Định nghĩa vật chất của Lenin: Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại
Trang 1Câu 1: Hãy nêu và phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lenin Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó.
Định nghĩa vật chất của Lenin: Vật chất là 1 phạm trù triết học
dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Một số quan niệm duy vật về vật chất trong lịch sử triết học:
Thời kỳ cổ đại:
- Phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ có thuyết âm dương (bóng tối
và ánh sáng), thuyết ngũ hành (Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ)
- Phương Tây: Trong triết học Hy Lạp vật chất là nước (Talet), vật chất là không khí (Anaximen), vật chất là lửa (Heraclit), vật chất là nguyên tử (Democrit)…
Thời cận đại: Niuton cho rằng vật chất là khối lượng Khối lượng của
vật chất là bất biến không thay đổi trong quá trình chuyển động
Cuối TK XIX - đầu XX:
- Khoa học vật lý vi mô đặc biệt phát triển đã mang lại hàng loạt các phát minh mới về vật chất mà những phát minh này không còn phù hợp với những quan niệm truyền thống về vật chất trong lịch sử
Đó là:
1895, nhà vật lý người Đức Rơn-ghen phát hiện ra tia X
1896, nhà bác học người Pháp Béc-cơ-ren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ
1897, nhà vật lý học người Anh Tôm-xơn tìm ra được điện tử, chứng minh được rằng điện tử là 1 trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử
1901, nhà vật lý học người Đức Kaufman đã phát hiện ra hiện tượng khi vận động khối lượng của điện tử tăng khi vận tốc của nó tăng
Định nghĩa vật chất của Lenin:
Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa:
Trang 2- Chủ nghĩa duy tâm tấn công chủ nghĩa duy vật xung quanh phạm trù vật chất
- Các nhà vật lý vi mô bị rơi vào sự khửng hoảng trước những phát minh vật lý của mình
Phương pháp định nghĩa: Định nghĩa vật chất theo nghĩa triết học.
Không thể áp dụng phương pháp định nghĩa thông thường được mà phải
áp dụng phương pháp định nghĩa hoàn toàn mới đó là đối lập giữa vật chất và ý thức thông qua đó giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học
Nội dung định nghĩa vật chất của Lenin:
- Trong tác phẩm “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” (1906-1909), Lenin đã nêu lên 1 định nghĩa khoa học toàn diện và sâu sắc về phạm trù vật chất như sau: “Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Phân tích định nghĩa:
Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác
- Vật chất là 1 phạm trù triết học có nghĩa là vật chất được định nghĩa theo nghĩa triết học, mà nghĩa triết học là nghĩa khái quát nhất, chung nhất, rộng nhất, toàn bộ hiện thực chứ không phải hiểu theo nghĩa thông thường
Ví dụ: Cái bàn hiểu theo nghĩa thông thường là làm bằng gỗ dùng để để
đồ vật lên trên Còn theo nghĩa triết học bất cứ vật gì miễn là dùng để đồ vật lên trên
- Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan (hiện thực khách quan hay thế giới khách quan) được đem lại cho con người trong cảm giác Điều đó có nghĩa là: vật chất bao gồm tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ,… tồn tại xung
Trang 3quanh chung ta, độc lập với ý thức của chúng ta và khi tác động lên các giác quan thì có khả năng sinh ra cảm giác
Ví dụ: Sự thay đổi của thời tiết tác động lên các giác quan sinh ra cảm giác nóng lạnh
- Thực tại khách quan hay vật chất là cái có trước, cảm giác là ý thức là cái có sau do thực tại khách quan hay vật chất quyết định Đến đây định nghĩa vật chất của Lenin đã giải quyết được mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đó là trả lời câu hỏi vật chất hay ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào
Cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại hiện thực khách quan ấy Điều đó có nghĩa là:
- Cảm giác có giá trị như là bản sao về nguyên bản là thực tại khách quan Cảm giác hay tư duy ý thức của con người chẳng qua chỉ là
sự phản ánh về thực tại khách quan
- Con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan Đến đây định nghĩa vật chất của Lenin đã giải quyết được mặt thứ 2 vấn đề cơ bản của triết học Đó là trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan hay không
- Sự tồn tại của thế giới khách quan là không lệ thuộc vào cảm giác
có nghĩa là sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào ý thức Vật chất là khách quan Lenin đã khẳng định lại tính khách quan của vật chất và từ đó phân biệt nó với ý thức
Kết luận: Như vậy từ sự phân tích trên có thể khẳng định rằng định
nghĩa vật chất của Lenin bao gồm 3 nội dung cơ bản sau:
(1)Vật chất tồn tại khách quan
(2)Vật chất tác động vào giác quan cho ta cảm giác
(3)Vật chất là nguồn gốc của ý thức
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Định nghĩa vật chất của Lenin đã giải đáp 1 cách khoa học về vấn
đề cơ bản của triết học và phê phán những quan niệm sai lầm của
Trang 4triết học duy tâm, tôn giáo về vật chất cũng như bác bỏ thuyết không thể biết
- Định nghĩa vật chất của Lenin đã tiếp thu có phê phán những quan điểm đúng của chủ nghĩa duy vật trước đây và đồng thời khắc phục những thiếu sót và hạn chế của nó và nó có ý nghĩa về mặt thế giới quan, phương pháp luận đối với khoa học cụ thể khi nghiên cứu vật chất
- Định nghĩa vật chất của Lenin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội để có thể giải thích nguồn gốc, bản chất và các quy luật khách quan của xã hội
- Định nghĩa vật chất của Lenin đã mở đường cho các nhà khoa học nghiên cứu thế giới vô cùng tận
Câu 2: Trình bày nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn của nó.
Khái niệm quy luật: Quy luật là những mối liên hệ bản chất tất
nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan
Vị trí quy luật: Quy luật phủ định của phủ định là quy luật cơ
bản thứ ba của phép biện chứng duy vật Nó vạch rõ khuynh hướng của
sự phát triển
Nội dung cơ bản của quy luật:
Khái niệm: Phủ định hiểu theo nghĩa chung nhất là sự thay thế, chuyển
hóa giữa các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan nói chung
Ví dụ: Gió bão làm đổ cây, cây chết
Phân loại phủ định: Xét về hình thức sự phủ định ở trong hiện thực
khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản sự phủ định trong hiện thực khách quan vẫn có thể chia theo 2 hình thức chính:
Phủ định siêu hình: Phủ định biện chứng:
Phủ dịnh mang tính chất tự
phát, ngẫu nhiên hoặc do
Là sự phủ định do việc giải quyết những mâu thuẫn bên
Trang 5những nguyên nhân bên
ngoài dẫn đến sự chuyển hóa
– sự xuất hiện cái mới
Đó là sự phủ định do tác
động ngẫu nhiên chứ không
do nguyên nhân bên trong
Nó không bao hàm sự kế
thừa, không có yếu tố của sự
phát triển
Ví dụ:
- Chết do tai nạn giao thông
trong các sự vật và hiện tượng làm xuất hiện cái mới, trong đó yếu tố kế thừa làm tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của cái mới
Ví dụ:
- Con người sinh ra, tồn tại rồi mất đi
Tính chất của phủ định biện chứng:
- Tính khách quan: Sự xuất hiện cái mới trong phủ định biện chứng đều là kết quả của quá trình giải quyết những mâu thuẫn bên trong các sự vật và hiện tượng theo những quy luật khách quan vốn có của nó Vì vậy, nó có tính khách quan
- Tính kế thừa: Sự xuất hiện cái mới tron phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt với cái cũ, mà là cái mới xuất hiện trên cơ sở cái cũ, bao hàm tính kế thừa với cái
cũ Yếu tố kế thừa của cái mới đối với cái cũ, không phải là sự kế thừa tất cả, nguyên vẹn, mà chỉ kế thừa những mặt tích cực nhất của cái cũ và nó cũng đã thay đổi cho phù hợp với cái mới
Nội dung:
- Trong sự vận động và phát triển mang tính chất vô tận của thế giới, đều thông qua phủ định biện chứng, cái mới phủ định cái cũ và cái mới này lại bị cái mới sau phủ định Sự vật cũng vận động thông qua những lần phủ định như thế, tạo ra 1 khuynh hướng phát triển
từ thấp đến cao theo đường xoáy ốc Đường xoáy ốc được thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển như: Tính kế thừa, tính lặp lại, tính phát triển, mỗi vòng xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
Trang 6- Trong các sự vật luôn bao gồm 2 mặt, mặt khẳng định và mặt phủ định Hai mặt này vừa thể hiện khẳng định sự tồn tại, nhưng đồng thời lại bao hàm khả năng sự biến đổi và chuyển hóa Từ khẳng định đến phủ định và phủ định cái phủ định Đó là quá trình xuất hiện cái mới dường như quay lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn
Kết luận:
- Phủ định của phủ định là sự phủ định lần thứ nhất tạo ra mặt đối lập của cái ban đầu, sự phủ định lần thứ 2 (hoặc nhiều hơn) lại tái hiện lại những đặc điểm cơ bản của cái ban đầu nhưng cao và hoàn thiện hơn cái ban đầu Đó là quá trình phủ định của phủ định
- Sự phát triển của sự vật, thông qua nhiều lần phủ định biện chứng, tạo thành khuynh hướng phát triển tất yếu của sự vật và hiện tượng
từ thấp đến cao một cách vô tận theo đường xoáy ốc
Ý nghĩa:
- Khi phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định, trước hết phải phân biệt sự khác nhau giữa phủ định biện chứng và phủ định
tự phát, ngẫu nhiên
- Phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới với tính cách là tiêu chuẩn của sự phát triển
- Quá trình phát triển là sự thống nhất giữa cái mới và cái cũ, sự chuyển hóa giữa cái mới và cái cũ Cho nên cần phân biệt giữa cái gọi là “mới” nhưng thực chất là sự biến dạng của cái cũ
- Phê phán quan điểm siêu hình về sự phủ định:
• Phủ định sạch trơn cái cũ
• Kế thừa nguyên vẹn cái cũ
- Thực chất quy luật phủ định của phủ định là sự đấu tranh của cái mới với cái cũ
Câu 3: Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Từ đó phê phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này.
Khái niệm: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch
sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo (biến đổi) thế giới khách quan
Ví dụ: Nông dân trồng lúa, ngư dân bắt cá là hoạt động vật chất
Trang 7 Kết cấu:
- Hoạt động sản xuất vật chất: Là quá trình con người sáng tạo ra
những công cụ lao động làm biến đổi thế giới tự nhiên xã hội dưới dạng chung nhất Là quá trình con người sử dụng công cụ lao động vào hiện thực khách quan, cải biến các dạng vật chất cần thiết đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội (Người nông dân trồng lúa trên cánh đồng, công nhân sản xuất trong nhà máy…)
- Hoạt động biến đổi xã hội: hoạt động này được coi là hình thức
cao nhất của thực tiễn, được thể hiện chủ yếu trong quan hệ giai cấp, dân tộc, quá trình đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, đấu tranh chống phân biệt chủng tộc
- Hoạt động thực nghiệm khoa học: là 1 hình thức đặc biệt của hoạt
động thực tiễn bao gồm thực nghiệm khoa học và thực nghiệm xã hội (Du hành vũ trụ, quan sát thiên văn…)
Trong 3 hoạt động trên, hoạt động thứ nhất là lâu đời nhất, quan trọng nhất và quyết định nhất
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, điều đó có nghĩa là nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, từ hiện thực khách quan Vì chỉ có thực tiễn, chỉ có hiện thực khách quan mới cung cấp được cho nhận thức những tài liệu chân thực, đúng đắn
Ví dụ: Điều kiện kinh tế Việt Nam không thể phát triển ngành công nghiệp nặng
- Thực tiễn là động lực của nhận thức Có nghĩa là thực tiễn thúc đẩy nhận thức phát triển vì thực tiễn không đứng yên mà thực tiễn luôn vận động và trong quá trình vận động nó bộc lộ nhựng thuộc tính mới, những sự vật mới, nhựng nhiệm vụ yêu cầu mới thúc đẩy nhận thức con người phải phát triển để theo kịp với đòi hỏi của thực tiễn
Trang 8- Thực tiễn là mục đích của nhận thức Mục đích cao nhất của nhận thức không phải dừng lại để mà nhận thức mà mục đích cao nhất của nhận thức là để thống trị sự vật nghĩa là làm chủ sự vật
- Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
• Khái niệm chân lý: Chân lý là nội dung những tri thức đúng, phù
hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm
• Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý vì thực tiễn là cơ sở để phát hiện và tìm kiếm chân lý
• Thực tiễn là khách quan
Phê phán quan điểm sai lầm về vấn đề này:
- Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức rút ra nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
• Lý luận phải xuất phát từ thực tiễn thì đó mới là lý luận khoa học và nếu lý luận không xuất phát từ thực tiễn thì đó là lý luận xuông
• Thực tiễn phải có sự hướng dẫn của lý luận thì thực tiễn mới hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ Nếu thực tiễn không
có sự hướng dẫn của lý luận thì là lý luận mú quáng
Câu 4: Trình bày nội dung cơ bản của quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX Vận dụng quy luật này vào thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
Khái niệm quy luật: Quy luật là những mối liên hệ bản chất tất
nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan
Vị trí quy luật: Đây là quy luật căn bản thứ nhất và quan trọng
nhất của toàn bộ lịch sử xã hội loài người Nó quyết định sự vận động và phát triển của lịch sử
Nội dung cơ bản của quy luật:
Các khái niệm phản ánh trong quy luật:
- Phương thức sản xuất: Là cách thức sản xuất ra của cải vật chất trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 9- Lực lượng sản xuất: Biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên diễn ra trong quá trình sản xuất vật chất Nó thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người
Ví dụ: Công nhân, máy móc,…
- Quan hệ sản xuất: Là quan hệ giữa người với người diễn ra trong quá trình sản xuất vật chất Nó là mặt xã hội của phương thức sản xuất và thể hiện bản chất của quan hệ giữa con người với con người
- Trình độ của lực lượng sản xuất: Là trình độ của người lao động, công cụ lao động, đối tượng lao động đã qua chế biến,…
- Tính chất của LLSX: Biểu hiện mức độ xã hội hóa của tư liệu sản xuất và của người lao động
Sự vận động của quy luật:
Vai trò quyết định của LLSX với QHSX:
- Trong quá trình sản xuất vật chất, 1 nhu cầu có tính chất tất yếu khách quan là người lao động muốn thường xuyên giảm nhẹ lao động của mình và đặt hiệu quả kinh tế ngày càng cao Muốn vậy, người lao động phải thường xuyên cải tiến công cụ lao động của mình và khi công cụ lao động được cải tiến thì kinh nghiệm và thói quen của người lao động thay đổi và chính sự tác động qua lại giữa người lao động với công cụ lao động làm cho LLSX trở thành yếu tố động nhất và cách mạng nhất trong phương thức sản xuất
- Trong sự vận động của phương thức sản uất, lúc đầu LLSX và QHSX là phù hợp với nhau Càng về sau, LLSX càng vận động nhanh hơn, QHSX càng vận động chậm hơn Từ đó, hình thành mâu thuẫn giữa LLSX mới với QHSX cũ lỗi thời Và khi mâu thuẫn này lên đến đỉnh cao, LLSX mới sẽ gạt bỏ QHSX cũ lỗi thời
để hình thành QHSX mới phù hợp với LLSX mới Điều đó có nghĩa là 1 PTSX cũ mất đi, 1 PTSX mới hình thành và cứ như thế dưới sự tác động nhất định của LLSX Lịch sử xã hội loài người tuần tự trải qua 5 phương thức sản xuất từ thấp đến cao Đó là:
Trang 10Công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên trên thực tế vẫn có 1 số quốc gia có thể bỏ qua 1 vài phương thức sản xuất để đi lên những phương thức sản xuất mới cao hơn
Ví dụ: Việt Nam không phải trải qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà từ phong kiến nhảy lên xã hội chủ nghĩa
Sự tác động trở lại của QHSX và LLSX:
- Khi QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX,
nó có ý nghĩa thúc đẩy, mở đường cho LLSX phát triển Ngược lại, QHSX lỗi thời không phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX thì nó kìm hãm sự phát triển của LLSX Nhưng cuối cùng thì QHSX cũ cũng bị thay thế bởi 1 QHSX cao hơn, tiến bộ hơn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX
- Sự tác động của QHSX đối với LLSX còn ít nhiều phụ thuộc vào những giai cấp thống trị Sự phụ thuộc này thể hiện trong quan hệ
về mặt lợi ích, giữa lợi ích của giai cấp thống trị với lợi ích chung của toàn bộ xã hội Nếu như lợi ích của giai cấp thống trị về cơ bản phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội, thì giai cấp thống trị có sự tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của LLSX Còn lợi ích của giai cấp thống trị về cơ bản mâu thuẫn có tính chất đối kháng với lợi ích chung của toàn bộ xã hội, thì giai cấp thống trị tác động kìm hãm sự phát triển của LLSX
Vận dụng:
- Đảng ta chủ trương 1nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhằm phát huy mọi tiềm năng các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ LLSX để xây dựng cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, từng bước xã hội hóa xã hội chủ nghĩa Trong đó kinh tế nhà nước bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo và cũng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay,…