Chương 5 : Cải cách thể chế ở Trung Quốc V.1 Cải cách thể chế kinh tế cao dộ tác động hàn ngắn vết thương chiến tranh , khôi phục , phát triển kinh tế bài xích vai trò quy luật giá trị
Trang 1Chương 5 : Cải cách thể chế ở Trung Quốc
V.1 Cải cách thể chế kinh tế
cao dộ
tác động hàn ngắn vết thương chiến tranh , khôi phục , phát triển kinh tế
bài xích vai trò quy luật giá trị , cơ chế thị trường => ngày càng cứng nhắc , giáo điều , trói buộc
sự phát triển của xã hội
XHCN
- Thế chế TQ trải qua các giai đoạn : kinh tế kế hoạch , kế hoạch là chính , điều tiết thị trường là phụ , hàng hóa có
kế hoạch , thị trường XHCN
V.1.1 cải cách chế độ sở hữu
Cải cách chế độ sở hữu nhằm giải phóng và phát triển sức sản xuất, đa dạng hóa các loại hình sở hữu , trong đố công hữu có vai trò chủ thể
Kinh tế quốc hữu
Kinh tế tập thể
Kinh tế có vốn bên ngoài
Kinh tế tư doanh
Kinh tế cá thể
Công hữu là chủ thể
Tài sản công hữu
chiếm ưu thế trong tổng tài
sản xã hội
Kinh tế quốc hữu khống chế mạch máu của nền kinh tế quốc dân
Kinh tế quốc hữu phải đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển kinh tế
Coi trọng địa vị kinh tế phi công hữu
Đối sử bình đẳng với tất cả các loại hình doanh nghiệp
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân
Kiện toàn các chính sách kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng
Các doanh nghiệp nhỏ , vừa được khuyến khích phát triển mạnh , có nhiều ưu đãi
V.1.2 Xây dựng đồng bộ khung thể chế kinh tế thị trường XHCN ( mang màu sắc TQ )
Tăng mạnh mẽ sự điều tiết của thị trường, ban hành các đạo luật hỗ trợ cho thể chế thị trường , bảo vệ quyền sở hữu , duy trì ổn định tài chính + kinh tế vĩ mô, khuyến khích sáng tạo đổi mới
Trang 2 Đổi mới công tác kế hoạch hóa : Thị trường có tác dụng cơ bản trong việc phân phối các nguồn lực , từng bước thu hẹp các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch , nhà nước định giá , giảm kế hoạch pháp lệnh , xóa bỏ hạn chế kinh doanh của doanh nghiệp
Cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại hình thị trường :
Thị trường hàng
hóa
Thị trường vốn TT lao động TT Khoa học - CN
cải cách chế độ bán
buôn bán lẻ, cho
phép kinh tế phi
quốc hữu tham gia
buôn bán, lập cấc
chợ bán buôn , các
trung tâm thương
mại, dần nối liền
thành thị với nông
thôn
thiết lập thị trường tín dụng , khôi phục đẩy mạnh hoạt động thị trường cổ phiếu
và trái phiếu
nới lỏng những hạn chế của việc di cư từ nông thôn ra thành thị , , mở ra những
cơ sở giới thiệu việc làm
khuyến khích hội chợ thương mại hàng công nghệ, giảm bớt hàng rào nhập khẩu hàng công nghệ, lới lỏng những quy định về hợp đồng chuyển nhượng bằng sáng chế công nghệ
Cải cách giá cả : nới lỏng giá cả đối với hàng nông sản , hàng hóa nhỏ , hàng tiêu dùng lâu bền , dịch vụ , tư liệu sản xuất Giá hàng hóa xuất khẩu cũng từng bước được thả nổi
Sự can thiệp của chính phủ vào sự hoạt động của các doanh nghiệp : Chính phủ rút lui bằng các biện pháp như tư nhân hóa , công ty hóa , chứng khoán hóa
V.1.3 Cải cách thể chế kinh tế ở nông thôn
Khoán sản lượng đến hộ gia đình, xóa bỏ công xã nhân dân , cải cách thể chế lưu thông nông sản
1982 : khoán theo chiều sâu ( ? ) ; nửa đầu những năm 1980 : đặc biệt chú trọng đến khâu trước, trong và sau sản xuất
Cải cách thể chế lưu thông nông sản : mua theo hợp đồng , mua theo thị trường , cải cách lưu thông nông sản gắn liền với cải cách giá cả.=> thị trường hóa toàn diện
Xí nghiệp hương trấn : “ rời ruộng không rời làng quê , vào nhà máy không vào thành phổ “ , miến giảm thuế , điều chỉnh tỉ giá đồng NDT , thu hẹp phạm vi quản lý giấy phép
=> thúc đẩy những thay đổi về sự di chuyển vốn , lao động , công nghệ ở nông thôn cúng như giữa thành thị và nông thôn nới lỏng đáng kể
V.1.4 Cải cách doanh nghiệp nhà nước
Đây là nhiệm vụ chủ yếu của quá trình cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc, là quá trình đổi mới đồng bộ từ quan điểm, chủ trương, chính sách, thể chế
Lịch trình cải cách DNNN ở Trung Quốc:
*Thời kỳ trước năm 1997:
Trang 3- Giữa những năm 1950 đến cuối những năm 1970: bắt đầu có những điều chỉnh về cơ chế quản
lý đối với DNNN song chủ yếu là điều chỉnh phân cấp quản lí doanh nghiệp nhà nước cho địa phương
- 1978- 12/1986: thực hiện chế độ quỹ vốn, thực hiện một số quy định về mở rộng quyền tự chủ kinh doanh, chế độ khoán lợi nhuận, thí điểm và tiến hành chế độ đóng thuế, thực hiện trách nhiệm khoán kinh doanh
-1991-1993: ban hành các điều lệ nhằm chuyển đổi cơ chế kinh doanh, đề ra mục tiêu xây dựng “ Thể chế doanh nghiệp hiện đại hóa”
-1996: ban hành kế hoạch năm năm lần 9, nêu ra các biện pháp cải cách DNNN chủ yếu
*Thời kỳ từ 1997 đến nay
Tổ chức đại hội XV và hội nghij TW 4 đi sâu giải quyết 1 số vấn đề quan trọng:
-Nhấn mạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước: vai trò kinh tế của nhà nước được thông qua doanh nghiệp 100 % vốn của Nhà nước , đẩy mạnh chế độ cổ phần; Kinh tế nhà nước đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế quốc dân, Kinh tế nhà nước cần duy trì số lượng cần thiết phân bổ tối ưu
và nâng cao chất lương
-Làm sống lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Phân loại doanh nghiệp để chỉ đạo thực hiện cải tổ có tính chiến lược DNNN( 4 loại)
-Tìm tòi hình thức quản lý tài sản DNNN có hiệu quả
-Xử lý tốt mối quan hệ giữa “ba hội mới” và “ ba hội cũ”
-Đẩy mạnh phát triển công ty có nhiều chủ thể đầu tư
-HÌnh thành 6 cơ chế kinh doanh của DNNN để thích ứng với cơ chế thị trường
-Tăng cường cải thiện quản lí doanh nghiệp
-Thực hiện giảm biên chế , tăng năng suất, tái tạo việc làm và bảo đảm xã hội
-Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý thích ứng với đòi hỏi cạnh tranh trên thị trường., áp dụng cơ chế tuyển chọn người và dùng người mới
V.1.5 Cải cách thể chế hành chính
Trang 4Quá trình cải cách thể chế tài chính ở Trung Quốc đã được thực hiện nhiều lần theo từng bước với nội dung cơ bản: quy định rõ phạm vi chi ngân sách của các cấp, quy định phân cấp thu các loại thuế, gần đây là xác định lại chức năng của Bộ tài chính và tổng cục thuế
-Về ngân sách của các cấp: chính phủ đảm bảo chi các khoản mạng tính toàn quốc, chính quyền địa phương chi ngân sách cho địa phương
-Về phân cấp thu thuế: thuế chia làm 3 loại Năm 1994, Trung Quốc thực hiện cải cách toàn diện
hệ thống thuế công nghiệp nhằm tạo ra hệ thống thuế bình đẳng thống nhất
-Về cải cách cơ quan tài chính và thuế vụ: chấm dứt tình trạng chỉ làm việc cụ thể về thu chi, thực hiện phân bổ và sử dụng vốn ngân sách theo yêu cầu của thị trường, thực hiện chi ngân sách theo đúng pháp luật công bằng, tuân thủ nguyên tắc tinh giản và hiệu quả cao
V.1.6.Cải cách tiền tệ
Cải cách thể chế tiền tệ thực hiện theo hướng xây dựng một hệ thống tiền tệ lấy Ngân hàng nhà nước làm chủ thể, đồng thời có nhiều cơ cấu tiền tệ khác nhau, có sự phân công hợp tác, ngân hàng chính sách tách ra khỏi ngân hàng thương mại
Năm 1984 ngân hàng Nhà nước Trung Quốc thành lập với chức năng là ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm hoạch định chính sách tiền tệ và giám sát hệ thống ngân hàng Năm 1993, TRung quốc tiến hành đợt cải cách tiền tệ rộng rãi Từ đó, Nhà nước đã:
-Thành lập 3 ngân hàng chính sách để điều hành việc cấp vốn và khởi xướng chương trình chuyển đổi 4 ngân hàng lớn của Nhà nước thành ngân hàng thương mại
-Thông qua các bộ luật xác định rõ quyền hạn, quyền lợi và nghĩa vụ của các ngân hàng
-TRao thêm quyền tự chủ cho các ngân hàng thương mại của Nhà nước
-Đưa ra các biện pháp gián tiếp mới trong việc quản lí tiền tệ
- Chia tách các mối liên hệ sở hữu giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng và thắt chặt quy định quản lí 2 sở giao dịch của TRung quốc
- Đề xướng 1 hệ thống thanh toán hiện đại
Trang 5Kết quả: đến nay Trung quốc có hệ thống tiền tệ tương đối lớn mạnh và đa dạng
V.1.7 Cải cách thể chế thương mại
Cải cách thể chế thương mại là một nội dung đặc biệt quan trọng trong chiến lược cải cách kinh tế ở Trung Quốc
5 giai đoạn cải cách thể chế thương mại:
Giai đoạn 1( 1979-1984): quyền hoạt động ngoại thương dần được chuyển từ trung ương tới các tỉnh, thành phố tự trị, ngành sản xuất và doanh nghiệp, quá trình cải cách được kiểm tra ngặt nghèo và có sự điều chỉnh
Giai đoạn 2( 1985-1986): tách biệt chức năng của chính phủ ra khỏi doanh nghiệp, đơn giản hóa các thủ tục quản lí xuất nhập khẩu, điều chỉnh thuế quan và tiếp tục phân cấp quyền lực tới các doanh nghiệp
Giai đoạn 3( 1987-1990): thực hiện chung hệ thống hợp đồng ở các doanh nghiệp sản xuất cũng như doanh nghiệp thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu, giảm các khoản trợ cấp xuất khẩu, trách nhiệm với các khoản lỗ và lãi từ xuất khẩu
Giai đoạn 4( 1991-1993): cải cách thể chế thương mại đi vào chiều sâu, bắt đầu tiến hành công tác chuẩn bị cho sự gia nhập WTO: loại bỏ trợ cấp xuất khẩu, sử dụng tỉ giá và thuế quan điều chỉnh các hoạt động thương mại,…Tăng cường tính minh bạch của hệ thống doanh nghiệp, cải cách hệ thống nhập khẩu
Giai đoạn 5( 1994 đến nay): thực hiện cải cách toàn diện thuế quan, tài chính và hệ thống tiền tệ tạo thuận lợi cho thương mại: chế độ tỉ giá thả nổi có kiểm soát, ban hành Luật thương mại tiến bộ( 5/1994), chuyển sang cơ chế gián tiếp quản lí thương mại
V.1.8 Cải cách thể chế phân phối
Trang 6Trung Quốc dần xóa bỏ cơ chế phân phối kiểu cũ thay vào đó là hình thành thể chế phân phối gắn thu nhập với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động ở cả nông thôn
và thành thị
Căn cư vào tiền đề lấy phân phối theo lao động làm chủ thể, nhiều hình thức phân phối khác như: phân phối theo các yếu tố sản xuất như tiền vốn, kỹ thuật,… cũng được thừa nhận và
áp dụng ngày càng sâu rộng
V.2 Cải cách thể chế chính trị
Trước cải cách , thể chế chính trị của Trung quốc có tính tập quyền cao độ, và ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật Ví dụ : quyền dân chủ của nhân dân thiếu sự đảm bảo bằng chế độ và bằng pháp luật, tình trang quyền lực quá tập trung, từ đó dẫn đến hiện tượng quan liêu chủ nghĩa, chế
độ gia trưởng tồn tại khá phổ biến, thể chế chính trị lấy “nhân trị” thay cho nhà nước pháp quyền, các chính sách được chế định và ban hành thường thiếu tính khoa học, tính ổn định, tính liên tục và mắc nhiều sai lầm Do đó cải cách thể chế chính trị là một nhiệm vụ tất yếu và có ý nghĩa then chốt
Trong 20 năm qua , Trung Quốc đã tiến hành cải cách một số nội dung quan trọng sau :
I, Cải cách thể chế Đảng lãnh đạo :
- Phương thức lãnh đạo :
Sự lãnh đạo của Đảng chủ yếu là lãnh đạo về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có nghĩa là
sự lãnh đạo về nguyên tắc chính trị, phương hướng chính trị, các quyết sách quan trọng, đồng thời giới thiệu những cán bộ quan trọng cho các cơ quan Nhà nước
Trung Quốc đã bước đầu làm hài hòa được mối quan hệ giữa Đảng với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp
- Vấn đề dân chủ trong Đảng :
Trung Quốc đã xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể, chế độ giám sát và chế độ bầu cử
- Thuyết “ Ba đại diện” của Tổng bí thư Giang Trạch Dân :
Hội nghị Trung ương 6 khóa XV (24-26/9/2001) chính thức xác định thuyết này là cơ sở
lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tình hình mới nhằm thống nhất tư tưởng của Đảng
Với nội dung chính:
+ ĐCS Trung Quốc phải “luôn luôn đại diện cho yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến Trung Quốc”
Trang 7+ ĐCS Trung Quốc phải “ luôn luôn đại diện cho phương hướng tiến lên của nền văn hóa tiên tiến Trung Quốc”
+ ĐCS Trung Quốc phải “ luôn luôn đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân Trung Quốc”
Sau khi thuyết này ra đời thì đã có rất nhiều ý kiến khác nhau thậm chí là trái ngược nhau trong Đảng Nhưng thuyết “Ba đại diện” được tuyền truyền rầm rộ để ghi thành văn bản trong Cương lĩnh của Đảng tại Đại hội Đảng XVI (cuối năm 2002), thực sự coi thuyết này là cái gốc xây dựng Đảng , cơ sở của chấp chính, cội nguồn của sức mạnh Dù cho là thế hệ lãnh đạo thứ tư hay những thế hệ sau nữa thì vẫn dùng thuyết “Ba đại diện” làm cơ sở lý luận và phương hướng lãnh đạo
II, Hoàn thiện chế độ Đại hội đại biểu nhân dân:
Trong hơn 20 năm qua, bản thân chế độ Đại hội đại biểu nhân dân đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện
- Hiến pháp và pháp luật đã làm rõ địa vị và chức trách, quyền hạn của chế độ Đại hội đại biểu nhân dân trong đời sống chính trị Nhà nước
- Chế độ tổ chức và cơ cấu công tác của Đại hội đại biểu nhân dân cũng được tăng cường xây dựng, chẳng hạn như cải tiến và hoàn thiện chế độ bầu cử, mở rộng bầu cử trực tiếp đại biểu nhân dân đến cấp huyện
- Vai trò của Đại hội đại biểu nhân dân và Ban thường vụ của Đại hội trong đời sống chính trị Trung Quốc đã không ngừng được tăng cường, nhất là trong công tác lập pháp và giám sát
III, Cải cách bộ máy Chính phủ:
Từ thời gian bắt đầu bước vào cải cách đến nay, Trung Quốc đã trải qua bốn lần cải cách bộ máy chính phủ và mỗi lần cải cách đều diễn ra trong những thời điểm mấu chốt của công cuộc cải cách thể chế kinh tế và phát triển kinh tế
- Đợt 1: Được tiền hành năm 1982 với nội dung chủ yếu là cải cách thể chế lãnh đạo Quốc
vụ viện, tinh giản cơ cấu và nhân viên, đổi mới đội ngủ lãnh đạo, quy định số lượng chức
vụ, tuổi đời và trình độ văn hóa của ban lãnh đạo cơ quan các cấp, giảm bớt chức phó, trẻ hóa cán bộ, xóa bỏ chế độ cán bộ giữ chức vụ suốt đời, thực hiện chế độ nghỉ hưu của cán
bộ Tuy nhiên chưa tiến hành được bao lâu thì bộ máy lại phình to trở lại
- Đợt 2: Được tiến hành năm 1988 Bộ Chính trị đã thông qua về nguyên tắc phương án cải cách bộ máy Quốc vụ viện với các nội dung chủ yếu là giảm đầu mối và tinh giản biên chế Song kết quả cải cách không được như dự định, vì chuyển biến chức năng của chính phủ vẫn diễn ra chậm chạp
- Đợt 3: Được tiến hành năm 1993 Hội nghị TW 2 khóa XVI ĐCS Trung Quốc đã thông qua “ Phương án cải cách bộ máy Đảng và Chính phủ” với trọng điểm là chuyển biến chức năng của chính phủ Nội dung cải cách chủ yếu bao gồm: điều chỉnh chức năng phối
Trang 8hợp, thúc đẩy chuyển biến chức năng của chính phủ, giải quyết hài hòa một số vấn đề trung lặp, mâu thuẫn về chức trách giữa các ngành, tinh giản bộ máy nhân viên Tuy nhiên đợt cải cách này vẫn chưa đạt được những tiến triển có tính đột phá
- Đợt 4: Được tiến hành năm 1998 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX đã thông qua “ Phương án cải cách Quốc vụ viện” Đây được coi là bước đột phá quan trọng trong quá trình cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc Nội dung chủ yếu là : Chuyển biến chức năng của chính phủ, tách rời chính trách và quyền hạn của các cơ quan chính phủ, xác định rõ sự phân công trách nhiệm giữa các ngành Thi hành công việc chính quyền theo luật định, tăng cường xây dựng pháp chế của hệ thống hành chính Tuy có quy mô lớn nhưng đợ cải cách này vẫn mang tính chất quá độ
Vì vậy mà cải cách bộ máy chính phủ tiếp tục vẫn là một nội dung then chốt mà Trung Quốc phải thực hiện trong những năm tới
IV, Xây dựng nhà nước pháp quyền:
Yêu cầu cơ bản của cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc là phải chuyển từ “ nhân trị” sang Nhà nước pháp quyền Ngay từ khi bước vào cải cách , hệ thống pháp lý của Trung Quốc
đã được chú trọng cải cách Đặc biệt từ lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu cải cách, Đại hội XV ĐCS Trung Quốc (1997) đã dành nhiều ưu tiên cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
Từ 1979 đến 1997, Trung Quốc đa ban hành 311 luật, 700 bộ quy định pháp lý và 4000
bộ quy định hành chính điều chỉnh rộng rãi các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội trong đó phần lớn là điều chỉnh các hoạt động kinh tế, thương mại và đầu tư nước ngoài
Các thể chế thực thi luật pháp cũng được hình thành và thay đổi Ngày càng có nhiều vụ
án kinh tế, dân sự và hành chính được giải quyết thông qua tòa án Bộ luật Luật gia có hiệu lực
từ 1997 đã tạo thuận lợi cho việc phát triển nghề luật gia Ngày càng nhiều trường và khoa luật ở Trung quốc tiến hành giảng dạy và đào tạo luật pháp với các nội dung ngày càng chuyên sâu, giáo trình mới và tăng cường thực tập về việc áp dụng thực thi pháp luật
V.3 Cải cách thể chế xã hội
V.4 Một số nhận xét
- Công cuộc cách thể chế của Trung Quốc trong 20 năm qua là một quá trình cho thấy sự thay đổi rõ rệt của các thể chế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội….Hỗ trợ cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mang màu sắc Trung Quốc
- Nhiều con số thống kê về tình hình kinh tế- xã hội của Trung Quốc hỗ trợ mạnh mẽ cho nhận định trên
+ tỷ trọng của kinh tế quốc hữu trong GDP năm 1978 là 99,1%, đến 1997 giảm còn 75,8%
+ tỷ trọng của kinh tế phi công hữu tăng tương ứngtừ 0,9% lên 24,2%
Trang 9+ sự phát triển của khu vực tư nhân có thể coi là ngoại mục cả về số doanh nghiệp, số lao động và đầu ra
Bảng 1: Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân, 1991-1997
Năm
Sốlượng (nghìn)
Tăngtrưởng (%)
Sốlượng (nghìn)
Tăngtrưởng (%)
Giátrị (tỷ NDT)
Tăngtrưởng (%)
Ghichú: Giá cố định năm 1995
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Phòng Quản Lý Thương Mại và Công Nghiệp Trung Quốc,
1992-1998, Niên giám Thống kê Trung Quốc, 1992- 1998
+ Ở nông thôn, sự lớn mạnh của các XNHT trở thành một trụ cột của nền kinh tế
- Thị trương tín dụng ngân hàng, thị trường khoa học công nghệ đã góp phần quan trọng
vào việc nâng cao rõ rệt năng suất cũng như tăng trưởng kinh tế, nhất là so với thời kỳ
trước cải cách
Bảng 2: Tăng trưởng do đầu vào và thay đổi năng suất tổng hợp các nhân tố (TFP) trong thời
kỳ cải cách và trước cải cách (%)
Thờikỳ Tăng trưởng
vốn
Tăng trưởng lao động
Tăng trưởng GDP thực
Tăng trưởng dẫn dắt bởi đầu vào
Tăng trưởng TFP
Nguồn: Tổng hợp từ sách“ Cải cách và tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc”, nhiều tác giả, Đại
học Quốc gia Ôxtrâylia, 1998
- Sự cải cách thể chế kinh tế đối ngoại tương đối thành công đã giúp Trung Quốc phát triển mạnh ngoại thương và thu hút khối lượng lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Một dấu
Trang 10ấn quan trọng ghi nhận sự thành công trong cải cách của Trung Quốc là gia nhập WTO năm 2001 Người ta ước tính , sau khi gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu củaTrung Quốc mỗi năm sẽ tăng thêm 116 tỷ USD , và đến năm 2005, giá trị FDI đổ vào Trung Quốc sẽ đạt 100 tỷ USD so với mức hơn 40 tỷ USD hàng năm hiện nay
- Ngoài ra, các thể chế này ngày càng tham g ia tích cực vào các lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, bảo vệ môi trường, thúc đẩy dân chủ…
- Công cuộc cải cách thể chế ở Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-
xã hội của nước này GDP năm 2001 cao gấp hơn 20 lần, thu nhập bình quân đầu người cao gấp gần 5 lần so với năm 1978 Mức sống người dân có sự chuyển biến lớn từ chỗ đủ
về lượng sang nâng cao về chất
- Với những thành tựu to lớn đạt được trong thờikỳ cải cách, sức mạnh, vị thế của Trung Quốc đã được nâng cao đáng kể trên trường quôc tế Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn đang trong quá trình quá độ không ít khó khăn để đi tới nền kinh tế thị trường XHCN Bên cạnh sự thành công ở một số lĩnh vực,
khôngítlĩnhvựccảicáchkhácgặpphảirấtnhiềukhókhănvàkếtquảđạtđượckhôngnhưmongđợi, vàđượcTrungQuốcthừanhậnlàcònyếukém, đángchú ý là:
+ Cảicách DNNN vẫntiếnchậm ;chủtrươngvàbiệnphápchưathậtsángrõ,
thihànhyếukémvàgặpnhiềuvướngmắc
+ Sựchênhlệchgiàu – nghèogiữathànhthịvànôngthôn,
giữavùngDuyênhảimiềnTâytrởthànhvấnđềlớn, chưacócáchgiảiquyếttốt Đángchú ý làsứclaođộngdưthừa ở nôngthônvẫndiễnranghiêmtrọng, tìnhtrạngnghèokhổ ở
nôngthônchưađượccảithiện
+ CảicáchthểchếNhànước, cảicáchhànhchínhcònchậm, gặpnhiềubấtcập
+ CảicáchhệthốngngânhàngchữnglạivàchịunhiềusứcépkhiTruungQuốcgianhập WTO + Thịtrườngvốncònnhỏbé,vẫnchịunhiềusựđiềutiếtcủaNhànước, do
vậychưađápứngthỏađángnhucầuđầutư, kinhdoanh
+ Tìnhtrạngthamnhũngnặngnề, phổbiến…
- Ngoàira, cònmộtsốvấnđềmangtính ý nghĩalớncảvềlýluậnvàthựctiễnlàviệcxâydựng“ CNXHmangmàusắcTrungQuốc” Song, 2 câuhỏilớn“ CNXHlàgì?” và “
màusắcTrungQuốclàgì” vẫnchưacócâutrảlờirõràng Vềkinhtế,
TrungQuốcxâydựngnềnkinhtếthịtrường XHCN; đólànềnkinhtếnhưthếnào, cókhácgì so vớicácnềnkinhtếphươngTây?.ĐólànhữngcâuhỏimàTrungQuốcphảitrảlời