1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách thương mại việt nam

16 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 48,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương mại Việt Nam được đặt trong hoàn cảnh phát triển mới, có sự tác động của tư bản phương tây, với điều kiện kinh doanh rộng rãi hơn song cũng cạnh tranh gay gắt hơn khiến cho thương

Trang 1

CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM



I Chính sách thương mại Việt Nam trước năm 1975:

1 Chính sách thương mại của Việt Nam dưới chế độ phong kiến:

Nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ này là nền kinh tế sản xuất hàng hóa đơn giản đi kèm một thị trường nội địa chật hẹp, bị chia cắt và qua nhiều thế kỷ ở trong tình trạng không có nhiều sản phẩm cần được tiêu thụ Nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực hiện chính sách “trọng nông ức thương” nên thương nghiệp bị kiềm hãm

Về nội thương, triều đình nắm độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp, đánh thuế nặng vào các mặt hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như lúa gạo, muối , cấm nhân dân họp chợ

Ngoại thương cũng bị triều đình nắm độc quyền Thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, triều đình chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu nước ngoài lui tới buôn bán Chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình đã làm cho việc buôn bán với nước ngoài sa sút rõ rệt, một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều vắng vẻ

Vào thế kỷ XVI – XVIII, ngoài các đối tác thương mại truyền thống ở châu Á, Việt Nam còn buôn bán với Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp Tuy nhiên, đến triều đình phong kiến nhà Nguyễn, quan hệ buôn bán của Việt Nam chủ yếu với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước châu Á khác

2 Chính sách thương mại của Việt Nam dưới thời kỳ Pháp thuộc

2.1 Sơ lược về thương mại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc:

Để phục vụ cho sự phát triển công nghiệp chính quốc, Pháp đẩy mạnh công cuộc xâm lược và tìm kiếm các thị trường mới Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam là một “thuộc địa khai thác”, kém phát triển nhất trong các thuộc địa ở châu Á Xuất khẩu chủ yếu của nước ta thời kỳ này là nông sản và khoáng sản với ba mặt hàng chủ yếu là gạo, cao su và than đá Nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng và một số nguyên liệu như xăng dầu, bông, vải Nhập máy móc thiết bị cũng có, nhưng chiếm tỷ lệ thấp, từ 1,4% (năm 1915) đến 8,8% (năm cao nhất - 1931) trong tổng kim ngạch xuất khẩu

Về cán cân ngoại thương, trong thời gian 50 năm (1980 -1939), chỉ có 9 năm các nước Đông Dương nhập siêu còn 41 năm xuất siêu Đối với một nước thuộc địa, xuất siêu không phải là bằng chứng của sự phồn vinh và tăng trưởng kinh tế như ở các nước độc lập, vì khối lượng xuất siêu đó phản ảnh mức độ tước đoạt, bóc lột của thực dân Pháp

Bảng 1: Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1934 - 1939

Đơn vị tính: Triệu đồng Đông Dương

Trang 2

193

193

193

193

193

193

(Nguồn: Tóm tắt thống kê Đông Dương 1913-1939)

2.2 Chính sách thương mại của Pháp:

Để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi trong lĩnh vực ngoại thương, Pháp nắm độc quyền về thương mại ở Đông Dương và thực hiện một hàng rào thuế quan rất chặt chẽ, có lợi cho chúng, cũng như nhằm đối phó với sự canh tranh quyết liệt của các đối thủ châu Á khác Trong công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp ngày càng ra sức vơ vét thóc gạo và các của cải khác xuất cảng sang chính quốc và nhiều nước khác trên thế giới Bên cạnh

đó, thực dân Pháp còn ưu đãi tư bản Hoa Kiều vì họ là những kẻ có đủ sức mua những hàng hóa của Pháp để bán lại ở Việt Nam

Từ năm 1887, để bảo hộ thương mại của mình, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách thuế quan Ví dụ, vào ngày 11/11/1892, Pháp ban hành luật về “đồng hóa thuế quan”, từ đó, Việt Nam và Pháp nằm trong một hàng rào thuế quan chung Vào năm1928, Pháp ban hành chính sách thuế quan mới nhằm xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa Pháp và Việt Nam, đánh thuế nặng hàng hóa của Trung Quốc và Nhật Bản Đến tháng 10/1940, Pháp thi hành chế độ “thuế quan tự trị” có lợi cho các nước thuộc địa, hàng rào thuế quan được nới lỏng, thuế suất tối đa được bãi bỏ, thuế suất tối thiểu được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ nước ngoài, trừ trường hợp hàng nhập khẩu từ Nhật Bản được hưởng thuế suất đặc biệt, thấp hơn thuế suất tối thiểu

Thương mại Việt Nam được đặt trong hoàn cảnh phát triển mới, có sự tác động của

tư bản phương tây, với điều kiện kinh doanh rộng rãi hơn song cũng cạnh tranh gay gắt hơn khiến cho thương nghiệp mở mang khá mạnh, tạo nên một nền thương nghiệp hiện đại với những phương pháp doanh nghiệp tối tân hiện đại như mở công ty và giao thiệp với ngân hàng,…Tuy nhiên, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, các nguồn tài nguyên của nước ta bị khai thác đến kiệt quệ, người lao động bị bóc lột tàn nhẫn, nhân dân Việt Nam bị bần cùng hóa, cuộc sống đói khổ,…

3 Từ Cách mạng Tháng Tám (1945) đến năm 1975

Sau thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, thương mại Việt Nam thực

sự lóe sáng và có nhiều cơ hội phát triển Trong những năm 1950, quan hệ chính thức về kinh tế và thương mại giữa nước ta với nước ngoài về mặt nhà nước được thiết lập, ví dụ

Trang 3

Hiệp định thương mại với Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1952), Hiệp định thương mại với Chính phủ Pháp (1955), Ấn Độ (1956), Indonesia (1957), các hiệp định

về viện trợ hàng hóa và kỹ thuật với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác,…Các tổ chức kinh tế của ta cũng đặt quan hệ buôn bán với các công ty Nhật Bản,

Hồng Kông, Singapore, Hà Lan, Anh,… Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngoại thương

thời kỳ này là xuất khẩu tăng rất chậm Trong kim ngạch nhập khẩu, tỷ trọng viện trợ không hoàn lại lớn

Cơ cấu hàng xuất khẩu phản ánh trình độ phát triển kinh tế lạc hậu và không ổn định, hàng xuất khẩu chủ yếu là nông sản, khoáng sản và gỗ Ngoại thương chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa (chiếm 85-90% tổng kim ngạch buôn bán với nước ngoài) Nhập siêu cực kỳ lớn: nếu cộng cả giai đoạn từ năm 1958 đến 1975 theo số liệu của bảng 6.2 thì tổng giá trị xuất khẩu chỉ là 1,129 tỷ Rúp nhưng giá trị nhập khẩu lên đến 3,693 tỷ Rúp

Chính phủ Việt Nam ban hành chính sách thuế mới: Bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài, thuế xe tay, xe đạp, miễn thuế điền thổ cho những vùng bị ngập lụt và giảm 20% trong toàn quốc,…nhằm giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân, đặt thêm một số thuế mới có tính chất gián thu đánh vào các mặt hàng xa xỉ như rượu ngoại Ngoài ra, Chính phủ còn nghiêm cấm các hoạt động đầu cơ tích trữ, chợ đen; mở đường cho lưu thông hàng hóa; kêu gọi các nhà buôn đứng ra kinh doanh; quy định các chế độ trưng thu, trưng dụng, trưng tập sẽ được thực hiện trong những trường hợp cần thiết…

Hoạt động ngoại thương diễn ra chủ yếu với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa Vào năm 1955, Việt Nam ký với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác về Hiệp định về viện trợ hàng hóa và kĩ thuật

4 Thương mại Việt Nam trong giai đoạn 1975 – 1986:

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cùng với công cuộc xây dựng kinh tế, phát triển đất nước, hoạt động ở lĩnh vực ngoại thương có những sự kiện đáng lưu ý như sau:

Năm 1977, nước ta tham gia Ngân hàng Đầu tư Quốc tế và Ngân hàngHợp tác Quốc

Tế

Tháng 7/1978 nước ta gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế

Ngày 18/4/1977, Chính phủ ta ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Giai đoạn này, chúng ta tiếp tục nhận được sự hợp tác và hỗ trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, Mỹ và các nước phương Tây thực hiện cấm vận kinh tế và phân biệt đối xử trên thị trường quốc tế như ngưng viện trợ đầu tư, ngừng các khoản tín dụng đã cam kết, đã gây cho ta rất nhiều khó khăn trong phát triển ngoại thương Ngoài ra, nguyên tắc Nhà nước độc quyền về ngoại thương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác được coi là nền tảng để hình thành cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động ngoại thương theo cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, độc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu (xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư doanh, chuyển đại bộ phận tiểu thương sang sản xuất Hàng nghìn cơ sở kinh doanh của tư sản thương nghiệp được chuyển giao cho thương nghiệp quốc doanh quản lý và sử dụng, hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán được hình thành và dần dần chiếm lĩnh thị trường…) Các chính sách thương mại thời kỳ này đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có sự đổi

Trang 4

mới trong tư duy điều hành nền kinh tế Đây là cơ sở cho sự ra đời của chính sách Đổi Mới năm 1986

II Chính sách thương mại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006:

Từ tháng 12/ 1986 Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế So với công cuộc cải cách và chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường ở các quốc gia khác, đổi mới ở Việt Nam có những nét đặc thù riêng Đổi mới ở Việt Nam diễn ra từ cả 2 chiều “từ dưới lên” tức

là các hợp tác xã, doanh nghiệp và “từ trên xuống” tức là các quyết định của Đảng và Nhà nước Mối quan hệ hai chiều ấy đã làm cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam diễn ra không có sự xung đột giữa “phía trên” và “phía dưới” Khác với các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây, ở Việt Nam nhu cầu đổi mới các chính sách kinh tế

đã xuất phát từ các lĩnh vực kinh tế chư không phải là hệ quả của những biến động chính trị Trước khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế khép kín, quan hệ buôn bán chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa Để thực hiện phương châm đổi mới đó trong 20 năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành và sửa đổi các chính sách kinh tế – xã hội cho phù hợp với tình hình mới Chính sách thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế – xã hội Mục tiêu của các chính sách thương mại là điều chỉnh các hoạt động thương mại theo hướng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

1 Hoàn cảnh:

1.1 Về bối cảnh quốc tế:

Toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phối thời đại; không ngoại trừ một quốc gia, dân tộc nào, nếu muốn phát triển bắt buộc phải mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Cùng với toàn cầu hoá kinh tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độ ngày càng mạnh mẽ

Tình hình này trước hết tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới và làm thay đổi các quan hệ kinh tế và quản lý kinh tế thế giới

Làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp trên thế giới cùng với quá trình toàn cầu hoá, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam

1.2 Về bối cảnh trong nước:

Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhưng nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp vẫn tăng chậm, hơn nữa, có xu hướng giảm sút và rơi vào khủng khoảng Trong khi nguồn viện trợ của bên ngoài cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của đế quốc Mỹ ngăn cản Việt Nam bình thường hoá quan hệ với thế giới

Trước những khó khăn, nhiều địa phương đã tìm lối thoát và đổi mới kinh tế từ cơ

sở Từ việc tổng kết thực tiễn này, năm 1979, tại Hội nghị trung ương 6 (khoá IV), Đảng

Trang 5

ta đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh tế đưa ra các chính sách nhằm đổi mới toàn diện nền kinh tế nước nhà

2 Quá trình đổi mới tư duy, nhận thức, cơ chế chính sách thương mại:

1 Trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu:

Trong thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, ngoại thương hoàn toàn

do Nhà nước độc quyền, mọi hoạt động xuất nhập khẩu đều do các công ty nhà nước thực hiện Với chính sách đổi mới, hoạt động thương mại dần dần được mở rộng sang các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tiến tới tự do hoá xuất nhập khẩu

Năm 1988, Nhà nước bắt đầu nới lỏng những hạn chế trong việc thành lập các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu Nhiều địa phương, tổ chức xã hội, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tham gia hoạt động ngoại thương,

số doanh nghiệp được phép xuất, nhập khẩu từ khoảng 30 đơn vị trước năm 1986 đã bắt đầu tăng lên

Trước khi có chủ trương đổi mới, việc bán hàng của các tổ chức sản xuất, cá nhân chỉ được thực hiện với các tổ chức thương mại độc quyền, từ năm 1989, các nhà sản xuất có quyền bán cho bất kỳ doanh nghiệp nào được phép hoạt động

Các chính sách và biện pháp khuyến khích xuất khẩu được thực hiện trong giai đoạn 1986-1989 đã có tác dụng tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, thu hẹp khoảng cách giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu, đưa tỷ lệ 1 xuất khẩu, 3 nhập khẩu năm 1986, xuống còn 1 xuất khẩu, 1,3 nhập khẩu năm 1989

Nghị định 114/HĐBT ngày 07/7/1992, Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đã thay thế, loại bỏ những bất hợp lý trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, điều chỉnh các hoạt động xuất nhập khẩu theo cơ chế thị trường Nhờ Nghị định 114/HĐBT, số doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh xuất, nhập khẩu đến năm 1994 đã tăng lên đáng kể, đạt con số 1.200, trong đó ngoài quốc doanh chiếm 13%, đến tháng 9 năm 1998, con số đó tăng lên 2.250, trong đó ngoài quốc doanh chiếm

654 doanh nghiệp Nhờ vậy, kim ngạch xuất khẩu thời kỳ này có bước tăng trưởng rõ rệt Ngày 10/5/1997, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật Thương mại; ngày 23/5/1997, Chủ tịch nước ký Lệnh số 58L/CTN công bố ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1998 Tiếp đó, Chính phủ ra Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua, bán hàng hoá với nước ngoài Đây là một bước tiến tiếp tục hoàn thiện cơ chế, tạo hành lang pháp lý ổn định cho hoạt động xuất nhập khẩu

Nghị định 57/1998/NĐ-CP đã quy định và cụ thể hoá các chính sách về hoạt động thương mại với nước ngoài đã nêu trong Luật Thương mại, trên cơ sở kế thừa những mặt tích cực của cơ chế, chính sách về hoạt động thương mại trong thời kỳ đầu đổi mới, nhất

là Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn 1998 – 2001 Nhờ khai thông vấn đề quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu, xoá bỏ giấy phép kinh doanh xuất, nhập khẩu, tháo bỏ các rào cản, tăng cường các biện pháp khuyến khích, đặc biệt là các biện pháp tài chính, nên kim ngạch xuất khẩu năm 1999 đã tăng gần 23,6% so với năm 1998, năm 2000 tăng 25,4% so với năm 1999, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu tiếp tục

Trang 6

chuyển dịch theo hướng tích cực Nhập khẩu đảm bảo cung ứng đủ hàng hoá cho sản xuất, tiêu dùng trong nước Nhập siêu được kiềm chế hợp lý

Nghị định số 44/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/1998/NĐ-CP và Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001 – 2005 là một bước tiến lớn trong tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường

Quyết định 46/2001/QĐ-TTg đã điều chỉnh lại danh mục hàng hoá cấm xuất, cấm nhập cho phù hợp hơn, loại bỏ ngay một số hàng nhập khẩu ra ngoài danh mục hàng nhập khẩu có giấy phép, xác định lộ trình loại bỏ giấy phép đối với các mặt hàng nhập khẩu thời kỳ 2001-2005

Những thành tựu chủ yếu đã đạt được thể hiện như sau:

− Xoá bỏ được cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, xây dựng môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu vận hành theo cơ chế thị trường, góp phần khơi dậy được mọi tiềm năng, sức sáng tạo, tính chủ động của các đơn vị kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển xuất khẩu

− Từ chỗ hàng năm, Nhà nước phải bù lỗ lớn cho hoạt động xuất, nhập khẩu thì đến nay, ngân sách nhà nước đã có nguồn thu đáng kể từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

− Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết khủng hoảng kinh tế, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát

− Từ chỗ chỉ được xuất khẩu, nhập khẩu những hàng hoá được Bộ Thương mại cho phép, đến nay, thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu tất cả các loại hàng hóa, trừ hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và hàng xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện, chỉ phải làm thủ tục tại hải quan cửa khẩu

− Từ chỗ chỉ được trực tiếp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu theo Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của Bộ Thương mại, đến nay, thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo qui định của luật pháp đều được trực tiếp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu

− Hoạt động xuất, nhập khẩu đã thúc đẩy xuất khẩu tăng nhanh, trang trải nhu cầu nhập khẩu thiết bị, vật tư; nguyên nhiên liệu, hàng tiêu dùng cho phát triển kinh tế và từng bước cải thiện đời sống nhân dân

− Đến nay, số thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp hơn 35,7 ngàn doanh nghiệp, gấp gần 1.000 lần năm 1986

− Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 (khoảng 32,442 tỷ USD) bằng gần 40 lần năm

1986 Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2005 đạt khoảng 36,9 tỷ USD, bằng 23 lần năm

1986 Năm 1986, nhập siêu ở mức 300%, trong 5 năm gần đây được khống chế ở mức dưới 20% kim ngạch xuất khẩu Thị trường xuất khẩu được mở rộng vượt bậc, từ chỗ chủ yếu trong nội bộ khối xã hội chủ nghĩa (trước năm 1986), đến năm 2005, hàng hoá nước

ta đã vươn tới hầu hết các vùng, lãnh thổ trên thế giới

2.2 Thị trường nội địa:

Thị trường nội địa có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhận thức rõ vị trí của thị trường nội địa trong quá trình chuyển đổi nền kinh

Trang 7

tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương và quyết sách lớn để phát triển thị trường lành mạnh, đúng hướng Sự thay đổi về quan điểm và chính sách kinh tế đã đem lại những tác động tích cực trên thị trường hàng hoá dịch vụ Từ năm 1986, thị trường hàng hoá, dịch vụ nước ta có nhiều biến đổi lớn về chất và phát triển vượt bậc về lượng Qua

20 năm đổi mới, có thể đánh giá khái quát những thành tựu của thị trường nội địa như sau:

− Về cơ bản đã xoá bỏ cơ chế lưu thông cũ, chuyển sang cơ chế lưu thông mới, khắc phục tình trạng “ngăn sông, cấm chợ”, hình thành thị trường thống nhất khá ổn định và thông suốt trong cả nước

− Tự do hoá thương mại, tự do hoá lưu thông đã làm cho hàng hoá giao lưu thông suốt giữa các vùng trong cả nước, góp phần khai thác tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, từng doanh nghiệp, hình thành 3 cấp độ thị trường hàng hoá: cổ điển (sơ khai), phát triển và hiện đại

− Hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại, nâng cao về chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng

− Kiềm chế được lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức hợp lý đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội

− Từng bước hình thành các kênh lưu thông của một số mặt hàng chủ yếu

− Kết cấu hạ tầng thương mại ngày càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại

− Đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia thị trường, khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

− Quản lý nhà nước về thương mại có sự đổi mới từ trung ương đến địa phương cả về tư duy, nội dung và phương pháp quản lý, môi trường pháp lý cho lưu thông hàng hoá, hoạt động của thương nhân

3 Hội nhập kinh tế quốc tế:

Trong 20 năm qua, đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng đã đề ra nhất quán và được triển khai tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể của từng giai đoạn, phục

vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước với một số mốc sự kiện như sau:

Giai đoạn 1986 – 1991:

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối Đổi mới và quyết tâm thực hiện chính sách đối ngoại theo hướng độc lập, tự chủ và rộng mở

Giai đoạn 1991 – 1996:

− Đại hội Đảng lần thứ VII xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại”, với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của nước ta

− Năm 1992, Việt Nam khôi phục quan hệ bình thường vốn bị gián đoạn từ năm 1976 với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)

− Tháng 12/1994, Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Trang 8

− Tháng 7/1995, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 01/01/1996

Giai đoạn 1996 – 2001:

− Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đề ra nhiệm vụ “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế” Tiếp theo đó, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 12 về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng XHCN (1996), Quyết định 311/QĐ-TTg ngày 20/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Tiếp tục

tổ chức thị trường trong nước, tập trung phát triển thương mại nông thôn đến năm 2010” nhằm tạo tiền đề cho chủ động hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Thương mại xây dựng và triển khai thực hiện Đề án "Phát triển thương mại trong nước giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020"

− Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia sáng lập ASEM

− Tháng 11/1998, Việt Nam được kết nạp vào APEC

Giai đoạn 2001 – 2006

− Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định tính tất yếu của toàn cầu hoá, , thực hiện phương châm đối ngoại “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”

− Nghị quyết 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị nêu mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của quá trình hội nhập Nghị quyết cũng nêu rõ 9 nhiệm vụ liên quan tới các công tác

tư tưởng, tuyên truyền, xây dựng chiến lược tổng thể với lộ trình cụ thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, kết hợp hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, gắn chủ trương hội nhập với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng, tích cực đàm phán gia nhập WTO

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã tiếp tục khẳng định “Hội nhập kinh tế quốc tế

là yêu cầu khách quan, phải chủ động, có lộ trình phù hợp với bước đi thích hợp, vững chắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn”

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc giành được nhiều lợi ích và giảm thiểu tối đa những tác hại rủi ro được quyết định bởi chỗ mỗi nước phải có một chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và cơ cấu lại nền kinh tế để tranh thủ được các nguồn lực quốc tế, phát huy có hiệu quả mọi nguồn nội lực và kiểm soát được nền kinh tế - xã hội của mình Với nhận định như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp trong tình hình mới Về các bước đi trong tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế của nước ta, chúng ta cần xem xét đến hai mặt Đối với bên ngoài: chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể Đó là: Năm 1993 đã khai thông quan hệ với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO (cho đến nay, chúng ta đã tiến hành được 10 phiên đàm phán đa phương và kết thúc đàm phán với 20 đối tác song phương) Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam đang bước vào giai đoạn cuối cùng Phiên đàm phán

đa phương thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tiến hành vào ngày 15/9, là phiên rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình đàm phán của Việt Nam với các đối tác đa phương Việc đạt được thỏa thuận sớm với EU, một đối tác thương mại lớn có 25 nước thành viên, đã có tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt

Trang 9

Nam); ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), đồng thời tham gia vào AFTA và Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT); 3/1996 tham gia Diễn đàn Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập; 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC; 11/1998 được công nhận là thành viên của APEC; năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ Đối với trong nước: Chúng ta đã làm 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập (Ví dụ: Luật Doanh nghiệp, Luật Công ty, Luật Đầu tư nước ngoài ); thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách

và hệ thống kinh tế vĩ mô và cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; để thống nhất việc chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 10/2/1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998-TTg thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc

tế Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo và điều hành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Những kết quả đã đạt được trong tiến trình hội nhập Nước ta triển khai hội nhập kinh tế quốc tế chưa lâu, kinh nghiệm còn hạn chế nhưng cũng đã mang lại những kết quả bước đầu khá khả quan Đó là:

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước và có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, với hầu hết các tổ chức quốc tế, khu vực quan trọng Đẩy lùi được chính sách bao vây, cấm vận của các nước, thế lực thù địch Tạo được thế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao

vị thế của Việt Nam trên chính trường và thương trường quốc tế Khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu sụp đổ, khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997, đồng thời cũng đã mở rộng được thị trường xuất khẩu Thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn và giảm đáng kể nợ nước ngoài Tiếp thu được nhiều thành tựu mới về khoa học, công nghệ

và kỹ năng quản lý Nhiều ngành kinh tế mới đã xuất hiện dựa trên cơ sở tăng cao hàm lượng chất xám trong sản xuất - kinh doanh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Liên tục trong thời gian qua, kinh tế Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực Đặc biệt, tỷ lệ người nghèo đói ở Việt Nam đã giảm mạnh, từ 58% (năm 1993) xuống 24,1% vào năm 2004 (theo chuẩn nghèo 1USD/ngày), chuẩn nghèo lương thực đã giảm từ 24,9% (năm 1993) xuống 7,8% trong năm 2004

Bước đầu chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng cũng vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém nhất định Cụ thể là: Nhận thức về hội nhập chưa được nhất trí cao Chưa có một kế hoạch tổng thể và dài hạn để hội nhập kinh tế quốc tế; hệ thống chính sách, luật phápquản lý kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh, còn có những chính sách, luật chưa thực sự phù hợp với những thông lệ quốc tế; lực lượng sản xuất có nguy

cơ tụt hậu so với trình độ phát triển chung của thế giới, do đó sức cạnh tranh hàng hoá kém, hiệu quả đầu tư thấp Cơ cấu hàng hoá chủ yếu là bán sản phẩm và gia công, xuất khẩu tuy với khối lượng lớn nhưng giá trị thu được thấp Với những thành công bước đầu

về hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định trong thời gian qua,

Trang 10

chúng ta tin tưởng rằng đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

III Chính sách thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến nay:

1 Bối cảnh:

Sau 11 năm đàm phán, Việt Nam đã trở thành thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ ngày 13 tháng 1 năm 2007 Quãng thời gian gần 4 năm từ đó đến nay tuy chưa thật dài, nhưng cũng phần nào cho thấy những tác động của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đối với nền kinh tế Việt Nam

Để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam đã tiến hành cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương và cam kết mở cửa thị trường

2 Chính sách:

2.1 Các cam kết đa phương:

Cam kết đa phương là các cam kết chung, mang tính ràng buộc đối với tất cả các nước gia nhập Chủ yếu các cam kết này tập trung vào việc xây dựng hệ thống pháp luật

và cải cách thể chế phù hợp với các chuẩn mực quốc tế Các cam kết này tập trung vào một số nội dung chính như:

− Áp dụng các cam kết về trợ cấp theo đúng các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (không trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa)

− Không áp dụng trợ cấp xuất khẩu nông sản (trừ trợ cấp dưới hình thức chi phí marketing

và cước phí vận tải cho hàng xuất khẩu) nhưng được áp dụng các trợ cấp khác cho nông sản

− Mở cửa quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài

− Trao cho các doanh nghiệp nhà nước quyền tự chủ (Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp)

− Loại bỏ phân biệt đối xử trong việc áp dụng thuế tiêu thu đặc biệt thông qua việc áp dụng một mức thuế duy nhất thay vì nhiều mức thuế như đang áp dụng (ta có 3 năm để thực hiện)

− Áp dụng một cách minh bạch, công khai các quy định của pháp luật

Ngày đăng: 23/11/2017, 07:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w