Một năm sau, ông bị thương và trở về Mĩ với nỗi thất vọng, tự nhận mình thuộc “thế hệ mất mát”... - Hê-minh-uê là người đề xướng lối viết kiệm lời với nguyên lí sáng tác “Tảng băng tr
Trang 1HÊ – MINH - UÊ
Trang 2 Ơ-nít Hê-minh-uê 1961) là một trong
(1899-những nhà văn vĩ đại nhất nước Mĩ thế kỉ XX.
Sinh tại bang I-li-noi
trong một gia đình trí thức.
Trang 3 Sau khi tốt nghiệp
trung học, ông làm
phóng viên.
19 tuổi, ông tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất ở chiến
trường I-ta-li-a.
Một năm sau, ông bị thương và trở về Mĩ với nỗi thất vọng, tự nhận mình thuộc “thế
hệ mất mát”.
Trang 4 Sau đó ông sang
Pháp, vừa làm báo
vừa viết văn.
Năm 1926, ông cho ra đời tiểu thuyết “Mặt trời vẫn mọc” và trở nên nổi tiếng trên văn đàn.
Hê-minh-uê tập trung vào sáng tác
Trang 5- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Hê-minh-uê tham gia lực lượng quân Đồng minh và là một trong những người đầu tiên tiến vào giải phóng Pa-ri.
Trang 6 Năm 1952, ông cho ra đời tiểu thuyết “Ông già và biển cả”, trở thành một trong những nhà văn hàng đầu thế giới.
Năm 1953, ông nhận giải Pu-lít-dơ.
Năm 1954, ông nhận giải Nô-ben về văn học
Trang 73
195 4
Huy chương Pu-lit-dơ
Huy chương giải Nô-ben
Trang 8*Tác phẩm tiêu biểu :
Các tiểu thuyết :
+ Giã từ vũ khí (1929)+ Chuông nguyện hồn ai (1940)+ Ông già và biển cả (1952)
Trang 10NGUYÊN LÍ SÁNG TÁC “TẢNG BĂNG TRÔI”
Trang 11- Hê-minh-uê là người đề xướng lối viết kiệm lời với
nguyên lí sáng tác “Tảng băng trôi”
Theo ông, một tác phẩm
văn chương phải là một
“Tảng băng trôi” mà “bảy
phần tám khối lượng của
nó chìm dưới nước, chỉ
một phần tám của nó nổi
lên cho mọi người thấy”.
Nhà văn không trực tiếp,
công khai nói ra ý tưởng
của mình mà phải xây
Trang 12Lối sống giản
dị của nhà văn
* Suốt cuộc đời ước mơ “viết một áng văn xuôi giản
dị và trung thực về con người”
Trang 132 Tác phẩm
Tiểu thuyết “Ông già và biển cả” được xuất bản lần đầu trên báo “Đời
Trang 14Hê-2-Tác phẩm : “Ông già và biển cả” (1952)
- Ông lão Xan-ti-a-gô 74 tuổi, thường đánh cá ở vùng nhiệt lưu, bờ biển Nam Mĩ Suốt tám mươi tư ngày liền không bắt được con cá nào…
-Thế rồi, một mình ra khơi, ông đi thật xa…
Trang 15BUÔNG CÂU
Trang 17ÔNG LÃO THẢ 4 DÂY CÂU
Trang 18…Ngày thứ tám mươi lăm, có một con cá kiếm đã cắn câu
Trang 19Ông lão đã đương đầu với con cá kiếm suốt ba ngày hai đêm
Trang 21Cuối cùng, ông lão đã giết được con cá và buộc
nó vào chiếc thuyền của mình
Trang 23… Nhưng khi đưa được con cá vào bờ, nó chỉ còn lại
Trang 24Ông lão vác cột buồm, trở về căn lều của mình ngủ thiếp đi Trong giấc mơ, lão mơ thấy đàn sư
tử Châu Phi.
Trang 25II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Hình tượng con cá kiếm
Trang 26Đến vòng lượn thứ ba, lão lần đầu
thấy con cá.
Trang 27a Một con cá rất lớn và đẹp
Tạo ấn tượng qua những vòng lượn tròn rất lớn.
“Một cái bóng đen vượt dài qua dưới con
thuyền”, “lão không thể tin nổi độ dài của nó”.
“Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm”
“thân hình đồ sộ và những sọc dài màu tía”, “bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”.
“Con cá lớn đến nỗi trông như thể lão buộc một con thuyền khác lớn hơn nhiều vào con thuyền mình”.
Trang 28b Một con cá khôn ngoan, đầy
sức mạnh
Khi đã mắc câu, con cá bắt đầu chậm rãi lượn vòng hai tiếng đồng hồ, có lúc lại quật đột ngột.
Khi đã mệt, nó lại “lượn vòng chầm chậm”.
Có lúc ông lão tưởng như đã kìm được con cá, nhưng nó lại lật thẳng mình, từ từ bơi ra xa.
Con cá khiến lão cảm thấy “hoa mắt”, “chóng mặt”, “choáng váng”
Trang 29c Con cá đầy kiêu hùng,
bất khuất
Những vòng lượn thể hiện cố gắng cuối
cùng của nó muốn thoát ra khỏi sự bủa vây của người ngư phủ.
Nó “phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực Nó
dường như treo lơ lửng trong không
trung….rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão và chiếc thuyền”.
Trang 30- Con cá kiếm là “hình tượng văn học mang tính người”, toát lên vẻ đẹp của sự kiêu dũng, hiên ngang, bất khuất
- Vẻ đẹp của cá kiếm
có ý nghĩa tôn vinh vẻ đẹp và sức mạnh của con người.
Trang 31d Thái độ của ông lão
với con cá kiếm
Trò chuyện thân mật với
nó.
Gọi nó là “cu cậu”,
“người anh em”.
Trang 33=> Con cá kiếm vừa là bạn, vừa là đối thủ của ông lão Xan-ti-a-gô
Trang 34Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG
đẹp và sức mạnh của
tự nhiên.
những ước mơ, khát vọng mà con người theo đuổi.
những ước mơ sáng tạo.
Trang 352 Hình tượng ông lão
Xan-ti-a-gô
Sự điêu luyện trong
tay nghề Niềm tin, ý chí, nghị lực
chùng của sợi dây ->
biết phải kéo vào
hoặc nới ra
Trang 36- Khẳng định và ca ngợi
vẻ đẹp và sức mạnh của con người.
- Tin tưởng vào thắng lợi của con người trên hành trình chinh phục thử thách.
Trang 373- Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích:
a-Ngôn ngữ : Ngôn ngữ có sự kết hợp giữa người dẫn chuyện
và ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật : Độc thoại nội tâm và đối
thoại hướng đến cá kiếm
b-Văn tả kết hợp với kể, tạo ra nhiều “khoảng trống” :
Ví dụ khi tả sợi dây câu : “…Thế rồi sợi dây câu thoát đi mất
[…]có thể hiểu thêm là : Lão sợ sợi dây đứt nên buông dây
ra…
-> Giúp người đọc như trực tiếp chứng kiến sự việc, và bình luận
về tác phẩm.
c-Xây dựng biểu tượng: đối lập, tương đồng rất độc đáo.(cá
kiếm và ông lão )
Nguyên lí sáng tác : tác phẩm nghệ thuật như một “ tảng băng trôi
Trang 381 Đoạn trích minh chứng cho nguyên lí
Trang 39b Phần chìm (ý nghĩa biểu tượng)
khát vọng đẹp.
mạnh của thiên nhiên và ước mơ, khát vọng
của con người.
hoạt động sáng tạo của con người.
chinh phục thiên nhiên.
+ Hành trình theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực.
+ Hành trình vượt qua thử thách
để thành công.
Trang 40
2 Chủ đề
Thông qua hình tượng ông lão quật
cường , chiến thắng con cá kiếm bằng kĩ
năng và tay nghề điêu luyện, tác giả gửi gắm niềm tin lớn lao vào con người Trong bất kì hoàn cảnh nào “Con người có thể bị huỷ diệt nhưng không thể bị đánh bại”.