Bài 24. Ý nghĩa văn chương tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩnh vực k...
Trang 2Em hãy nêu luận điểm chính của văn bản “ Đức tính giản dị của Bác Hồ” Để làm rõ đức tính đó , tác giả đã chứng minh ở
những phương diện nào trong đời sống và con người của
Bác ?
=>Luận điểm chung: “sự nhất quán giữa đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản
dị và khiêm tốn của Hồ Chủ tịch.”
=> Tác giả chứng minh sự giản dị của Bác ở các phương
diện sau:
a/ Bác giản dị trong đời sống:
Bằng những dẫn chứng tiêu biểu, giàu sức thuyết phục, tác giả cho thấy sự giản dị của Bác thể hiện ở bữa ăn đạm bạc; nơi ở đơn sơ; cách làm việc tận tâm, tận lực và gần gũi, sự quan tâm đến mọi người.
b/ Bác giản dị trong lời nói và bài viết:
Bác thể hiện chân lí bằng những câu nói giản dị, tạo nên
Trang 3=>Đức tính giản dị của Bác Hồ: giản dị trong đời sống, trong lời nói và bài viết.
- Nghệ thuật:
=>trình tự lập luận hợp lí,mạch lạc, chặt chẽ với hệ thống
luận cứ cụ thể, xác đáng, giàu sức thuyết phục
- Ý nghĩa:
=>ca ngợi đức tính giản dị và thể hiện sự tôn kính đối với
Bác
Trang 4Trong cuộc sống, văn chương nghệ thuật có một vai trò hết sức quan trọng Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã từng khắng điịnh “Trên nền tảng cuộc sống của xã hội, nghệ thuật xây dựng đời sống tâm hồn cho xã hội” Nhưng ý nghĩa và công dụng của văn chương là gì? Nhà phê
bình văn học Hoài Thanh sẽ cho chúng ta hiểu điều đó qua bài “Ý nghĩa văn chương”
Tiết 97- Văn bản:
(Hoài Thanh)
Trang 5- Hoài Thanh (1909-1982) quê
ở Nghệ An, là nhà phê bình
văn học xuất sắc.
-Văn bản “Ý nghĩa văn
chương” trích trong “Bình
luận văn chương” xuất bản
1998
Nêu những hiểu biết của em
về tác giả và xuất xứ văn bản.
Trang 6Tiết 97- Văn bản:
(Hoài Thanh)
I- Tìm hiểu chung:
1- Tác giả- tác phẩm:
2- Đọc văn bản:
3- Chú thích:
4- Bố cục:
Hướng dẫn đọc: to, rõ ràng, mạch lạc.
Đọc các chú thích SGK/54 Xác định bố cục của văn bản
Chia 2 phần:
-Phần 1: “Người ta kể
chuyện… muôn vật, muôn loài (…): Nguồn gốc của văn chương.
-Phần 2: (còn lại): Công dụng
của văn chương.
Trang 71- Nguồn gốc của văn chương
Trang 8Đọc lại phần đầu của văn bản
Theo tác giả, nguồn gốc cốt yếu của văn chương là gì?
Đó là lòng yêu thương
Câu nào nêu lên luận điểm ấy?
=>“Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người
và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.”
Em có nhận xét gì về vị trí luận điểm trong phần 1 của bài
văn?
=>Luận điểm nằm ở câu cuối đoạn
Vị trí ấy cho thấy đoạn văn được lập luận theo cách nào?
=>Trình bày theo cách qui nạp từ cụ thể đến khái quát
Trang 91- Nguồn gốc của văn chương
Bằng lập luận qui nạp, tác
giả nêu luận điểm: nguồn gốc
cố yếu của văn chương là
lòng yêu thương.
Trang 10Tiết 97- Văn bản:
(Hoài Thanh)
I- Tìm hiểu chung:
II- Đọc- hiểu văn bản:
2-Công dụng của văn chương
- Văn chương phản ánh sự
sống, sáng tạo ra sự sống
Em hiểu thế nào về câu “Văn chương là hình dung của sự sống và sáng tạo ra sự
sống”?
=> Văn chương là hình dung của sự sống: nó phản ánh cuộc sống, là hình ảnh, là kết quả sự sống.
=>Sáng tạo ra sự sống: Dựng lên hình ảnh, đưa ra ý tưởng
mà cuộc sống hiện tại chưa
có, nhưng sẽ có mà con người phấn đấu cho tương lai.
Trang 112-Công dụng của văn chương
- Văn chương phản ánh sự
sống, sáng tạo ra sự sống
- Văn chương giúp cho tình
cảm và lòng vị tha
Ngoài việc phản ánh sự sống, sáng tạo ra sự sống, văn chương còn có công dụng nào khác?
Trang 12Tác giả đưa ra những dẫn chứng nào để chứng minh văn
chương giúp cho tình cảm và lòng vị tha?
=>Tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu:
- “Một người …khi xem truyện hoặc ngâm thơ có thể vui,
buồn, mừng, giận cùng những người ở đâu đâu, vì những
chuyện ở đâu đâu”.
-“Văn chương gây cho ta những tình cảm mà ta không có,
luyện những tình cảm ta sẵn có, cuộc đời…trở nên thâm trầm
và rộng rãi đến trăm nghìn lần”.
-“từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ thì núi non
hoa cỏ trông mới đẹp, từ khi có người lấy tiếng chim kêu,
tiếng suối chảy để ngâm vịnh thì tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay”, “Nếu trong pho lịch sử loài người xóa các thi nhân, văn nhân…thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bực nào”
=>Văn chương tác động đến tình cảm của con người
=>Văn chương xây dựng và làm phong phú đời sống tình
cảm của con người
Trang 132-Công dụng của văn chương
- Văn chương phản ánh sự
sống, sáng tạo ra sự sống
-Văn chương giúp cho tình
cảm và lòng vị tha:
Bằng những dẫn chứng cụ
thể, tiêu biểu, tác giả cho thấy
văn chương tác động, xây
dựng và làm phong phú đời
sống tình cảm của con người
và làm cho cuộc sống tươi
đẹp, phong phú hơn.
Trang 14Tiết 97- Văn bản:
(Hoài Thanh)
I- Tìm hiểu chung:
II- Đọc- hiểu văn bản:
III- Tổng kết:
Trang 15Nghệ thuật:
Có luận điểm rõ ràng, được luận chứng minh bạch và đầy
sức thuyết phục
- Có cách nêu dẫn chứng đa dạng: khi trước, khi sau, khi hòa cùng luận điểm, khi là một câu chuyện.
- Diễn đạt bằng lời văn giản dị, giàu hình ảnh, cảm xúc
Ý nghĩa: Văn bản thể hiện quan niệm đúng đắn, sâu sắc của nhà văn về ý nghĩa của văn chương
Trang 16Tiết 97- Văn bản:
(Hoài Thanh)
I- Tìm hiểu chung:
II- Đọc- hiểu văn bản:
III- Tổng kết:
(ghi nhớ SGK/63)
Trang 17III- Tổng kết:
*Luyện tập:
Trang 18Hoài Thanh cho rằng “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là
lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn
loài.”Em có đồng ý với quan niệm này của tác giả không?
Vận dụng hiểu biết của mình về những tác phẩm văn học để làm rõ điều đó.
=>Quan niệm của Hoài Thanh hoàn toàn đúng
- Dẫn chứng 1: Cày đồng đang buổi ban trưa.
( )
Dẻo thơm 1hạt đắng cay muôn phần
=>có yêu thương con người thì người xưa mới đồng cảm với nỗi vất vả, cực nhọc của người nông dân mà viết lên những lời thơ thiết tha như vậy
- Dẫn chứng 2: Bài thơ “Cảnh khuya”
=>Có gần gũi chan hòa với muôn vật nhà thơ mới cảm nhận được cái đẹp, cái sống động trong tiếng suối, ánh trăng Quả thật, văn chương bắt nguồn từ tình cảm, lòng vị tha của con
Trang 19=> Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có nghĩa là: tạo nên những tình cảm mới lạ mà ta chưa từng nếm trải Luyện những tình cảm ta sẵn có là bồi đắp làm giàu thêm thế giới tâm hồn cho chúng ta.
Dẫn chứng 1: Đọc “Sài Gòn tôi yêu”, dù chưa một lần đặt
chân đến Sài Gòn, người đọc vẫn như dạo chơi giữa phố
phường tấp nập, nắng gay gắt rồi lại dễ chịu trên đường rợp mát và cảm thấy yêu mến một thành phố hoa lệ đó.
Dẫn chứng 1: Đọc “Mùa xuân của tôi” Vũ Bằng, người đọc hòa cùng cảm xúc với tác giả về với không khí se lạnh,
không gian cổ kính, đầm ấm những ngày xuân