1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế và khung khổ chính sách thương mại việt nam (TT)

28 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 369,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nếu không tìm hiểu kỹ tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, thiết kế chính sách thương mại trong tương lai có thể trở nên kém hiệu quả, không n

Trang 1

1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Tập thể hướng dẫn khoa học: 1 TS Bùi Trường Giang

2 TS Võ Trí Thành

Phản biện 1: PGS.TS Lê Quốc Hội

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Văn Nam

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu Luận án tại

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Từ năm 2001 đến nay, Việt Nam đã thực hiện nhiều cam kết đa phương, song phương và khu vực Năm 2016 sẽ đánh dấu bước ngoặt trong quá trình hội nhập của Việt Nam khi nước ta tham gia khá nhiều hiệp định thương mại như TPP, RCEP, AEC, EVFTA

15 năm qua, nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày một sâu và với tốc độ ngày càng nhanh vào nền kinh tế quốc tế thông qua các kênh hội nhập rất đa dạng và với các cấp độ, tầng nấc khác nhau Độ mở cửa lớn sẽ làm cho tăng trưởng của nước ta phụ thuộc nhiều hơn vào hoạt động thương mại Do đó, nếu không tìm hiểu kỹ tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, thiết kế chính sách thương mại trong tương lai có thể trở nên kém hiệu quả, không những không thúc đẩy tăng trưởng bền vững, dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại mà còn làm cản trở tăng trưởng của nền kinh tế

Thương mại quốc tế hay ngoại thương có thể tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh như mở rộng hoạt động sản xuất trong nước, tăng hiệu ứng kinh tế theo quy mô, tăng chuyển giao công nghệ, tăng lượng vốn Nhưng đồng thời ngoại thương cũng có thể truyền tải những rủi ro và cú sốc từ bên ngoài vào nền kinh tế trong nước nhanh hơn và với mức độ nghiêm trọng hơn Nhìn từ hai khía cạnh này, việc xem xét tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế

để từ đó nắm được các kênh truyền dẫn những tác động tích cực và các kênh truyền dẫn những tác động tiêu cực sẽ góp phần thiết kế chính sách thương mại trong thời gian tới khi mà Việt Nam tham gia ở các cấp độ sâu hơn, rộng hơn và đa dạng hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Đồng thời luận án sẽ phân tích các kênh

Trang 4

2

tác động từ thương mại đến tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2014 để từ đó đề xuất chính sách thương mại

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế, và khung khổ chính sách thương mại của Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

* Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung xem xét tác động của

thương mại hàng hóa quốc tế và các kênh tác động đến tăng trưởng kinh

tế của Việt Nam

* Phạm vi thời gian: khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm

2014 và những hàm ý hoàn thiện chính sách thương mại đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng kết hợp cả phương pháp phân tích định tính và phương pháp phân tích định lượng

+ Phương pháp phân tích định tính, gồm có: phương pháp thống

kê, mô tả, phương pháp so sánh, phân tích diễn dịch, phân tích quy nạp

+ Phương pháp định lượng chủ yếu sử dụng phương pháp hạch toán khung khổ tăng trưởng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 5

3

Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế, cụ thể, đề tài hệ thống hóa các kênh truyền dẫn tác động từ thương mại đến tăng trưởng; khảo sát các kênh truyền dẫn cho trường hợp của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 để từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực của thương mại đến tăng trưởng trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế thời gian sắp tới

Chương 3 mô tả tăng trưởng và thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 Đồng thời, chương này cũng phân tích tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế và những kênh tác động

Chương 4 sẽ nêu ra hệ quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thương mại giai đoạn đến năm 2025 từ các phân tích ở trên

Trang 6

4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế nói chung và tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế nói riêng hiện có rất nhiều

Các nghiên cứu của Thirlwall (1994, 2000, 2002) cho rằng xuất khẩu tác động mạnh đến tăng trưởng vì xuất khẩu không chỉ tác động trực tiếp đến tổng cầu mà nó còn tác động gián tiếp thông qua những thành phần khác của tổng cầu Nhập khẩu phần lớn được tài trợ bởi xuất khẩu, và tiêu dùng, đầu tư cũng được hỗ trợ phần nào bởi xuất khẩu Bên cạnh đó, những loại công nghệ (máy móc, trang thiết bị) không thể sản xuất trong nước nhưng lại đóng vai trò lớn trong hoạt động sản xuất chỉ có thể có được thông qua nhập khẩu Hay nguyên vật liệu nhập khẩu cũng là một đầu vào rất quan trọng cho hoạt động sản xuất

Các nghiên cứu cho một nhóm nước:

Dollar (2002) phân tích tác động của thể thế và thương mại đến tăng trưởng Tác giả kết luận rằng những quốc gia có thể chế tốt hơn và thương mại nhiều hơn có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn

Dollar và Kraay (2004) đã kết luận rằng những quốc gia đi sau nhưng mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế sẽ hội tụ tới nhóm các nước giàu nhanh hơn so với những quốc gia đi sau nhưng không mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế

Các nghiên cứu cho riêng từng quốc gia:

Herath (2009) xem xét tác động của tự do hoá thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại Sri Lanka cho giai đoạn 1960-2007 Kết luận tác giả đưa ra là tự do hoá thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Sri Lanka

Sun và Heshmati (2010) phân tích hoạt động thương mại của Trung Quốc và tác động của nó tới tăng trưởng kinh tế của nước này Nghiên cứu đưa đến kết luận rằng tham gia thương mại quốc tế ngày

Trang 7

5

một sâu rộng của Trung Quốc đã làm cho nền kinh tế của nước này thu được cả lợi ích tĩnh và động

Marelli và Signorelli (2011) phân tích tác động của thương mại

và độ mở nền kinh tế đến tăng trưởng kinh tế của cả Ấn Độ và Trung Quốc Kết quả cho thấy độ mở của nền kinh tế và thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của hai nước này

Nghiên cứu về các kênh tác động cũng tương đối nhiều như các

nghiên cứu của Coe và cộng sự (1997), Edwards (1998), Bhagwati (1988), Waczirg (1997), Bigsten và cộng sự (2000), Kraay (1999), Hallward-Driemeier và cộng sự (2000), Frankel và Romer (1999)

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Cho đến nay, mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế chưa được khám phá đầy đủ và hệ thống ở Việt Nam Những bài nghiên cứu thường tìm nguồn gốc tăng trưởng kinh tế dưới dạng hàm sản xuất (mặt cung) như Trần Võ Hùng Sơn và Châu Văn Thành (1998), Lê Đăng Doanh và cộng sự (2002), Chu Quang Khởi (2003), Trần Thọ Đạt và cộng sự (2004)

Phạm Sỹ An (2005) xem xét tính ràng buộc của thương mại (tăng trưởng xuất khẩu và độ co giãn của nhập khẩu đối với thu nhập) đến tăng trưởng của một nền kinh tế Phạm Sỹ An (2006) phân tích mô hình mở rộng hơn về tác động của thương mại đến tăng trưởng, đồng thời cũng nghiên cứu trường hợp cụ thể Việt Nam trong giai đoạn 1991-

2004 Các nghiên cứu riêng về thương mại thì có khá nhiều như Oostendorp và Quang (2010) phân tích tác động của tự do hoá thương mại đến lợi tức giáo dục của Việt Nam, hay Trang, Tâm và Nam (2011) xem xét những nhân tố quyết định đến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam

Nói tóm lại, kết quả phân tích từ các công trình nghiên cứu ngoài

nước là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho luận án Còn các công trình nghiên cứu trong nước ở các khía cạnh riêng rẽ như tăng trưởng hay thương mại có tương đối nhiều, nhưng phân tích một cách hệ thống tác động từ thương mại đến tăng trưởng cũng như các kênh truyền tải tác

Trang 8

Khái niệm về tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng kinh tế là sự gia

tăng tổng sản lượng giữa hai thời điểm t và t – 1

Khái niệm về thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế là trao đổi

hàng hóa hay dịch vụ giữa các quốc gia với nhau Để đánh giá mức độ

mở cửa thương mại của một nước có thể sử dụng nhiều cách đo khác nhau như tỷ lệ giữa tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu với GDP hay qua nhiều cách thức đo lường khác

Khái niệm về chính sách thương mại và một số công cụ của chính sách thương mại: chính sách thương mại là các biện pháp nhằm hạn chế

hay thúc đẩy thương mại Chính sách thương mại có rất nhiều mục đích như tăng doanh thu cho ngân sách, bảo hộ ngành công nghiệp trong nước, thúc đẩy xuất khẩu Chính sách thương mại có những công cụ chủ yếu sau: Thuế quan; trợ cấp xuất khẩu; hạn ngạch nhập khẩu; hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER); yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa; và những công cụ thương mại khác như tín dụng trợ cấp xuất khẩu, mua sắm chính phủ, các rào cản hành chính

2.2 Mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ định tính giữa thương mại và tăng trưởng được mô

tả khá rõ qua công trình nghiên cứu kinh điển của Adam Smith (1776) Adam Smith đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thương mại như một kênh cho dòng hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng Tự do hóa thương mại sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu, thúc đẩy hoạt động sản

Trang 9

7

xuất và cải thiện quá trình phân chia lao động (chuyên môn hóa) và năng suất của nền kinh tế Như vậy, thương mại tác động đến tăng trưởng thông qua phân chia lao động, chuyên môn hóa và do đó là năng suất

Tiếp đến, David Ricardo (1772-1823) phát triển lý thuyết về lợi thế so sánh dựa trên các giả sử về cạnh tranh hoàn hảo và toàn dụng nguồn lực Lý thuyết này cho rằng các quốc gia có thể thu được lợi ích thông qua chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa với chi phí cơ hội thấp

nhất và trao đổi hàng hóa thặng dư Đây thực chất là lợi ích tĩnh từ quá

trình phân phối lại nguồn lực từ ngành này đến ngành khác khi chuyên

môn hóa gia tăng dựa trên lợi thế so sánh Ngược lại với lợi ích tĩnh, lợi ích động liên tục làm dịch chuyển toàn bộ đường biên khả năng sản

xuất của các quốc gia nếu thương mại dẫn đến đầu tư nhiều hơn và năng suất tăng nhanh hơn dựa trên tính kinh tế theo quy mô, học qua làm và thu nhận kiến thức mới từ nước ngoài mà cụ thể là thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài

Lợi ích động từ thương mại được lý thuyết thương mại hiện đại

và lý thuyết tăng trưởng “mới” chú trọng phân tích và đưa vào mô hình Lợi ích động thiết lập một mối liên kết quan trọng trong chuỗi nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng

Ranis (2007) thể hiện một số kênh thương mại có thể tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế thông qua lợi ích tĩnh và lợi ích động Lợi ích của thương mại là tìm đường đi cho các nguồn lực thặng dư hay nhàn dỗi và tạo ra sự thay đổi công nghệ kiểu của Adam Smith hoặc Schumpeter (1934) (thông qua chuyên môn hóa lao động, cạnh tranh, và học hỏi)

Berg và Krueger (2003) liệt kê một danh sách các kênh cùng với các nghiên cứu thực nghiệm kèm theo mà thương mại có thể tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế Cơ chế thông qua đó phân phối nguồn lực tĩnh tác động đến tăng trưởng ít rõ ràng hơn mặc dù một số các kênh

đã được chỉ ra, gồm có: a) hiệu quả đầu tư tăng, cụ thể đó là tầm quan trọng của hàng hóa vốn nhập khẩu tại các nước đang phát triển; b) khả

Trang 10

8

năng mở rộng tại lợi tức không đổi theo quy mô cho một thời kỳ dài hơn thông qua việc tiếp cận đến thị trường rộng lớn hơn (Ventura, 1997); c) lợi tức thực của vốn cao hơn trong những quốc gia khai thác lợi thế so sánh là thặng dư lao động không kỹ năng; d) tỷ lệ tiết kiệm và dòng vào của vốn nước ngoài cao hơn có lẽ được thu hút bởi (a) và/hoặc (b); e) hiệu ứng tăng trưởng nội sinh có khả năng bắt nguồn từ tăng trưởng ngắn hạn nhanh hơn nhằm phản ứng trước việc mở cửa thương mại; f) nguyên tắc áp đặt vào chính phủ để thực hiện các cải cách chính sách hỗ trợ tăng trưởng khác nếu có cơ chế thương mại mở; g) giảm hoạt động tìm kiếm lợi tức (rent-seeking) tạo ra bởi những hạn chế thương mại; h) thúc đẩy đổi mới và tinh thần nghiệp chủ bắt nguồn

từ cạnh tranh và tiếp cận đến thị trường rộng lớn hơn; và i) mở cửa đối với những ý tưởng và đổi mới tạo ra từ mở cửa thương mại

Một chủ đề trung tâm của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là mở cửa thúc đẩy tăng trưởng dài hạn theo một số cách thức (Berg và Krueger, 2003) Các mô hình nhấn mạnh đến sự khuếch tán công nghệ như động lực cho tăng trưởng dài hạn có thể được xây dựng để dự báo rằng những quốc gia mở cửa lớn hơn sẽ có tốc độ tăng trưởng ở trạng thái dừng cao hơn (Grossman và Helpman, 1991) Học thông qua làm được nhấn mạnh trong Lucas (1988) và Young (1991) Các lập luận trước đây cho rằng mở cửa thương mại cho phép chuyên môn hóa trong những ngành công nghiệp với tính kinh tế theo quy mô và nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng dài hạn là tiền thân của loại lập luận này

Nói tóm lại, qua nhiều cách thức khác nhau, thương mại có tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế từ mặt cung cũng như mặt cầu, từ hoạt động xuất khẩu cũng như nhập khẩu Các kênh tác động rất phong phú và tầm quan trọng các kênh tác động sẽ khác nhau qua các quốc gia khác nhau và có thể cũng khác nhau qua từng giai đoạn tại một nước

2.3 Mô hình về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng

Mô hình về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng được lấy từ nghiên cứu của Edwards (1998) Mối quan hệ này thể hiện dưới 2 phương trình sau:

Trang 11

9

̇ ⁄ (2)

Trong đó, là GDP, là kho tri thức hay TFP, là vốn và

là lao động Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tăng trưởng của vốn, lao động và TFP

̇ ⁄ là tốc độ tăng trưởng của TFP, là tốc độ đổi mới trong nước, là tốc độ một quốc gia có khả năng thu hẹp khoảng cách tri thức với thế giới và chịu tác động của các chính sách thương mại, là kho kiến thức của thế giới, kho này được giả sử tăng trưởng tại tỷ lệ cao hơn so với tốc độ đổi mới trong nước ( )

Theo Edwards (1998), có 2 nguồn dẫn đến tăng trưởng TFP, đó là nguồn xuất phát từ bên trong nền kinh tế được thúc đẩy bởi đổi mới (innovation) và vốn con người (giáo dục) và nguồn xuất phát từ quốc tế được thúc đẩy bởi khả năng bắt chước hay hấp thụ công nghệ từ các quốc gia đi đầu Bắt chước phụ thuộc vào khả năng “đuổi bắt” („catch-up‟) của nền kinh tế Những quốc gia đang phát triển càng cách xa trình

độ công nghệ của các nước dẫn đầu bao nhiêu thì khả năng và tốc độ đuổi bắt càng lớn bấy nhiêu Và một quốc gia có độ mở cửa lớn hơn với bên ngoài cũng sẽ có tốc độ đón nhận và hấp thụ công nghệ lớn hơn, vì thế góp phần tăng năng suất nền kinh tế cao hơn so với các quốc gia có

2.4 Kinh nghiệm quốc tế và những bằng chứng về mối quan hệ và kênh tác động giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế

2.4.1 Kinh nghiệm Hàn Quốc:

Quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc bắt đầu bằng cuộc đảo chính quân sự của tướng Park Chung Hee năm 1961 Park cầm quyền

Trang 12

10

trong 18 năm và đã triển khai nhiều chính sách công nghiệp và thương mại để biến Hàn Quốc trở thành con Rồng của châu Á

Chính sách thương mại của Hàn Quốc:

Một trong những cải cách quan trọng của Tổng thống Park là chính sách thương mại Park sẵn sàng bảo trợ cho các doanh nghiệp nhưng với điều kiện các doanh nghiệp phải đẩy mạnh xuất khẩu Đây là một tiêu chí rất minh bạch, rõ ràng

Hong (1979) liệt kê 38 cải cách cụ thể trong chính sách thương mại để thúc đẩy xuất khẩu vào đầu những năm 1960 Hàn Quốc loại bỏ thuế nhập khẩu đầu vào và thuế đánh vào hàng hóa vốn (capital goods)

nhưng với điều kiện các hàng hóa nhập khẩu này được sử dụng để sản

xuất hàng hóa cho xuất khẩu Hay nói cách khác, nhập khẩu không thể

được sử dụng để sản xuất các hàng hóa bán trong nước.Theo đánh giá của Westphal và Kim (1977), đây là chính sách định hướng xuất khẩu quan trọng, ít ra là cho đến tận năm 1975

Ngoài việc loại bỏ thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa đầu vào cho hoạt động sản xuất xuất khẩu, đầu những năm 1970 và liên tiếp trong 2 thế kỷ sau đó, Hàn Quốc tiến hành giảm dần thuế nhập khẩu và

ở phạm vi lớn hơn, giảm từ 40% xuống còn 13%, đã gây sức ép cạnh tranh lên các doanh nghiệp trong nước nhưng vẫn tạo cho họ khoảng thời gian để điều chỉnh kế hoạch và chiến lược sản xuất – kinh doanh

2.4.2 Kinh nghiệm Đài Loan (Trung Quốc):

Chính sách thương mại định hướng xuất khẩu:

Trước hết, Đài Loan thực hiện chính sách công nghiệp hóa hướng xuất khẩu thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp như (i) Điều hành

tỷ giá hối đoái ổn định; (ii) Để thúc đẩy xuất khẩu, Đài Loan giảm hàng rào thuế quan hoặc các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu khác thông qua hoàn thuế; (iii) Thiết lập các khu chế biến xuất khẩu đầu tiên trên thế giới tại Kaohsiung; (iv) Các doanh nghiệp được tự do xuất – nhập khẩu, khai thác lợi thế so sánh quốc tế và tiếp cận đến thị trường thế giới rộng lớn hơn nhiều Tất nhiên, tại Đài Loan cũng tồn tại sự bảo hộ nhưng mức độ bảo hộ được điều chỉnh giảm dần

Trang 13

11

2.4.3 Kinh nghiệm Trung Quốc:

Chính sách thương mại hay chính sách mở cửa của Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ đầu đổi mới cũng như trong giai đoạn tăng tốc thần kỳ của Trung Quốc trong mấy thập kỷ vừa qua

Kể từ khi bắt đầu cởi trói nền kinh tế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã mở cửa và đưa Trung Quốc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu

Từ năm 1978 Trung Quốc khuyến khích thương mại tự do và từng bước bãi bỏ các hạn chế thương mại Chính phủ đã thay đổi chính sách thương mại bằng việc giao cho chính quyền địa phương nhiều quyền hơn trong thương mại quốc tế và cho phép các doanh nghiệp tư nhân thực hiện thương mại quốc tế

Vào năm 2001, Trung Quốc gia nhập WTO và nước này đã tận dụng rất tốt cơ hội trở thành thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cấu trúc và đẩy mạnh tăng trưởng nền kinh tế

2.4.4 Bài học cho Việt Nam:

Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, bài học rút ra như sau: Thứ nhất, chính phủ có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước tuy nhiên với điều kiện các doanh nghiệp phải đẩy mạnh xuất khẩu Thứ hai, các chính sách thương mại thúc đẩy tăng trưởng đáng lưu ý của Hàn Quốc gồm có: Bỏ thuế nhập khẩu đầu vào sử dụng để sản xuất các hàng hóa cho xuất khẩu; sau khi sức cạnh tranh được cải thiện, chính phủ bắt đầu giảm dần thuế nhập khẩu ở phạm vi lớn hơn Giảm thuế nhập khẩu để buộc các doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm dần thuế nhập khẩu để các doanh nghiệp có thời gian thay đổi chiến lược và phương thức sản xuất – kinh doanh; Chính phủ thực hiện rất nhiều các hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước nhưng đặt điều kiện phải thúc đẩy xuất khẩu, lấy thị trường bên ngoài làm tiêu chuẩn để đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và đồng thời để đánh giá hiệu quả của sự hỗ trợ Nói cách khác, Hàn Quốc hỗ trợ các tập đoàn kinh tế cho định hướng xuất khẩu thay vì thay thế nhập khẩu

Trang 14

12

Từ kinh nghiệm của Đài Loan (Trung Quốc), bài học rút ra cho Việt Nam như sau: Thứ nhất, chính quyền Đài Loan lựa chọn khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ đạo cho quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế; thực hiện các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới, sáng tạo và phát triển Song song với đó là mở cửa thị trường, coi hoạt động xuất khẩu như đường ra cho các sản phẩm sản xuất trong nước và coi thị trường bên ngoài là nơi tạo sức ép nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Hay nói cách khác, Đài Loan đã lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu thay vì thay thế nhập khẩu Thứ hai, một loạt các giải pháp quan trọng khác hỗ trợ cho hoạt động sản xuất trong nước và cho xuất khẩu được Đài Loan thực hiện như: Điều hành tỷ giá hối đoái ổn định; Giảm hàng rào thuế quan xuất khẩu hoặc hỗ trợ xuất khẩu thông qua hoàn thuế; Xây dựng khu chế biến xuất khẩu; Khuyến khích các doanh nghiệp tự do xuất khẩu và nhập khẩu để khai thác lợi thế so sánh và thúc đẩy tiếp cận đến thị trường thế giới; Giảm dần mức độ bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước

Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, bài học rút ra cho Việt Nam như sau: Thứ nhất, bên cạnh lực lượng lao động thiếu kỹ năng dồi dào thì Trung Quốc có một lực lượng lớn lao động có kỹ năng và làm việc thực sự chăm chỉ Thứ hai, hàm lượng công nghệ trong các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng tăng từ việc khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đặt các dây chuyền sản xuất linh kiện tại Trung Quốc cho đến việc nâng cấp các doanh nghiệp công nghiệp của Trung Quốc Thứ ba, Chính phủ Trung Quốc đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực để giảm thiểu chi phí sản xuất cũng như tạo cơ hội nâng cấp các sản phẩm công nghiệp của Trung Quốc trong chuỗi giá trị toàn cầu Thứ tư, tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và thuận lợi Tỷ lệ lạm phát thấp và đồng NDT của Trung Quốc được định giá thấp so với đồng USD cũng đã khuyến khích hoạt động sản xuất cho xuất khẩu thay vì nhập khẩu

Ngày đăng: 28/10/2016, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w