Trong đó, đối với những vụ việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên thì được gọi là vụ án dân sự; đối với những vụ việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữacác bên,
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1 Khái niệm Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Theo Điều 9 Bộ luật dân sự (BLDS), tất cả các quyền dân sự của cá nhân, phápnhân và các chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; khi quyền dân sự củamột chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật dân
sự hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của mình; buộcchấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dânsự; buộc bồi thường thiệt hạị
Theo Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, các Toà án là cơ quan xét xử củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc kháctheo quy định của pháp luật để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo
vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Do vậy, khi có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thểkhác theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ Nhận được yêucầu bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể theo quy định của pháp luật Toà án phải xem xétgiải quyết kịp thời để bảo vệ bảo vệ quyền dân sự của họ.Phân loại vụ việc dân sự
Các vụ việc được Toà án giải quyết, phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hônnhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được gọi là vụ việc dân sự Trong
đó, đối với những vụ việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên thì được gọi
là vụ án dân sự; đối với những vụ việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữacác bên, đương sự chỉ yêu cầu Toà án xác định một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phátsinh quyền, nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác hay yêucầu Toà án công nhận cho mình quyền dân sự thì được gọi là việc dân sự
Trang 2Để giải quyết được vụ việc dân sự, Toà án phải triệu tập các đương sự - các bên của vụviệc dân sự đến yêu cầu họ trình bày yêu cầu của mình, cung cấp chứng cứ, tài liệu chứngminh cho yêu cầu đó; triệu tập người làm chứng đến trình bày về những vấn đề của vụviệc mà họ đã chứng kiến sự Ngoài ra, trong một số trường hợp Toà án còn phải triệu tập
cả những người có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn hoặc những người khác đến yêucầu họ cho ý kiến về những vấn đề của vụ việc dân sự Từ đó, việc giải quyết vụ việc dân
sự làm phát sinh các quan hệ khác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Toà án, Viện kiểmsát) với những người tham gia tố tụng; giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau vàgiữa những người tham gia tố tụng với nhau Để bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng vàđúng đắn vụ việc dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Nhà nước phảiđặt ra các quy phạm pháp luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thamgia các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong khoa học pháp
lý, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được gọi là “tố tụng dân sự” và tổng hợp cácquy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự thành mộtngành luật được gọi là luật tố tụng dân sự
Như vậy, luật tố tụng dân sự Việt Nam là ngành luật trong hệ thống pháp luật củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh các quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phátsinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân
sự nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và lợiích của Nhà nước
Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về tố tụng dân sự ý kiến thứ nhất chorằng thi hành án dân sự cũng là một giai đoạn của tố tụng dân sự Ý kiến khác lại chorằng thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp vì thi hành án dân sự là hoạt độngmang tính chất chấp hành nhưng là chấp hành quyết định của Toà án - quyết định của Cơquan tư pháp Tuy nhiên, số đông các luật gia cho rằng thi hành án dân sự là một bộ phậncủa tố tụng dân sự do nó chịu sự chi phối bởi những nguyên tắc tố tụng dân sự
Trang 32 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
2.1 Đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam
Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự Việt Nam là các quan hệgiữa Toà án, Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng và cơ quan thi hành án phátsinh trong tố tụng dân sự
Căn cứ vào mục đích tham gia tố tụng của các chủ thể có thể chia các quan hệthuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự thành các loại:
- Các quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát với đương sự, người đại diện của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
- Các quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát với người làm chứng, người giám định,người phiên dịch;
- Các quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án với nhau
Trong mỗi loại quan hệ, yêu cầu đối với các chủ thể có thể khác nhau Việc xácđịnh, quy định và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể có ý nghĩarất quan trọng, góp phần bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, đúngđắn
2.2 Phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật phụ thuộc rất lớn vào tính chất củacác nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó Xuất phát từ tính chấtcác quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự chủ yếu là các quan hệgiữa Toà án, Viện kiểm sát với những người tham gia tố tụng nên luật tố tụng dân sự điềuchỉnh các quan hệ này bằng hai phương pháp bảo đảm mệnh lệnh – phục tùng và bảo đảmquyền tự định đoạt của đương sự
Trang 4CHƯƠNGII CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ
Chương II, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định 22 điều luật từ điều 3 đến điều 24.Tuy nhiên, đại đa số các điều luật là những nguyên tắc chung của cả hệ thống pháp luậthoặc một số bảo đảm pháp lý chung chứ không phải tất cả đều là những nguyên tắc riêng
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự bắt nguồn từnguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền,lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự Trong tố tụng dân sự, nguyên tắc quyền
tự định đoạt của đương sự thể hiện ở khả năng những người tham gia tố tụng tự do địnhđoạt các quyền dân sự của mình và các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp bị xâm hại Đó cũng là quan niệm chung nhất về nguyên tắc quyền tựđịnh đoạt của đương sự được nhiều luật gia trên thế giới chia sẻ Tuy nhiên, cũng nhưmọi quyền tự do khác, người ta chỉ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và khôngảnh hưởng tới quyền tự do của người khác
Trang 5Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong nhữngnguyên tắc cốt lõi, đặc trưng nhất của Luật tố tụng dân sự và được biểu hiện dưới nhiềunội dung khác nhau:
- Toà án không tự đưa các tranh chấp dân sự ra Toà để giải quyết, việc khởi kiệnhay không khởi kiện là do các bên đương sự tự quyết định Chính các bên đương sự vừa
là người quyết định việc khởi động tiến trình tố tụng bằng cách đưa vụ án dân sự ra Toà,đồng thời cũng là người quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo, như: nguyên đơn có thểrút đơn khởi kiện hoặc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình; bị đơn có thể đưa
ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận mộtphần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, thừa nhận hoặc không phản đối những tìnhtiết, sự kiện mà bên nguyên đơn đưa ra; các bên đương sự có quyền thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật, trái đạo đức
xã hội; tự mình quyết định việc kháng cáo hay không kháng cáo theo thủ tục phúcthẩm…;
- Bộ máy xét xử sẽ chỉ hoạt động khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự
và chỉ trong phạm vi mà các bên đương sự có yêu cầu Toà án thụ lý đơn khởi kiện chỉgiải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện và chỉ trong phạm vi những bị đơn đã đượcnêu trong đơn khởi kiện đó (ngoại lệ là đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tuyệtđối do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Toà án có quyềntuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu màkhông phụ thuộc vào yêu cầu của các bên đương sự);
- Thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ được bắt đầu khi và chỉ khi có đơn kháng cáo củađương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện (hoặc quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát) đốivới bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Nếu ngườikháng cáo rút toàn bộ kháng cáo (hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị) thì Toà áncấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ việc Bị giới hạn bởi nộidung kháng cáo, kháng nghị, đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không
Trang 6có kháng cáo, kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo,kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét, quyết định.
2.2 Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (Điều 6 Bộ luật TTDS)
Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranhchấp quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng
về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: người nào
đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh Quy tắc chung về nghĩa vụcung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự cũng đã được đề cập đến trong các Pháplệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động Bên cạnh đó, xuất phát từnguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án trong suốt quá trình tố tụng dân sự, cácPháp lệnh tố tụng trước đây quy định Toà án phải giữ vai trò tích cực và chủ động trongviệc xác minh, thu thập chứng cứ, theo đó Toà án không chỉ giới hạn ở những tài liệu,chứng cứ đã được đương sự xuất trình mà còn có thể (nếu xét thấy cần thiết) áp dụng cácbiện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để bảo đảm cho việc giải quyết vụ ánđược chính xác Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến tình trạng Toà án lạm dụng quyềnlực, thiên vị cho một bên hoặc “làm thay” cho các bên đương sự khi giải quyết vụ việc vàhậu quả là quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong tốtụng dân sự chỉ còn mang tính hình thức, không còn mấy ý nghĩa trong thực tiễn Để khắcphục một phần những khiếm khuyết trong các Pháp lệnh, đồng thời mở rộng nguyên tắc
tự định đoạt của đương sự cũng như tăng cường yếu tố tranh tụng trong tố tụng dân sự,Điều 6 Bộ luật TTDS quy định nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tốtụng dân sự như sau:
1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứngminh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởikiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụcung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự
Trang 72 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do
Bộ luật này quy định”
Nội dung chủ yếu của nguyên tắc này là:
- Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết mà mình đã việndẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của mình Nghĩa vụ này cũng được ápdụng trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước,lợi ích công cộng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Bên cạnh đó, nguyên tắcchung về nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự cũng có những ngoại lệ Nhữngngoại lệ này có thể được quy định ngay trong Bộ luật TTDS (ví dụ như quy định tại Điều
80 Bộ luật về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh) hoặc có thể do pháp luậtnội dung quy định Ví dụ: theo quy định tại khoản 1 Điều 308 và quy định tại khoản 1,khoản 2 Điều 621 BLDS 2005, trong trường hợp người dưới 15 tuổi, người mất năng lựchành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian học tại trường hoặc trong thờigian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì trường học, bệnh viện, tổ chức khác chỉchịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có lỗi Điều đó cũng có nghĩa, nếu áp dụng mộtcách máy móc quy định tại Điều 6 Bộ luật TTDS thì người có quyền (người bị thiệt hại)phải chứng minh lỗi của trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác trong việc vi phạmnghĩa vụ Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc suy đoán lỗi của người vi phạm nghĩa vụ,nên trong trường hợp này, người có quyền sẽ không phải chứng minh lỗi của trường học,bệnh viện, tổ chức khác, mà ngược lại, việc chứng minh mình không có lỗi sẽ thuộc tráchnhiệm của trường học, bệnh viện, tổ chức khác đó (khoản 3 Điều 621 BLDS 2005);
- Đương sự có nghĩa vụ chứng minh nên khi không đưa ra được chứng cứ hoặckhông đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặcchứng minh không đầy đủ đó (khoản 4 Điều 79 Bộ luật) Hậu quả đó có thể là yêu cầuhoặc phản đối yêu cầu mà đương sự đưa ra sẽ không được Toà án chấp nhận hoặc chỉđược Toà án chấp nhận một phần…;
Trang 8- Vai trò của Toà án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ được đổi mới theohướng Toà án chỉ áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ trong nhữngtrường hợp luật định và việc tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án phảituân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do Bộ luật này quy định (từ Điều 85 đến Điều 94 Bộluật); trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc chưa đủ cơ sở để giải quyết thìThẩm phán không được tự mình xác minh, thu thập mà phải yêu cầu đương sự giao nộp
bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85 Bộ luật)
2.3 Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự (Điều 10 Bộ luật TTDS)
Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết toàn bộ nộidung yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chấm dứt tranh chấp bằng con đường tố tụng Trong
Bộ luật TTDS Việt Nam, hoà giải vừa được quy định với ý nghĩa là quyền tự định đoạtcủa đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản củaLuật tố tụng dân sự Tại Điều 10 Bộ luật TTDS quy định: “Toà án có trách nhiệm tiếnhành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giảiquyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”
Nội dung chủ yếu của nguyên tắc này là:
- Hoà giải là một thủ tục tố tụng được thực hiện đối với một số việc dân sự (chẳnghạn như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn…) và mọi vụ án dân sự, trừ trường hợp vụ
án dân sự Bộ luật quy định không tiến hành hoà giải được (bị đơn đã được Toà án triệutập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hoà giảiđược vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mấtnăng lực hành vi dân sự) và trừ trường hợp vụ án dân sự không được hoà giải (yêu cầuđòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; những vụ án dân sự phát sinh từgiao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội) Là thủ tục tố tụng, hòa giải được tiếnhành ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồngxét xử phúc thẩm bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của các đương sự tạiphiên toà phúc thẩm;
Trang 9- Hoà giải trong tố tụng dân sự Việt Nam là hoà giải trước Toà án, hay còn gọi làhoà giải trong quá trình tố tụng và được thực hiện với sự hiện diện của Thẩm phán hoặcHội đồng xét xử Tuy Toà án không phải là chủ thể của quyền hoà giải, và cũng khôngđại diện cho lợi ích của bất cứ bên đương sự nào, nhưng với tư cách là cơ quan xét xử cótrách nhiệm tiến hành hoà giải, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trìnhhoà giải Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự hoà giải với nhau, giúp chocác bên đương sự hiểu rõ pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đang tranh chấp, giải thíchcho họ về hậu quả pháp lý trong trường hợp hoà giải thành và hoà giải không thành Bêncạnh đó, Toà án có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện quyền tự định đoạt trong việc hoàgiải của các bên đương sự nhằm đảm bảo tiến trình hoà giải diễn ra theo đúng quy địnhcủa pháp luật và có quyền không công nhận kết quả hoà giải, nếu sự thoả thuận đó tráipháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
CHƯƠNG III CHỦ THỂ TỐ TỤNG DÂN SỰ
1 Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự
Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật chỉ gồm Toà ánnhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, vai trò của Viện Kiểm sát nhân dântrong tố tụng dân dự cũng chỉ là phụ Nhiều vụ việc được thụ lý, giải quyết tại Toà ánnhân dân không nhất thiết phải có sự tham gia của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân(Công nhận thuận tình ly hôn…)
1.1 Tòa án nhân dân
Cơ cấu tổ chức hệ thống Toà án nhân dân ở nước ta, Toà án nhân dân được tổ chứctheo 3 cấp:
- Toà án nhân dân Tối cao;
- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Gọi chung là cấp tỉnh);
Trang 10- Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Gọi chung là cấphuyện).
Tuy nhiên, phụ thuộc vào thẩm quyền giải quyết vụ, việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm
đã được quy định tại các Điều 33, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì các cấp xét xửcũng theo cấp Toà án tương ứng
+ Các cấp xét xử trong hệ thống Toà án nhân dân
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì khi vụ việc dân sự thuộc thẩm quyềngiải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện, thì Toà án nhân dân cấptỉnh sẽ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị; còn khi vụviệc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân cấptỉnh, thì Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao sẽ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, nếu
có kháng cáo hoặc kháng nghị
+ Thẩm quyền giám đốc thẩm trong hệ thống Toà án nhân dân
Giám đốc thẩm tuy không phải là một cấp xét xử, nhưng khi bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trongviệc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự
Thẩm quyền giám đốc thẩm được quy định tại Điều 291 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưsau:
1) Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị.2) Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động của Toà án nhân dân Tối cao giám đốc thẩmnhững bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh bị khángnghị
3) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của các Toà phúc thẩm, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà laođộng của Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị
Trang 114) Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự thuộcthẩm quyền của các cấp Toà án khác nhau được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điềunày thì Toà án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Như vậy, khi vụ việc dân sự được giải quyết qua nhiều cấp, nhiều khâu thì xuất hiện rấtnhiều quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Quan hệ giữa các cấp Toà án với nhau thông quathẩm quyền sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm cũng thuộc nhóm các quan hệ pháp luật
tố tụng dân sự phái sinh
+ Thành phần tiến hành giải quyết vụ việc dân sự
Đối với các vụ việc dân sự, thẩm quyền chung là của Toà án nhân dân Tuy nhiên,với mỗi vụ việc cụ thể, Toà án lại giao cho Thẩm phán, Thư ký Toà án trực tiếp phụ tráchtrong giai đoạn chuẩn bị hồ sơ; khi đưa ra xét xử sơ thẩm Hội đồng xét xử được thành lậpvới thành phần một Thẩm phán, hai Hội thẩm nhân dân
Ngoài ra, trong nhiều vụ việc, Viện Kiểm sát nhân dân cũng tham gia vào quátrình giải quyết theo thẩm quyền mà pháp luật có quy định Trong mỗi phiên giải quyết
vụ việc dân sự còn có sự tham gia của một thư ký phiên tòa
Như vậy, tuỳ thuộc vào từng vụ việc mà thành phần tiến hành giải quyết vụ việcdân sự cũng khác nhau và theo đó các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự cũng nhiều, ítkhác nhau
1.2 Viện kiểm sát nhân dân
Cơ cấu tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân:
Trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tham gia theo từng cấp tương ứngvới cấp Toà án, Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta cũng được tổ chức theo 3 cấp:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Trang 12- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Gọi chung là cấptỉnh);
- Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Gọi chung làcấp huyện)
+ Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sựTrong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc giảiquyết các vụ việc dân sự của Toà án nhân dân và thực hiện quyền kháng nghị đối với cácbản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm để Toà án cấp trêntrực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm; kháng nghị đối với các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án để Toà án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giámđốc thẩm, tái thẩm So với quy định trước khi có BLTTDS, vai trò tham gia của Việnkiểm sát nhân dân đã hạn chế rất nhiều Viện kiểm sát nhân dân không khởi tố vụ án dân
sự Viện kiểm sát cũng ít tham gia trực tiếp đối với quá trình giải quyết vụ án dân sự.Điều 21 BLTTDS quy định: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy địnhcủa pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự được kịp thời, đúng pháp luật.Viện kiểm sát nhân dân tham gia đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ màđương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án, các vụ việc dân sự
mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.Thực hiện chức năng, nhiệm vụ này, giữa Viện Kiểm sát và Toà án, giữa Viện Kiểm sát
và đương sự hay những người tham gia tố tụng khác cũng xuất hiện những quan hệ màPháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh
2 Người tiến hành tố tụng
* Chánh án
+ Chánh án Toà án cấp sơ thẩm
Trang 13Trong tố tụng dân sự, Chánh án Toà án cấp sơ thẩm (cấp tỉnh hoặc cấp huyện) cóquyền xem xét vụ việc dân sự có thuộc thẩm quyền của Toà án mình hay không, bao gồm
cả thẩm quyền theo cấp Toà án, theo lãnh thổ hoặc theo vụ việc… Quyết định của Chánh
án Toà án cấp sơ thẩm thụ lý vụ việc dân sự để giải quyết sẽ làm phát sinh các quan hệ tốtụng dân sự theo quy định của pháp luật Quy trình tố tụng dân sự được bắt đầu, theo đó,các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được dần dần xuất hiện
Ngoài tư cách là Chánh án, Chánh án Toà án cấp sơ thẩm với tư cách là Thẩmphán có thể trực tiếp giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm và các quan hệgiữa Toà án với những người tham gia tiến hành tố tụng dân sự khác và những ngườitham gia tố tụng dân sự (các đương sự, người làm chứng…) đều theo quy định của phápluật
+ Chánh án Toà án cấp phúc thẩm
Trong tố tụng dân sự, Chánh án Toà án cấp phúc thẩm (cấp tỉnh hoặc Toà chuyêntrách Toà án nhân dân Tối cao) có quyền xem xét thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm theoquy định tại Điều 257 Bộ luật Tố tụng dân sự và thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm vàphân công một Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà
+ Chánh án Toà án cấp giám đốc thẩm
Theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Chánh án Toà án nhân dânTối cao, có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệulực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phánToà án nhân dân tối cao Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, có quyền kháng nghị theothủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dâncấp huyện
Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh còn có quyền làm chủ toạ phiên toà giám đốcthẩm nếu vụ án được đưa ra xét xử giám đốc thẩm Chánh án Toà án nhân dân tối cao làm
Trang 14chủ toạ phiên toà giám đốc thẩm nếu vụ án được đưa ra xét xử giám đốc thẩm tại Uỷ banThẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán.
Như vậy, các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có vai trò chủ thể của chánh án Toà
án nhân các cấp cũng được quy định rất cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự
* Thẩm phán
Trong tố tụng dân sự, Thẩm phán đóng một vai trò chủ thể không thể thiếu trongquan hệ pháp luật tố tụng dân sự Ngay từ khi vụ, việc dân sự được Toà án thụ lý theođúng thẩm quyền, Thẩm phán được giao chuẩn bị hồ sơ vụ việc dân sự đó đã trở thànhchủ thể bắt buộc của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
Thẩm phán được giao chuẩn bị hồ sơ vụ việc dân sự không nhất thiết phải ngồichủ toạ phiên toà sơ thẩm, do đó Thẩm phán được giao nhiệm vụ chủ toạ phiên toà sơthẩm lại là chủ thể trong quan hệ với các Hội thẩm nhân dân và chủ thể trong các mốiquan hệ pháp luật tố tụng dân sự khác
* Hội thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia Hội đồng xét xử sơ thẩm Khi tham gia Hội đồngxét xử sơ thẩm Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán và như vậy họ cũng làchủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự như Thẩm phán chủ toạ phiên toà
* Thư ký Tòa án
Thư ký Toà án tham gia tố tụng dân sự với tư cách giúp Thẩm phán trong quátrình xây dựng hồ sơ và chuẩn bị xét xử Trong thực tế, vai trò của Thư ký Toà án cũngrất quan trọng trong việc chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi mở phiêntoà
Trong trường hợp hoà giải, nhất là hoà giải thành mà Toà án ra quyết định côngnhận sự thoả thuận giữa các bên đương sự thì Thư ký Toà án làm biên bản hoà giải thành
Trang 15và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nội dung biên bản đó, giúp cho Thẩm phán raquyết định công nhận sự thoả thuận giữa các bên đương sự được đúng pháp luật
Điều 43 BLTTDS quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa án như:
Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên toà; Phổ biếnnội quy phiên toà; Báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tậpđến phiên toà; Ghi biên bản phiên toà; Thực hiện các hoạt động tố tụng khác theo quyđịnh của Bộ luật
Xuất phát từ các nhiệm vụ cụ thể đó, Thư ký Tòa án cũng là chủ thể quan trọngtrong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
3 Người tham gia tố tụng dân sự
Điều 58 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của đương sự.Với các quyền và nghĩa vụ này, đương sự tham gia với tư cách chủ thể các quan hệ phápluật tố tụng dân sự
Thành phần đương sự trong các vụ, việc dân sự có khác nhau và vai trò chủ thểcủa họ cũng khác nhau Ngoài các quyền, nghĩa vụ chung giữa họ, mỗi vị trí còn có cácquyền, nghĩa vụ đặc thù Hãy xem xét từng vị trí cụ thể
Trang 163.1.1 Nguyên đơn
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo
vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyênđơn
Theo quy định tại Điều 59 BLTTDS thì ngoài các quyền, nghĩa vụ của đương sựquy định tại Điều 58 của Bộ luật, nguyên đơn có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
- Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởikiện;
- Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;
- Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án
- Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi
là từ bỏ việc khởi kiện
3.1.2 Bị đơn
Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơquan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ ándân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.Theo quy định tại Điều 60 BLTTDS thì ngoài các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy địnhtại Điều 58 của Bộ luật, bị đơn có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
- Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêucầu của nguyên đơn;
- Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu củanguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu;
Trang 17- Được Toà án thông báo về việc bị khởi kiện.
- Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án giảiquyết vắng mặt bị đơn
3.1.3 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy khôngkhởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và đượcToà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan
Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách
là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Theo quy định tại Điều 61 BLTTDS thì ngoài các quyền, nghĩa vụ của đương sựquy định tại Điều 58 của Bộ luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền,nghĩa vụ sau đây:
- Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc vớibên bị đơn;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có các quyền,nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 59 của Bộ luật này;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơnhoặc chỉ có quyền lợi thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 59của BLTTDS;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặcchỉ có nghĩa vụ thì có các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 60 của BLTTDS
Trang 18Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự, Bộ luật
tố tụng dân sự còn quy định về việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điều 62)
3.2 Người đại diện của đương sự
Trong tố tụng dân sự, người đại diện của đương sự cũng đóng vai trò chủ thể quantrọng trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 73 BLTTDS thìngười đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đạidiện theo uỷ quyền
- Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là người đạidiện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theoquy định của pháp luật
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ
- Người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đạidiện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷquyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.Liên quan đến người đại diện trong tố tung dân sự, Điều 75 BLTTDS quy định nhữngtrường hợp không được làm người đại diện
Trong tố tụng dân sự việc chỉ định người đại diện cũng được quy định nếu cóđương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặcngười đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1Điều 75 của Bộ luật này thì Toà án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tạiToà án (Điều 76)
Việc chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự và hậu quan của nó cũng cần chú ýkhi xem xét quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Người đại diện theo pháp luật, người đạidiện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luậtdân sự
Trang 19Trong trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật mà người được đại diện đãthành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự thì người đó tự mình tham gia tốtụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục do Bộluật này quy định.
Trong trường hợp chấm dứt đại diện theo uỷ quyền thì đương sự hoặc người thừa
kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc uỷ quyền cho người khác đại diện thamgia tố tụng theo thủ tục do Bộ luật này quy định
Quyền, nghĩa vụ của người đại diện cũng được quy định cụ thể tại Điều 74BLTTDS
3.3 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 63 BLTTDS)
1 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ vàđược Toà án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đươngsự
2 Những người sau đây được Toà án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;
b) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết ánnhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lýhành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục và quản chế hành chính; không phải
là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát, Công an
3 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp củanhững người đó không đối lập nhau Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (điều 64)
Trang 203.4 Người làm chứng
Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án có thể được Toà án triệutập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng Người mất năng lực hành vi dân sựkhông thể là người làm chứng
Quyền, nghĩa vụ của người làm chứng được quy định tại Điều 66 BLTTDS
3.5 Người giám định
Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định củapháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định được các bên đương sự thoả thuận lựachọn hoặc được Toà án trưng cầu để giám định đối tượng đó theo yêu cầu của một hoặccác bên đương sự
Quyền, nghĩa vụ của người giám định được quy định tại Điều 68 BLTTDS
3.6 Người phiên dịch
Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt vàngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt.Người phiên dịch được các bên đương sự thoả thuận lựa chọn và được Toà án chấp nhậnhoặc được Toà án yêu cầu để phiên dịch
Trong trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người câm,người điếc biết được dấu hiệu của họ thì người đại diện hoặc người thân thích có thểđược Toà án chấp nhận làm phiên dịch cho người câm, người điếc đó.Việc thay đổi người giám định, người phiên dịch cũng được quy định trong BLTTDS đólà:
1 Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Chánh ánToà án quyết định
2 Tại phiên toà, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Hội đồng xét xửquyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Hội đồng xét xử thảo luận
Trang 21tại phòng nghị án và quyết định theo đa số Trong trường hợp phải thay đổi người giámđịnh, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà Việc trưng cầungười giám định khác hoặc thay người phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tạiĐiều 67 và Điều 69 của Bộ luật này.
CHƯƠNG IV THẨM QUYỀN VỀ DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
1 Khái niệm
Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụhành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do phápluật qui định Có thể hiểu một cách đơn giản: «thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sựcủa Toà án là quyền xem xét thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự bằng một quyết địnhhoặc bản án của Tòa án theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự »
Theo qui định tại Điều 1 của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS), Tòa án cóthẩm quyền giải quyết các vụ án và các việc về dân sự, về hôn nhân và gia đình, về kinhdoanh, thương mại và lao động Xét về bản chất, các quan hệ pháp luật này đều có cùngtính chất là các quan hệ tài sản hay quan hệ nhân thân được hình thành trên cơ sở thỏathuận, bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết và tự định đoạt của các chủ thể Nói cáchkhác đây là những quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
2 Các qui định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự 2.1 Thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc còn được gọi là thẩm quyền chung về dân sự của tòa án.Những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án bao gồm các vụ án dân sự và cácviệc dân sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,thương mại, lao động và các việc khác do pháp luật qui định Theo quy định của
Trang 22BLTTDS các loại việc này được qui định từ Điều 25 đến Điều 32, theo đó có thể phân racác nhóm cụ thể như sau.
2.1.1 Những vụ án dân sự
- Tranh chấp dân sự (điều 25)
- Tranh chấp hôn nhân, gia đình (điều 27)
- Tranh chấp kinh doanh, thương mại (điều 29)
- Tranh chấp lao động (điều 31)
2.1.2 Việc dân sự
Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêucầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinhquyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động củamình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án công nhận cho mìnhquyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Những yêucầu này được tòa án thụ lý và giải quyết nếu chúng thuộc các trường hợp được quy địnhtại các điều 26, 28, 30 và 32 Bộ luật TTDS
2.2 Thẩm quyền theo cấp tòa án
2.2.1 Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện
Qui định tại các Điều 32 Luật Tổ chức toà án, Điều 25, 26, 27, 28, 29 và Điều 33BLTTDS
2.2.2 Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Điều 34 BLTTDS)
2.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền của toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
2.3.1 Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ (Điều 35)
Trang 232.3.2 Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu Điều 36 BLTTDS
2.3.3 Trả lại đơn khởi kiện, chuyển vụ việc cho tòa án có thẩm quyền và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
Trước khi thụ lý vụ án nếu xác định vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết củatòa án mình thì cán bộ tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự Việc trả lại đơn khởikiện có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ đến cơ quanhay tòa án có thẩm quyền giải quyết (điểm e khoản 1 và khoản 2 Điều 168 BLTTDS).Sau khi thụ lý vụ án Tòa án phát hiện không thuộc thẩm quyền giải quyết thì Tòa án đó raquyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý.Quyết định này phải gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan(khoản 1 Điều 37 BLTTDS) Đương sự, các nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyềnkhiếu nại quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyếtđịnh Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án tòa án
đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại Trường hợp đương sự
đã nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự không phải trả lại tiềntạm ứng án phí cho đương sự mà tiền tạm ứng án phí đã nộp được xử lý khi Tòa án cóthẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự
Trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp đơn yêu cầutại nhiều tòa án khác nhau có thẩm quyền thì Tòa án đã thụ lý đầu tiên theo thời gian tiếptục giải quyết vụ việc dân sự Các tòa án khác, nếu chưa thụ ký thì căn cứ vào điểm ekhoản 1 Điều 168 BLTTDS trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; nếu đã thụ lý thì căn cứvào khoản 2 Điều 192 BLTTSD ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, xóa tên
vụ việc dân sự đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng
cứ kèm theo cho đương sự Nếu đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí, thì Tòa án căn cứvào khoản 3 Điều 193 BLTTDS trả lại tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp (Mục 5.2Nghị Quyết số 02/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC, ngày 31/3/2005)
Trang 24Khi có sự tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án thì Chánh án Toà án nhân dân tốicao hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định Toà án có thẩm quyền giảiquyết Cụ thể:
Tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng mộttỉnh, do Chánh án tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết
Tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các tòa án cấp tỉnh do Chánh án tòa
án nhân dân tối cao giải quyết
Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh nhưngkhó xác định được tranh chấp hoặc khó xác định yêu cầu đó thuộc nhiệm vụ, quyền hạncủa Tòa chuyên trách nào thì Chánh án tòa án nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngquyết định phân công cho một Tòa chuyên trách giải quyết theo thủ tục chung Trườnghợp sau khi thụ lý vụ việc dân sự mới phát hiện vụ việc dân sự thuộc nhiệm vụ, quyềnhạn của Tòa chuyên trách khác thì Tòa chuyên trách đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việctheo thủ tục chung nhưng cần ghi số, ký hiệu, trích yếu trong bản án, quyết định theođúng hướng dẫn của Nghị Quyết số 02/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phánTANDTC, ngày 31/3/2005
CHƯƠNG V CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ
1 Chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam 1.1 Khái niệm chứng cứ
Điều 81 đã đưa ra quy phạm định nghĩa khái niệm chứng cứ như sau:
“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, tổ chức
Trang 25khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật nàyquy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự
là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giảiquyết đúng đắn vụ việc dân sự"
Lưu ý, « cái có thật » được hiểu là thật trong tư duy, nhận thức của con người Nókhông phải là thật, hay đúng như những gì mà nó được sinh ra Một khi không thể chứngminh một sự việc là giả, nó phải được coi là « có thật »
(i) Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ phải là bản chính hoặc bảnsao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cungcấp, xác nhận Bản chính có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở để lập ra cácbản sao
Trang 26Ví dụ, A được cấp giấy khai sinh (bản gốc), vì lý do nào đó A làm mất giấy khaisinh này A làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy khai sinh Cơ quan cóthẩm quyền cấp lại giấy khai sinh cho A (bản cấp lần 2) Bản cấp lại này được coi là bảndùng làm cơ sở để lập ra các bản sao.
Như vậy, các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ trước tiên đương sựphải nộp cho Tòa án bản chính (hay còn gọi là bản gốc) các tài liệu đọc được nội dungnhư hợp đồng mua bán, vay tài sản, thuê tài sản, di chúc, hợp đồng tặng cho tài sản…Trong trường hợp không có bản gốc đương sự có thể nộp bản sao các tài liệu đó nhưngbản sao phải có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc bản sao do cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền cung cấp, xác nhận và Tòa án phải đối chiếu bản sao với bản chính trước khinhận
Đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nướcngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp
(ii) Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trìnhkèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tớiviệc thu âm, thu hình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghihình, đĩa ghi hình, phim ảnh…
(iii) Các vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc
(iv) Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng
(v) Kết luận giám định là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theođúng thủ tục quy định tại Pháp lệnh giám định tư pháp và Nghị định số 67/2005/NĐ-CPngày 19/5/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giámđịnh tư pháp và hướng dẫn tại mục 6 phần IV của Nghị quyết này
(vi) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ, nếu việc thẩmđịnh được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định Cụ thể là, đương sự phải cóđơn yêu cầu và trình bày căn cứ đối với yêu cầu của mình để đề nghị Tòa án xem xét
Trang 27thẩm định tại chỗ Tòa án xem xét và ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ Quyếtđịnh này được gửi cho ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượngcần xem xét, được giao hoặc gửi cho đương sự Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ phảiđảm bảo đúng quy định tại khoản 2 Điều 89 BLTTDS;
(vii)Tập quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừanhận
(viii) Kết quả định giá tài sản, nếu việc định giá tài sản được tiến hành theo đúngthủ tục quy định tại Điều 92 của BLTTDS
1.4 Phân loại chứng cứ
1.4.1 Phân loại chứng cứ dựa vào nguồn thu thập chứng cứ
Chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật
1.4.2 Phân loại chứng cứ căn cứ vào hình thức tạo thành chứng cứ
Chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại
1.4.3 Phân loại chứng cứ căn cứ vào mối liên hệ giữa chứng cứ với những sự kiện cầnchứng minh
Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
2 Quá trình chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
2.1 Khái niệm chứng minh
Chứng minh là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc và lý lẽ Dưới góc
độ tố tụng, quá trình chứng minh là một quá trình diễn ra liên tục và xuyên suốt quá trìnhgiải quyết các vụ việc dân sự và được hiểu là :
Trang 28Một quá trình bao gồm hoạt động của Toà án và những người tham gia tố tụngtrong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ nhằm mục đích xác định
sự thực khách quan của vụ án
Chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm nhiều hoạt động tố tụng dân sự khácnhau của các chủ thể tố tụng như cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ
….Những hoạt động này chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Toà án Xét trên
cả phương diện lý luận và thực tiễn thì chứng minh vẫn là biện pháp duy nhất để xác địnhcác sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự Thông qua hoạt động chứng minh là cơ sở đểnhận thức rõ được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự cũng như các căn cứ pháp lý
và thực tiễn liên quan đến vụ, việc dân sự
2.2 Chủ thể chứng minh
Chủ thể chứng minh là những người tham gia vào hoạt động chứng minh Theoquy định tại các Điều 6, 58, 64, 74, 79, 117, 118, 165, 230 v.v của BLTTDS các chủ thểchứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người cóquyền lợi và nghĩa vụ liên quan), người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự và Toà án Về nguyên tắc, các chủ thể chứng minh đều có quyền, nghĩa vụchứng minh Do vị trí tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự khác nhau nênBLTTDS quy định quyền, nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể khác nhau Chủ thểchứng minh có quyền chứng minh, tham gia vào hoạt động chứng minh, tuy nhiên khôngphải tất cả các chủ thể chứng minh đều có nghĩa vụ chứng minh
2.2.1 Đương sự
Điều 6 Bộ luật TTDS quy định:
“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minhcho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự
Trang 292 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luậtnày quy định”.
Từ quy định mang tính cơ sở, nền tảng này cho thấy sự khác biệt cơ bản giữ lýluận chứng cứ trong tố tụng hình sự và lý luận chứng cứ trong tố tụng dân sự Nếu nhưtrong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về các cơ quan tiến hành tốtụng và những người tiến hành tố tụng hình sự Bị can,bị cáo có quyền nhưng không cónghĩa vụ chứng minh là mình vô tội Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trướctiên thuộc về đương sự Mỗi một bên đương sự khi tham gia tố tụng đều cần phải chứngminh tất cả các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà trên cơ sở đó họ đưa ra yêu cầuhay phản đối yêu cầu của người khác
Tại khoản 1, 2 Điều 79 BLTTDS quy định về nghĩa vụ chứng minh như sau:
“1 Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa rachứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp
2 Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối
đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh”
Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mìnhtrong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc xuất phát từ cơ sởquyền tự định đoạt của đương sự Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơnđược quyền khởi kiện là cơ sở để mở ra một quá trình tố tụng tại Tòa án Toàn bộ quátrình tố tụng dân sự kể từ khi Tòa án thụ lý vụ, việc dân sự cho đến khi kết thúc bằng mộtbản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thể hiện quyền tự định đoạt và ýchí của đương sự rất nhiều Khi các bên đương sự có tranh chấp, đương sự là người hiểuhơn ai hết vấn đề của họ, mâu thuẫn của họ Đương sự cũng là người nắm bắt sâu sắcnhất tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ, việc dân sự của mình là gì và đang ở đâu Trongmối tương quan giữa các đương sự thì nguyên đơn phải chứng minh trước sau đó đến bịđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 30Nguyên đơn đưa ra yêu cầu phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý để chứngminh trên cơ sở đó quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn được xác lập Việc chứngminh tính hợp pháp của yêu cầu gắn liền với việc xuất trình chứng cứ cũng như việc chỉ
ra các căn cứ pháp lý (các quy định của pháp luật) mà từ đó là cơ sở để Tòa án chấp nhậnyêu cầu của họ
Bị đơn phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứpháp lý làm cơ sở cho sự phản đối của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quancũng phải chứng minh cho yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của họ.Như vậy, các đương sự được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ đồngthời đây là cơ sở pháp lý để thiết lập quyền bình đẳng về nghĩa vụ chứng minh.Việc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Toà án xem xét giải quyết vụ án làrất cần thiết Tuy vậy, cần có cách hiểu thống nhất và cần có sự phân biệt giữa khái niệmcung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh Khái niệm nghĩa vụ chứng minh mà chúng
ta muốn áp đặt cho các đương sự có phải chỉ bao hàm một ý nghĩa là đương sự phải xuấttrình các chứng cứ khi đưa ra các yêu cầu từ đó “chứng tỏ” cho Toà án thấy rằng yêu cầucủa họ là đúng Ngược lại, nếu họ không chứng tỏ được điều đó thì coi như họ không
“chứng minh” được yêu cầu của mình
Có thể nói, Pháp luật tố tụng dân sự dành cho đương sự quyền lựa chọn phương ánhành động có lợi đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc phản đối yêucầu của người khác hoặc phương án hành động bất lợi cho mình, không cung cấp chứng
cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì họ phải gánh chịu hậu quả tương ứng vớiphương án đương sự tự định đoạt, tự lựa chọn Điều 84 BLTTDS quy định: “Trong quátrình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứcho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả củaviệc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”Như vậy, có thể hiểu giao nộp chứng cứ là một hành vi cụ thể trong việc thực hiện nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp đặc biệt ví dụ liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời
Trang 31tư… mà pháp luật quy định đương sự không có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thì việc họkhông giao nộp không được coi là chứng cứ để xét xử bất lợi cho họ Trách nhiệm khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ chứng minh của chủ thể chứng minh chưađược thể hiện trong luật Điều 79 BLTTDS có quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa rachứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng
cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ đó”Tuy nhiên, hậu quả đó là gì thì Điều luật này lại không quy định
2.2.2 Cơ quan tổ chức xã hội khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Ngoài các đương sự, trong trường hợp cần khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước thì cơquan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền khởi kiện vụ án về Hônnhân gia đình; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án laođộng theo quy định của pháp luật về lao động Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi íchcông cộng, lợi ích của Nhà nước BLTTDS quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởikiện yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụchứng minh (Khoản 3 Điều 79 BLTTDS)
2.2.3 Người đại diện của đương sự
Như đương sự
2.2.4 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Theo Điều 64 Nghĩa vụ chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự được thực hiện thông qua việc xác minh thu thập chứng cứ, chứng minhtính hợp pháp của chứng cứ để bảo vệ các yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của đương sự
là có cơ sở
Trang 322.2.5 Tòa án.
Toà án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự, tuy không có nghĩa vụchứng minh làm rõ tình tiết, sự kiện làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu củađương sự nhưng để giải quyết đúng vụ việc dân sự thì Tòa án vẫn phải xác định xemtrong vụ việc dân sự phải chứng minh làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng
cứ, tài liệu của đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết
vụ việc dân sự chưa? Tuy nhiên, Tòa án không làm thay nghĩa vụ chứng minh của đương
sự Việc các đương sự có quyền cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêucầu của mình phụ thuộc vào ý chí của các bên, Tòa án chỉ xem xét và đưa ra phán quyếtcủa mình trên cơ sở chứng cứ mà các bên đưa ra Vì vậy, khi thấy chứng cứ có trong hồ
sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Tòa án phải yêu cầu đương sự giao nộp
bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85 BLTTDS) Đối với trường hợp đương sự không thể
tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng
cứ (Khoản 2 Điều 85 BLTTDS)
Khi nhận được yêu cầu của đương sự, Tòa án phải yêu cầu đương sự trình bày rõviệc đương sự tự thu thập chứng cứ như thế nào, lý do tại sao không thể tự mình thu thậpchứng cứ và những biện pháp đương sự đã áp dụng mà vẫn không có kết quả trên cơ sở
đó để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự Nếu có cơ sở kết luậnđương sự chưa tự mình chủ động thu thập chứng cứ, chưa áp dụng khả năng mà đương sự
có thể thu thập chứng cứ thì Thẩm phán không chấp nhận yêu cầu của đương sự và thôngbáo cho đương sự biết bằng văn bản
Toà án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi sử dụng(Điều 96, Điều 97 BLTTDS) Mặt khác, Tòa án phải chỉ rõ cơ sở của quyết định giảiquyết vụ việc dân sự Như vậy, theo quy định của BLTTDS thì việc chứng minh của Toà
án chỉ mang tính hỗ trợ cho việc chứng minh của đương sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ
sở quyết định của Tòa án
Trang 33Theo quy định tại Điều 6, Điều 79, Điều 84 và khỏan 1 Điều 85 BLTTDS thìnghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh chủ yếu thuộc trách nhiệm của đương sự Do
đó, đương sự phải thu thập chứng cứ và Tòa án chỉ tiến hành công việc này trong phạm vihạn chế khi có đủ hai điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS
2.3 Đối tượng chứng minh
Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết có ý nghĩa để giải quyết vụ áncần được xác định trong quá trình chứng minh
Việc xác định những tình tiết nào cần phải chứng minh trong vụ án là nhiệm vụcủa Toà án Tuy nhiên, các tình tiết cần được chứng minh trong vụ án thường xuất phát từcác yêu cầu hoặc phản yêu cầu của đương sự Một nguyên tắc mà Bộ luật tố tụng dân sự
đề ra là người đề ra yêu cầu thì có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêucầu đó Trong một yêu cầu có thể có nhiều tình tiết cần phải chứng minh Cũng có trườnghợp muốn làm rõ những tình tiết được đề ra trong yêu cầu (phản yêu cầu) của đương sựthì phải chứng minh những tình tiết khác mà không được đề cập đến trong yêu cầu (phảnyêu cầu)
Nói chung, tất cả các sự kiện trong vụ án thì cần phải chứng minh Tuy vậy, theopháp luật của một số nước và thực tiễn xét xử ở nước ta thừa nhận có những sự kiệnkhông nằm trong đối tượng chứng minh nghĩa là không cần chứng minh mà có thể sửdụng ngay.Việc quy định những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh trong quátrình giải quyết vụ, việc dân sự để tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án, đơn giảnhóa các thủ tục đối với các đương sự cũng như Tòa án trong việc chứng minh các yêu cầucủa đương sự, phù hợp với các quy định khác của pháp luậtTheo quy định tại Điều 80 BLTTDS - Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứngminh:
(i) Đối với những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhậnthì không phải chứng minh Sở dĩ như vậy vì mục đích của chứng minh là để làm rõ tình
Trang 34tiết, sự kiện này không chứng minh thì mọi người cũng đã biết rõ về chúng Tuy nhiên,điều luật đặt ra quy định bắt buộc để xác định là: “phải được Tòa án thừa nhận” với tưcách là chủ thể quyết định việc giải quyết vụ, việc dân sự Tức là, một tình tiết, sự kiệnmọi người đều biết chỉ không phải chứng minh trong trường hợp Tòa án cũng biết rõ vềnó.
Trên thực tế mức độ phổ biến của các tình tiết, sự kiện mọi người đều biết có thểrất khác nhau, có tình tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi rất rộng, nhưng cũng có tình tiết,
sự kiện chỉ phổ biến ở phạm vi hẹp Vấn đề đặt ra là tình tiết, sự kiện phổ biến ở mức độnào thì không phải chứng minh? Thực tiễn xét xử của các toà án cho thấy không thể xácđịnh được chính xác những người biết được tình tiết, sự kiện Vì thế việc đánh giá mức
độ phổ biến của tình tiết, sự kiện mọi người đều biết chỉ mang tính tương đối nênBLTTDS không thể quy định giới hạn tối thiểu về mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiệnkhông cần chứng minh Khi giải quyết các vụ việc dân sự Toà án phải xem xét từngtrường hợp cụ thể và trên cơ sở yêu cầu của việc công khai, minh bạch các hoạt động xét
xử mà quyết định thừa nhận hay không?
(ii) Đối với những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết địnhcủa Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luậtcũng không phải chứng minh Việc thừa nhận sự kiện, tình tiết không cần chứng minhphải là sự kiện trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Điều này có ý nghĩađảm bảo cho công tác xét xử của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đồng thời khắcphục tình trạng có thể xảy ra mâu thuẫn giữa những quyết định của Toà án và các cơquan có thẩm quyền về cùng một vấn đề Như vậy, mặc dù không phải chứng minhnhưng khi sử dụng những sự kiện không cần phải chứng minh, Tòa án phải nêu rõ nguồngốc, xuất xứ của những sự kiện đó… Hơn nữa, việc chứng minh lại một tình tiết, sự kiệncòn có khả năng dẫn đến sự phức tạp trong việc giải quyết vụ việc dân sự, làm trì trệ thủtục tố tụng dân sự, giảm uy tín của Toà án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để giảiquyết nhanh được các vụ việc dân sự, tránh những phức tạp không đáng có, Điều 80BLTTDS quy định khi giải quyết vụ việc dân sự Toà án không cho chứng minh lại những
Trang 35tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
(iii) Đối với những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được côngchứng, chứng thực hợp pháp Điều 80 BLTTDS quy định không phải chứng minh Sở dĩnhư vậy vì những tình tiết, sự kiện này đã được ghi lại dưới một hình thức nhất định vàđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực hợp pháp Mặt khác, phảibảo đảm giá trị các giấy tờ, tài liệu đã được các cơ quan nhà nước công chứng, chứngthực hợp pháp
Ngoài ra, đối với những tình tiết, sự kiện mà đương sự thừa nhận hoặc không phảnđối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phảichứng minh Tương tự như vậy, sự thừa nhận của người đại diện (trong trường hợpđương sự có người đại diện) được coi là sự thừa nhận của đương sự theo quy định tạikhoản 2, 3 Điều 80 BLTTDS
2.4 Quá trình chứng minh trong tố tụng dân sự
Hoạt động chứng minh bao gồm nhiều giai đoạn: Cung cấp chứng cứ, thu thậpchứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ, các giai đoạn này tổng hợp thànhmột thể thống nhất trong hoạt động chứng minh của Tòa án và những người tham gia tốtụng khác Các bước của qúa trình chứng minh có mối quan hệ biện chứng với nhau,bước này là nền tảng của bước kia, bước này là cơ sở cho việc thực hiện bước sau đượcthuận lợi và ngược lại
Quá trình chứng minh trong tố tụng dân sự được chia ra làm các giai đoạn sau:
Trang 36Việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp phápđược hướng dẫn tại tiểu mục 1 phần I của Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày17/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTDS về “Chứng minh vàchứng cứ”.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải có trách nhiệm giải thíchcho đương sự biết, nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà khôngđưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, thì Tòa án tiến hành giải quyết vụ,việc dân sự theo thủ tục chung Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đượctrong hồ sơ vụ, việc dân sự và nếu vụ, việc dân sự được xét xử, giải quyết tại phiên tòa,phiên họp thì Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiêntòa, phiên họp, kết quả việc hỏi tại phiên tòa, phiên họp, xem xét đầy đủ ý kiến của ngườitham gia tố tụng, (Kiểm sát viên trong phiên họp) để quyết định Đương sự phải chịu hậuquả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ.Khi đương sự thực hiện việc giao nộp chứng cứ, Tòa án phải lập biên bản về việc giaonhận chứng cứ, trong đó ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; sốbản, số trang của chứng cứ và thời gian giao nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giaonộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án; biên bản phải lập thành 2 bản, một bảnlưu vào hồ sơ vụ việc dân sự, một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ (khoản 2Điều 84 BLTTDS)
Khi biết chứng cứ đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ quản lý thì căn cứtheo quy định tại Điều 7 BLTTDS, đương sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chứccung cấp chứng cứ Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứ chođương sự, thì phải thông báo bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp đượcchứng cứ cho đương sự biết để họ chứng minh với Tòa án là họ đã thu thập chứng cứnhưng không có kết quả và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Trang 372.4.2 Thu thập chứng cứ
Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS để Tòa án thu thập chứng cứ phải có
2 điều kiện sau:
- Đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ;
- Đương sự có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án có thể xem xét áp dụng được quyđịnh tại Điều 85, khoản 1, BLTTDS: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; trưngcầu giám định; quyết định định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thậpchứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìnđược hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự
2.4.3 Nghiên cứu chứng cứ
Nghiên cứu chứng cứ là việc Toà án trực tiếp thụ cảm xem xét, phân tích, so sánhchứng cứ Tòa án cần phải nghiên cứu chứng cứ một cách toàn diện Ngoài việc nghiêncứu riêng từng chứng cứ, tài liệu thì phải xem xét các chứng cứ trong mối liên quan mậtthiết với nhau, nghiên cứu trên cơ sở so sánh những chứng cứ này với chứng cứ khác Tất
cả các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều phải được nghiên cứu, không bỏ sótmột chứng cứ, tài liệu nào Khi nghiên cứu chứng cứ, phải xem xét tới tất cả các mặt, cácmối liên hệ giữa các chứng cứ, tài liệu Để việc nghiên cứu có hiệu quả làm nền tảng choquá trình đánh giá chứng cứ, khi nghiên cứu chứng cứ cần xem xét cả hình thức và nộidung của các chứng cứ, tài liệu
2.4.4 Đánh giá chứng cứ
Đây là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh Đánh giá chứng cứ là mộtquá trình logíc nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù hợp của các chứng cứ, mốiliên hệ của chứng cứ này với chứng cứ khác
Trang 38Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác Xem xét
về nội dung và hình thức của chứng cứ Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quangiữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ Cơ sở để đánh giáchứng cứ dựa trên các tình tiết sự kiện cần chứng minh, quy định của pháp luật nội dung,các quy định của pháp luật tố tụng và trên cơ sở niềm tin nội tâm để đánh giá chứng cứ.Chứng cứ chỉ được Tòa án sử dụng giải quyết vụ, việc dân sự sau khi đã được đánh giá.Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc,
bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chínhđáng của đương sự thì Tòa án không công bố công khai chứng cứ Người tiến hành tốtụng, người tham gia tố tụng phải giữ bí mật theo quy định của pháp luật những chứng cứthuộc diện không công bố công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụngdân sự
CHƯƠNG VI ÁN PHÍ, LỆ PHÍ TOÀ ÁN
1 Án phí dân sự
1.1 Khái niệm án phí dân sự
Án phí dân sự là số tiền đương sự phải nộp ngân sách nhà nước khi vụ án dân sựđược toà án giải quyết và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật tuỳ theo loại vụ án, trên cơ sởlợi ích, mức độ lỗi của họ trong quan hệ pháp luật mà toà án giải quyết trong vụ án.Việc thu án phí dân sự có ý nghĩa rất lớn, phù hợp với chính sách tài chính của Nhà nước
ta Án phí dân sự là phương thức đền bù một phần chi phí của Nhà nước cho việc toà ántiến hành giải quyết các vụ án dân sự Đồng thời, việc thu án phí dân sự còn có tác dụngbuộc các đương sự thực hiện đúng các quyền tố tụng dân sự của mình, ngăn ngừa việckiện không có căn cứ, không thực hiện hoặc thực hiện đúng các nghĩa vụ tố tụng dân sự
Án phí dân sự gồm án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.