Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học cơ sở Theo Luật Giáo dục năm 2005, THCS SỞlà cấp học cao nhất trong hệ thống giáo dục phổ thông, có vai trò bồi đắp,
Trang 1Ch-¬ng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬTCHO HỌC
SINH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1.Khái niệm và đặc điểm của giáo dục pháp luậtcho học sinh trong trường Trung học cơ sở
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về khái niệm GDPL được sử dụng phổ biến hiện nay, khái niệm GDPL được tiếp cận theo hướng phát huy năng
lực hoạt động thực tiễn của đối tượng giáo dục Theo đó, giáo dục pháp luật là hoạt động thực tiễn tác động một cách thường xuyên, nhằm trang bị kiến thức, xây dựng thái độ, niềm tin vào pháp luật đồng thời giáo dục kỹ năng thích ứng cũng như xử lý các tình huống,, thúc đẩy mọi công dân tự giác và chủ động thực hiện nghiêm minh pháp luật
Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học cơ
sở
Theo Luật Giáo dục năm 2005, THCS SỞlà cấp học cao nhất trong hệ thống giáo dục phổ thông, có vai trò bồi đắp, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ, trang bị những tri thức và những kỹ năng phổ thông cơ bản về chính trị, tư tưởng, pháp luật, khoa học, văn học, nghệ thuật, hướng nghiệp tạo nền tảng để các em tiếp tục học cao hơn, học nghề hoặc tham gia lao động, sản xuất, thực hiện trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và đất nước Do giáo dục trong nhà trường luôn mang tính mục đích, phản ánh các chức năng, nhiệm vụ của hệ thống giáo dục nên quá trình GDPL cho học sinh trong trường THCS có những đặc trưng riêng về đối
tượng, chủ thể, hình thức, phương pháp giáo dục
Về đối tượng GDPL, lứa tuổi học sinh THCS là thời kỳ chuyển tiếp giữa trẻ con (học sinh trung học cơ sở) với người lớn Các em có khả năng tư duy, sáng tạo, tích cực, nhạy bén và năng động trong học tập cũng như các hoạt động giao tiếp nhưng cũng là độ tuổi phức tạp, nhạy cảm, dễ bị tổn thương và dễ bị tác động bởi điều kiện xã hội Do vậy, muốn đạt được chất lượng GDPL cao, chủ thể GDPL phải nghiên cứu và nắm chắc đặc điểm đối tượng giáo dục của mình, phải thiết kế
và thực hiện những tác động sư phạm phù hợp, xây dựng nội dung và lựa chọn hình thức, phương pháp giáo dục khoa học
Chủ thể tiến hành GDPL cho học sinh trong trường TRUNG HỌC CƠ SỞrất phong phú, vừa có cán bộ chuyên trách vừa bao gồm những người, những tổ chức làm công tác giáo dục, đó là các nhà quản lý, cán bộ tư vấn, giáo viên môn Giáo dục
Trang 2công dân (GDCD), giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên Đây là lực lượng lao động trí tuệ có chất lượng cao trong xã hội
Nội dung GDPL cho ho ̣c sinh trong trường THCSbao gồm:
Một là, giáo dục pháp luật cung cấp những kiến thức mang tính lý luận về nhà
nước và pháp luật
Hai là, giáo dục những chuẩn mực cơ bản của pháp luật như dân chủ, công
bằng, bình đẳng, công lý, tự do
Ba là, những kiến thức pháp luật cơ sở thuộc những lĩnh vực quan trọng trong
đời sống xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần, lao động và học tập của học sinh
Bốn là, những kỹ năng thực hiện những chuẩn mực pháp luật
Đặc điểm nổi bật về nội dung GDPL cho học sinh trong trường THCS so với các cấp học khác là kiến thức pháp luật mang tính đại cương, gắn với đặc điểm tâm lý tuổi mới lớn và phù hợp với yêu cầu của xã hội Kiến thức mang tính gợi mở, kích thích tư duy và hướng tới không chỉ hình thành, củng cố mà còn phát triển những phẩm chất cơ bản của một công dân mẫu mực Trên nền tảng đó công tác GDPL thực hiện nhiệm vụ cung cấp phương pháp tiếp cận nội dung pháp luật cụ thể cho học sinh khi các em có nhu cầu
Hình thức GDPL cho học sinh trong trường THCS được tiến hành chủ yếu thông
qua dạy học chính khóa môn GDCD và các hoạt động GDPL ngoài giờ lên lớp
Ngoài ra, GDPL cho học sinh còn được lồng ghép qua hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác trong nhà trường
So với hình thức GDPL nói chung và hình thức GDPL cho các đối tượng cụ thể khác như cán bộ, công chức, phụ nữ, nông dân nói riêng thì hình thức GDPL cho học sinh THCSrất phong phú, sâu sắc, đặc biệt GDPL qua dạy học môn GDCD là hình thức mang tính đặc thù, chỉ có thể được thực hiện trong trường học
Phương pháp GDPL cho học sinh trong trường THCSđược tiếp cận liên
ngành giữa khoa học pháp lý và khoa học sư phạm, do đó phương pháp GDPL bao gồm hệ thống phương pháp thuyết phục; hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen thực hiện pháp luật; hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi và hệ thống phương pháp dạy học môn GDCD
Phương pháp dạy học môn GDCD chủ yếu là phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp động não, phương pháp đóng vai, phương pháp dự
án Đặc điểm chung về phương pháp GDPL cho học sinh trong trường THCSso với phương pháp GDPL cho các đối tượng ở các cấp học khác là sự phóng khoáng,
Trang 3nhấn mạnh tư duy phản biện và tăng cường năng lực hoạt động thực tiễn cho học sinh
1.2 Mục đích, vai trò của giáo dục pháp luậtcho học sinh trong trường trung học cơ sở
Mục đích của công tác giáo dục đạo đức , giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học cơ sở
Mục đích của công tác GDPL cho học sinh trong trường THCS trước hết trang bị kiến thức pháp luật cho các em Sự hiểu biết là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh biết cách hành động phù hợp với các chuẩn mực đặt ra Đồng thời hoạt động GDPL còn nhằm nâng cao ý thức, bồi dưỡng niềm tin và tình cảm pháp luật cho học sinh
Bên cạnh đó, GDPL còn hướng tới hình thành ở các em động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật
GDPL rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cơ bản nhằm ứng xử đúng pháp luật những tình huống trong đời sống xã hội, nhờ đó phát triển năng lực, giúp các
em biết tự do hành động trong hành lang pháp lý, biết sử dụng pháp luật để bảo vệ mình và lựa chọn, quyết định cho mình cách ứng xử tích cực trước muôn nẻo đường của cuộc sống
Vai trò của giáo dục pháp luậtcho học sinh trong trường THCS
* Vai tro ̀ của giáo dục pháp luậtđối với viê ̣c hình thành , phát triển nhân cách học sinh THCS
Thời Trung Quốc cổ đại, Mạnh Tử đã chỉ ra rằng con người sinh ra vốn tính thiện, ông khẳng định lòng trắc ẩn, sự hổ thẹn, sự cung kính, tính tốt con người ai cũng có Giáo dục làm cho chúng phát triển, tức là thông qua sự tác động của giáo dục để khôi phục những bản tính tốt đẹp đó Quan điểm của Tuân Tử thì cho rằng tính người vốn ác, mắt thích màu sắc, tai thích âm thanh, miệng thích mùi vị, lòng
dạ thích cái lợi, xương thịt thích được an nhàn, vui vẻ Vì vậy, ông rất coi trọng giáo dục, khẳng định giáo dục sẽ biến đổi tính tình, dựa vào lễ nghĩa, phép tắc, qui phạm, tập tục của xã hội để giáo hóa, cải biến tính ác vốn có của con người Về nội dung này Kant, nhà triết học Đức đã nói "Con người chỉ có thể trở thành người là nhờ giáo dục Con người là những gì được giáo dục tạo nên" Cũng với ý nghĩa
chú trọng giáo dục, C.Mác nhấn mạnh: "Con người vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục Và do đó con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn
Trang 4cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi" Chủ tịch Hồ Chí Minh thì
khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của giáo dục trong chiến lược con người, bởi giáo dục đào tạo nên chất người, nên nhân tài Trong Nhật ký trong tù, Người viết:
"Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên" Như vậy, dù
tiếp cận ở góc độ nào giáo dục cũng đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành, phát triển nhân cách con người và trong tác động to lớn đó, GDPL có vị trí đặc biệt quan trọng
Theo học thuyết Mác Lênin, nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính riêng trong quá trình hoạt động của con người với tự nhiên, xã hội và bản thân, là toàn
bộ những năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý - tâm lý của cá nhân tạo thành một chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định, tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình Nhân cách con người bộc lộ trong hành động, thông qua các quan hệ ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và bản thân Nhân cách được hình thành và phát triển qua một quá trình lâu dài Tuy nhiên, giai đoạn học sinh phổ thông được coi là giai đoạn quan trọng và có tính quyết định Vai trò tác động của của GDPL đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh phổ thông thể hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất, giáo dục pháp luật cung cấp hệ thống tri thức pháp luật cho học
sinh, giúp các em hiểu được điều hay lẽ phải, nhận biết được những chuẩn mực tốt đẹp về lòng nhân ái, sự công bằng, bình đẳng, dân chủ, lòng khoan dung, biết yêu cái đẹp, cái chân chính, biết đấu tranh với cái xấu và trong những tình huống cụ thể các em biết nên và cần ứng xử như thế nào cho phù hợp với đạo lý làm người Giáo dục pháp luật hướng học sinh đến với cái thiện, năng lực tự chủ, sự khiêm nhường, tinh thần trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng Sự hiểu biết pháp luật đặt nền móng xây dựng nhân sinh quan, thế giới quan khoa học định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của các em Bên cạnh đó, GDPL, thông qua hoạt động cụ thể can thiệp, tác động đến các yếu tố khác như gia đình, môi trường xã hội, hoạt động cá nhân nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển nhân cách
Thứ hai, giáo dục pháp luật tổ chức nhiều loại hình hoạt động giao tiếp bổ ích
nhằm phát huy những phẩm chất và năng lực cá nhân, xây dựng những động cơ
Trang 5đúng đắn cho các em khi tham gia hoạt động xã hội Không những thế, GDPL còn hướng dẫn các em lựa chọn các hoạt động phù hợp với khả năng của bản thân cũng như yêu cầu của pháp luật, qua đó các em biết tự khẳng định mình và vươn tới sự hoàn thiện Đặc biệt, GDPL luôn coi trọng xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa thầy trò, giữa bạn bè với nhau, giữa học sinh và người lớn, điều chỉnh hành vi ứng xử của các em trong nhà trường, gia đình và xã hội phù hợp với các chuẩn mực pháp luật
Thứ ba, giáo dục pháp luật hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh
Giáo dục pháp luật giúp học sinh hiện thực hóa khả năng của các em về trí tuệ, khả năng thích ứng, hòa nhập trong cuộc sống, khả năng thể hiện bản sắc của mình, hành động có mục đích, chủ động, tích cực, hiệu quả Qua hoạt động GDPL bồi dưỡng cho các em đầy đủ phẩm chất của công dân Đó là phẩm chất chính trị vững vàng, trong sáng, tinh thần thượng tôn pháp luật, sống có lý tưởng, khát khao vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh
Thứ tư, giáo dục pháp luật giúp học sinh biết định hướng đúng và trân trọng
những giá trị cuộc sống Giá trị đối với mỗi người trong cuộc sống không chỉ tạo nên danh dự, nhân phẩm của họ mà còn có ý nghĩa như là sợi dây níu giữ họ không
bị quá đà hoặc lao xuống dốc Trong sự biến động phức tạp của xã hội, sự tác động mạnh mẽ của những mối quan hệ nhiều chiều, sự du nhập của lối sống bên ngoài, GDPL giúp học sinh nhìn nhận đúng đắn những giá trị đích thực của cuộc sống, hình thành quan điểm, lối sống lành mạnh, hiện đại của con người mới XHCN Tóm lại, giáo dục pháp luật thực chất là giáo dục về những giá trị cao đẹp, về
"chân, thiện, mỹ", giáo dục cách xử sự vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội và lợi ích mỗi người trong cái chung đó Mục đích cuối cùng của GDPL trong trường THCS chính là mài sáng cái tâm, gọt giũa cái đức, củng cố những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, góp phần tạo nên những con người nhân văn, con người xã hội luôn khát khao vươn tới sự hoàn thiện
* Vai tro ̀ của giáo dục pháp luật đối với việc nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Giáo dục pháp luật cũng như giáo dục nói chung không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà còn
Trang 6hướng tới mục tiêu phát triển đầy đủ giá trị của mỗi cá nhân giúp con người có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống có chất lượng
và hạnh phúc Đó là cuộc sống tự do hành động trong hành lang pháp lý, biết sử dụng pháp luật để bảo vệ mình và lựa chọn, quyết định cho mình cách ứng xử tích cực trước muôn nẻo đường của cuộc sống
Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng sống (life skills) và mỗi quan niệm được diễn đạt theo cách khác nhau Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho rằng kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết tốt những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục (UNESCO) của Liên hợp quốc thì
kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Như vậy, có thể thấy so với quan niệm của WHO thì UNESCO đã đưa ra cách tiếp cận đầy đủ và chính xác hơn, thể hiện kỹ năng sống bao hàm cả năng lực (tổng hòa của kiến thức, thái độ, hành vi) và khả năng tâm lý
xã hội Đó là khả năng nhận biết, áp dụng hiểu biết đó để giải quyết tối ưu những vấn đề của cuộc sống và được thể hiện qua khả năng ứng xử đúng đắn, phù hợp khi tương tác với người khác hoặc trong những tình huống khác nhau của môi trường xã hội Trên phương diện đó kỹ năng sống gồm kỹ năng chung thể hiện qua
kỹ năng nhận thức, kỹ năng đương đầu với xúc cảm, kỹ năng xã hội và kỹ năng cụ thể thể hiện trong việc đối diện và ứng phó với những vấn đề khác nhau trong đời sống xã hội như:
+ Vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng
+ Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản
+ Ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS
+ Phòng, chống rượu, ma túy, thuốc lá, trò chơi điện tử
+ Ngăn ngừa thiên tai, rủi ro và bạo lực
+ Hòa bình và giải quyết xung đột
+ Gia đình và cộng đồng
+ Giáo dục công dân
+ Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
Trang 7Trước hết, với hệ thống những kiến thức pháp luật cơ bản về những lĩnh vực quan trọng mà các em đã được lĩnh hội qua hoạt động GDPL giúp các em biết và hiểu cũng như nắm được yêu cầu của xã hội đối với vấn đề đặt ra, nhận thức được
ý nghĩa tích cực của hành vi pháp luật, từ đó tự giác thực hiện nghiêm minh pháp luật Trong thực tế rất nhiều trường hợp học sinh vi phạm pháp luật, thậm chí hành
vi rất nghiêm trọng như cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, hiếp dâm nhưng các em không hề biết mình đang phạm tội Vốn kiến thức ít ỏi về cuộc sống
và sự thiếu hụt kiến thức pháp luật đã dẫn đến những hành vi lệch chuẩn, lạc lối
Do đó, với mục đích trang bị kiến thức, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật cho học sinh THCS, GDPL ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của học sinh Bên cạnh đó, khi nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc thực hiện pháp luật, các em biết đấu tranh với những hành vi vi phạm của bạn bè và người khác Tội phạm học đường và bạo lực xã hội ở nước ta đang gia tăng một cách nhanh chóng mà chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát, ngăn chặn GDPL là hoạt động có ý nghĩa chiến lược nhằm phòng ngừa tội phạm đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc đấu tranh chống những hành vi vi phạm pháp luật của bạn
bè, của thầy cô giáo và người khác Giáo dục cho các em sự công bằng, thái độ không khoan nhượng đối với những hành vi sai trái, có tinh thần đấu tranh nhằm loại bỏ những hiện tượng tiêu cực trong xã hội Đây là vấn đề vô cùng khó khăn, bởi lẽ quyết định lựa chọn cách ứng xử nhiều khi là cả một quá trình đấu tranh nội
Trang 8tâm quyết liệt Giáo dục pháp luật củng cố niềm tin cho các em khi quyết định làm điều chính nghĩa
* Vai tro ̀ của giáo dục pháp luậtcho học sinh phổ thông trong viê ̣c xây dựng văn hóa pháp lý
GDPL có mối quan hệ mật thiết với văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng, đó là bộ phận cấu thành của văn hóa nhưng có tính độc lập tương đối GDPL cũng như giáo dục nói chung bảo tồn, sáng tạo và phát triển văn hóa và văn hóa pháp lý Theo từ điển Luật học, văn hoá pháp lí là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính pháp lí do nhà nước và nhân dân tạo ra Do pháp luật có một vị trí đặc biệt trong đời sống của một quốc gia, có quan hệ mật thiết với cuộc sống con người, gắn liền hữu cơ với những phạm trù có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của một cá nhân như công bằng, lẽ phải, công lí, dân chủ, tự do nên ở mỗi con người, nhìn từ nhiều góc độ, có mối quan tâm đặc biệt đối với pháp luật, đời sống pháp luật của xã hội làm hình thành những quan niệm, nhận thức, có khi được khái quát thành lý luận về những giá trị của pháp luật Đồng thời, quá trình này cũng hình thành thói quen, ham muốn, thích thú được sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật và dần dần được nâng lên thành lí tưởng, thành nhân sinh quan pháp luật Yếu tố này luôn có tính văn hoá và giá trị văn hoá cao, đặc thù ở một bộ phận, có khi lan tỏa trong cả cộng đồng dân cư, trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hoá dân tộc Văn hoá pháp lí là một bộ phận cấu thành của một nền văn hoá dân tộc Văn hóa pháp lí bao gồm hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật (đó chính là tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật) thể hiện ở tri thức pháp luật, thói quen, lối sống theo pháp luật, nghệ thuật vận dụng pháp luật trong đời sống hàng ngày Xuất phát từ mối quan hệ giữa GDPL và văn hóa pháp lý, vai trò nâng cao trình độ văn hóa pháp lý cho học sinh THCScủa GDPL được thể hiện:
Một là, giáo dục pháp luật nâng cao hiểu biết pháp luật, hình thành ý thức,
thúc đẩy hành vi văn hóa và văn hóa pháp lý cho các em học sinh Hoạt động GDPL đem lại cho các em sự hiểu biết cơ bản về pháp luật, giáo dục tình yêu pháp luật cho các em Sự kết hợp thống nhất giữa tri thức, tình cảm và hành vi của mỗi học sinh đối với pháp luật là giá trị văn hóa mà GDPL mang lại Văn hóa pháp lý thể hiện trình độ ý thức pháp luật của một xã hội, chất lượng hệ thống pháp luật
Trang 9hiện hành và đặc biệt là tính ổn định của trật tự pháp luật trong nước Người có văn hóa pháp lý nghĩa là người có trình độ kiến thức pháp luật, có thái độ tôn trọng đối với pháp luật, xử sự phù hợp pháp luật, có sự đánh giá và phản ứng đúng đắn đối với các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác Điều đó chỉ có thể được hình thành và phát triển trên cơ sở GDPL
Hai là, nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và có
nền kinh tế được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy vậy, phần đông dân cư đã và đang gắn bó với nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân tán với những tập tục phức tạp, rườm rà, do vậy ý thức pháp luật của nhiều người dân còn thấp, một bộ phận lớn dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí có một số người còn xem pháp luật như là một sự trói buộc, thường tìm cách trốn tránh, bất tuân pháp luật, một số khác lại coi trọng
"tình" hơn "lý" nên thay vì lấy luật pháp làm căn cứ để ứng xử thì dựa vào ý chí chủ quan của bản thân Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy thái độ xem nhẹ pháp luật đã hình thành và phát triển từ rất lâu, từ 1000 năm Bắc thuộc người dân đã có ý thức phản kháng với những quy tắc, luật lệ bị áp đặt vào nước ta Thời kỳ phong kiến, rồi đến hơn một thế kỷ đô hộ của thực dân và sự xâm lược của đế quốc, pháp luật trở thành phương tiện áp bức, bóc lột nên người dân lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật Bên cạnh đó, tính cục bộ của cộng đồng làng xã với việc tuân thủ nghiêm những tập tục đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong truyền thống pháp lý đó, pháp luật nhiều lúc đã bị bỏ lại phía sau Để nâng cao ý pháp luật cho thế hệ trẻ, xây dựng và phát triển nền văn hóa pháp
lý Việt Nam, GDPL cho học sinh THCS là phương thức hữu hiệu;
Ba là, nền văn hóa nước ta cũng như các nền văn hóa khác đều có những đặc
trưng riêng và trong nền văn hóa luôn tồn tại song song giữa cái tinh hoa và cái lạc hậu GDPL với vai trò lưu truyền và phát triển văn hóa tiến hành giáo dục học sinh cách thức sàng lọc, lựa chọn các giá trị văn hóa đích thực phù hợp với các chuẩn mực pháp luật, loại bỏ những hành vi sai trái, đi ngược với những giá trị pháp luật, qua đó phát triển văn hóa pháp lý trong nhà trường;
Bốn là, giáo dục pháp luật cho học sinh là phương thức hiệu quả giúp các em
tiếp cận công lý Hiểu biết pháp luật, tiếp cận tích cực những công cụ pháp luật hỗ
Trang 10trợ, bảo vệ bản thân và người khác trong mọi tình huống không chỉ là nhu cầu của học sinh phổ thông cũng như của tất cả mọi thành viên trong xã hội hiện đại mà còn là nét đẹp của văn hóa
Tóm lại, pháp luật là biểu hiện của văn minh và phát triển Tôn trọng pháp luật là văn minh, văn hóa, là tôn trọng con người, tự tạo ra cái đẹp, cái tốt trong cuộc sống Chính vì vậy, học sinh PTTH được giáo dục sâu sắc tính nhân văn chứa đựng trong việc tuân thủ pháp luật, giáo dục về ý nghĩa to lớn của pháp luật đối với cuộc sống con người khi nó được tôn trọng và thực thi Mục tiêu “vì con người
và phát huy nhân tố con người” đặt ra nhu cầu trong giáo dục nhân cách văn hóa hôm nay và ngày mai chứa đựng nội dung GDPL
Thảo luận, trao đổi: - So sánh giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học phổ thông
- So sánh giáo du ̣c đa ̣o đức , giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung ho ̣c phổ thông với hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c đa ̣o đức, giáo dục pháp luâ ̣t cho ho ̣c sinh ở trường trung ho ̣c cơ sở và ở trường tiểu ho ̣c
Trang 11ch-¬ng 2
NỘI DUNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 2.1 Khái niệm và yêu cầu về nội dung giáo dục pháp luậtcho học sinh trong trường Trung học cơ sở
Nội dung giáo dục pháp luậtlà những vấn đề quan trọng bao gồm những kiến thức mang tính lý luận về nhà nước và pháp luật, những chuẩn mực cơ bản của pháp luật như dân chủ, công bằng, bình đẳng, công lý, tự do, những kiến thức pháp luật cơ sở thuộc những lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần, lao động và học tập của học sinh và những kỹ năng thực hiện những chuẩn mực pháp luật
2.2 Nội dung giáo dục pháp luật cho ho ̣c sinh trong trường THCS
Nội dung là một trong những thành tố quan trọng, quyết định đến chất lượng hoạt động GDPL Theo lý luận GDPL nội dung GDPL được chia thành ba mức độ Mức độ thứ nhất là những nội dung pháp luật tối thiểu cho mọi công dân; mức độ thứ hai là những nội dung pháp luật mở rộng và chuyên sâu theo nhu cầu ngành nghề; mức độ thứ ba là những nội dung pháp luật chuyên ngành cho những người hành nghề pháp luật Cũng như GDPL nói chung quá trình GDPL cho học sinh THCSbắt đầu bằng việc xác định những kiến thức nào cần thiết cho hiện tại và tương lai các em Xuất phát từ nhu cầu và đặc điểm của học sinh THCS, nội dung GDPL bao gồm:
Một là, giáo dục pháp luật cung cấp những kiến thức cơ bản về nhà nước và
pháp luật
Nội dung này gồm những hiểu biết, những thông tin cơ bản về bản chất nhà nước, vai trò của nhà nước và pháp luật đối với đời sống xã hội nhằm trang bị cho học sinh vốn kiến thức quan trọng xác định địa vị pháp lý của học sinh - công dân, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, qua đó giáo dục tinh thần trách nhiệm của học sinh đối với vận mệnh của đất nước;
Hai là, giáo dục những chuẩn mực cơ bản của pháp luật như dân chủ, công
bằng, bình đẳng, công lý, tự do giúp học sinh hiểu và thực thi những chuẩn mực
Trang 12quan trọng trong cuộc sống, nhận thức sâu sắc ý nghĩa của những chuẩn mực đó đối với sự phát triển của xã hội;
Ba là, trang bị những kiến thức pháp luật cơ bản thuộc những lĩnh vực quan
trọng trong đời sống xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần, lao động và học tập của học sinh như lĩnh vực chính trị (Bộ máy nhà nước), lĩnh vực kinh tế (Luật doanh nghiệp, các đạo luật về thuế), lĩnh vực văn hóa - xã hội (Luật Di sản văn hóa, Luật giáo dục, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật tài nguyên nước, Luật Phòng chống ma túy, Luật phòng chống HIV/AIDS, pháp luật về ứng xử có văn hóa, pháp luật phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống bạo lực, pháp luật giao thông, pháp luật về khai thác và sử dụng Internet), quan hệ quốc tế (Các điều ước quốc tế ) Đặc biệt giúp các em nắm được quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quyền tự do dân chủ, tự do cá nhân do Hiến pháp và các đạo luật qui định cũng như cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
Bốn là, giáo dục kỹ năng sống theo những chuẩn mực pháp luật Nội dung
này nhằm hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân học sinh, giúp các em có năng lực để cống hiến và có năng lực để tạo dựng một cuộc sống văn minh và hạnh phúc
Đặc điểm nổi bật về nội dung GDPL cho học sinh THCS là kiến thức pháp luật mang tính đại cương, đơn giản, dễ hiểu và phù hợp nhu cầu của các em ở hiện tại và tương lai Qua nội dung đó công tác GDPL phải thực hiện được nhiệm vụ cung cấp phương pháp tiếp cận nội dung pháp luật cụ thể cho các em khi các em
có nhu cầu đồng thời hình thành ở các em những phẩm chất cơ bản của một công dân mẫu mực Nội dung pháp luật được chuyển tải đến học sinh thông qua giảng dạy chính khóa môn GDCD và qua hoạt động GDPL ngoài giờ lên lớp Ngoài ra, một số nội dung GDPL còn được tích hợp ở môn Địa lý, Lịch sử, Ngữ văn
Phần thứ nhất được quy định ở Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từng thời kỳ của Chính phủ; Đề án "Nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường"; Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm của UBND tỉnh và kế hoạch của các Sở Giáo
Trang 13dục và Đào tạo Nội dung này được xác định gồm quyền và và nghĩa vụ cơ bản của công dân, lý luận cơ bản về pháp luật phục vụ cho việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật Trong những năm trước mắt tập trung GDPL về an toàn giao thông, phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường, qui chế thi cử và các qui định cụ thể liên quan đến cuộc sống và học tập của học sinh THCS Phần nội dung này được qui định theo hướng mở để các trường có thể chủ động thực hiện GDPL theo nhu cầu thực tiễn của học sinh và địa phương
Phần thứ hai được cụ thể hóa trong môn Giáo dục công dân THCS Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân Trung học cơ sở
2.3.Nội dung hoạt động giáo dục pháp luật ngoài giờ lên lớp
Nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp phong phú, bao gồm các nội dung được quy định trong chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thảo luận (5 tiết): - Xây dựng nô ̣i dung giáo du ̣c pháp luật cho ho ̣c sinh trong trường THCS
- Thiết kế chương trình , nô ̣i dung môn Giáo du ̣c công dân theo yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diê ̣n nền giáo du ̣c
- Xây dựng các tình huống giáo du ̣c pháp luật
Trang 14Ch-¬ng 3
HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHÁP LUẬTCHO HỌC
SINH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 3.1 Hình thức giáo dục pháp luậtcho học sinh trong trường Trung học
cơ sở
Quá trình GDPL được thực hiện thông qua các dạng hoạt động cụ thể, đó là các hình thức GDPL Xuất phát từ nguyên lý giáo dục và GDPL, GDPL cho học sinh trong trường THCS được tiến hành chủ yếu bằng hình thức giảng dạy chính khóa môn GDCD và hoạt động GDPL ngoài giờ lên lớp GDCD là môn khoa học
xã hội có vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất tốt đẹp của người công dân trong thời đại mới, trực tiếp hình thành niềm tin, lý tưởng và ý thức và hành vi pháp luật cho các thế hệ công dân Đặc biệt GDCD còn giúp phát triển tâm lực, một thành tố cơ bản và là nội lực của sự phát triển nhân cách học sinh Qua những giá trị này hun đúc lòng yêu quê hương, Tổ quốc, sự tự hào dân tộc đồng thời khẳng định quyền lợi cũng như trách nhiệm của học sinh đối với gia đình và đất nước Bồi đắp lòng nhân ái, tinh thần đấu tranh vì lẽ phải, yêu chuộng hòa bình, chống hành vi bạo lực, làm chủ bản thân và hoàn cảnh cuộc sống Quá trình dạy học môn GDCD được xem là con đường hữu hiệu để thực hiện quá trình GDPL
Trên cơ sở trang bị kiến thức đạo đức, pháp luật hình thành ở người học nhận thức, quan điểm đúng đắn, qua đó nắm được phương thức hành vi đạo đức, pháp luật, nắm được các yêu cầu ứng xử vừa phù hợp với xã hội vừa phù hợp với chuẩn mực pháp luật trong các tình huống khác nhau của đời sống cá nhân và đời sống xã hội Hoạt động GDPL ngoài giờ lên lớp là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học trên lớp, là sự tiếp nối bổ sung hoạt động chính khóa và là con đường gắn lý luận với thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả GDPL
Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ học sinh cập nhật, mở rộng kiến thức pháp luật đồng thời luyện tập, rèn luyện các kỹ năng, tạo cơ hội cho người học giao lưu, hợp tác và phát triển năng lực bản thân Đây chính là môi trường tốt
Trang 15để gieo những hạt giống tâm hồn, nâng cao tinh thần trách nhiệm của học sinh đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, tránh xa và đoạn tuyệt với những tệ nạn xã hội Các hoạt động GDPL ngoài giờ lên lớp bao gồm:
+ Lồng ghép vào hoạt động chào cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp, các hình thức hoạt động tập thể;
+ Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (theo chương trình và chủ đề do
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định);
+ Các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong nhà trường
+ Thảo luận, tọa đàm về các đề tài pháp luật;
+ Sinh hoạt chuyên đề pháp luật;
+ Tổ chức nghe các chuyên gia nói chuyện về pháp luật, xem phim, xem tiểu phẩm, đọc sách báo về pháp luật;
+ Tổng hợp tình hình thực hiện pháp luật ở địa phương;
+ Sân chơi trí tuệ liên quan đến pháp luật;
+ Hoạt động tình nguyện của Đoàn viên học sinh;
+ Tổ chức, tham gia thi tìm hiểu pháp luật;
+ Tổ chức phong trào tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ pháp luật như Luật giao thông, Luật bảo vệ môi trường ;
+ Tuyên truyền, GDPL qua phương tiện thông tin như báo tường, bản tin, đài phát thanh, website của nhà trường
+ Tham quan thực tế, tham dự các phiên tòa
Giáo dục pháp luật ngoài giờ lên lớp là một hoạt động quan trọng, biến những kiến thức pháp luật khô cứng thành những nội dung sinh động, dễ hiểu đồng thời
bổ sung những kiến thức pháp luật mới, cần thiết mà trong chương trình chính khóa chưa đề cập Không những thế tham gia các hoạt động GDPL ngoài giờ lên lớp học sinh còn có cơ hội để làm, để nói, để rèn luyện và khẳng định kỹ năng sống của bản thân với vai trò vừa độc lập vừa hợp tác Tất cả những hình thức GDPL trên được tổ chức hợp lý, kết hợp với nội dung chương trình GDPL chính khóa tác động dần dần lên ý thức học sinh, chuyển hóa tri thức pháp luật đã lĩnh hội thành niềm tin nội tâm và nếp sống theo pháp luật Việc thực hiện các hình thức GDPL không chỉ có sự tham gia của các giáo viên, tổ chức đoàn trong trường
Trang 16mà còn có sự phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Công an, tỉnh Đoàn, cơ quan truyền thông
Như vậy, so với hình thức GDPL nói chung và hình thức GDPL cho các đối tượng cụ thể khác như cán bộ, công chức, phụ nữ, nông dân nói riêng thì hình thức GDPL cho học sinh THCSrất phong phú, sâu sắc, đặc biệt dạy học môn GDCD là hình thức GDPL mang tính đặc thù, chỉ có thể được thực hiện trong các nhà trường
3.2 Phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học cơ sở
Muốn hoạt động giáo dục pháp luật mang lại kết quả cao không chỉ xác định đúng, đủ nội dung giáo dục mà còn có cách thức và biện pháp tác động phù hợp với khả năng tiếp cận của đối tượng
Phương pháp giáo dục là hệ thống những cách thức tác động của nhà giáo dục đến sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Nghiên cứu lý luận giáo dục cho thấy, phương pháp GDPL cho học sinh Trung học cơ sở là cách thức, biện pháp tổ chức quá trình giáo dục nhằm hình thành ở học sinh những phẩm chất trong sáng, có tinh thần thượng tôn pháp luật, có năng lực xử lý hiệu quả các tình huống pháp luật nảy sinh trong cuộc sống
Phương pháp GDPL cho học sinh trong trường THCS không chỉ đa dạng mà còn mang tính sư phạm Xuất phát từ nguyên lý GDPL và đặc điểm học sinh THCS, phương pháp GDPL cho học sinh bao gồm hệ thống phương pháp thuyết phục; hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen; hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi; hệ thống phương pháp dạy học môn GDCD
Thuyết phục là phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của con
người để hình thành cho họ ý thức và thái độ đúng đắn phù hợp với các chuẩn mực
xã hội Đó là dùng các lý lẽ xác đáng, dùng các dẫn chứng sinh động, dùng các tấm gương tiêu biểu trong lịch sử và trong thực tế để phân tích, chứng minh, khuyên giải giúp học sinh nhận thấy, hiểu và tin, từ đó tuân theo những giá trị pháp luật Chức năng của nhóm phương pháp này chủ yếu nhằm hình thành các tri
Trang 17thức đúng đắn về các chuẩn mực pháp luật, hình thành niềm tin, tình cảm cho học sinh và thúc đẩy hành vi đúng đắn Nhóm phương pháp thuyết phục bao gồm phương pháp khuyên giải, phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương Bản chất của công tác GDPL là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các hoạt động thực tiễn cho học sinh Vì thế, phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen là phương pháp GDPL tốt nhất để tập dượt, rèn luyện các hành vi pháp luật trong cuộc sống cho các em Nhóm phương pháp này bao gồm phương pháp luyện tập và phương pháp rèn luyện
Luyện tập là tổ chức cho học sinh thực hiện một cách đều đặn, có kế hoạch,
có hệ thống các hành động nhất định nhằm biến chúng thành thói quen, thành thuộc tính bền vững của nhân cách
Rèn luyện là phương pháp giáo dục trong đó nhà giáo dục đưa học sinh vào
cuộc sống xã hội để tham gia vào các hoạt động khác nhau nhằm thể nghiệm và thể hiện ý thức, thái độ, tình cảm của mình đồng thời xâm nhập vào những tình huống thực tiễn để giải quyết, ứng phó, xây dựng các kỹ năng sống cần thiết cho bản thân
Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi là
nhóm phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của học sinh nhằm tạo ra tâm
lý phấn chấn, tin tưởng, lạc quan cho đối tượng tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục đồng thời giúp những học sinh có khuyết điểm nhận thấy sai sót của mình và tự giác khắc phục, sửa chữa Đây là phương pháp có tác dụng thúc đẩy cá nhân học sinh tích cực tham gia các hoạt động có ích cho tập thể, cho xã hội đồng thời hạn chế những hành vi lệch chuẩn Nhóm phương pháp này bao gồm phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt, phương pháp thi đua
Phương pháp khen thưởng là biểu thị sự đánh giá tích cực, sự hài lòng, sự
ủng hộ của nhà giáo dục, của nhà trường, xã hội đối với những hành vi pháp luật đúng đắn, tốt đẹp của học sinh, của tập thể lớp Khen thưởng là hình thức ghi nhận, tôn vinh những điều tốt mà học sinh đã đạt được Phương pháp trách phạt là phương thức tác động đến nhân cách học sinh bằng cách biểu lộ thái độ không đồng tình hay sự lên án của nhà giáo dục, của lớp và nhà trường đối với những hành vi vi phạm, qua đó tác động đến tình cảm, tâm lý, giúp các em nhận thấy sai
Trang 18lầm, ân hận, xấu hổ và quyết tâm từ bỏ những hành vi không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật
Phương pháp thi đua khích lệ, kích thích khuynh hướng tự khẳng định của
bản thân hay tập thể, tạo điều kiện và cơ hội cho họ cố gắng nhiều hơn, phấn đấu đạt được những thành tích tốt Thi đua được tổ chức thường xuyên, liên tục trong hoạt động hằng ngày và được chú trọng hơn vào các dịp lễ hoặc các sự kiện đặc biệt của nhà trường
Bên cạnh những phương pháp giáo dục trên, GDPL còn được thể hiện qua phương pháp dạy học môn GDCD
Phương pháp dạy học GDCD là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất
của giáo viên và học sinh hướng tới phát hiện những qui luật của quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và phương pháp dạy học cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường THCS Phương pháp dạy học môn GDCD chủ yếu là phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp động não, phương pháp đóng vai, phương pháp dự
án
Như vậy, phương pháp GDPL rất phong phú, mỗi phương pháp đều có chức năng, thế mạnh riêng, phù hợp với từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, tuy nhiên giữa chúng luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Do
đó, khi tiến hành GDPL nhà giáo dục cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp nhằm mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất
Một số định hướng đổi mới phương pháp GDPL như sau:
Một là, đối với phương pháp thuyết phục cần kết hợp phương pháp khuyên
giải, tranh luận với nêu gương Căn cứ vào đối tượng và điều kiện cụ thể mà nhà giáo dục sử dụng các hình thức hợp lý như đối với học sinh, nhóm học sinh biết rõ các qui định pháp luật nhưng vẫn cố tình hành động sai thì khuyên răn, khuyên can các em Trong trường hợp phòng ngừa từ xa những hành vi vi phạm của những cá nhân riêng lẻ hoặc tập thể lớp nhà giáo dục sử dụng hình thức khuyên nhủ Giảng giải là phân tích, lập luận, minh chứng cho học sinh hiểu, hiểu đúng, hiểu đầy đủ những qui phạm pháp luật hay những vấn đề pháp lý nào đó nhằm thúc đẩy hành