1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

on tap triet hoc mac le nin

36 566 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 329 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, triết học duy vật mác xít phân chia thành nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân quyết định sự ra đời của kết q

Trang 1

Câu 1: Hãy phân biệt sự khác nhay giữa TGQ duy vật và TGQ duy tâm? Tại sao nói TGQ triết học Mác-LêNin là TGQ duy vật biện chứng?

Trả lời:

Vđ 1:

- Thế giới quan: là hệ thống quan niệm về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con

người trong thế giới đó

- Thế giới quan có 3 loại hình: thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học

- Thế giới quan triết học là hình thức phát triển cao nhất trong thế giới quan, vì thế giới quan triết học có chức năng định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

- Thế giới quan triết học bao gồm: thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật

*Khác nhau:

Bản chất của thế giới

- Giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức

- Cho rằng ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức là cái sinh

ra và quyết định giới tự nhiênNguồn gốc Từ sự phát triển khoa học và thực tiễn Từ nhận thức và XH

Hình thức

Có 3 hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Có 2 hình thức cơ bản: CN duy tâm khách quan và CN duy tâm chủ quan

VĐ2:

Thế giới này bắt nguồn từ vật chất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau Cho nên chúng

ta cần tìm hiểu vật chất và ý thức có mối quan hệ như thế nào từ đó chứng minh được tại sao TGQ triết học Mác – Lê Nin là TGQ duy vật biện chứng

- Đn vật chất của Lê Nin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách

quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

- Kn Ý thức: là sự phản ánh TGKQ vào trong não người một cách năng động và sáng tạo

thông qua hoạt động thực tiễn sản xuất vật chất, chính trị xã hội và khoa học thực nghiệm

- Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội:

+ Nguồn gốc TN: ý thức là thuộc tính phản ánh của bộ óc người và sự phản thế giới khách quan vào bộ óc người

+ Nguồn gốc XH: thể hiện ở chổ phải có lao động và cùng với lao động là ngôn ngữ thì mới có

ý thức được Lao động là hành vi lịch sử đặc trưng của con người; ngôn ngữ là cái võ v/c của tư duy

- Thông qua hoạt động có ý thức của con người, con người hoàn toàn có thể tác động trở lại thế giới vật chất

- V/c quyết định ý thức thể hiện ở chỗ:

+ Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất là cơ sở, nguồn gốc của ý thức, giữ vai trò quyết định đối với ý thức

VD: Về thế giới quan cũng như trình tự về mặt thời gian, yếu tố vật chất xuất hiện trước yếu tố

ý thức Cụ thể, phải có yếu tố vật chất mới sinh ra loài người có ý thức Trong đời sống hiện thực, nhân tố vật chất có trước nhân tố tinh thần Trong đời sống xã hội của con người, kinh tế quyết định chính trị, đời sống vật chất quyết đinh đời sống tinh thần

- Ý thức có vai trò tác động trở lại vật chất: Sự tác động này theo hai hướng:

+ Tích cực: Nếu ý thức năng động, sáng tạo, nhận thức đúng quy luật khách quan, hành động

đúng thực tiễn thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của vật chất

VD: Trong tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại tộc của dân tộc ta, chúng ta thường yếu hơn kẻ thù về tiềm năng vật chất, binh lực nhưng cuối cùng, chúng ta là người chiến thắng Vì ta có

Trang 2

sức mạnh tinh thần đoàn kết dân tộc, có lòng yêu nước nồng nàn và có nghệ thuật đánh giặc rất tài tình (lấy nhu thắng cương, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh).

+ Tiêu cực: Nếu không năng động sáng tạo, rơi vào tình trạng chủ quan duy ý chí sẽ kìm hãm

sự phát triển của vật chất

VD: Sau năm 1975, người dân Thái Lan rất ngưỡng mộ Sài Gòn – “hòn ngọc Viễn Đông” Nhưng chỉ sau 10 năm, Việt Nam sai lầm về đường lối kinh tế xã hội, còn Thái Lan nhanh chóng thể chế hóa theo đường lối kinh tế thị trường nên họ đã bứt lên nhanh chóng và vượt qua Việt Nam

→ Sự tác động trở lại của ý thức đ/v vật chất dù đến đâu đi nữa vẫn phụ thuộc vào các điều kiện vật chất Cho nên xét đến cùng, v/c luôn quyết định ý thức

• Nhận thức sai sẽ kìm hãm sự phát triển của ý thức

+ Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ

- Kết luận: Như vậy, vất chất và ý thức luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Tuyệt đối hóa bất

cứ mặt nào cũng đều sai lầm Điều đó có ý nghĩa phương pháp luận hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người

*Liên hệ thực tế:

- Khi thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức thì trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan Mọi hành động đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải căn cứ vào những điều kiện vật chất và năng lực vật chất hiện có khi đề ra các quyết sách; không được xuất phát từ ý chí, nguyện vọng cá nhân

VD: Đối với nước ta: trong mọi đường lối chính sách, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan, tôn trọng các quy luật khách quan Vì vậy, đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Nhất là trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tuy nhiên, thời kỳ trước đổi mới, nước ta đã vấp phải những sai lầm chủ quan trong hoạch định chiến lược kinh tế - xã hội Hạn chế đó đang được từng bước khắc phục Đảng ta khẳng định: mọi đường lối, chủ trương phát triển đất nước đều lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng lý luận Đồng thời, xuất phát từ hiện thực của đất nước, quốc tế và thời đại Do đó, mọi mặt đời sống của nhân dân được nâng lên, vị thế của đất nước được nâng cao

*Đối với bản thân:

- Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác

- Chống bệnh chủ quan duy ý chí, trông chờ, thu động; tích cực trong học tập và công tác

- Đòi hỏi tư duy của chúng ta phải nhận thức sự vật với tư cách khách quan, tồn tại và phát triển ngoài ý thức của con người

- Cần phải nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng nhiệt tình cách mạng, rèn luyện cả tài lẫn đức Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta luôn xác định: Một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của mình là phải luôn luôn đề ra các chủ trương chính sách xuất phát từ các yêu cầu bức xúc cần giải quyết của thực tiễn, đồng thời trong quá trình thực hiện phải tôn trọng và thực hiện đúng quy luật khách quan

Trang 3

Câu 2: Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả vào phân tích nguyên nhân

và KQ của 1 vấn đề XH nào đó?

Trả lời:

Theo phép duy vật biện chứng, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ nhân quả, các sự vật hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận động, phát triển không ngừng Sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu tố bên trong sự vật hiện tượng, hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau, dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, từ đó làm xuất hiện mối liên hệ nhân quả

Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa các mặt, các bộ

phận, các thuộc tính, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đối nhất định

Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân tạo

ra

Ví dụ NN – KQ: như sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô là nguyên

nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô Hay sự tác động giữa xăng, không khí, áp suất v v là nguyên nhân gây ra tiếng nổ cho động cơ – kết quả

Sự biến đổi mầm giống trong hạt lúa là (nguyên nhân) sinh ra cây lúa (kết quả); bảo (nguyên nhân) gây ra thiệt hại mùa màn (kết quả xấu); thực hiện đường lối đổi mới (nguyên nhân) dẫn đến dân giàu, nước mạnh (kết quả)

*Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả:

Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân có trước kết quả về mặt thời gian, tuy nhiên không phải sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả Ví dụ: Ngày và đêm không phải là nguyên nhân của nhau, một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau, tùy thuộc vao điều kiện cụ thể Ví dụ: Gạo và nước được đun sôi có thể thành cơm, thành cháo.vv điều này phụ thuộc vào việc điều chỉnh nhiệt độ, mức nước, bởi người nấu Ngược lại một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra Ví dụ: sức khỏe của chúng ta tốt

do nhiều nguyên nhân như luyện tập thể dục đều đặn, ăn uống điều độ, cho chăm sóc y tế tốt.vv các nguyên nhân này có vai trò không như nhau nhưng cùng nhau làm cho sức khỏe con người tốt lên

- Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, triết học duy vật mác xít phân chia thành nguyên nhân chủ yếu( là nguyên nhân quyết định sự ra đời của kết quả) và nguyên nhân thứ yếu( nguyên nhân chỉ ảnh hưởng tới kết quả hoặc quyết định những mặt, những bộ phận không cơ bản của kết quả); nguyên nhân bên trong( sự tác động qua lại giữa các bộ phận các yếu tố bên trong tạo thành sự vật) và nguyên nhân bên ngoài ( sự tác động qua lại giữa sự vật ấy với sự vật khác ); nguyên nhân khách quan( là những sự tác động độclập với chủ thể hành động) và nguyên nhân chủ quan( là những sự tác động phụ thuộc vào một chủ thể nhất định, sự phân chia này cũng là tương đối Chẳng hạn, một nguyên nhân trong mối liên hệ này được coi là nguyên nhân bên trong, nhưng trong mối liên hệ khác được coi là nguyên nhân bên ngoài

- Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau Nghĩa là cái trong quan hệ này được coi là nguyên nhân thì trong quan hệ khác lại có thể là kết quả Ví dụ: chăm chỉ làm việc là nguyên nhân của thu nhập cao Thu nhập cao lại là nguyên nhân để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân,v v

Trang 4

- Ý nghĩa của phương pháp luận:

Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả Mọi sự vật hiện tượng điều có nguyên nhân ra đời, cho nên muốn hiểu

rõ hay cải tạo chúng thì phải tìm hiểu rõ nguyên nhân của chúng Khi xem xét nguyên nhân thì

nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân bên trong là quan trọng nhưng không được xem nhẹ các nguyên nhân khác, nhất là những nguyên nhân bên ngoài

Muốn KQ hình thành phải tạo nguyên nhân, ngược lại muốn k có KQ thì k tạo ra ng nhân sinh ra nó

Trong hoạt động thực tiễn muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo nguyên nhân cũng những điều kiện cho nguyên nhân đó phát huy tác dụng và ngược lại Đồng thời phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau

*Chủ đề 1: Phân tích nguyên nhân, kết quả của tình trạng tội phạm vị thành niên ngày càng gia tăng (cách làm 1)

Đối với tình hình tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên có chiều hướng gia tăng hiện nay, có

rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng phạm tội nhưng có thể thấy nổi bật nhất là 03 nhóm nguyên chính sau đây.

- Hoàn cảnh gia đình: Hoàn cảnh gia đình là một trong những nguyên nhân cơ bản

nhất dẫn đến việc trẻ em vị Thành niên phạm tội Cha mẹ thiếu trách nhiệm trong vi ệc giáo dục con cái hoặc quá nuông chiều con cái hoặc qua kỳ vọng vào con cái đều là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm của trẻ Trong số các trẻ Vị thành niên ở Việt Nam phạm pháp ở việt nam thì có đến hơn 70% trẻ không được quan tâm, chăm sóc đầu đủ từ gia đình Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, tâm sinh lý của trẻ cụ thể như: trẻ phạm tội

có bố mẹ nghiện ma túy, ham mê cơ bạc; gia đình làm ăn phi pháp; có anh chị tiền án tiền sự; trẻ mồ côi cha lẫn mẹ; bố, mẹ ly hôn; thường xuyên bị cha, mẹ đánh đập chửi mắng; trẻ được nông chiều quá mức, trẻ không được gia đình quan tâm, quản lý…

Từ những nguyên trên, có thể thấy được nếu trẻ không được sự quan tâm của bố, mẹ dễ

bị lôi kéo vào các hoạt động phạm pháp hoặc các em sẽ dễ tái phạm tội nếu sau khi hết thời gia giáo dưỡng cải tạo về địa phượng mà không được gia đình quan tâm quản lý Từ những yếu tố tiêu cực trong gia đình đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách của trẻ Cha

mẹ các anh, chị thấy con mình hư hỏng, có mằng chửi thì trẻ cải lại, hoặc càng tái phạm với mức độ cao hơn Bố mẹ trẻ cho rằng đưa trẻ vào trung tâm giáo dưỡng với suy nghĩ gia đình không giáo dục được trẻ thì để cơ quan có thẩm quyền sử lý Đó chính là những hành động như giọt nước làm tràn ly, chỉ khiến những tư tưởng phá phách của trẻ phát triển với cường độ mạnh hơn, tính chất cũng phức tạp hơn rất nhiều

Khi trẻ không còn thấy sức hấp dẫn của gia đình, lại bị tấn công từ nhiều phía, các em

bị rơi vào cảm giác bị xúc phạm nhiều dẫn đến mất tự chủ, có nhiều phản ứng không không kiềm chế được việc trể bỏ nhà ra đi là dấu hiệu sớm báo trẻ chuẩn bị phạm tội Phần lớn trẻ thường hoạt động theo băng nhóm vì đó là thế giới riêng của trẻ mà chúng không tìm thấy khi

ở gia đình Do đó, đối với trẻ vị thanh niên, gia đình nên quan tâm một cách khoa học, không nên dùng đòn roi trừng phạt, mà phải dùng lời lẽ tế nhị để giáo dục con cái Đối với trẻ đã phạm tội, gia đình nên mở rộng lòng đón nhận trẻ quay trở lại cộng đồng, giúp trẻ lấy lại thăng bằng và sự tự tin Đó là phương pháp tốt nhất và có tác dụng nhất

Trang 5

- Sự thay đổi quá nhanh của xã hội cùng với sự phát triển khai các tệ nạn xã hội:

Sự thay đổi quá nhanh của xã hội khiến trẻ không được kịp thích ứng, tâm lý trẻ trong gia đoạn vị thành niên thiếu ổn định, xốc nổi nên dẫn đến thái độ sống không đúng đắn, trong khi

đó, người lớn ít quan tâm hơn đến đời sống của con cái mà chạy theo sự chuyển biến của xã hội Bên cạnh đó, việc bùng nổ công nghệ thông tin cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội của trẻ vị thanh niên Nhiều học sinh, bỏ học vào các điểm truy cập internet chơi các trò chơi trên mạng thiếu lành mạnh như bạo lực đẩm máu, kích động mạnh lại được phô trương tràn lan, phù hợp với tâm lý nổi loạn của trẻ vị thành niên Truy cập những trang web xấu để xem phim hoặc do tác động của những văn hóa đồi trụy, đó cũng là những nguyên nhân dẫn đến tinh trạng phạm tội của trẻ vị thành niên Sự ảnh hưởng của văn hóa đồ trụy, bạo lực

có tác động đến sự hình thành nhân cách của trẻ vị thành niên

- Tâm lý trẻ em giai đoạn vị thành niên: Trẻ vị thành niên có tâm lý thiếu ổn định,

thích độc lập và thích khẳng định mình, điều này dẫn đến thái độ sống không đúng đắn và những hành vi xấu của trẻ Trẻ vị thành niên thất bại trong việc xử lý những xung đột với cha

mẹ, với thầy cô, bạn bè trong lớp, trong trường có thể bỏ nhà đi lang thang, có thể bỏ lớp, bỏ trường gia nhập vào các nhóm bạn xấu… Vì vậy, nếu không kịp uốn nắn trẻ em dễ phạm tội

Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, đánh giá đúng những nguyên nhân dẫn đến tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên có chiều hướng gia tăng hiện nay, để đề ra những giải pháp phòng ngừa trẻ vị thành niên phạm tội.

Thứ nhất: Do quá trình hình thành nhân cách của người chưa thành niên được bắt đầu từ

gia đình cho nên việc hoàn thiện giáo dục trong gia đình là điều cần thiết trước tiên, thể hiện ở những việc sau:

- Mọi thành viên trong gia đình phải là tấm gương cho trẻ học tập Cha, mẹ và các thành viên trong gia đình phải gương mẫu, không nên làm việc sai trái hoặc vi phạm pháp luật để cho trẻ vị thành niên bắt chước

- Thường xuyên quan tâm đến cử chỉ, việc làm của trẻ vị thành niên, không để trẻ nhiễm những tiêu cực từ ngoài xã hội Thực tế đã chỉ ra, trong gia đình có biểu hiện tích cực, có trách nhiệm đầu đủ với con mình, luôn quan tâm kiểm tra các hoạt động của trẻ thì trẻ ít hư hỏng, ngược lại nếu ít quan tâm, quả lý trẻ thì trẻ dễ pham tội

- Thường xuyên hướng trẻ vị thành niên tham gia các hoạt động có ích cho xã hội, giáo dục các trẻ tôn trọng pháp luật, chấp hành pháp luật Chính những việc làm này sẽ tác động tích cực đến nhân cách của trẻ

Thứ hai: Nâng cao trách nhiệm giáo dục trẻ vị thành niên từ nhà trường, thể hiện một số

biện pháp sau:

- Nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp giáo dục văn hóa với giáo dục đạo đức, hướng các em vào các hoạt động lành mạnh Hướng các em biết tôn trọng pháp luật

- Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình nhằm ngăn ngừa kịp thời những sai phạm mà trẻ vị thành niên mắc phải

Thứ ba: Tập hợp những trẻ vị thành niên vào các đoàn thể nhất định để họ nhận thức

được sự giáo dục phẩm chất lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa Qua đó, giúp trẻ vị thành niên

có điều kiện phấn đấu, rèn luyện xây dựng bản thân hoàn thiện Tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ nhằm nâng cao nhận thức về thẩm mỹ, về cái đẹp

Trang 6

Thứ tư: Các cơ quan pháp luật tăng cường ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật

của trẻ vị thanh niên để có biện pháp xử lý kịp thời

Giải quyết các tệ nạn xã hội như ma túy, bụi đời, cờ bạc…đang tồn tại trong xã hội để chúng không ảnh hưởng đến trẻ vị thành niên

*Chủ đề 2: “Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân

và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường” (cách làm 2)

Trong một vài thập kỷ gần đây bạo lực học đường là một hiện tượng đang trở thành vấn

đề nghiêm trọng ở nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam ta Bạo lực học đường đang trở thành mối lo ngại của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội

Nó tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ học tập của học sinh và việc giảng dạy của các thầy giáo, cô giáo Bạo lực học đường ở Việt Nam diễn ra không chỉ ở các thành phố lớn mà còn có ở các vùng nông thôn, không chỉ xảy ra ở học sinh nam mà còn cả học sinh nữ và dường như xảy ra ở các cấp học Câu hỏi được đặt ra là: Nguyên nhân từ đâu lại có bạo lực học đường, hậu quả của bạo lực học đường là như thế nào?

- Khái niệm nguyên nhân và kết quả

- MQH nhân – quả

- Ý nghĩa phương pháp luận

1 Nguyên nhân của hiện tượng bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay

1.1.Nguyên nhân xuất phát từ cá nhân học sinh:

Bạo lực học đường đa phần xảy ra với các em còn đang trong độ tuổi vị thành niên, cơ thể phát triển mạnh, độ hưng phấn tăng cao và khả năng kiềm chế thì kém Hơn nữa, các em đang muốn chứng tỏ bản thân, khẳng định cái TÔI cá nhân cao, nhưng lại không biết thể hiện bằng cách nào, do đó muốn dùng vũ lực như một cách thể hiện sự vượt trội của mình so với bạn bè

1.2 Nguyên nhân xuất phát từ gia đình:

Gia đình là nơi hình thành cho các em nhân cách sống, cách ứng xử văn minh trong xã hội, v v Nhưng khi gia đình không ổn định: cha mẹ ly hôn, ly thân; hoặc cha mẹ có tiền án,tiền sự, đang ngồi tù; đặc biệt là cha mẹ không quan tâm con cái, bạo lực gia đình xảy ra thường xuyên…

1.3 Nguyên nhân xuất phát từ nhà trường:

Trang 7

Học sinh bị bạn bè hắt hủi hay bắt nạt, thầy cô và nhà trường không quan tâm đến đời sống tâm lý, tình cảm của học sinh.

Nhà trường, lớp học thiếu các tấm gương tích cực trong đời sống, thiếu các chương trình lành mạnh v v

1.4 Nguyên nhân xuất phát từ cộng đồng, xã hội:

Bạo lực ngoài cộng đồng xã hội cũng là “đường link” dẫn tới các hành vi bạo lực của trẻ em Việt Nam Với công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, trẻ em được tiếp cận với các trò chơi điện tử và mạng Internet từ khi còn rất nhỏ, từ đó dẫn đến các hiện tượng nghiện game online, nghiện internet cũng như các trang mạng xã hội, ảnh hưởng từ các trò chơi mang tính bạo lực cao, các em bất chấp pháp luật, chuẩn mực đạo đức để được thỏa mãn “nhu cầu bạo lực” thông qua các trò chơi online, rời xa cuộc sống thực tìm đến thế ảo của internet

2 Hậu quả của hành vi bạo lực học đường

2.1 Hậu quả đối với học sinh:

Về mặt thể xác: Các em có thể gặp các chấn thương trên cơ thể, nhiều hành vi bạo lực

đã gây ra án mạng, làm mất đi vĩnh viễn cơ hội được sống, được học tập của chính mình và bạn bè mình

Về mặt tinh thần: Các em tham gia vào các hành vi bạo lực học đường, dần dần mất tự tin khi đến trường, trở nên lầm lì, ít nói, luôn ở trong trạng thái lo lắng, việc ăn ngủ cũng gặp khó khăn, cơ thể suy nhược Có em trở nên trầm cảm, tự ti, lo sợ và có những trường hợp đã tìm đến cái chết để giải thoát chính mình

Về học tập: Lơ là học tập, kết quả học tập sa sút, có những trường học bỏ học thường xuyên hoặc bỏ học vĩnh viễn

2.2.Hậu quả đến với gia đình – nhà trường – xã hội

Với gia đình: Cha mẹ, người thân gặp khó khăn trong việc hiểu con em mình, không biết nguyên nhân vì sao mà con em mình khác bình thường Từ đó thường đưa ra những cách thức tìm hiểu làm tổn thương các em, tình cảm, hòa khí trong gia đình bị rạn nứt

Với nhà trường – xã hội: Hành vi bạo lực học đường làm cho hoạt động giáo dục của nhà trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thay vì tổ chức các hoạt động giáo dục đầy ý nghĩa thì nhà trường phải tổ chức các Hội đồng kỷ luật, các cuộc họp phụ huynh và học sinh để giải quyết các hệ quả của các em Thầy cô, bạn bè lo lắng, mất tinh thần học tập, tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau bị rạn nứt Bạo lực học đường giống như những hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội về một bộ phận thế hệ trẻ đang “lệch lạc” giữa ngã ba đường của tuổi mới lớn, nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là với thanh thiếu niên – lực lượng nòng cốt và thiết yếu của tương lai quốc gia

Trang 8

Trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, rút kinh

nghiệm từ những sai lầm đã mắc phải, đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục, nhằm từng bước sửa chữa những sai lầm trong việc giáo dục thế hệ trẻ của nước ta hiện nay Việc nhận thức đúng về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, xác định được mức độ vai trò của những nguyên nhân ấy đối với những hậu quả mà nền giáo dục của Việt Nam ta còn mắc phải, để có biện pháp khắc phục, những tác động thích hợp nhằm đạt được mục tiêu mong muốn là xóa bỏ bạo lực học đường và có một nền giáo dục tốt nhất

*Chủ đề 3: Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả để làm rõ đối tượng bị bạo lực gia đình (nt)

- Kn Nn và KQ

- KN bạo lực gia đình: Bạo hành gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là

“hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình)

- Nguyên nhân của bạo lực gia đình:

+ do phong tục, tập quán, truyền thống, do giao thoa văn hóa giữa phương đông và

phương tây, tính gia trưởng

+ do chồng sau rượu, cờ bạc, nghiện hút đánh đập vợ, đòi tiền để thỏa mản cơn nghiện hoặc do căng thẳng, thần kinh không ổn định, thất vọng trong cuộc sống

+ Nguyên nhân sâu xa nhất là nhận thức về bình đẳng giới còn hạn chế, cụ thể: nhiều ông chồng cho mình quyền được đánh vợ, coi đánh vợ như là một sự “giáo dục”, thể hiện quyền lực của “bề trên” đối với “kẻ dưới”

+ Đừng nhìn một chiều (xuất phát từ người phụ nữ… )

+ Nguyên nhân bạo lực gia đình cũng k hoàn toàn do KQ bên ngoài tác động mà còn xuất phát từ CQ của những người bị hại (từ hai phía vợ chồng)

+ Do tự ti mặc cảm, điều kiện kinh tế khó khăn, từ sự quản lý của nhà nước như luật pháp chưa nghiêm, chưa răn đe, còn kẻ hở…

+ Do những nguyên nhân khác: mâu thuẩn gia đình.: nuôi dạy con cái, tình dục có thể

là nguyên nhân dẫn đến bạo lực nhưng k phải là nguyên nhân trực tiếp và người chồng phải tìm những lý do “hợp lý” khác như làm trái ý chồng để có thể đánh đập, chửi mắng vợ

+ Trình độ văn hóa thấp, tình trạng kém hiểu biết về pháp luật hay tư tưởng trọng nam khinh nữ còn quá nặng nề…mà bản thân những người trong cuộc cũng chưa nhận thức được

- Kết quả của BLGĐ: BLGĐ dù nặng hay nhẹ đều cũng để lại hậu quả nhất định Phụ

nữ là nạn nhân chính của nạn bạo lực

+ Đe dọa đến cuộc sống hiện tại của những người bị hậu quả BLGĐ, những hậu quả về mặt kinh tế: chi phí chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho nạn nhân; chi phí điều tra truy tố, xét

xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác dẫn đến tình trạng bệnh tật, mất khả năng lao động Tác động xấu đến cuộc sống hôn nhân

+ Ngoài những hậu quả về mặt kinh tế, BLGĐ còn để lại hậu quả về mặt tinh thần: bệnh trầm cảm, hoảng loạn, sợ tiếp xúc dẫn đến có thể tự sát, mà nguyên nhân này luôn để lại hậu quả nặng nề nhất

Trang 9

+ BLGĐ không những làm mất giá trị truyền thống mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến những thế hệ tương lai VD: như con cái đã lặp lại hành vi BLGĐ mà khi còn nhỏ chúng đã chứng kiến

+ Gánh nặng cho hệ thống giáo dục, gánh nặng lên các cơ quan tư pháp

+ Cần có sự cạn thiệp của cộng đồng và pháp luật, nếu gia đình thật sự tan vỡ thì ly hôn là biện pháp tốt nhất

- Kết luận:

Từ những vấn đề trên, chúng ta cần có cái nhìn một cách đúng đắn và có những biện pháp khắc phục một cách sáng suốt, hiệu quả Góp phần xây dựng những giá trị đạo đức, nhân cách, giữ gìn và phát triển XH ngày càng giàu đẹp hơn về mọi mặt Bảo vệ phụ nữ - nạn nhân chính của BLGĐ không còn là trách nhiệm của riêng ai mà là trách nhiệm của toàn XH

- Liên hệ thực tế:

Mỗi năm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang xảy ra khoảng từ 40 đến 50 vụ bạo lực gia đình Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do áp lực kinh tế của gia đình, nhận thức pháp luật chưa cao, hụt hẫng về tinh thần, say rượu… dẫn đến bạo lực Bên cạnh đó, do người vợ cam chịu, sợ ảnh hưởng uy tín gia đình, con cái hay vấn đề phụ thuộc về kinh tế của người vợ đối với chồng nên cũng dẫn đến tình trạng này Đến khi không chịu được nữa thì mọi chuyện cũng đã rồi

Chỉ vì trong cơn nóng giận mà người chồng không làm chủ được bản thân mình, gây nên hậu quả đau lòng, làm tình cảm vợ chồng mất đi Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, thì cuối cùng, nạn nhân, người thiệt thòi nhất vẫn chính là người vợ

Chủ đề 4: phân tích đói nghèo

*Nguyên nhân của đói nghèo ở Việt Nam

Ở Việt nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:

-Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực

Trang 10

- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro

- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông,lâm, ngư,chính sách trong giáo dục đào tạo, ytế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế

*Hậu quả của cái nghèo:

- Bần cùng sinh đạo tặc Vì nghèo nên sống chui rúc, thiếu vệ sinh từ đó đẻ ra bệnh tật

Vì thiếu dinh dưỡng nên thân thể gầy còm, nhỏ thó, tính tình cau có, ăn nói thô lỗ tục tằn, dễ nóng giận Vì nghèo nên thường hay gây gổ, cãi lộn, mắng chửi nhau sinh ra bạo hành, ly dị Nếu nghèo biến thành đói thì không chuyện gì không dám làm… từ cắp vặt, gian dối, lừa đảo, buôn gian bán lận…cho đến cướp của giết người chỉ trong gang tấc Cái tệ hại hơn nữa là từ nghèo mà thành túng Từ túng thiếu sinh ra trộm cắp và nhất là phá hại của công Tất cả các hành vi phá rừng, phá núi, xâm phạm các nơi bảo tồn sinh thái, săn bắt trái phép thú hiếm quý, vào chùa ăn trộm chuông đồng, tượng Phật… đều xuất phát từ căn bệnh nghèo đói mà ra

- Cái nguy hiểm nhất của bệnh nghèo là con cái thất học hay bỏ học Vì thất học cho nên không công ăn việc làm từ đó các em trở thành miếng mồi ngon cho các băng đảng và các trùm buôn lậu ma túy

- Nghèo quá không nuôi nổi cha mẹ già, đành cam tội bất hiếu Nghèo quá khiến bán con hoặc đem con bỏ chợ, bỏ chùa hay quăng vào đống rác khiến gây cảnh thương tâm và tạo thêm gáng nặng cho xã hội

- Nghèo quá bỏ làng, bỏ xứ ra đi, lang thang khắp thành phố để kiếm sống, gây khó khăn cho vấn đề gia cư, y tế và đời sống xã hội và tạo nên một hình ảnh rất xấu cho đất nước

- Nghèo quá đành phải lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn dù là khuyết tật để cải tiến thân phận và có chút tiền nuôi cha mẹ, rồi thì bị hành hạ, ngược đãi hay ép làm nô lệ tình dục, chẳng còn danh dự, phẩm giá gì nữa, khiến thế giới phải nhọc tâm can thiệp Nhưng can thiệp sao cho thấu?

- Nghèo thì thường đi đôi với hèn Người đời thường nói “nghèo hèn” và bị người ta khinh khi Cùng là công dân với đầy đủ quyền hạn ghi trong hiến pháp nhưng tiếng nói của người nghèo như tiếng kêu trong sa mạc, chẳng ai buồn nghe, trong khi tiếng nói của tài phiệt thì “có gang có thép”, bởi vì “Tay mang túi bạc kè kè Nói khuếch nói khoác người nghe ầm ầm” Khi đất nước có chiến tranh, thường con nhà giàu, hoặc có thế lực, trốn quân dịch bằng cách du học để con nhà nghèo chết thế trên chiến trường… từ đó gây bất công rồi bất mãn rồi

đi tới bạo loạn

*Giải pháp:

Thứ nhất, các bộ, ngành, địa phương phải nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan

trọng của công tác giảm nghèo trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước; phải coi công tác giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là một tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền

Thứ hai, tập trung rà soát chính sách để loại bỏ những điểm không còn phù hợp và bổ

sung những chính sách mới, phù hợp Các chính sách sửa đổi, bổ sung phải hướng vào hỗ trợ

Trang 11

hộ nghèo, hỗ trợ vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng hỗ trợ sản xuất và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Hỗ trợ sản xuất tập trung vào hỗ trợ trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc; giao đất, giao rừng cho người dân gắn với phát triển và bảo vệ rừng, điều chỉnh các chính sách về giữ rừng, bảo vệ rừng; hỗ trợ lương thực, giống, khuyến nông, đào tạo nghề, lãi suất cho vay phát triển sản xuất; hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn khó khăn và thu hút lao động tại chỗ gắn với hỗ trợ đào tạo nghề thông qua doanh nghiệp

Hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản như nhà ở, nước sạch, bảo hiểm y tế, giáo dục, tiếp cận thông tin, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Thứ ba, huy động các nguồn lực cho công tác giảm nghèo và thực hiện lồng ghép, sử

dụng hiệu quả các nguồn lực Cùng với nguồn đầu tư từ ngân sách, cần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng; khuyến khích sự nỗ lực của người nghèo, hộ nghèo

Ngân hàng Chính sách xã hội tăng thêm dư nợ tín dụng người nghèo so với chỉ tiêu 10% hiện nay để tăng mức hỗ trợ và mở rộng đối tượng hộ nghèo được hỗ trợ tín dụng chính sách; bảo đảm mục tiêu thoát nghèo bền vững

Thứ tư, Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 tổng

kết, đánh giá chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 và xây dựng Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 với những tiêu chuẩn, tiêu chí cao hơn, gắn với việc xây dựng, ban hành và thực hiện chuẩn nghèo mới Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định về chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách xóa đói, giảm nghèo và hỗ trợ đồng bào dân tộc trong thời gian tới

- Sửa chửa, nâng cấp, mở rộng hệ thống giao thông vận tải

- Khi đời sống của người dân được cải thiện thì khả năng chăm lo cho sức khỏe, điều kiện cho con em đến trường, ý thức sẽ được năng cao

- Cải cách tình trạng giáo dục nhằm hướng tới người nghèo

- Tranh thủ nguồn viện trợ của các tổ chức và doanh nghiệp trong và ngoài nước

- Cho học sinh nghèo vai tiền đi học, tăng lương và phụ cấp khi dạy ở vùng sâu

- Chính sách xóa đói giảm nghèo

- Xây dựng nông thôn mới

- Mở các lớp dạy nghề phù hợp với từng vùng

- Về sức khỏe, y tế: tặng thẻ bảo hiểm cho người nghèo, tăng cường và nâng cao chất lượng y tế về địa phương, đưa cán bộ y tế về phục vụ tại địa phương

- Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân

Câu 3: Tư tưởng của Mác-Angghen về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS và tư tưởng của Lênin về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH?

* Tư tưởng của Mác-Angghen về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS:

Trang 12

- CNTB tất yếu sẽ được thay thế bằng chế độ kinh tế - XH mới cao hơn:

+ CNTB là chế độ KT-XH tiến bộ hơn nhiều so với các chế độ KT-XH trước đó và nhờ vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường CNTB đã tạo ra rất nhiều của cải vật chất cho XH, có vai trò

to lớn trong việc nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển KT-XH

+ Song song với những thành tựu mà CNTB đạt được thì CNTB vẫn là chế độ bất công, thể hiện: Phân hóa giàu nghèo sâu sắc (nhất là ở nước phát triển); khoảng cách giữa nước giàu và nước nghèo (giữa các khu vực trên thế giới như: Châu Phi-Mỹ); Khủng hoảng kinh tế (2 lần: 1929-1933; 2008); Chiến tranh thế giới (2 lần)

+ Quá trình phát triển của CNTB, những tiến bộ về kinh tế chủ yếu được sử dụng để phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản chứ không phải phục vụ lợi ích của LLSX chủ yếu của xã hội là giai cấp công nhân làm thuê, do đó, CNTB càng phát triển thì mâu thuẫn nội tại của nó càng trở nên sâu sắc, xu thế xã hội hóa sản xuất càng trở nên không thể chịu đựng nổi trong vỏ bọc của sở hữu tư nhân TBCN cho nên CNTB tất yếu phải được thay thế bằng chế độ KT-XH mới

- Giữa CNTB và CNCS là thời kỳ quá độ lâu dài:

CNCS là chế độ KT-XH cao hơn CNTB nên sẽ thay thế CNTB, song không thể thay thế toàn

bộ CNTB ngay lập tức được mà phải có thời gian và trải qua 2 giai đoạn với thời kỳ lịch sử đặc biệt là thời kỳ quá độ:

+ Giai đoạn thấp: còn tồn tại Nhà nước và phân phối theo lao động

+ Giai đoạn cao: Nhà nước tự tiêu vong và phân phối theo nhu cầu

+ Thời kỳ quá độ: Giữa XH TBCN và XH CSCN là một thời kỳ cải biến cách mạng XH nọ sang XH kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một TKQĐ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là

gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản

- Khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN:

Khi nghiên cứu về CNCS với tư cách là chế độ KT-XH cao hơn CNTB, Mác-Angghen đã cho rằng CNCS phải thắng lợi trên toàn thế giới và trong dự báo của mình Mác-Angghen đã nêu luận điểm

về khả năng quá độ lên XHCS từ những nước đang ở giai đoạn phát triển tiền TBCN

Tuy nhiên, chưa đề cập tới nội dung và những nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa cộng sản tại các nước có trình độ phát triển thấp

→liên hệ thực tế ở VN: phát triển LLSX thông qua CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân; xây

dựng QHSX mới, nền văn hóa mới; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, ứng dụng KHCN vào phát triển nền kinh tế của nước ta Cải tạo nền kinh tế củ, xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng

là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài

* Tư tưởng của Lênin về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH:

- Tính tất yếu khách quan và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH:

Theo Lenin: TKQĐ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện từ XH

cũ sang XH mới - XH XHCN

Đồng thời, TKQĐ được bắt đầu khi: CMVS thắng lợi, gcvs giành được chính quyền, bắt tay vào việc xây dựng XH mới và kết thúc khi: xây dựng thành công cơ sở của XH XHCN về vật chất –

kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, XH

Kế thừa quan điểm của Mác-Angghen về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS, Lênin đã khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNCS giai đoạn thấp – CNXH và còn chỉ ra đặc điểm nổi bật nhất của thời kỳ này

Trang 13

+ Đặc điểm:

Về kinh tế: Sự tồn tại nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Về chính trị - XH: tồn tại nền chuyên chính vô sản Chuyên chính vô sản là sự chuyên chính của giai cấp vô sản để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp vô sản và quần chúng lao động Và trong TKQĐ

lên CNXH chuyên chính vô sản có 4 nhiệm vụ: (Đập tan sự phản kháng của kẻ thù; Cải tạo và xây dựng XH mới; Xây dựng và củng cố quốc phòng; Ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới).

TKQĐ lên CNCS là tất yếu khách quan nhưng quá độ ở giai đoạn thấp là CNXH và việc quá

độ lên CNXH là thời kỳ vô cùng khó khăn, phức tạp và có thể rất lâu dài không thể đạt ngay tức khắc được

- Tính quy luật chung và đặc thù của thời kỳ quá độ lên CNXH:

+ TKQĐ lên CNXH không những tuân theo tính quy luật chung mà còn tuân theo tính đặc thù theo sự phát triển của từng dân tộc, từng quốc gia Trong đó, tính quy luật chung được thể hiện ở chỗ

là tồn tại nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (trong đó tồn tại 3 thành phần kinh tế cơ bản gồm: CNTB tư nhân, SX hàng hóa nhỏ, CNCS); tính quy luật riêng thể hiện ở chỗ tùy vào từng điều kiện phát triển của mỗi quốc gia sẽ có thêm một hoặc 1 số thành phần kinh tế khác (Nga:có thêm: KT nông dân kiểu gia trưởng, CNTB Nhà nước)

+ Lênin chỉ rõ: “Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mãnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có Đồng thời, Lenin đã nêu: Những hình thức cơ bản ấy của nền kinh tế xã hội là: chủ nghĩa tư bản, tiểu sản xuất hàng hóa, chủ nghĩa cộng sản”

Từ đó, để tận dụng cơ hội phát triển không được vận dụng máy móc tính quy luật chung mà phải kết hợp vận dụng sáng tạo những tính quy luật chung vào hoàn cảnh đặc thù của từng dân tộc trong quá trình đi lên CNXH

- Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN:

Kế thừa chủ nghĩa Mác và trên cơ sở kết quả nghiên cứu về CNTB, Lenin đã phát triển sáng tạo lý luận cách mạng XHCN của chủ nghĩa Mác và khẳng định rằng cách mạng vô sản có thể thắng lợi đầu tiên ở một nước Từ đó, Lenin khẳng định các dân tộc lạc hậu có thể đi lên CNXH mà không phải chờ tới khi CNTB phát triển

Đồng thời, Lenin đã chỉ ra những điều kiện bên ngoài, những điều kiện bên trong để quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN đối với các dân tộc lạc hậu:

+ ĐK bên ngoài: Sự ủng hộ kịp thời của cách mạng XHCN ở 01 số nước tiên tiến (Hiện nay, thông qua hợp tác, đầu tư, tiếp thu vốn, KHKT, kinh nghiệm,…)

+ ĐK bên trong: Sự thống trị của gcvs ở trong nước và có sự liên minh giữa gcvs với đại đa số nông dân

Qua 2 quan điểm trên cho thấy từ CNTB lên CNCS phải trải qua 1 thời kỳ quá độ và 2 giai đoạn (giai đoạn đầu/giai đoạn thấp: CNXH; giai đoạn cao: CNCS) Trong đó, quan điểm Mác-Ăng ghen thì quá độ lên CSCN; còn Lenin thì quá độ lên CSCN giai đoạn thấp là CNXH

Trang 14

Câu 4: Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Liên hệ thực tiễn chứng minh?

Mở bài:

Sản xuất tư bản chủ nghĩa trước hết là quá trình lao động, thể hiện sự kết hợp giữa các yếu tố sản xuất là sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị sử dụng Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động Đồng thời đó cũng là quá trình sản xuất giá trị

và đặc biệt là làm tăng giá trị Sản xuất tư bản chủ nghĩa mang hai đặc điểm cơ bản là người công nhân phải làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và toàn bộ sản phẩm làm ra thuộc

về nhà tư bản

Thân bài:

Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân

làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản Giá trị thặng dư là lao động không công của công nhân làm thuê, thể hiện bản chất bốc lột của quan hệ sản xuất TBCN

Tỷ suất giá trị thặng dư được tính theo công thức: m/= t//t x 100%

Để bốc lột giá trị thặng dư, nhà tư bản thường sử dụng hai phương pháp sau:

Một là, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách kéo dài ngày lao

động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi

Ví dụ: ngày lao động có độ dài 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng

dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 100% Nếu ngày lao động kéo dài thành 10 giờ, trong khi năng suất lao động không đổi, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 6 giờ và

tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 150%

Để có được giá trị thặng dư tuyệt đối có thể sử dụng các biện pháp như kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu càng dài càng tốt, hoặc tăng cường độ lao động Do

đó, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối bị giới hạn bởi thời gian trong ngày và tình hình sức khoẻ, tâm lý của người công nhân Việc áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thường gây ra sự phản kháng của công nhân làm thuê

*Ý nghĩa:

- Thấy được cách thức mà nhà tư bản bóc lột người công nhân, bóc lột NLĐ ntn, cụ thể

là bằng cách kèo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động làm hao phí về thể chất, tinh thần của NLĐ

- Có ý nghĩa trong quá trình tổ chức quản lý SX đối với nền kinh tế của chúng ta (nền

KT còn thấp, lạc hậu)→ cần ứng dụng p2 GTTD để nâng cao đời sống v/c tinh thần của chúng

ta tốt hơn

*Liên hệ: người nông dân cũng có GTTD, tất cả sản phẩm làm ra đều thuộc về nhà

TB→ quan hệ bóc lột giữa người với người Ai sở hữu TLSX thì là chủ sở hữu của sản phẩm, mình có nhiều TLSX thì càng nhiều giá trị, nhiều sản phẩm Việc nghiên cứu này có ý nghĩa đối với việc phát triển KT Hiện nay, vẫn còn tồn tại bóc lột GTTD, vấn đề sẽ chia cho ai công bằng hợp lý để k có GTTD Vấn đề này đảng ta cho rằng, trong TKQĐ lên CNXH còn nhiều thành phần kinh tế (nhà nước, tập thể, tư nhân, KT có vốn đầu tư nước ngoài) → sẽ có cách thức khác nhau về sở hữu TLSX Vì thế cần có cách phân chia hợp lý tùy vào chức năng nhiệm vụ thì sẽ không có bóc lột GTTD nữa

Hai là, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Trang 15

Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian

lao động tất yếu, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư, trong khi ngày lao động có thể không đổi hoặc thậm chí rút ngắn

Ví dụ: ngày lao động có độ dài 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng

dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 100% Nếu ngày lao động không đổi, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 3 giờ, thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 167% Nếu ngày lao động rút ngắn còn 7 giờ, thời gia lao động tất yếu giảm xuống còn 2 giờ, thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 250%

Để thu được giá trị thặng dư tương đối, cần rút ngắn thời gia lao động tất yếu Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu cần phải hạ thấp giá trị sức lao động Mà muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải tìm cách hạ giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động thông qua các biện pháp tăng năng suất lao động trong những ngành sản xuất tư liệu sản xuất

để sản xuất tư liệu sinh hoạt và trong những ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt

Quá trình tăng năng suất lao động diễn ra trong thực tế trước hết ở một hoặc một số doanh nghiệp

Những doanh nghiệp đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mới, cải tiến quản lý hay tận dụng được những điều kiện sản xuất thuận lợi sẽ tăng năng suất lao động cá biệt, giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường, từ đó sẽ thu được một số giá trị thặng dư vượt trội so với các doanh nghiệp khác Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch

Đối vời từng doanh nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, xuất hiện rồi mất đi, nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản, thì giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên; nó có thể mất đi chỗ này, lúc này nhưng lại xuất hiện chỗ khác, lúc khác Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động

Hoạt động riêng lẽ đó của từng nhà tư bản đã dẫn đến kết quả làm tăng năng xuất lao động xã hội, hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Trong thực tiễn lịch sử, để thu được giá trị thặng dư tương đối, giai cấp các nhà tư bản

đã thực hiện ba cuộc cách mạng nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động:

Thứ nhất, cách mạng về tổ chức quản lý lao động thông qua hiệp tác lao động giản đơn

tư bản chủ nghĩa, trong đó hoạt động lao động của một số công nhân làm thuê để sản xuất cùng một loại hàng hoá diễn ra trong cùng một thời gian trên cùng một địa điểm dưới sự điều khiển của cùng một nhà tư bản

Thứ hai, cách mạng về sức lao động, thông qua phân công trong công trường thủ công Thứ ba, cách mạng về công cụ lao động thông qua cách mạng công nghiệp với kết quả

là sự hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản – nền đại công nghiệp cơ khí

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại đã trực tiếp làm tăng năng suất lao động xã hội, làm giảm giá trị sức lao động, do đó phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tương đối trở thành phương pháp chủ yếu trong việc tăng giá trị thặng dư cho nhà tư bản

*ý nghĩa:

- Thấy được cách thức bóc lột GTTD của nhà tư bản đ/v NLĐ ntn

- Nghiên cứu KH, cải tiến CCLĐ, đào tạo trình độ LĐ để thích ứng với trình độ LLSX

đó Nâng cao chất lượng nguồn lao động trong nước

- Nắm được phương pháp sản xuất GTTD giúp nhà nước đưa ra các biện pháp bảo vệ chính đáng của NLĐ bằng luật và các chế tài cụ thể

Trang 16

*Liên hệ: Quá trình sản xuất và tái sản xuất XH gắn chặt với quan hệ hàng hóa – tiền

tệ, quan hệ cung – cầu…Nguồn lao động VN dồi dào, trẻ, có trình độ học vấn nhưng thiếu kỷ năng và tay nghề Nhà nước quy định mức lương tối thiểu và thời gian làm việc chung áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp tại VN Với việc sử dụng lao động ngoài giờ quy định, nhà nước quy định người sử dụng lao động phải trả lương ngoài giờ cho công nhân KHCN không ngừng được áp dụng vào sản xuất, quản lý kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động

Kết luận:

Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Nội dung của quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê Quy luật giá trị thặng dư có tác dụng mạnh mẽ trong nhiều mặt của đời sống xã hội Một mặt, nó thúc đẩy kỹ thuật và phân công lao động xã hội phát triển, làm cho lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển với tốc độ nhanh và nâng cao năng suất lao động Mặt khác, nó làm cho các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, trước hết là mâu thuẫn cơ bản của nó → mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất - ngày càng gay gắt

Mục đích chung của mọi nhà tư bản cũng như của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đều là sản xuất giá trị thặng dư tối đa Nó không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụng để đạt được mục đích, đặc biệt là thông qua nghiên cứu về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Bởi vậy, nó có tính thực tiễn sâu sắc

*So sánh 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:

- Giống nhau:

+ Đều là cách mà nhà tư bản sử dụng để bóc lột công nhân để tạo giá trị thặng dư.

+ Đều dựa trên cơ sở thời gian lao động thặng dư được kéo dài

+ Đòi hỏi độ dài ngày lao động nhất định, cường độ lao động và năng suất lao động nhất định

+ Các khái niệm GTTD, thời gian lao động tất yếu, thời gian lao lao động thặng dư, tỷ suất GTTD, Tư bản khả biến, Tư bản bất biến đều có ý nghĩa giống nhau

- Khác nhau:

- Kéo dài t/g làm việc trong ngày - T/g làm việc trong ngày không đổi

- T/g lao động tất yếu không đổi - Giảm t/g lao động tất yếu

- Năng suất lao động k đổi - Năng suất lao động nâng cao lên

- Giá trị sức lao động k đổi - Giá trị sức lao động giảm xuống

- Áp dụng thời kỳ đấu của CNTB, lúc KHKT

chưa phát triển

- Áp dụng trong giai đoạn CNTB phát triển cao, KHKT phát triển cao

Trang 17

Câu 5: Phân tích làm rõ vai trò bộ tham mưu của Đảng cộng sản cho giai cấp công nhân? Liên hệ thực tế ở ĐCSVN hiện nay?

Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là một sự thật khách quan nhưng muốn cho sứ mệnh lịch sử đó trở thành hiện thực thì phải thông qua vai trò của nhân tố chủ quan, đặc biệt

là vai trò của Đảng Cộng sản.

Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với

quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất

có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất

và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay

Vì những đặc điểm, thuộc tính cơ bản của GCCN cho nên GCCN mang SMLS, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế

độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột; xác lập hình thái KT- XH cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới

Ngoài điều kiện là đại diện cho PTSX tiến bộ vơi năng xuất lao động cao hơn, cách tổ chức lao động XH phù hợp và tiến bộ hơn thì để đảm nhận SMLS, GCCN phải có được một

hệ tư tưởng riêng phản ánh nhận thức về quy luật lịch sử và có được hạt nhân chính trị của giai cấp mình (Chính đảng)

Đảng chính trị là tổ chức cao nhất, đại biểu tập trung cho trí tuệ và lợi ích của toàn thể

giai cấp Đối với giai cấp công nhân đó là đảng cộng sản

Đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị, là hình thức tổ chức cao nhất, bộ phận tiên tiến nhất

của giai cấp công nhân,đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động,lấy nguyên tắc tập trung dân chủ nghĩa làm nguyên tắc tổ chức cơ bản

- Giữa ĐCS với g/c công nhân có mối liên hệ hữu cơ như sau:

+ Giai cấp công nhân coi ĐCS là hạt nhân chính trị của mình và sự ra đời của Đảng là mốc đánh dấu sự trưởng thành của g/c

+ Đảng coi g/c công nhân là cơ sở xã hội hàng đầu của mình, là nguồn bổ sung lực lượng của đảng Quan hệ giữa ĐCS và g/c công nhân là quan hệ máu thịt

Từ sứ mệnh lịch sử của g/c công nhân dẫn đến không thể thiếu vai trò tham mưu của ĐCS

Vai trò tham mưu của đảng là vai trò đưa ra những quyết định của đảng, sáng suốt

vạch ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của toàn giai cấp và toàn

bộ phong trào để giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhất là trong những thời điểm lịch sử quan trọng Những quyết định đúng đắn sẽ tạo điều kiện đưa phong trào cách mạng tiến lên, ngược lại có thể gây ra những tổn thất cho cách mạng Sở dĩ đảng cộng sản trở thành bộ tham mưu của giai cấp công nhân vì đảng bao gồm những người tiên tiến trong giai cấp công nhân, được trang bị lý luận khoa học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phong trào cách mạng

Để thực hiện sứ mệnh này, ĐCS có 3 vai trò, trong đó vai trò “bộ tham mưu của giai cấp công nhân” giữ quyết định sự thắng lợi, được thể hiện qua các nội dung sau:

Trang 18

- Bằng hiểu biết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, ĐCS định ra cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược đấu tranh.

Khi chưa có Đảng Cộng sản lãnh đạo giai cấp công nhân chỉ có thể tự phát đấu tranh vì mục đích kinh tế, vì cơm ăn áo mặc, cải thiện sinh hoạt chứ không phải đấu tranh với tư cách

là một giai cấp nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nên cuối cùng đều bị thất bại Trước phong trào ngày càng lớn mạnh của GCCN, nhu cầu cần có lý luận riêng để làm cơ sở cho cuộc đấu tranh được đặt ra cấp thiết Bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và từ khi học thuyết M-LN ra đời, các nhà lãnh đạo của GCCN đã tiếp thu, đưa những lý luận đó vào thực tiễn, biến nó thành một vũ khí lý luận sắc bén, giúp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chuyển từ tự phát lên tự giác và trở thành phong trào chính trị lan rộng trên toàn thế giới

Sự ra đời của ĐCS là mốc đánh dấu sự trưởng thành của GCCN, bởi vì ĐCS là sự kết hợp của

CN M-LN với PTCN, là kết quả của quá trình CNH và đấu tranh GC hiện đại; Ngoài ra ĐCS còn mang tính tiền phong trong lý luận và thực tiễn, tính khoa học và chặt chẽ

Vận dụng học thuyết Mác – Lenin và kinh nghiệm thực tiễn (Nhất là kết quả thành công của cuộc CMT10 Nga) Đảng CS đã làm cho GC công nhân nhận thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, hiểu được mục tiêu, con đường, biện pháp đấu tranh, từ đó tập hợp được đông đủ giai cấp nhân dân lao động thực hiện việc lật đổ CNTB giải phóng giai cấp công nhân

và nhân dân lao động và xây dựng xã hội mới trên mọi mặt

- “Đảng cũng là người tổ chức, động viên các sức mạnh, nguồn lực chính trị xã hội trong phong trào công nhân”

SMLS của GCCN là thực hiện sứ mệnh CM của quần chúng và mang lợi lợi ích cho đa

số hướng tới xây dựng XH trên cơ sở Công hữu TLSX GCCN chỉ có thể tự giải phog mình thông qua việc đồng thời giải phóng các giai cấp bị áp bức và bóc lột khác

SMLS của GCCN nhằm mục tiêu cao nhất là giải phóng triệt để con người, xd nền văn hóa XHCN và cũng được phát triển tự do và toàn diện trong XH công bằng, dân chủ, văn minh

Một trong những nhiệm vụ của GCCN trong tiến trình CM của mình là xác lập hệ giá trị tư tưởng của GCCN thay thế cho hệ giá trị tư tưởng TS

Từ những nội dung trên có thể thấy, để đạt được nhiệm vụ SMLS của GCCN thì vai trò tham mưu của ĐCS là rất quan trọng Đảng là người tổ chức thực hiện tất cả các nhiệm vụ trong phong trào CN đồng thời phải là người tập hợp động viên các sức mạnh, nguồn lực chính trị xã hội Nguồn lực chính trị xã hội đó chính là tất cả quần chúng nd (GCCN,) Không chỉ riêng GCCN, nhân dân lđ và các giai tầng khác trong xã hội TSCN cũng bị áp bức bóc lột

và họ đều có nhu cầu được giải phóng và được hưởng lợi ích

- Sự kết hợp chặt chẽ thống nhất về tư tưởng và tổ chức dựa trên nền tảng tư tưởng của CNXH khoa học cho đảng có khả năng trở thành lực lượng thu hút đông đảo QCND hướng theo GCCN, tiến hành cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của GCTS, xây dựng chủ nghĩa cộng sản

V.I.Lênin khẳng định: Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn Sau thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất có thể tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng Có được khả năng

đó là do Đảng gồm những người tiên tiến nhất của giai cấp và dân tộc, trung thành, kiên định với lợi ích của dân tộc, luôn đi đầu, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc nên được nhân dân tin tưởng và đi theo

Tóm lại, từ thực tiễn cách mạng vô sản trên tòan thế giới đã cho thấy không thể phủ nhận Đảng Cộng sản có vai trò vô cùng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công

Ngày đăng: 15/07/2016, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w