp trong nước);
– Đẩy mạnh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước;
– Đưa cạnh tranh vào những lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước (lĩnh vực điện, lĩnh vực hàng không, lĩnh vực viễn thông);
– Minh bạch hóa hoạt động của cơ quan Nhà nước các cấp để ngăn cản các hành vi can thiệp vào môi trường cạnh tranh từ các cơ quan Nhà nước;
– Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
b Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh
– Xóa bỏ các trợ cấp của Nhà nước với doanh nghiệp, tách hỗ trợ tín dụng thương mại ra khỏi hỗ trợ mang tính chính sách (thành lập Ngân hàng chính sách chuyên cho vay xóa đói giảm nghèo);
– Tổ chức nhiều giải thưởng tôn vinh doanh nghiệp hoạt động tốt (Sao đỏ, Sao vàng đất Việt); – Cải cách hành chính trong việc đăng ký bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp;
– Tạo nhiều kênh để doanh nghiệp khiếu nại về thủ tục hành chính;
– Tạo nhiều diễn đàn để doanh nghiệp lên tiếng cải thiện môi trường cạnh tranh (qua
Phòng Thương mại và Công nghiệp, qua hiệp hội ngành nghề);
– Xây dựng các thiết chế mới để bảo vệ cạnh tranh trên các thị trường đặc thù
c Ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường
– Luật hoá các nỗ lực chống lại hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh
– Ban hành đầy đủ các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật;
– Xây dựng các thiết chế mới để xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
d Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của doanh nghiệp và của người tiêu dùng bao gồm:
– Xây dựng các công cụ bảo hộ mới được quốc tế chấp nhận (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ);
– Xây dựng các công cụ quản lý mới được quốc tế chấp nhận (thuế tuyệt đối, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu tự động);
– Xây dựng các tiêu chí miễn trừ trong Luật Cạnh tranh
Câu 2: Chính sách khoan hồng
Khoan hồng là việc cho phép miễn trừ hay giảm trừ hình phạt đối với doanh nghiệp có hành vi vi
phạm luật cạnh tranh nhưng sau đó đã hợp tác với các cơ quan thực thi luật cạnh tranh Theo đó, nội
dung cốt lõi của chính sách này là miễn trừ hoặc giảm trừ đáng kể cho các tổ chức và cá nhân tham
Trang 4gia chương trình khoan hồng khỏi nguy cơ bị xử phạt hành chính hay bị áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc mà lẽ ra họ phải gánh chịu do thực hiện hành vi vi phạm luật cạnh tranh
Giá trị của chương trình khoan hồng nằm ở khả năng cho phép các cơ quan quản lý cạnh tranh được tiếp cận các chứng cứ và thông tin mật liên quan đến các TTHCCT bất hợp pháp, mà trên thực tế nếu không có chính sách này thì sẽ cực kỳ khó khăn và tốn thời gian để thu thập chúng trong giai đoạn đầu của cuộc điều tra Vì vậy, khoan hồng có thể được sử dụng như là một phương pháp bổ sung trong việc thu thập chứng cứ, giúp giảm đáng kể chi phí điều tra cũng như chi phí xét xử cho cả cơ quan quản lý cạnh tranh và tòa án Các cơ hội được hưởng miễn trừ hình phạt cũng khuyến khích người có chức vụ trong doanh nghiệp, là người nắm giữ đầy đủ và chi tiết các bằng chứng ngay từ đầu, cung cấp thông tin về TTHCCT và từ đó giúp cho việc thu thập các chứng cứ này của các cơ quan quản lý cạnh tranh trở nên dễ dàng hơn
Như vậy, ảnh hưởng của chính sách khoan hồng tạo ra một hiệu ứng vòng tròn như sau: chính sách khoan hồng tạo động lực cho các thành viên giữ lại chứng cứ về TTHCCT ngay từ ban đầu, điều này làm cho cơ quan quản lý cạnh tranh dễ dàng phát hiện, điều tra và xử lý hơn; một khi hiệu quả thực thi pháp luật của cơ quan quản lý cạnh tranh tăng cao, nguy cơ doanh nghiệp tham gia TTHCCT bị phát hiện và xử phạt cũng sẽ càng gia tăng; trong tình thế đó, doanh nghiệp sẽ bị thúc đẩy chọn phương án chủ động tự tiết lộ hành vi vi phạm để xin được áp dụng biện pháp khoan hồng hơn là thụ động chờ bị cơ quan cạnh tranh phát hiện và xử lý nghiêm khắc
Xây dựng chính sách khoan hồng trong pháp luật cạnh tranh của Việt Nam
Trong quy định về chống hành vi TTHCCT của pháp luật Việt Nam cũng đã có quy định về chính sách khoan hồng Theo quy định tại Luật Cạnh tranh 2004 và Nghị định 120/2005/NĐ-CP thì mức phạt 5% đối với hành vi TTHCCT trong đấu thầu đồng thời được áp dụng cho khung phạt thông thường và khung phạt tăng nặng Quy định bất hợp lý này đã được sửa đổi tại Nghị định số 71/2014/ NĐ-CP quy định với mỗi tình tiết tăng nặng hoặc với mỗi tình tiết giảm nhẹ, mức tiền phạt sẽ được điều chỉnh giảm hoặc tăng tương ứng 15% nhưng không có hướng dẫn cách tính cụ thể Điều này gây ra nhiều tranh cãi về việc áp dụng, có thể kéo theo sự tùy tiện của cơ quan cạnh tranh trong quá trình cân nhắc và xử phạt
Không dễ để có thể phát hiện và xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này vì các thủ đoạn thông đồng của các công ty khá tinh vi Cơ quan điều tra phải tiến hành khám xét và dùng nhiều nghiệp vụ
để có thể thu thập được chứng cứ và điều này không phải lúc nào cũng có thể đem lại hiệu quả Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu thêm về chương trình khoan hồng để áp dụng phù hợp với thực tiễn Việt Nam Các tình tiết giảm nhẹ được quy định trong Luật Cạnh tranh sau hơn 10 năm thực thi chưa tạo ra sức hút đủ để biến thành động cơ và áp lực lớn để các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận trình báo và cung cấp thông tin về thỏa thuận mà họ tham gia Bởi thực tế các quy định về tình tiết giảm nhẹ chỉ được đặt ra trong trường hợp có hành vi vi phạm Mức giảm nhẹ khung hình phạt theo Nghị định 71/2014/NĐ-CP là 15% tổng mức tiền phạt đối với mỗi doanh nghiệp vi phạm cho mỗi tình tiết giảm nhẹ Tham khảo về chế định khoan hồng trong quy định của một số nước khác trên thế giới thì mức khoan hồng có thể lên đến 50% hoặc 75% mức tiền phạt
Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản khi quy định về “chương trình khoan dung” Theo Điều 7-2 Luật Chống độc quyền Nhật Bản, để được miễn trừ toàn bộ tiền phạt, các thành viên
Trang 5tham gia các-ten phải: khai báo các hành vi tham gia các-ten và cung cấp tài liệu, bằng chứng về hành vi phản cạnh tranh lên JFTC; việc khai báo và cung cấp chứng cứ này phải tiến hành trước khi JFTC mở cuộc điều tra; công ty khai báo phải chấm dứt hành vi vi phạm trước khi JFTC tiến hành điều tra; công ty khai báo phải cung cấp các thông tin bổ sung theo yêu cầu của JFTC và công ty khai báo chưa từng có hành vi ép buộc chủ thể khác tham gia các-ten cũng như ngăn cản họ chấm dứt tham gia các-ten Chủ thể kinh doanh khai báo sớm nhất sẽ được miễn 100% tiền phạt, chủ thể khai báo thứ 2 được miễn 50% tiền phạt, chủ thể khai báo thứ 3 được miễn 30% (tối đa không quá 3 chủ thể) Ngoài ra, các lãnh đạo, nhân viên của công ty đầu tiên khai báo tới JFTC cũng sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự
Như vậy, cần thiết xây dựng và phát triển “chương trình khoan hồng” trong quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam Khi xây dựng chương trình cần học hỏi kinh nghiệm các nước, kết hợp với nguyên tắc minh bạch, rõ ràng, bảo mật thông tin đối tượng khai báo và chương trình bảo vệ nhân chứng… bởi đây là một kênh rất quan trọng trong việc phát hiện sớm và xử lý kịp thời các hành vi hạn chế cạnh tranh
Câu 3: Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong TTKT.
Trước 2018:
- Văn bản Luật liên quan:
Luật Cạnh Tranh 2004 (Điều 20)
Nghị định 56/2009/NĐ-CP (Điều 3)
- Giải quyết
Điều 3 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm nghiệp và thủy sản10 người trở xuống20 tỷ đồng trở xuốngtừ trên 10 người đến
200 người từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng từ trên 200 người đến 300 người
II Công nghiệp và xây dựng10 người trở xuống20 tỷ đồng trở xuốngtừ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương mại và dịch vụ10 người trở xuống10 tỷ đồng trở xuốngtừ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến
50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Trang 6Sau 2018:
- Văn bản Luật liên quan:
Luật Cạnh Tranh 2004 (Điều 20)
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017 ban hành ngày 12/6/2017, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 (Điều 4)
- Giải quyết:
Điều 4 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây:
a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;
b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng
2 Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ
Câu 9: Hành vi thõa thuận hạn chế cạnh tranh và Hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
- Hành vi hạn chế cạnh tranh : căn cứ Luật Cạnh Tranh và Nghị Định.
Liên hệ thực tế:
Xác định thị trường liên quan là yếu tố quan trọng để xác định một doanh nghiệp có hành vi hạn chế cạnh tranh hay không Trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, cơ quan cạnh tranh đã áp dụng các tiêu chí xác định tiêu chí thị trường liên quan
Vụ việc hạn chế cạnh tranh đầu tiên: vụ Vinapco đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu bay cho Hãng hàng không Jetsrar Pacific Airlines (JPA) Ngày 01/4/2008, Vinapco đã đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu cho các chuyến bay của JPA từ 0 giờ ngày 01/4/2008 với nguyên nhân là do JPA
và Vinapco không thống nhất về việc tăng mức phí dịch vụ cung cấp nhiên liệu hàng không mới do phía Vinapco đưa ra Tuy nhiên, mức giá này không áp dụng với Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (VNA) Tại thời điểm xem xét, Vinapco là công ty Doanh nghiệp nhà nước duy nhất được phép hoạt động trong thị trường dịch vụ cung ứng xăng dầu hàng không dân dụng tại các sân bay dân dụng Việt Nam Mặt khác, trên thị trường Việt Nam hiện nay, chỉ có JPA và VNA khai thác các đường bay nội địa và Vinapco là doanh nghiệp trực thuộc VNA Với những dấu hiệu trên, Cục quản
lý cạnh tranh đã áp dụng khoản 2 Điều 86 để ra quyết định điều tra sơ bộ Vinapco bị điều tra vì đã thực hiện hai hành vi hạn chế cạnh tranh theo điều 14 Luật cạnh tranh là áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng Ngày 14/4/2009, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã mở phiên điều trần xử kín đối với hành vi hạn chế cạnh tranh của Vinapco và xác định Vinapco đã vi phạm
Trang 7Luật cạnh tranh tại khoản 2 và khoản 3 điều 14 về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định xử phạt tiền Vinapco là 3,37 tỷ đồng và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền về tổ chức quản lý đối với Vinapco và các dịch vụ xăng dầu hàng không, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
Vụ việc thứ hai: là vụ việc Công ty trách nhiệm hữu hạn MP&Silva (MP&Silva) độc quyền phân phối lại bản quyền phát sóng giải bóng đá ngoại hạng Anh ngày Chủ nhật tại Việt Nam Theo thỏa thuận, MP&Silva phân phối lại gói độc quyền ngày Chủ nhật cho Công ty truyền hình số vệ tinh Việt Nam (VSTV), đơn vị chủ sở hữu của kênh truyền hình K+ Vì vậy, K+ là kênh truyền hình duy nhất phát sóng giải Ngoại hạng Anh ngày Chủ nhật tại Việt Nam Vì vậy, các đơn vị không có bản quyền sẽ phải ngừng phát sóng giải bóng đá ngoại hạng anh trên lãnh thổ Việt Nam Người xem truyền hình muốn xem giải bóng đá này phải bỏ thêm một khoản chi phí nhiều hơn so với hiện tại Nhiều ý kiến cho rằng, K+ đã lạm dụng vị trí độc quyền để đưa giá dịch vụ lên cao, không quan tâm đến nhu cầu của đa số người tiêu dùng, có dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh Dưới góc độ luật cạnh tranh, cần xác định được có phải K+ có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan hay không? Căn cứ vào các quy định về thị trường liên quan, các tính thay thế của hàng hóa, dịch vụ có thể thấy K+ không lạm dụng vị trí độc quyền và không thể đánh đồng việc K+ được độc quyền sử dụng quyền tác giả (chương trình ghi hình giải bóng đá) là độc quyền trên thị trường liên quan rồi từ đó lên án họ tăng giá hay áp đặt điều kiện giao dịch
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
1 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh (Luật CT) năm 2004, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
Điều 2 của Luật CT năm 2004 xác định rõ đối tượng áp dụng của Luật này là các tổ chức, cá nhân kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, bao gồm doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam cũng như các hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam Đặc điểm này phản ánh phạm vi đối tượng thực hiện các hành vi cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, xảy ra trong mọi lĩnh vực kinh tế, trên tất cả các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh Trên thị trường cạnh tranh, hành vi kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là hành vi cạnh tranh trong mối quan hệ tương quan với doanh nghiệp khác Mặt khác, hoạt động kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi và được thực hiện trên thị trường Như vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải là những hành vi được
Trang 8các doanh nghiệp thực hiện trên thị trường, trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh và được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi
Tuy nhiên, quy định của Luật CT hiện hành đã không có sự thống nhất Như đã trích dẫn ở trên, chủ thể thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam Nhưng định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chỉ
nêu:“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp”, nghĩa là đã
loại bỏ mất một đối tượng chủ thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê bao gồm cả hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi trái với các chuẩn mực thông thường
về đạo đức kinh doanh
Đặc điểm này cho thấy bản chất không lành mạnh của hành vi và dựa vào đó để làm cơ sở phân biệt giữa cạnh tranh lành mạnh với cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Trong khái niệm về hành
vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật CT năm 2004 không nêu rõ biểu hiện khách quan của hành vi vì các thủ thuật cạnh tranh được các doanh nghiệp thực hiện trên thực tế rất đa dạng, tinh vi, có thể là những hành vi gây nhầm lẫn, gian dối, gièm pha, gây rối… Nhưng lại trích dẫn một điều luật khác để liệt kê các hành vi được xác định là cạnh tranh không lành mạnh Trong thực tiễn áp dụng, pháp luật cần phải có những quy định cụ thể để nhận diện từng hành vi
Để xác định một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh, phải căn cứ vào "các chuẩn mực thông thường về đạo đức trong kinh doanh" Đạo đức kinh doanh là một phạm trù dùng để chỉ những yêu cầu, đòi hỏi còn cao hơn cả những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ pháp lý Những hành vi như trốn thuế, lừa đảo, làm hàng giả, gây thiệt hại cho doanh nghiệp khác bằng cách làm ăn gian dối… không thuộc đối tượng điều chỉnh của đạo đức học kinh doanh, vì đó là những hành vi bất chính thuộc phạm vi kiểm soát và xử lý của pháp luật Đạo đức kinh doanh là những quy tắc xử sự, những tập quán kinh doanh đã được thừa nhận rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, đây là một căn cứ khó định lượng, đòi hỏi pháp luật phải thường xuyên bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với sự vận động của đời sống xã hội, trong những điều kiện lịch sử cụ thể Vì vậy, quan niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, liên quan đến các phạm trù kinh tế,
xã hội, đạo đức của một xã hội nhất định
Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng
Điều 33 Hiến pháp năm 2013, quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Điều 4 Luật CT năm 2004, quy định: “Doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh” Tất nhiên, để được Nhà nước bảo hộ, việc cạnh tranh đó phải thực hiện trên nguyên tắc trung thực, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của pháp luật cạnh tranh
Như vậy, khi một hành vi cạnh tranh được thực hiện nhưng không theo nguyên tắc nói trên, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng, thì hành vi cạnh tranh
Trang 9đó được coi là không lành mạnh Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là đã có thực và xác định được nhưng cũng có thể là thiệt hại có nguy cơ xảy ra (tiềm năng) nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời
=> Đối với hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, không cần phải xác định chính xác đối tượng và mức độ thiệt hại vật chất cụ thể, chỉ cần phân tích bản chất và diễn biến của hành vi để kết luận về những tác động của nó đến tình hình cạnh tranh trên thị trường liên quan
2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định tại Điều 39 Luật CT năm 2004, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản
4 Điều 3 Luật này
Dưới góc độ kinh tế, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo Biểu hiện của các hành
vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp bao gồm: Chiếm đoạt các bí mật thương mại mà doanh nghiệp khác đã phải đầu tư nhiều công sức mới có được và nó đã trở thành tài sản của doanh nghiệp đó; hành vi nhái lại nhãn mác, bao bì, kiểu dáng, khẩu hiệu kinh doanh, thương hiệu, tạo sự nhầm lẫn trong khách hàng và gây thiệt hại trực tiếp cho đối thủ cạnh tranh… Ví dụ: Trong lĩnh vực nước giải khát, nhãn hiệu nước khoáng Lavie đã bị một số tên gọi thương mại khác giả mạo như: Laville, Leville, Lavier… Trong lĩnh vực xe máy, nhãn hiệu Wave của hãng Honda được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng đã bị đánh lừa bởi các loại xe với kiểu dáng tương tự của Trung Quốc như Waver, Wake up…
3 Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Qua nghiên cứu, người viết thấy rằng, cùng là hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng nhà làm luật đã quy định xử lý ở hai văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, đó là Luật CT năm 2004 và Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), về cơ bản có thể thấy, cách quy định của cả hai văn bản này giống nhau Tuy nhiên, do phạm vi điều chỉnh của hai văn bản trên là khác nhau, do đó, có những điểm không tương đồng như sau:
Thứ nhất: Về đối tượng được bảo vệ, pháp luật về quyền SHTT hướng tới bảo hộ các đối tượng mà
quyền sở hữu được xác lập một cách rõ ràng, đầy đủ thông qua thủ tục đăng ký, cấp văn bằng bảo hộ hoặc các tiến trình pháp lý khác do Nhà nước quy định Còn Luật CT năm 2004 lại bảo hộ các lợi thế cạnh tranh không được bảo hộ thông qua văn bằng bảo hộ Chẳng hạn, như nhãn hiệu chưa đăng ký hay bí mật kinh doanh.Như vậy, đối tượng được bảo hộ trong Luật CT năm 2004 rộng hơn so với Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Ngoài ra, các đối tượng như biểu tượng (logo), bao bì sản phẩm, Nếu không được bảo hộ bởi các quy định riêng về SHTT thì có thể tìm thấy cơ sở pháp lý để bảo vệ trong Luật CT năm 2004
Thứ hai: áp dụng các biện pháp dân sự để bảo vệ khi có hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Trang 10Trách nhiệm dân sự cho các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về cơ bản không có sự khác biệt đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Tuy nhiên, theo quy định của Luật CT năm 2004 thì hậu quả pháp lý của hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ bị áp dụng chế tài xử phạt hành chính mà không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có) Đây
là điểm khác biệt giữa Luật CT năm 2004 và Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Việc áp dụng các chế tài hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh không giải quyết được việc bù đắp những thiệt hại xảy ra đối với đối thủ bị cạnh tranh và khách hàng Doanh nghiệp vừa mất thời gian, chi phí khởi kiện và rồi phải tiếp tục thực hiện thêm một vụ kiện về dân sự nữa để được bồi thường thiệt hại Đây cũng chính là lý do tại sao hiện nay các vụ kiện về cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng theo Luật CT năm 2004 chiếm tỉ lệ không nhiều Trong khi đó, tại khoản 3 Điều 198 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh” Điều 117 Luật CT năm 2004 có đề cập đến khả năng bồi thường khi bị thiệt hại: “Tổ chức, cá nhân có hành vi, vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”
Thứ ba: yếu tố lỗi, theo Luật CT năm 2004 khi một hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra thì hành vi này xuất phát từ lỗi cố ý Điều 40 Luật CT năm 2004 cũng đã chỉ rõ hành vi chỉ dẫn gây
nhầm lẫn phải “nhằm mục đích cạnh tranh” Do đó, yếu tố lỗi là dấu hiệu quan trọng đối với các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật CT năm 2004 Trong khi đó, với lĩnh vực SHTT, yếu
tố lỗi không được xem là yếu tố quan trọng trong cấu thành hành vi vi phạm Một khi các đối tượng của quyền SHTT được đăng ký hay hình thành theo đúng các quy định của pháp luật thì các chủ thể khác được suy đoán là đã biết đến quyền của chủ sở hữu Chẳng hạn, trong một số trường hợp, việc
sử dụng chỉ dẫn trùng nhau (tên thương mại) nhưng không xuất phát từ việc cố ý Do đó, sẽ chỉ cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyềnSHTT theo Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) khi mà hành vi đó không được sự cho phép của chủ sở hữu
4 Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Thứ nhất, phải có hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Hành vi cạnh tranh có bản chất là hành vi
chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh, hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo
Thứ hai, phải có thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của
hành vi cạnh tranh không lành mạnh và là điểm phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Việc xác định thiệt hại là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại
có căn cứ đòi bồi thường và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại Quan
hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp, không phải là sự suy diễn chủ quan Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau Bên thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ phải chịu trách nhiệm pháp