1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích chính sách thương mại quốc tế của việt nam qua các thời kỳ

27 660 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 213 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ...1 1.1.. Ðể thực hiện các cam kết khigia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

BÀI TIỂU LUẬN

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

QUA CÁC THỜI KỲ

GVHD: NGUYỄN THỊ VÂN NGA MÔN HỌC: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ SINH VIÊN THỰC HIỆN:

Hà Nội - 2018

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI

QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1

1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế 1

1.2 Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế 1

1.3 Các hình thức của chính sách thương mại quốc tế 2

1.3.1 Chính sách mậu dịch tự do 2

1.3.2 Chính sách bảo hộ mậu dịch 2

1.4 Các nguyên tắc của chính sách thương mại quốc tế 3

1.4.1 Nguyên tắc tương hỗ 3

1.4.2 Nguyên tắc ngang bằng dân tộc 3

1.4.3 Nguyên tắc tối huệ quốc 4

PHẦN 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ QUA TỪNG GIAI ĐOẠN 5

2.1 Giai đoạn 1975-1986 5

2.1.1 Thời kỳ thống nhất đất nước đến đầu công cuộc đổi mới (1975-1979) 5

2.1.2 Trong thời kỳ tiền đổi mới (1979-1986) 8

2.2 Giai đoạn 1986-2006 11

2.2.1 Giai đoạn thăm dò hội nhập (1986-1991) 11

2.2.2 Giai đoạn khởi động hội nhập (1992-2000) 11

2.2.3 Giai đoạn tăng cường hội nhập (2001-2006) 13

2.3 Giai đoạn 2006- 2016 13

2.3.1 Việt Nam gia nhập WTO/TPP 13

2.3.2 Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong khoảng thời gian này 14

2.4 Giai đoạn 2016-2025 15

2.4.1 Tổng quan về chính sách thương mại quốc tế Việt Nam 15

2.4.2 Dự báo thực trạng chính sách thương mại của Việt Nam trong những năm tới 17

Trang 3

PHẦN 3 GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THƯƠNG

MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ 18 3.1 Tăng tính thống nhất trong nhận thức về giải quyết mối quan

hệ giữa tự do hoá thương mại và bảo hộ mậu dịch 18 3.2 Tiếp tục hoàn thiện các công cụ của chính sách thương mại

quốc tế 18

3.2.1 Minh bạch hoá và vận dụng linh hoạt công cụ thuế quan 18 3.2.2 Sử dụng một cách hệ thống một số công cụ phi thuế quan 19 3.2.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin về thị trường, ngành hàng và

rào cản thương mại đầy đủ và dễ truy cập 20

3.3 Tăng cường phối hợp hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế

giữa các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp 21

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày 11-1-2007 là một dấu mốc hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế của nước ta: Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắttay vào xây dựng Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế Ðể thực hiện các cam kết khigia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướngminh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thựchiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biệnpháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thứctrong quá trình hội nhập Mặc dù chúng ta đã thực hiện nhiều cải cách về thương mạitrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, nhiều vấn đề còn cần được tiếp tụcxem xét như việc liên kết doanh nghiệp và Chính phủ trong việc hoàn thiện chính sáchthương mại quốc tế; phát huy vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàitrong việc thực hiện chính sách; và cách thức vận dụng các công cụ của chính sáchthương mại quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Chính sách thương mạiquốc tế phải được hoàn thiện để vừa phù hợp với các chuẩn mực thương mại quốc tếhiện hành của thế giới, vừa phát huy được lợi thế so sánh của Việt Nam Vì vậy, việcxem xét và điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước có ýnghĩa hết sức quan trọng trong việc góp phần đưa Việt Nam hội nhập thành công vàđạt được mục tiêu về cơ bản trở thành quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020

Trang 5

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình vàhàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằmđưa lại lợi ích cho các bên Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệlớn trong GDP Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loàingười, tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cáchchi tiết trong vài thế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự pháttriển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xuhướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xemnhư ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá"

Chính sách thương mại quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thíchhợp của một nước dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của nước đó trongmột thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của nướcđó

1.2 Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế

Môi trường kinh tế thế giới chịu sự chi phối và tác động của nhiều mối quan hệchính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách thương mại quốc tế củamỗi quốc gia cũng phải đáp ứng cho nhiều mục tiêu khác nhau Nhiệm vụ của chínhsách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia có thể thay đổi theo mỗi thời kỳ nhưngđều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt đông thương mại quốc tế theo chiềuhướng có lợi cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Nhiệm vụ này thể hiện trên

2 mặt sau đây:

Một là, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thịtrường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và thươngmại quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước

Hai là, bảo vệ thị trường nội địa , tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trongnước đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng yêu cầutăng cường lợi ích quốc gia

Để thực hiện nhiệm vụ trên, chính sách thương mại quốc tế bao gồm nhiều bộphận khác nhau và có liên quan hữu cơ với nhau: chính sách mặt hàng, chính sách thịtrường và chính sách hỗ trợ

Trang 6

1.3 Các hình thức của chính sách thương mại quốc tế

1.3.1 Chính sách mậu dịch tự do

Là hình thức chính sách thương mại trong đó Nhà nước không can thiệp trựctiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương, mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa chohàng hóa được tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước tạo điều kiện cho thương mạiquốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh

Đặc điểm:

Nhà nước không sử dụng các công cụ để điều tiết XK và NK

 Quá trình XK và NK được tiến hành một cách tự do

 Quy luật tự do cạnh tranh và các quy luật kinh tế của thị trường điều tiết sựhoạt động của sản xuất , hoạt động tài chính và thương mại trong nước

Tự do tiếp cận thị trường

Cơ sở khách quan của chính sách:

 Những lơi ích to lớn của TM đối với phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia

 Do đòi hỏi khách quan của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốctế

Ưu nhược điểm:

Ưu điểm:

 Thúc đẩy cạnh tranh trong nước

 Tạo điều kiện để phân bổ hiệu quả các nguồn lực trog nước

 Tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồnlực từ bên ngoài

 Tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xuất khẩu

 Mang lại lợi ích cho người tiêu dùng

Nhược điểm:

 Những ngành sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh sẽ bị phá sản

 Nền kinh tế trong nước dễ bị ảnh hưởng xấu bởi cuộc khủng hoảng kinh tếthế giới

1.3.2 Chính sách bảo hộ mậu dịch

Là hình thức chính sách thương mại trong đó nhà nước áp dụng nhiều biện phápcần thiết để bảo vệ thị tường nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sự cạnhtranh của hàng hóa NK từ nước ngoài

Cơ sở khách quan của chính sách:

Trang 7

˗ Xuất phát từ sự khác biệt từ trình độ phát triển kinh tế và khả năng cạnh tranhcủa hàng hóa, dịch vụ giữa các nước.

˗ Sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các ngành trong nền kinh tế quốcgia

Công cụ sử dụng trong bảo hộ mậu dịch:

 Quy định về tỉ giá hối đoái

Ưu nhược điểm:

 Không tạo ra môi trường cạnh tranh nên sản xuất kém hiệu quả

1.4. Các nguyên tắc của chính sách thương mại quốc tế

1.4.1 Nguyên tắc tương hỗ

Theo nguyên tắc này, các bên dành cho nhau những ưu đãi và đãi ngộ tương tựnhau trong quan hệ ngoại thương Mức độ ưu đãi và đãi ngộ của các quốc gia khácnhau phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia Việc áp dụng nguyên tắc nàythường gây bất lợi cho bên yếu hơn và mang tính phân biệt đối xử với nước thứ ba

1.4.2 Nguyên tắc ngang bằng dân tộc

Nếu giữa 2 nước ký hiệp định thương mại dựa trên nguyên tắc ngang bằng dântộc, nguyên tắc này cho phép công dân, công ty của các bên tham gia trong quan hệngoại thương được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ như nhau , có nghĩa là công dâncủa 1 nước khi sinh sống ở nước đối tác và các công ty có trụ sở ở nước đối tác sẽ

Trang 8

được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ như công dân và công ty nước đối tác vàngược lại Thực tế áp dụng nguyên tắc này cho thấy các nước công nghiệp phát triểnthường bao giờ cũng chiếm vị trí thuận lợi hơn so với các nước kém phát triển Vì vậy,nguyên tắc này đôi khi trên thực tế chỉ mang tính hình thức.

1.4.3 Nguyên tắc tối huệ quốc

Theo nguyên tắc này, các bên tham gia buôn bán với nhau sẽ dành cho nhau nhữngđiều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã, đang và sẽ dành cho nướcthứ ba Nguyên tắc này thường dùng trong hai trường hợp sau:

˗ Tất cả những ưu đãi mà một bên đã, đang và sẽ dành cho một nước thứ ba nàokhác cũng sẽ được dành cho bên tham gia kia hưởng một cách vô điều kiện

˗ Hàng hóa, dịch vụ di chuyển từ một bên tham gia đưa vào lãnh thổ nước đốitác sẽ không chịu mức thuế quan cao hơn và chịu các thủ tục phức tạp hơn sovới hàng hóa và dịch vụ vào nước đối tác từ nước thứ ba

˗ Nguyên tắc này lần đầu được Mỹ áp dụng trong buôn bán với Pháp năm 1778,sau đó mở rộng ra với Anh, Nhật Bản, Đức Phạm vi áp dụng của nguyên tắcnày rộng hay hẹp tùy thuộc vào mối quan hệ kinh tế giữa các nước tham gia.Nguyên tắc MFN được phân thành hai loại:

 MFN có điều kiện là nước được hưởng quy chế MFN phải chấp nhận tuântheo các điều kiện kinh tế và chính trị do nước đối tác đưa ra

 MFN vô điều kiện là nước được hưởng quy chế này không phải tuân theobất kỳ một điều kiện ràng buộc nào cả

Trang 9

PHẦN 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ QUA TỪNG GIAI ĐOẠN

2.1 Giai đoạn 1975-1986

2.1.1 Thời kỳ thống nhất đất nước đến đầu công cuộc đổi mới (1975- 1979)

2.1.1.1. Cải tạo thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam

Thị trường miền Nam trước giải phóng mang tính chất thị trường tư bản chủnghĩa và tương đối phát triển, có quan hệ gắn bó với nhiều nước tư bản thế giới và khuvực Tư sản mại bản là thế lực phản động nhất trong giai cấp tư sản ở miền Nam, cólợi ích gắn bó với chủ nghĩa đế quốc, hoạt động kinh doanh làm giàu, lũng đoạn thịtrường và phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Mỹ - Ngụy Hệ thống độc quyềnlũng đoạn thị trường của tư sản mại bản được tổ chức tinh vi và chặt chẽ trong cáckhâu trọng yếu: Từ xuất, nhập khẩu, thu mua nguyên liệu, sản xuất, chế biến, vậnchuyển đến nắm quyền bán buôn, khống chế bán lẻ hoặc ít nhất cũng nắm độc quyềnlàm tổng đại lý tiêu thụ hàng hoá, chi phối tư sản thương nghiệp và lực lượng tiểuthương làm mạng lưới tiêu thụ bán lẻ cho chúng Giai cấp tư sản mại bản do nắm giữmột khối lượng lớn tài sản và hàng hoá trong tay nên vẫn tiếp tục thao túng thị trườngmiền Nam sau ngày giải phóng, gây ra những vụ đầu cơ, làm ăn phi pháp, làm mất ổnđịnh đời sống kinh tế - xã hội Tình hình đó đòi hỏi phải nhanh chóng xoá bỏ giai cấp

tư sản mại bản Chủ trương đó là hoàn toàn đúng đắn và đã được Nhà nước ta thi hành

ở các thành phố lớn miền Nam vào những tháng cuối năm 1975 và năm 1976

Thời gian đầu sau giải phóng, thị trường miền Nam lưu hành 3 loại tiền khácnhau: tiền của chế độ Sài Gòn cũ, tiền của Chính phủ cách mạng lâm thời và tiền củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam Lúc đầu, Nhà nước chủ trương tạm thời hạn chế việcbuôn bán giữa hai miền Đến năm 1976, nhu cầu giao lưu hàng hoá giữa 2 miền Nam -Bắc ngày càng tăng lên, quan hệ đó đòi hỏi phải được mở rộng Vì vậy, những hạn chếbuôn bán ban đầu đã được Nhà nước xoá bỏ dần trong thời gian sau đó

Từ hoàn cảnh chiến tranh chuyển sang hoà bình, nhu cầu về tiêu dùng của cáctầng lớp dân cư trong xã hội cũng khác trước về cơ bản Điều đó đòi hỏi hoạt động củathương mại phải có sự thích ứng nhanh chóng với điều kiện mới của thị trường, mởrộng kinh doanh với những phương thức tiến bộ, hàng hoá phong phú với chất lượngbảo đảm

Ngay sau giải phóng, hàng vạn cán bộ ngành Thương mại, bao gồm Nộithương, Ngoại thương và Vật tư đã được điều động cho miền Nam Trong đó có nhiềucán bộ cốt cán đã được giao nhiệm vụ khẩn trương xây dựng khung các cơ quan quản

Trang 10

lý cấp Sở, Ty để vào tiếp quản và xây dựng mạng lưới thương mại ở các thành phố,các tỉnh phía Nam Tháng 5/1975, Tổng Nha Nội thương ra đời và ngày 26/5/1975thành lập Sở Thương nghiệp thành phố Sài Gòn mới giải phóng Tiếp sau đó là các SởThương nghiệp của các tỉnh, thành phố khác cũng được thành lập Đến cuối năm 1976,

đã thành lập được 2 tổng công ty và 10 công ty thương nghiệp bán buôn toàn miềnNam, gần 60 công ty thương nghiệp tỉnh với trên 500 cửa hàng Giao lưu hàng hoágiữa 2 miền Nam – Bắc dần được khai thông và không ngừng phát triển

2.1.1.2 Nội thương và ngoại thương từng bước phát triển

Lực lượng thương nghiệp quốc doanh phát triển nhanh chóng và lực lượng hợptác xã tuy mới thời kỳ đầu xây dựng, nhưng đã từng bước vươn lên chiếm lĩnh thịtrường, nhờ đó đã hạn chế được ở mức độ nhất định nạn đầu cơ, tích trữ và tình trạnghỗn loạn giá cả thị trường

Cũng cần nhớ lại rằng, những năm đầu sau giải phóng, công tác phân phối lưuthông gặp rất nhiều khó khăn Thương nghiệp quốc doanh tuy phát triển nhanh, nhưngcòn yếu Chưa có nhiều hàng hoá, kể cả hàng nông sản - thực phẩm và hàng côngnghiệp tiêu dùng Phương thức mua vào, bán ra còn lúng túng, gò bó Các tổ chứcthương nghiệp hợp tác xã đang thời kỳ đầu xây dựng, chưa đủ sức hỗ trợ cho thươngnghiệp quốc doanh thu mua nắm nguồn hàng, phân phối bán lẻ và chi phối thị trường.Việc tổ chức quản lý thương nghiệp tư nhân còn bị buông lỏng Việc theo dõi nắm tìnhhình thị trường chưa cụ thể và sát sao, do đó chưa kịp thời đối phó và ngăn chặn đượccác thủ đoạn phi pháp của bọn gian thương

Đầu năm 1978, Nhà nước thực hiện việc đổi tiền lần thứ 2 để thống nhất tiền tệtrong cả nước, tạo tiền đề thống nhất thị trường hai miền và công tác lãnh đạo hoạtđộng thương mại trong cả nước cùng có điều kiện tập trung thống nhất từ Trung ương.Thương nghiệp quốc doanh đã từng bước vươn lên dành lấy vị trí chủ đạo Giao lưuhàng hoá giữa hai miền không ngừng được tăng cường và bổ sung cho nhau, mỗi nămcàng thêm phát triển

Hoạt động buôn bán đối ngoại trong bối cảnh đất nước thống nhất cũng có nhữngthuận lợi mới Từ đó, chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác tiềm năng của cảnước về thiên nhiên cũng như lao động để đẩy mạnh xuất nhập khẩu

Những năm 1976-1978, tình hình kinh tế đối ngoại nói chung và ngoại thươngnói riêng diễn ra tương đối thuận lợi Tuy nhiên, từ cuối năm 1978 trở về sau, tình hìnhdiễn biến có nhiều khó khăn phức tạp Mỹ và một số nước khác đã có thái độ thù địchvới nhân dân ta, thực hiện chính sách cấm vận, phân biệt đối xử Họ ngừng viện trợ và

Trang 11

đầu tư vào Việt Nam, ngừng các khoản tín dụng đã cam kết, thậm chí có nước có hành

vi phá hoại nền kinh tế của nước ta Trong lúc đó lại xảy ra cuộc chiến tranh ở biêngiới Tây - Nam và phía Bắc, làm cho đất nước ở trong tình trạng vừa có hoà bình, vừa

có chiến tranh, gây khó khăn và mất cân đối nhiều mặt cho nền kinh tế Thị trườngbiến động, giá cả hàng hoá tăng nhanh Bên cạnh đó, quản lý kinh tế cũng như quản lýthương mại vẫn giữ cung cách của thời kỳ chiến tranh, mang nặng tính chất quan liêubao cấp, tỏ ra kém hiệu quả

Mặc dù gặp nhiều khó khăn to lớn từ phía khách quan cũng như chủ quan, songđiều đó cũng không hoàn toàn cản trở nền kinh tế của ta phát triển

Năm 1977-1978, hai năm liền nông nghiệp cả 2 miền gặp thiên tai nặng nề,công tác thu mua nắm nguồn hàng của thương mại không đạt yêu cầu Công nghiệpthiếu nguyên liệu, vật tư, nhiên liệu Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 2 (1976- 1980)đạt mức thấp, quỹ hàng hoá của Nhà nước không đáp ứng nhu cầu, nhiều mặt hàngthiết yếu chỉ bảo đảm cung cấp được khoảng 50% tiêu chuẩn định lượng được phânphối bằng tem phiếu Trong điều kiện thiếu hàng như vậy, ngành Thương mại đã cốgắng tập trung được một lượng hàng cần thiết để ưu tiên cung cấp cho khu vực trựctiếp sản xuất, phục vụ lực lượng chiến đấu, một phần cho cán bộ công nhân viên

Ở miền Nam, số người làm nghề bán buôn và dịch vụ tăng nhanh Tư thươngnắm quyền chi phối nhiều loại hàng hoá tiêu dùng Nhìn chung, vào thời điểm đó,thương nghiệp quốc doanh đã không làm chủ được thị trường hàng nông sản – thựcphẩm

Đối với hàng tiêu dùng bán lẻ cung cấp, thương nghiệp quốc doanh đã trở thànhkho hàng phân phối theo định lượng, ngân sách phải bù lỗ nặng nề Giá hàng côngnghiệp cũng để bất động kéo dài, nhất là hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng nhập khẩuphục vụ sản xuất Mức giá trong nước đối với hàng nhập khẩu không bù được giá vốn

Cơ chế thu bù chênh lệch ngoại thương đã làm cho ngân sách Nhà nước bù lỗ xuấtkhẩu ngày một tăng lên

Hoạt động xuất nhập khẩu trì trệ, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng nề kéodài Hoạt động xuất nhập khẩu theo cơ chế kế hoạch tập trung, Nhà nước độc quyềnngoại thương, thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa với cơ chế nghị địnhthư Cả nước chỉ có khoảng 30 đơn vị, công ty nhà nước hoạt động xuất, nhập khẩu,với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu rất thấp (bình quân xuất khẩu theo đầu người chỉ ởmức dưới 10 Rúp/USD, trong đó 70% kim ngạch xuất khẩu thuộc khu vực đồng Rúp)

Vì vậy luôn gây sức ép phải hạn chế các nhu cầu nhập khẩu thiết bị, vật tư nguyên

Trang 12

liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu cho phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân,

mà ở thời kỳ này, hầu hết các mặt hàng cung ứng cho thị trường trong nước phải thôngqua nhập khẩu Cân đối tiền – hàng và cung – cầu một số mặt hàng thiết yếu bị mấtcân đối nghiêm trọng

Trong hệ thống kế hoạch pháp lệnh, cơ chế kết hối ngoại tệ được thực hiện theogiá kết toán nội bộ với giá trị của đồng Việt Nam cao gấp nhiều lần so với giá trị thực;

sự xơ cứng trong việc định giá vật tư, nguyên liệu, hàng hoá xuất, nhập khẩu; các tổngcông ty xuất nhập khẩu được phân công theo ngành hàng không gắn nhập khẩu vớixuất khẩu; ngân sách hàng năm phải chi ra một khoản tiền lớn để bù lỗ cho hoạt độngxuất, nhập khẩu

Trên bình diện quốc tế, từ cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thếgiới diễn ra những biến đổi to lớn Trước âm mưu “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa

đế quốc, trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, xu thếtoàn cầu hoá kinh tế, chạy đua về kinh tế, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa tư bản có nhiều diễn biến phức tạp Điều đó đã đặt hệ thống xã hội chủ nghĩatrước những thách thức mới Việc vượt qua thách thức đó lại diễn ra trong bối cảnhhầu hết các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hộitrầm trọng Trong khi đó, các nước tư bản chủ nghĩa, tuy cũng phải đối phó với nhữngnguy cơ mới, nhưng do có sự điều chỉnh cần thiết, đặc biệt là đã sử dụng được nhữngthành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên đã vượt qua đượckhó khăn, kinh tế có bước tăng trưởng đáng kể

Với bối cảnh trong nước và quốc tế như trên, đòi hỏi tất yếu muốn tồn tại vàphát triển thì phải có một cuộc cải cách thật sự trên tất cả các lĩnh vực của đất nước

Đó chính là đường lối Đổi mới mà Đảng ta khởi xướng tại Đại hội lần thứ VI tháng12/1986

2.1.2 Trong thời kỳ tiền đổi mới (1979-1986)

2.1.2.1 Hội nghị trung ương 6 khóa IV

Có thể coi Hội nghị trung ương 6 khoá IV (tháng 8/1979) với chủ trương vàquyết tâm làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới ởnước ta Hội nghị đã tập trung vào những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kémtrong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; điều chỉnh những chủ trương, chínhsách kinh tế; phá bỏ rào cản, mở đường cho sản xuất phát triển; ổn định nghĩa vụlương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc lưu thông tự do;khuyến khích mọi người tận dụng ao, hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn nuôi

Trang 13

gia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, gia đình); sửa lại thuế lương thực, giálương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại hệ thống phân phối trong hệ thống hợptác xã nông nghiệp, bỏ phân phối theo định suất, định lượng để khuyến khích tính tíchcực của người lao động… Trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, điều chỉnh một số chính sách không còn phùhợp; cải tiến các chính sách lưu thông, phân phối (giá, lương, tiền, tài chính, ngânhàng); đổi mới công tác kế hoạch hoá, kết hợp với thị trường; kết hợp 3 lợi ích: Nhànước, tập thể, cá nhân người lao động.

Những chủ trương đó nhanh chóng được nhân dân trong cả nước đón nhận vàbiến thành hành động thực tế trong thực tiễn cuộc sống Đầu những năm 80 của thế kỷ

XX, có địa phương đã thực hiện thí điểm mô hình theo cơ chế: “mua cao, bán cao”thay cho “mua cung, bán cấp”; bù giá vào lương; được phép thí điểm hình thức khoán,

mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp

đã ra đời

Trên lĩnh vực công nghiệp, bước đầu xác định quyền tự chủ của cơ sở trong sảnxuất, kinh doanh, với chủ trương “ba phần kế hoạch” (phần Nhà nước giao có vật tưbảo đảm, phần Xí nghiệp tự làm, phần sản phẩm phụ) theo Quyết định 25/CP, ngày21/01/1981 của Hội đồng Chính phủ, cùng với Quyết định 26/CP về việc mở rộng hìnhthức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong cácđơn vị sản xuất, kinh doanh được áp dụng

Trên lĩnh vực cải tạo xã hội chủ nghĩa, vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế

đã được đặt ra; từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức sảnxuất thích hợp; chính sách đối với kinh tế cá thể từng bước được điều chỉnh cho đúngthực tế hơn; nhấn mạnh chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, mệnh lệnh, làm ồ ạt, gâythiệt hại cho sản xuất và đời sống

Tuy nhiên, do những khó khăn bởi chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Namxảy ra, do thiếu đồng bộ của tư tưởng đổi mới và chưa đủ thời gian để những chủtrương đổi mới phát huy tác dụng, trong khi đó, nhiều chỉ tiêu cơ bản do Đại hội IVđưa ra lại quá cao so với thực tế, nên không thực hiện được Nền kinh tế tiếp tục ởtrạng thái trì trệ, sa sút; đời sống nhân dân có nhiều khó khăn

Trước những khó khăn về kinh tế và đời sống, cũng vẫn có khuynh hướngmuốn quay lại với quan niệm và cách làm cũ Hội nghị Trung ương 5 khoá V(12/1983) vẫn xem sự chậm chạp trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong nhữngnguyên nhân của tình trạng khó khăn về kinh tế - xã hội, và chủ trương phải đẩy mạnh

Ngày đăng: 21/05/2020, 11:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w