1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận luật lao động: vấn đề nâng cao tay nghề những chiến lược, giải pháp về nâng cao kỹ năng nghề nhằm nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của người lao động.

17 316 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 31,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, Việt Nam đã giành được nhều thành tựu đáng kể về tăng trưởng kinh tế cùng với đó năng suất lao động tăng dần qua từng năm đưa đến những tiến bộ về thu nhập, đời sống người lao động được nâng lên. Tuy vậy, việc sử dụng lao động có tay nghề thấp ở nước ta vẫn chiếm tỉ trọng lớn, tiếp tục tình trạng này thì sẽ kìm hãm sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai, nhất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tăng cường việc mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng cao dẫn đến những thay đổi về mặt kinh tế.Từ những yếu tố trên, đòi hỏi Việt Nam phải có những chiến lược, giải pháp về nâng cao kỹ năng nghề nhằm nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của người lao động.

Trang 1

I Mở đầu

Trong những năm qua, Việt Nam đã giành được nhều thành tựu đáng kể về tăng trưởng kinh tế cùng với đó năng suất lao động tăng dần qua từng năm đưa đến những tiến bộ về thu nhập, đời sống người lao động được nâng lên Tuy vậy, việc sử dụng lao động có tay nghề thấp ở nước ta vẫn chiếm tỉ trọng lớn, tiếp tục tình trạng này thì sẽ kìm hãm sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai, nhất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tăng cường việc mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng cao dẫn đến những thay đổi về mặt kinh tế

Từ những yếu tố trên, đòi hỏi Việt Nam phải có những chiến lược, giải pháp

về nâng cao kỹ năng nghề nhằm nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của người lao động

II Nội dung

1 Khái quát về kỹ năng nghề

Bộ 3 kỹ năng của người lao động bao gồm: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và hành vi và kỹ năng kỹ thuật Những lĩnh vực này bao gồm các kỹ năng công việc cụ thể, phù hợp cho các ngành nghề cụ thể, cũng như năng lực nhận thức và các tố chất cá nhân khác nhau có ý nghĩa quyết định đến thành công trên thị trường lao động, cụ thể:

Các kỹ năng nhận thức bao gồm: Kỹ năng sử dụng tư duy lô-gíc, trực giác và

tư duy phê phán cũng như tư duy giải quyết vấn đề thông qua các kiến thức đã

có Các kỹ năng này bao gồm khả năng đọc, viết và tính toán, và mở rộng đến cả năng lực hiểu được các ý tưởng phức tạp, học hỏi từ kinh nghiệm, và phân tích vấn đề sử dụng các quy trình tư duy lô-gíc

Các kỹ năng xã hội và hành vi bao gồm các tố chất cá nhân có tương quan đến thành công trên thị trường lao động như: cởi mở để trải nghiệm, tận tâm, hướng ngoại, biết cách tán đồng và sự ổn định về cảm xúc

Các kỹ năng kỹ thuật bao gồm sự khéo léo để sử dụng các công cụ, thiết bị phức tạp cho đến các kiến thức cụ thể liên quan đến công việc và các kỹ năng trong các lĩnh vực chuyên ngành, nghề cụ thể

Trang 2

Qua đó, có thể hiểu kỹ năng nghề là tổ hợp của các kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội, hành vi và kỹ năng kỹ thuật Do vậy, việc phát triển kỹ năng nghề của người lao động không chỉ quan tâm tới kỹ năng kỹ thuật mà còn phải tiếp tục hoàn thiện, phát triển các kỹ năng nhận thức, kỹ năng hành vi trong mối quan hệ của kiến thức, kỹ năng và thái độ trong suốt hoạt động nghề nghiệp

2 Thực trạng thiếu hụt lao động kỹ năng nghê ở Việt Nam

Những năm gần đây trung bình hàng năm có khoảng 1,2-1,3 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Theo báo cáo của Tổng cục Dạy nghề số lượng người qua đào tạo không ngừng tăng lên, nhưng chủ yếu là lao động được đào tạo ngắn hạn, nên rất thiếu lao động có trình độ tay nghề giỏi, công nhân kỹ thuật bậc cao Với số người bước vào tuổi lao động hàng năm như trên là nguồn tuyển sinh rất lớn cho các cơ sở đào tạo, nhưng trong thực tế số người theo học tại các cơ sở dạy nghề rất ít, chất lượng đào tạo không tốt, nhiều ngành nghề không đáp ứng yêu cầu xã hội đang gây ra sự lãng phí về sự đầu tư của người dân và xã hội, làm mất cơ hội nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

Theo báo cáo của các chuyên gia tại Hội thảo "Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các khu công nghiệp và khu chế xuất" diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Chương trình đổi mới đào tạo nghề Việt Nam (GIZ) đồng tổ chức cho thấy, tỷ lệ lao động phổ thông không có chuyên môn kỹ thuật trong toàn xã hội chiếm 81,6% tổng số lao động, số liệu này khác nhiều so với báo cáo của cơ quan chức năng Đây thực sự là vấn đề rất đáng báo động về chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Lực lượng lao động ở nước ta vẫn trong tình trạng thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện

và giải quyết vấn đề; yếu kém về tin học, ngoại ngữ; thiếu hiểu biết về pháp luật; đạo đức nghề nghiệp chưa cao; thiếu tinh thần và ý thức trách nhiệm trong công việc, tự do, tùy tiện, chậm thích nghi với môi trường làm việc mới,… Năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học và công nghệ của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém

Trang 3

Nhiều năm qua, chúng ta đã cảnh báo về tình trạng sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng rất yếu cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp nhiều, năng suất lao động thấp nhưng chưa có biện pháp tháo gỡ Cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo và cơ cấu vùng miền trong các lĩnh vực kinh tế ngày càng mất cân đối nghiêm trọng Hiện nay, quan niệm về chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực trong các khu vực kinh tế ở nước ta đã lạc hậu so với quan niệm của nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam vẫn chỉ coi trọng bằng cấp, coi lao động có bằng cấp cao là chất lượng cao Tất

cả những yếu kém nêu trên đã nhiều lần được cảnh báo nhưng chưa có giải pháp

để khắc phục

Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta ngày càng tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu

và giới; tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày càng nhiều

Dự báo trong những năm tới, nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hợp tác song phương và đa phương sẽ được ký kết, sự di chuyển lao động giữa các quốc gia sẽ diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh trong thị trường lao động càng trở lên gay gắt, trong khi nhân lực của nước ta đang mất dần sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong khu vực và quốc tế, đây là thách thức lớn đối với nước ta Trước yêu cầu của thời kỳ hội nhập, nếu không có những giải pháp tích cực thì những khó khăn của đất nước sẽ ngày càng nặng nề hơn, nhất là khi nước ta phải thực hiện nhiều cam kết với các quốc gia, các tổ chức quốc tế Quá trình hội nhập quốc tế sẽ tạo sức ép và đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi nước ta phải quyết liệt đổi mới căn bản nhiều mặt, mà trước hết là nhanh chóng đổi mới công tác đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng của lao động theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu không muốn nước ta tụt hậu thêm nữa

3 Những thách thức, nguyên nhân dẫn tới tình trạng yếu kém về kỹ năng của người lao động.

Việt Nam đang trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển đất nước, từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và tăng cường sức cạnh tranh, nên đòi hỏi chất lượng lao động phải cao với một cơ cấu hợp lý hơn

Trang 4

Trong khi đó, công tác đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhu cầu của các thành phần kinh tế để có thể sẵn sàng tham gia hội nhập Hằng năm, mặc dù với hơn 1 triệu lao động trẻ ra nhập thị trường lao động, nhưng công tác đào tạo vẫn tồn tại nhiều yếu kém kéo dài, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực vẫn không được cải thiện đáng kể, nhiều nghề xã hội có nhu cầu nhưng ít người học Tỷ lệ thất nghiệp của lao động qua đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng vẫn tiếp tục gia tăng Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu xã hội, nhất là đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất thấp

Công tác phân luồng học sinh sau trung học nhiều năm qua vẫn yếu kém, chưa khắc phục được tâm lý sính bằng cấp, coi nhẹ học nghề trong xã hội; các trường đại học cao đẳng tuyển sinh và đào tạo ồ ạt Tình trạng thiếu hụt giáo viên dạy nghề có khả năng dạy cả lý thuyết và thực hành vẫn phổ biến tại hầu hết các cơ sở dạy nghề, nhiều trường không tuyển sinh được nên số giáo viên dôi dư khá nhiều Thiết bị dạy nghề thiếu, lỗi thời, thậm trí không sử dụng được trong đào tạo thực hành Chất lượng đào tạo trong nhiều cơ sở dạy nghề thấp, không đáp ứng yêu cầu các doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động phải đào tạo lại gây tốn kém và lãng phí cho xã hội và người dân

Công tác dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội chưa tốt, chưa sát với nhu cầu nhân lực ở từng lĩnh vực, ngành, các khu vực kinh tế và các địa phương; việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo thiếu tính khoa học

Hệ thống giáo dục chưa thống nhất, chia cắt đã kéo dài nhiều năm nhưng chưa được giải quyết Quy mô phát triển quá nóng, dẫn đến tình trạng 5 năm gần đây không đủ nguồn tuyển vào các trường, nhiều cơ sở đào tạo nghề không có người học

Thiếu tính liên thông trong hệ thống giáo dục và đào tạo cũng như trong việc công nhận trình độ; chưa có sự gắn kết hai chiều giữa các cơ sở đào tạo với các khu công nghiệp, khu chế xuất; giữa các cơ sở đào tạo nghề với các trường phổ

Trang 5

thông; giữa giảng dạy và nghiên cứu, phục vụ sản xuất; giữa các cơ sở đào tạo với nhau

Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất còn rất nhiều hạn chế, yếu kém không theo kịp yêu cầu của thực tế Số lượng các chương trình mới còn quá ít, nhất là những chương trình đạt chuẩn khu vực và thế giới; nhiều trường vẫn dạy theo chương trình cũ chưa cập nhật kiến thức, nên không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp Năng lực của các cơ quan quản lý còn yếu kém, thiếu cơ chế tương tác giữa các cơ quan có chức năng kiểm soát, đánh giá, thẩm định chất lượng với các cơ

sở đào tạo Công tác và cơ chế quản lý còn nhiều vướng mắc, thiếu đồng bộ, chia cắt Chưa kiên quyết đóng cửa các cơ sở đào tạo yếu kém và vi phạm nghiêm trọng các quy định trong đào tạo

Chưa có cơ chế và cơ quan chuyên trách kiểm định chất đào tạo, cấp giấy phép hành nghề cho lao động qua đào tạo, làm cho thị trường lao động hoạt động thiếu lành mạnh và khó kiểm soát chất lượng đào tạo Chưa có khung trình

độ quốc gia theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế để yêu cầu các cơ sở đào tạo phải từng bước thực hiện

Chính sách tài chính đối với công tác đào tạo lạc hậu, kém hiệu quả, lãng phí, không tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy các cơ sở đào tạo phải đổi mới toàn diện, mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của xã hội Vai trò và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất còn hạn chế, yếu kém, chưa thực sự bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của công nhân, dẫn đến đời sống vật chất và tinh thần, việc làm của công nhân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp nảy sinh những vấn đề phức tạp

Tuy có một số mô hình đào tạo nghề thành công, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ khu công nghiệp, khu chế xuất như mô hình đào tạo “kép” (vừa đào tạo tại các cơ sở đào tạo, vừa đào tạo gắn với doanh nghiệp) được các chuyên gia của Cộng hòa Liên bang Đức đã giới thiệu đã được

áp dụng ở một số cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nước ta nhưng chưa nhiều và

Trang 6

cũng gặp nhiều khó khăn, bất cập từ chính sách, công tác tổ chức vận hành đến đội ngũ cán bộ giảng dạy

Tất cả những yếu kém, bất cập nêu trên dẫn đến tỷ lệ học sinh được đào tạo nghề vẫn còn thấp, chất lượng đào tạo nghề không bảo đảm, tỷ lệ thất nghiệp cao Chất lượng lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn còn thấp

và bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém

4 Sự cần thiết của việc nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động.

Trong khi cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng và phát triển, đặc biệt trong một thế giưới toàn cầu hóa, việc thiếu hụt lao động có kỹ năng cao là điều được dự báo trước Do đó nếu sử dụng lao động giá rẻ không có trình độ cao sẽ khó cải thiện năng suất lao động, cản trở sự phát triển Đây là một thách thức của nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, muốn hội nhập với các nước phát triển khác thì phải có giải pháp vượt qua Tác động của toàn cầu hóa là cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư và mở rộng thị trường Tuy nhiên, toàn cầu hóa đưa đến sự cạnh tranh trong và ngoài nước ngày càng gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, đồng thời cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao cũng diễn ra mạnh mẽ hơn trên thế giới, khu vực và các quốc gia Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định Đó chính là động lực thúc đẩy mạnh mẽ nguồn nhân lực Việt Nam phát triển nhanh về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực cũng từng bước chuyển đổi cho phù hợp với yêu cầu phân công lao động quốc tế

Xu hướng hiện nay ngày càng cho thấy sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam từ những việc làm trong nghành nông nghiệp có năng suất lao động thấp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị cao được đầu tư tài chính nhiều hơn Người lao động có trình độ và kỹ năng nghề cao hơn sẽ là chất xúc tác cho quá trình chuyển đổi này cũng như sự tăng trưởng thành công của Việt Nam

Trang 7

Hiện trạng sử dụng lao động có tay nghề thấp và tạo ra ít giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn Trong ngắn hạn, các nghề sử dụng lao động tay nghề và chi phí dịch vụ thấp giữu vai trò quan trọng, đáp ứng các nhu cầu cơ bản tạo cơ hội việc làm cho lao động trình độ thấp Tuy nhiên, điều này sẽ không tiếp tục kéo dài, với sự tác động mạnh mẽ của yêu cầu phát triển kinh tế và năng suất lao động, nhu cầu về lao động có kỹ năng sẽ tăng lên Trong tương lai gần, điều này sẽ thành vấn đề nghiêm trọng khi người sử dụng lao động không thể tuyển dụng được lao động có kỹ năng cần thiết, ảnh hưởng

và kìm hãm sự phát triển kinh tế, giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia

5 Những quy định của pháp luật về việc nâng cao kỹ năng nghề của người lao động.

Tại điều 60 của Bộ Luật Lao động 2012 quy định:

Điều60 Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

1 Người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình

2 Người sử dụng lao động phải báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh trong báo cáo hằng năm về lao động

Theo đó, doanh nghiệp có nghĩa vụ bồi dưỡng nghề, bổ túc nghề, đào tạo nâng cao kĩ năng nghề cho những người lao động mà doanh nghiệp đang sử dụng Việc bồi dưỡng nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động cũng được tiến hành theo các cách thức như đào tạo nghề cho người lao động, nhằm tạo điều kiện cho lao động của doanh nghiệp vừa làm, vừa học để nâng cao trình độ

kĩ năng nghề Đây là việc làm rất cần thiết của các doanh nghiệp Bởi những đòi hỏi mới về kiến thức, kĩ năng của người lao động luôn là yêu cầu có tính cấp thiết nhằm giúp doanh nghiệp đạt được mục đích, hiệu quả, năng suất lao động cao hơn Hơn nữa, dưới sự tác động của cạnh tranh cùng với việc đẩy mạnh

Trang 8

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, yêu cầu hội nhập nhanh chóng với nền kinh tế khu vực và thế giới, những kiến thức thu được của người lao động sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu Vì thế, để kiến thức, trình độ của người lao động luôn được cập nhật và nâng cao theo hướng chuyên môn hoá cao, hoạt động này nhất thiết phải được tiến hành thường xuyên trên cơ sở kế hoạch đã xây dựng cụ thể của doanh nghiệp Điều này không chỉ có ý nghĩa giúp người lao động thực hiện tốt hơn những công việc được giao, từ đó nâng cao thu nhập mà còn có ý nghĩa đảm bảo cho việc gắn bó lâu dài và tận tâm hơn của người lao động đối với doanh nghiệp Như vậy có thể thấy, việc bồi dưỡng nâng cao kĩ năng nghề cho người lao động không chỉ xuất phát từ lợi ích của người lao động mà chính

là xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp

Ngoài ra quy định trong Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vừa được Chính phủ ban hành Theo quy định tại Điều 10 của nghị định này, nếu vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề sẽ bị phạt như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng đối với người

sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Không xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hằng năm về đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; không báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan quản lý nhà nước

về lao động cấp tỉnh trong báo cáo hằng năm về lao động

Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Không đào tạo nghề cho người lao động trước khi chuyển người lao động sang làm nghề, công việc khác; không ký kết hợp đồng đào tạo nghề đối với người học nghề, tập nghề; không trả lương cho người học nghề trong thời gian họ học nghề, tập nghề

mà trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách; không tiến hành ký kết hợp đồng lao động đối với người học nghề, người tập nghề khi hết thời hạn học nghề, tập nghề, theo một trong các mức sau đây: Từ 500.000 đồng đến 2 triệu đồng với vi phạm từ 1 người đến 10 người lao động; từ 2 triệu đồng

Trang 9

đến 5 triệu đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động; từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động; Từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động; từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên

Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với người sử dụng lao động

có một trong các hành vi sau đây: Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật; tuyển người dưới 14 tuổi vào học nghề, tập nghề Ngoài mức phạt trên, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả lương cho người học nghề, người tập nghề khi không trả lương cho người học nghề trong thời gian học nghề, tập nghề mà trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách đối với hành vi quy Buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ việc thực hiện hành vi lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật…

Tại Điều 3 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp có quy định về điều kiện người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật Việc, theo đó:

Điều 3 Điều kiện được hỗ trợ

Người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật Việc làm 2013 khi có đủ các điều kiện sau:

1 Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Việc làm liên tục từ đủ 12 tháng trở lên tính đến tháng liền trước của tháng đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động hoặc đến tháng của ngày đề nghị hỗ trợ kinh phí

để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho

Trang 10

người lao động nếu người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng đó

2 Gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc vì lý do bất khả kháng buộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất, kinh doanh và dẫn đến nguy cơ phải cắt giảm số lao động hiện có từ 30% hoặc từ 50 lao động trở lên đối với người

sử dụng lao động có sử dụng từ 300 lao động trở xuống và từ 100 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động có sử dụng trên 300 lao động, không kể lao động giao kết hợp đồng lao động với thời hạn dưới 03 tháng

Những trường hợp được coi là bất khả kháng nêu trên, bao gồm: Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh làm thiệt hại một phần hoặc toàn bộ

cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, nhà xưởng có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi người sử dụng lao động bị thiệt hại

3 Không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động được xác định thông qua báo cáo sản xuất, kinh doanh của năm trước thời điểm đề nghị hỗ trợ mà bị lỗ có xác nhận của cơ quan thuế

4 Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Ta có thể thấy ngoài những ưu tiên đối với người lao động trong việc nâng cao kỹ năng nghề thì nhà nước ta cũng có những ưu đãi đối với người sử dụng lao động nhằm khuyến khích họ đầu tư nhiều thời gian, tiền bạc để giúp người lao động nâng cao kỹ năng nghề hơn nữa

Qua những quy định của pháp luật nhằm nâng cao kỹ năng nghề của người lao động, chúng ta nhận thấy được sự quan tâm của nhà nước ta đối với người lao động, luôn tìm những giải pháp để người lao động có được kỹ năng nghề cao hơn, có thể làm việc được nhiều môi trường khác nhau, trong nước hay quốc tế,

từ đó tạo ra nguồn thu nhập lớn cho người lao động cũng như góp phần tăng trưởng nền kinh tế của đất nước

6 Giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng nghề của người lao động.

Ngày đăng: 22/02/2019, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w