Tuần 10. Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các...
Trang 2I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Sinh 1943, xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế.
- Xuất thân: trong gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng.
Trang 3- 1964: tốt nghiệp Khoa Văn, trường Đại học
sư phạm Hà Nội trở về miền Nam tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ đến 1975.
- Hiện nay: nghỉ hưu ở Huế, tiếp tục làm thơ.
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
Trang 4- Là một trong những cây bút tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ trong những năm chống Mĩ.
- Phong cách thơ: Giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận.
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
Trang 5- Tác phẩm chính:
+ Đất ngoại ô (Tập thơ, 1972) + Mặt đường khát vọng
Trang 62 Trường ca Mặt đường
khát vọng :
a Hoàn cảnh sáng tác:
Năm 1971, ở giữa chiến
khu Trị - Thiên, hướng
về tuổi trẻ Việt Nam
Trang 7lược của đế quốc Mĩ
- Hướng về nhân dân, đất
nước
- Ý thức được sứ mệnh
của thế hệ mình trong
cuộc đấu tranh của toàn
dân tộc. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong kháng chiến chống Mỹ
Trang 9II Đọc – hiểu văn bản:
1 Phần 1: Những cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước:
Trang 10- Mở đầu bài thơ Quê hương Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết:
"Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả dập dờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều“
Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước ở những đường nét hoành tráng
(Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn;
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều)
- Mở đầu bài thơ Quê hương Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết:
"Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả dập dờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều“
Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước ở những đường nét hoành tráng
(Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn;
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều)
Trang 11- Trong bài “Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”, nhà thơ Chế Lan Viên viết:
"Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày
đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trong sóng Bạch
"Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày
đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trong sóng Bạch
Đằng".
Chế Lan Viên nhìn đất nước qua những
trang sử hào hùng
Trang 12- ĐẤT NƯỚC bắt nguồn từ những gì gần gũi nhất, bình
dị nhất trong đời sống vật chất và tâm hồn của mỗi con người:
“ Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa "
mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo , cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó ”
Trang 13+ Đất Nước có trong câu chuyện cổ tích “ngày xửa
ngày xưa mẹ thường hay kể” khắc sâu những hình
ảnh về cuộc sống của cha ông trong quá khứ
Trang 14+ Đất Nước có trong hình ảnh "miếng trầu bây giờ bà
ăn" gợi người đọc nhớ đến tục ăn trầu và truyện cổ
tích "Trầu Cau".
Trang 16+ Đất Nước gắn liền với lịch sử đấu tranh của dân tộc: Truyền
thuyết "Thánh Gióng" cho biết sự vươn mình, đánh dấu về sức
mạnh quật khởi của dân tộc trong sự nghiệp chiến đấu hi sinh bảo vệ bờ cõi.
Trang 17+ Đất Nước còn gắn với phong tục tập quán quen thuộc
(Tóc mẹ thì bới sau đầu) và đạo lí tốt đẹp lâu đời của
dân tộc - tình nghĩa thủy chung vợ chồng (Cha mẹ
thương nhau bằng gừng cay muối mặn)
Trang 18+ Đất Nước gắn với những vật dụng thân thuộc hàng ngày, gắn với quá trình lao động cần cù, lam lũ của con người:
Mỗi vật dụng đều có một cái tên riêng "Cái kèo cái cột
thành tên" những cái tên có từ rất lâu, từ khi con người
biết "dựng nhà, dựng cửa".
Làng quê Việt Nam có luỹ tre xanh, có mái nhà tranh
Trang 19Đất Nước gắn với hạt gạo ta ăn hàng ngày, với nghề trồng lúa nước lâu đời Khi hạt gạo được sáng tạo nên bằng sự cần cù lam lũ của con người
thì ngôn từ "xay, giã, giần, sàng" cũng xuất hiện.
Trang 20- Lịch sử lâu đời của đất nước:
Được nhắc đến bằng:
+ câu chuyện cổ tích “Trầu cau”,
+ truyền thuyết Thánh Gióng,
+ phong tục tập quán,
+ nền văn minh lúa nước.
Tác giả dùng một loạt hình ảnh và ngôn từ đậm màu sắc dân gian : miếng trầu, các truyện kể dân
gian, thành ngữ "gừng cay muối mặn", "một nắng
hai sương"
Đất Nước được cảm nhận từ chiều sâu văn hoá và lịch sử.
Trang 21- Về phương diện không gian - địa lí: Tác giả chia tách khái niệm Đất Nước thành hai yếu tố
Đất và Nước để cảm nhận và suy tư về đất nước một cách sâu sắc:
Trang 22+ Là nơi gắn với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày:
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Trang 23+ Là nơi gắn với kỉ niệm tình yêu đôi lứa:
Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Trang 24+ Đất Nước bao gồm cả núi sông, rừng bể:
Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc" Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi”
không gian mênh mông
niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên vô tận.
Trang 25+ Đất Nước là không gian sinh tồn của cộng đồng người Việt qua biết bao thế hệ:
Từ quá khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau)
Trang 26+ Tất cả đều không quên nguồn cội:
Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
LỄ GIỔ TỔ HÙNG VƯƠNG
Trang 27- Về phương diện thời gian lịch sử:
+ Đất Nước gắn liền với huyền thoại Lạc Long Quân
và Âu Cơ, truyền thuyết các vua Hùng dựng nước
Trang 28 Tác giả kể ra huyền thoại "Lạc
Long Quân và Âu Cơ", truyền
thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ
để khơi dậy niềm tự hào về bề dày
lịch sử đất nước, về cội nguồn
thiêng liêng của dân tộc.
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Trang 29- Đất Nước trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng:
+ Đất Nước không ở đâu xa mà có mặt trong mỗi con người:
“Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước”
Mỗi người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước.
Trang 30+ Đất nước là sự hài hoà nhiều mối quan hệ:
• cá nhân với cá nhân
(“Khi hai đứa cầm tay nhau
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng
thắm)
• cá nhân với cộng đồng
(Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn”)
Đất nước được xây dựng trên cơ
sở của tình yêu thương và tình đoàn kết của dân tộc.
Trang 31Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng
Trang 32- Lời nhắn nhủ của tác giả:
Em ơi em
Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Điệp ngữ, những từ ngữ “máu xương”, “gắn bó”,
“san sẻ”, “hoá thân”, cách xưng hô thân mật “Em
ơi em”, giọng thơ ngọt ngào -> nhắn gửi thế hệ trẻ cũng như bản thân: Cần có trách nhiệm giữ gìn, xây đắp, làm cho đất nước sống mãi muôn đời.
Trang 332 Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”:
a Sự "hiện diện" của nhân dân trong những danh lam thắng cảnh của đất nước:
Trang 34- Địa lí của đất nước được hình thành từ cuộc đời và số phận của nhân dân:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”
Trang 35 Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn: là do "những người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu nhau" mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô điểm cho Đất Nước.
Núi Vọng Phu
Trang 36 Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn: là do "những người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu nhau" mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô điểm cho Đất Nước.
hòn Trống Mái
Trang 37 Cái "gót ngựa của Thánh Gióng" đã "để lại" cho đất nước bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay
+ Ca ngợi vẻ đẹp của Đất Nước
về mặt lịch sử và truyền thống:
"Gót ngựa của … … Hùng Vương"
Trang 38 "Chín mươi chín" núi con Voi đã quần tụ, chung sức chung lòng "góp mình dựng đất tổ Hùng Vương".
Trang 39+ Đất Nước ta còn có những dòng sông thơ mộng:
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Rồng "nằm im" từ bao đời nay mà quê hương có
"dòng sông xanh thẳm" cho nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông biển lúa bốn mùa.
Trang 40+ Ngắm núi Bút, non Nghiên, Nguyễn Khoa Điềm nghĩ về người học trò nghèo:
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Trang 41 "Nghèo" mà vẫn góp cho đất nước ta núi Bút
non Nghiên, làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt, văn hiến Việt Nam.
Trang 42+ Tư tưởng "Đất Nước là của nhân dân"
cũng thể hiện trong kì quan nổi tiếng, những tên tuổi có công với dân với nước:
“Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
Trang 43 Hạ Long trở thành kì quan, thắng cảnh là nhờ
có "con cóc, con gà quê hương cùng góp cho"
Trang 44 Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " do những con
người vô danh, bình dị làm nên.
Sông Ông Đốc
Trang 45 Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " do những
con người vô danh, bình dị làm nên.
Cồn Ông Trang
Trang 46 Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " do những con
người vô danh, bình dị làm nên.
Bà Điểm
Trang 47 Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " do những con
người vô danh, bình dị làm nên.
Núi Bà Đen
Trang 48- Qua cái nhìn của nhà thơ, mỗi danh thắng còn
ẩn chứa nét đẹp tâm hồn của nhân dân:
+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho
sự thuỷ chung, tình nghĩa vợ chồng thắm thiết.
+ Những "ao đầm" mà "gót ngựa Thánh Gióng đi
qua" tượng trưng cho truyền thống yêu nước
và sức mạnh bất khuất của dân tộc.
+ Núi Bút non Nghiên tượng trưng truyền thống
hiếu học, vượt khó vươn lên của nhân dân.
+ Những địa danh ở vùng cực Nam đất nước xa
xôi tượng trưng cho tinh thần xả thân vì cộng đồng, đức tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo của nhân dân ta.
Trang 49- Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Trang 50+ Những tên núi, tên sông, tên làng, tên bản, tên ruộng đồng , gò bãi… bất cứ đâu trên đất nước đều
mang theo "một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha"
+ Tất cả đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh từ công sức và khát vọng của nhân dân - những con người bình thường, vô danh
+ Tầm vóc của Đất Nước và nhân dân không chỉ trên bình diện địa lí "mênh mông" mà còn ở dòng chảy thời gian lịch sử “bốn nghìn năm” "đằng đẵng".
Trang 51Chính vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị:
- Trên phương diện thời gian - lịch sử cũng chính nhân dân đã “làm nên đất nước muôn đời”:
Trang 52Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào 4.000 năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhỏ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
Trang 53 Nhân dân Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau trong lao động và đánh giặc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên Đất Nước là nét mới mẻ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm
Trang 54Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyển lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
- Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc:
Trang 55- Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc:
Trang 56+ Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước là Đất Nước nhân dân Đất Nước của nhân dân,
Đất Nước của ca dao thần thoại
Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình.
Trang 57- Điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình trong đoạn thơ là ở câu:
“ Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao
thần thoại”
Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, tác
giả mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của đất nước: “Đất Nước của ca
dao thần thoại”
Trang 58c Vẻ đẹp truyền thống của nhân dân trong ca dao, thần thoại:
- Từ nền văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra những vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc:
Trang 59+ Họ là những con người yêu say đắm và thuỷ
chung: “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”,
+ Quý trọng nghĩa tình (Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội)
Trang 60+ Kiên gan, bền chí trong công cuộc bảo vệ đất
nước (Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù
mà không sợ dài lâu)
Trang 61 như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhiều cung bậc của bản trường ca về Đất Nước.
- Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với
những điệu hò:
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
Trang 62III Tổng kết: Ghi nhớ (SGK)