1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng

77 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 655,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và tạo điều kiện để các bên thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp.. Trong quá trình giải quyết vụ

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……….

Trang 4

Lời nói đầu

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Mục tiêu nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Bố cục đề tài 3

Chương 1 Khái quát chung về hòa trong tố tụng dân sự 1.1 Khái niệm hòa giải và hòa giải trong tố tụng dân sự 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải và hòa giải trong tố tụng dân sự 4

1.1.2 So sánh hòa giải với thỏa thuận 6

1.1.3 So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải ở cơ sở và hòa giải tại Ủy ban nhân dân 8

1.2 Nguyên tắc và phạm vi hòa giải trong tố tụng dân sự 13

1.2.1 Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự 13

1.2.2 Những trường hợp không được tiến hành hòa giải 14

1.2.3 Những trường hợp không tiến hành hòa giải được 16

1.3 Lược sử hòa giải trong luật tố tụng dân sự Việt Nam 17

1.3.1 Giai đoạn 1945- 1960 17

1.3.2 Giai đoạn 1960-1989 19

1.3.3 Giai đoạn 1989-2005 20

1.3.4 Giai đoạn 2005 đến nay 22

1.4 Chế định hòa giải trong pháp luật một số nước 23

1.4.1 Chế định hòa giải trong pháp luật Pháp 23

Trang 5

Nam với Pháp 24

1.5 Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự và sự cần thiết của việc nghiên cứu chế định hòa giải 26

1.5.1 Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự 26

1.5.2 Sự cần thiết của việc nghiên cứu chế định hòa giải 27

Chương 2 Pháp luật hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng 2.1 Thủ tục trước phiên hòa giải 29

2.1.1 Thông báo về phiên hòa giải 29

2.1.2 Thành phần phiên hòa giải 35

2.2 Thủ tục tại phiên hòa giải 42

2.2.1 Nội dung phiên hòa giải 42

2.2.2 Biên bản hòa giải 47

2.3 Thủ tục sau phiên hòa giải 51

2.3.1 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự .51

2.3.2 Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự 56

2.4 So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm 60

2.4.1 Tại phiên tòa sơ thẩm 60

2.4.2 Tại phiên tòa phúc thẩm 64

Kết luận 68

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mối quan hệ giữa người với người đã tồn tại và phát triển từ lâu Các mốiquan hệ này là tự nhiên, đa chiều và đa lợi ích Ngày nay, các mối quan hệ dân sự ngày càng phát triển đa dạng và phong phú về cả số lượng và nội dung các quan hệ Các chủ thể trong các mối quan hệ dân sự đó mâu thuẫn về lợi ích là điều không thể tránh khỏi Khi đó, các bên có thể lựa chọn các phương thức khác nhau để giải quyết tranh chấp sao cho có lợi cho mình nhất Tuy nhiên, các bên thường lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp

Tòa án là cơ quan duy nhất được trao quyền xét xử ở Việt Nam Quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án được đảm bảo thi hành bởi quyền lực nhà nước Đó

là lý do mà các bên thường lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án có nhiệm vụ hòa giải để các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Chế định hòa giải là chế định được kế thừa trong pháp luật tố tụng dân sự từ thời kỳ trước Đồng thời, chế định này cũng là được học hỏi từ hệ thống pháp luật phát triển từ lâu đời

Tỷ lệ hòa giải thành tại Tòa án cao hơn so với các hình thức hòa giải khác Hòa giải thành tại Tòa án mang lợi ích cho cả Tòa án và các đương sự trong vụ án Hòa giải thành còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội đất nước Tuy nhiên trong quá trình hòa giải cũng xuất hiện nhiều khó khăn, xuất phát từ phía quy định của luật cũng như chủ quan của từng Tòa án khi áp dụng pháp luật

Để có những nhìn nhận đầy đủ và rõ ràng về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự, và góp phần hoàn thiện chế định trong thực tiễn, người viết chọn đề tài

“Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hòa giải trong tố tụng dân sự đã tồn tại trong hệ thống pháp luật nước ta từ rất sớm Nó được quy định trong những văn bản tố tụng đầu tiên của nước ta Chế định này đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự bởi vì nó góp phần giải quyết tranh chấp nhanh chóng và tiết kiệm Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về chế định này chưa nhiều Các tạp chí chuyên ngành cũng có những bài viết, bài bình luận của các luật sư, chuyên gia luật, Thẩm phán Các bài viết này đã phản ánh được một số điểm hạn chế cơ bản của chế định hòa giải trong tố tụng dân sựcũng có những giải pháp đề xuất để hoàn thiện chế định này Về các đề tài nghiên

Trang 7

cứu của sinh viên Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, từ khóa 30 trở về sau chỉ có một đề tài nghiên cứu về hòa giải tại Tòa án Đề tài này cũng phản ánh được những ưu điểm và nhược điểm điển hình của luật thực định Đồng thời, đề tài này cũng làm rõ quy định về thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Tuy nhiên, về phần thực tiễn áp dụng của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự thì đề tài nghiên cứu nói trên chưa làm rõ, cũng như các giải pháp đề xuất để nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải trong tố tụng dân sự.

áp dụng của chế định này trong thực tiễn Người viết sẽ nghiên cứu nhiều về tình hình áp dụng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự được áp dụng tại tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

4 Mục tiêu nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này người viết mong muốn làm rõ những quy định của pháp luật về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự trong luật thực định Việt Nam Đồng thời, cũng so sánh chế định này với các giai đoạn phát triển trong pháp luật Việt Nam để rút ra những ưu và nhược điểm của pháp luật thực định Người viết cũng tìm hiểu tình hình áp dụng chung của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự

Cụ thể, người viết thực tập thực tế tại Tòa án nhân dân huyện Thới Bình để có những kinh nghiệm thực tế trong việc áp dụng chế định hòa giải Thông qua đó, người viết tìm ra những bất cập trong quá trình áp dụng chế định này Từ đó, người viết tìm ra những biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế này và nâng cao tỷ lệ hòa giải thành

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở những kiến thức đã học trong trường, người viết vận dụng , thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan để chứng minh làm rõ vấn đề Mặt khác, khi thực hiện luận văn này người viết còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:

- Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mac-Lenin;

Trang 8

- Thu thập số liệu và thống kê số liệu;

- Phương pháp phân tích luật viết;

- Phân tích, so sánh, tổng hợp

6 Bố cục đề tài

Đề tài được bố cục thành 2 chương Trong Chương 1, người viết tập trung làm rõ khái niệm hòa giải và hòa giải trong tố tụng dân sự, và so sánh với thỏa thuận và các hình thức hòa giải khác Đồng thời, người viết cũng có tìm hiểu lược

sử phát triển của hòa giải trong tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay, so sánh với chế định hòa giải trong luật của Pháp Thêm vào đó, Chương 1 cũng phân tích về nguyên tắc và phạm vi khi tòa án tiến hành hòa giải Cuối Chương 1 là ý nghĩa của hòa giải và sự cần thiết của việc nghiên cứu chế định hòa giải trong tố tụng dân sự

Tiếp theo, Chương 2 người viết tập trung làm rõ quy định của luật thực định

về chế định hòa giải Qua đó, người viết đưa ra những ưu điểm và nhược điểm của chế định này Đồng thời, Chương 2 cũng tìm hiểu về tình hình áp dụng chế định hòa giải nói chung, cũng như thực tế áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Thới Bình Cuối chương, người viết so sánh giữa hòa giải trong tố tụng dân sự với thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm, và tại phiên tòa phúc thẩm

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến trong đời sống dân

sự Hòa giải cũng được tiến hành trong tố tụng và ngoài tố tụng Dù là hòa giải trong tố tụng hay ngoài tố tụng thì mục đích cũng là giải quyết tranh chấp trong đời sống dân sự Tuy nhiên, các hoạt động hòa giải này cũng có những điểm khác biệt nhất định Trong đó, hòa giải trong tố tụng dân sự là hình thức hòa giải do Tòa ántiến hành và mang lại hiệu quả cao nhất Chế định này đã tồn tại từ rất sớm, ngay từ khi nước ta được độc lập thì việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải đã được quan tâm Nguyên nhân là hòa giải giúp cho việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và tiết kiệm Bên cạnh đó, việc hòa giải thành cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân và góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho đất nước

1.1 Khái niệm hòa giải và hòa giải trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải và hòa giải trong tố tụng dân sự

- Khái niệm và đặc điểm của hòa giải

Hòa giải là phương thức giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba1 Như vậy, hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba, đóng vai trò trung gian để hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp để tìm ra giải pháp nhằm chấm dứt xung đột, bất hòa Từ định nghĩa trên thì hòa giải có một số đặc trưng cơ bản

Trước hết, hòa giải chỉ tiến hành khi có tranh chấp giữa hai bên Nếu không

có tranh chấp thì hầu như hai bên không có mâu thuẫn về lợi ích Trong khi đó, hòa giải là một hình thức để điều hòa lợi ích của các bên trong tranh chấp Do đó, việc tiến hành hòa giải tiến hành mà không có tranh chấp sẽ không có ý nghĩa

Đồng thời, hoạt động giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa giải phải

có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba Bên thứ ba đóng vai trò trung gian hỗ trợ cho các bên Các bên trong tranh chấp thường mong muốn lợi ích của mình được đảm bảo Do đó, các bên ít đạt được tiếng nói chung khi không có sự hỗ trợ của bên thứ

ba Bên thứ ba sẽ phân tích, giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được Bên cạnh đó, bên thứ ba có thể đưa ra giải pháp để thuyết phục các bên

1Hội đồng biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản từ điển

Bách khoa Hà Nội, quyển 2 trang 319

Trang 10

Để hoạt động hòa giải có hiệu quả, bên thứ ba này phải là người không có quyền và lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp.

Cuối cùng, trong hòa giải thì các bên trong chấp có quyền quyết định và tự

do định đoạt để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi các bên lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp thì không ai có quyền can thiệp vào quyết định của các bên Tuy nhiên, nếu cả hai bên trong tranh chấp đều muốn bảo vệ quyền và lợi ích mình tuyệt đối thì không thể giải quyết được tranh chấp Vì vậy, các bên trong tranh chấp phải nhượng bộ nhau một ít để tìm ra giải pháp cân bằng lợi ích giữa các bên Từ đó, tranh chấp được giải quyết nhanh chóng và đạt hiệu quả

- Khái niệm và đặc điểm hòa giải trong tố tụng dân sự

Hòa giải là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng dân sự Cụ thể, nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS) Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

và tạo điều kiện để các bên thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp Nguyên tắc này dựa trên cơ sở quyền tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong luật dân sự và đã được cụ thể hóa trong chương XIII BLTTDS, bao gồm 8 điều luật quy định về trình

tự, thủ tục hòa giải tại Tòa án

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, thì Tòa án phải tiến hành hòa giải để các bên đạt được thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Hòa giải trong tố tụng dân sự

là một trường hợp đặc thù của hòa giải nói chung Do đó, hòa giải trong tố tụng dân

sự cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động hòa giải Tuy nhiên, hoạt động này cũng mang những đặc trưng riêng của hoạt động trong tố tụng dân sự

Một là, hòa giải trong tố tụng dân sự chỉ được tiến hành khi giải quyết vụ án dân sự Pháp luật tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự và việc dân sự Tuy nhiên, khi giải quyết việc dân sự thì Tòa án không tiến hành hòa giải bởi vì trong việc dân sự thì không có yếu tố tranh chấp Việc dân sự chỉ là yêu cầu của bên đưa ra yêu cầu về việc Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý đã phát sinh Đối với vụ án dân sự, các đương sự tranh chấp với nhau

về quyền và lợi ích hợp pháp Do đó, hòa giải được tiến hành nhằm tìm ra giải phápgiải quyết tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung

Hai là, bên thứ ba đóng vai trò trung gian hòa giải là Tòa án Tòa án có nhiệm vụ tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về giải pháp giải quyết tranh chấp Đồng thời, Tòa án cũng có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ các bên tìm ra giải pháp có lợi nhất cho các bên Tòa án là cơ quan được trao quyền xét xử Tuy nhiên, khi tiến hành hòa giải vụ án dân sự thì Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian Do đó,

Trang 11

Tòa án không được dùng mệnh lệnh ép buộc các bên chấp nhận giải pháp mà Tòa

án đưa ra để giải quyết vụ án Sự lựa chọn cách thức chấm dứt tranh chấp là quyền của đương sự Khi các đương sự đã lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải tôn trọng nếu thỏa thuận các bên lựa chọn không vi phạm điều cấm củapháp luật và trái đạo đức xã hội

Cuối cùng, khi Tòa án tiến hành hòa giải thành thì sẽ có tính ràng buộc cao hơn đối với các bên Sau bảy ngày kể từ ngày hòa giải thành thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự Trong thời hạn bảy ngày này mà các bên không thay đổi ý kiến thì kết quả hòa giải thành sẽ ràng buộc các bên Nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành thì bên có quyền có thể yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành

Tóm lại, hòa giải trong tố tụng dân sự là hoạt động hòa giải vụ án dân sự được tiến hành bởi Tòa án, nhằm giúp các đương sự tìm ra giải pháp giải quyết tranh chấp có lợi cho các bên

1.1.2 So sánh hòa giải với thỏa thuận

* Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận

Thỏa thuận là một phương pháp giải quyết tranh chấp mà các bên trong tranh chấp cùng bàn bạc, thống nhất ý chí và đi đến một biện pháp giải quyết tranh chấp

có lợi nhất cho các bên Trong quan hệ pháp luật dân sự, nguyên tắc tự do thỏa thuận luôn được tôn trọng Do đó, khi quan hệ dân sự xảy ra tranh chấp thì các bên

có quyền tự do thỏa thuận để giải quyết tranh chấp.Đây là hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến mà các bên trong tranh chấp thường lựa chọn trước khi áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác

- Thỏa thuận mang một số đặc điểm cơ bản sau:

Trước hết, thỏa thuận là phương pháp giải quyết tranh chấp chỉ có các bên trong tranh chấp Do đó, các bên chủ động hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp Các bên có thể dễ dàng thương lượng được thời gian và địa điểm giải quyết tranh chấp Bên cạnh đó, thỏa thuận chỉ có các bên trong tranh chấp nên các bên thoải mái trao đổi ý kiến, quan điểm của mình mà vẫn đảm bảo được tính bí mật trong tranh chấp Đặc biệt, đối với các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thì việc giữ bí mật trong tranh chấp là cần thiết, nếu không nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của các bên trong tranh chấp

Đồng thời, các bên trong tranh chấp cũng có quyền quyết định và quyền tự định đoạt khi tiến hành thỏa thuận Đây là quyền cơ bản của các bên trong quan hệ

Trang 12

pháp luật dân sự Không bên nào được lừa dối, ép buộc bên kia chấp nhận giải pháp mình đưa ra

Cuối cùng, thỏa thuận được tiến hành ngoài tố tụng và trong tố tụng Thỏa thuận tiến hành ngoài tố tụng là giai đoạn giải quyết tranh chấp khi các bên chưa khởi kiện vụ án tại Tòa án Khi đó, các bên tự nguyện thỏa thuận để giải quyết tranh chấp Thỏa thuận trong tố tụng là các bên tiến hành thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm Nhìn chung, thỏa thuận đạt được trong tố tụng sẽ có giá trị pháp lý cao hơn do nó được đảm bảo thi hành bởi cơ quan thi hành án

* So sánh thỏa thuận với hòa giải

- Thỏa thuận và hòa giải đều là một trong những phương pháp giải quyết tranh chấp trong đời sống dân sự Do đó, cả hai phương pháp này đều có những đặc điểm chung

Trước hết, khi hòa giải và thỏa thuận thì các bên trong tranh chấp đều có quyền quyết định và tự định đoạt Đây là quyền cơ bản của các bên trong quan hệ dân sự Do đó, khi giải quyết tranh chấp thì các bên cũng có quyền tư do thỏa thuận

để giải quyết tranh chấp Vì vậy, các bên trong tranh chấp phải nhượng bộ và cân bằng lợi ích giữa các bên thì việc giải quyết tranh chấp mới mang lại hiệu quả cho các bên

Đồng thời, cả hai hoạt động giải quyết tranh chấp này đều được tiến hành trong tố tụng và ngoài tố tụng Thỏa thuận và hòa giải ngoài tố tụng chủ yếu phụ thuộc vào sự chủ động và thiện chí của các bên để tiến hành giải quyết tranh chấp cũng như thi hành các biện pháp đã đạt được Đối với thỏa thuận và hòa giải trong

tố tụng, pháp luật quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục tiến hành cũng như các biện pháp thi hành các thỏa thuận đã đạt được Như vậy, hoạt động giải quyết tranh chấp bằng thỏa thuận và hòa giải trong tố tụng có giá trị pháp lý cao hơn hoạt động thỏa thuận và hòa giải ngoài tố tụng

- Thỏa thuận và hòa giải là hai phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau nên nó cũng có những khác biệt nhất định Điểm khác biệt nổi bật nhất của hai hình thức giải quyết tranh chấp này là số chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp Đối với thỏa thuận, khi giải quyết tranh chấp thì chỉ có các bên tham gia vào quá trình thương lượng, đàm phán để tìm ra biện pháp chấm dứt mâu thuẫn Trong khi đó, khi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, ngoài các bên là chủ thể chính trong tranh chấp thì còn có sự tham gia của chủ thể thứ ba đóng vai trò trung gian Sự tham gia của chủ thể này vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm của hòa giải Do đó,

Trang 13

phụ thuộc vào loại tranh chấp, cũng như mối quan hệ giữa các bên mà các bên chọn giải pháp phù hợp để giải quyết tranh chấp của mình nhanh chóng, hiệu quả và có lợi nhất cho các bên

1.1.3 So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải ở cơ sở và hòa giải tại

Ủy ban nhân dân (UBND)

* So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải cơ sở

- Khái quát chung về hòa giải cơ sở:

Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư2

Hòa giải cơ sở được tiến hành theo 4 nguyên tắc được ghi nhận trong Pháp lệnh 09/1998/PL-UBTVQH10 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở

Một là, hòa giải cơ sở phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục tập quán của nhân dân Người dân có thể làm những điều mà pháp luật không cấm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện trong khuôn khổ của đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Bên cạnh đó, việc tiến hành hòa giải ở cơ sở không được trái với phong tục tập quán, đạo đức xã hội Đây cũng chính là nguyên tắc xuyên suốt trong pháp luật dân

sự nói chung Do đó, khi giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ dân sự thì nguyên tắc này cũng phải được tôn trọng

Hai là, hòa giải cơ sở phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp tiến hành hòa giải Hòa giải cơ sở không phải là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn Do đó, các bên trong tranh chấp có quyền lựa chọn có tiến hành hòa giải ở cơ sở hay không Khi đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cơ sở, các bên vẫn có quyền lựa chọn giải pháp có lợi nhất Tổ hòa giải hoặc hòa giải viên không được ép buộc các bên lựa chọn bất kỳ giải pháp nào

Ba là, hòa giải phải được tiến hành khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của công cộng Bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ Do đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp thì quyền

2 Điều 1 Pháp lệnh 09/1998/ PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 12 năm 1998 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở

cơ sở

Trang 14

này của cá nhân cũng phải được tôn trọng Kết quả hòa giải cơ sở là sự thỏa thuận giữa các bên tranh chấp, không phải là bản án, quyết định của Tòa án hay cơ quan nhà nước khác Vì vậy, sự thỏa thuận này không được ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, cũng như lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước

Cuối cùng, cơ quan có trách nhiệm tiến hành hòa giải phải kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác

có thể xảy ra và đạt được kết quả hòa giải Nguyên tắc này góp phần hạn chế những hậu quả xấu cho tình làng nghĩa xóm Mối quan hệ giữa các bên trong tranh chấp cũng giảm bớt căng thẳng

Hòa giải cơ sở luôn được khuyến khích để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn

ở thôn, làng, ấp, xóm Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định những trường hợp không được tiến hành hòa giải ở cơ sở vì tính chất quan trọng của tranh chấp, mâu thuẫn Theo đó, Pháp lệnh quy định ba trường hợp mà tổ hòa giải ở cơ sở không được tiến hành hòa giải:

Trước hết, tổ hòa giải không được tiến hành hòa giải đối với tội phạm hình

sự Chỉ có Tòa án có thẩm quyền ra đưa ra hình phạt đối với tội phạm Tuy nhiên, đối với các vi phạm pháp luật hình sự thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà người này không yêu cầu hoặc đã rút yêu khởi tố,và cũng không bị xử

lý vi phạm hành chính thì có thể tiến hành hòa giải ở cơ sở Chẳng hạn, các hành vi

cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…mà thiệt hại xảy ra chưa lớn thì có thể hòa giải ở cơ sở

Đồng thời, trường hợp hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính cũng không được tiến hành hòa giải ở cơ sở Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc về các cơ quan hành chính và cán bộ hành chính có thẩm quyền Tổ hòa giải hoặc hòa giải viên chỉ là tổ chức xã hội ở địa phương không có thẩm quyền, cũng như không được giao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Do đó, tổ hòa giải hoặc hòa giải viên không được tiến hành hòa giải đối với các loại vi phạm pháp luật này

Trường hợp cuối cùng không được tiến hành hòa giải cơ sở là các vi phạm pháp luật và các tranh chấp mà theo quy định của pháp luật thì không được tiến hành hòa giải Theo hướng dẫn của văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh 09/1998,

có bốn trường hợp mà theo quy định của pháp luật không được tiến hành hòa giải ở

cơ sở, bao gồm kết hôn trái pháp luật, gây thiệt hại đến tài sản nhà nước, tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật, tranh chấp về lao động

Trang 15

- So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải cơ sở

Hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải cơ sở đều là trường hợp cụ thể của hòa giải nói chung Do đó, cả hai trường hợp này đều mang những đặc điểm chung của hòa giải nói chung Trước hết, hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải cơ sở đều là hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự Tức là các bên trong quan hệ pháp luật nội dung đã có mâu thuẫn về lợi ích Mối quan hệ giữa

họ cần có một biện pháp để điều hòa lợi ích giữa các bên Đồng thời, cả hai hình thức hòa giải này đều có sự tham gia của chủ thể thứ ba Chủ thể này đóng vai trò trung gian, giúp đỡ các bên giải quyết tranh chấp Cuối cùng, các bên tranh chấp có quyền quyết định và tự định đoạt khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng hòa giải Tuy nhiên, các bên trong tranh chấp phải biết cân bằng lợi ích của nhau thì hoạt động giải quyết tranh chấp này mới mang lại hiệu quả

Dù vậy, hai hình thức này cũng có những điểm khác biệt nhất định Nguyên nhân là do hai hình thức này được tiến hành ở hai giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp Các điểm khác biệt bao gồm:

Trước hết, hòa giải cơ sở không phải là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong đời sống dân sự Nó là thủ tục hòa giải ngoài tố tụng Việc có lựa chọn tiến hành hòa giải ở cơ sở hay không là quyền của các bên trong tranh chấp Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện tại, hòa giải cơ sở không phải là thủ tục bắt buộc để Tòa án tiến hành thụ lý hay không thụ

lý đơn khởi kiện của đương sự Trong khi đó, hòa giải trong tố tụng dân sự là một thủ tục bắt buộc được tiến hành tại Tòa án Theo đó, Tòa án phải tiến hành hòa giải tất cả vụ án dân sự mà mình đã thụ lý giải quyết, trừ các trường hợp không được tiến hành hòa giải và không tiến hành hòa giải được Nếu Tòa án không tiến hành hòa giải thì xem như vi phạm thủ tục nghiêm trọng Đây là một trong những căn cứ

để Tòa án cấp trên hủy án

Đồng thời, hai hình thức hòa giải này còn khác nhau ở phạm vi hòa giải Hòa giải trong tố tụng dân sự có phạm vi rộng hơn hòa giải ở cơ sở Hòa giải trong tố tụng dân sự tiến hành đối với tất cả các loại tranh chấp đã khởi kiện tại Tòa án, bao gồm các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Tuy nhiên, hòa giải ở cơ sở thường tiến hành đối với các tranh chấp nhỏ về dân sự và hôn nhân, gia đình

Cuối cùng, hiệu lực của kết quả hòa giải thành đối với hai hình thức này cũng khác nhau Đối với hòa giải ở cơ sở, việc thi hành thỏa thuận giữa các bên được thực hiện trên cơ sở tự nguyện giữa các bên là chính Tổ viên Tổ hòa giải

Trang 16

động viên, thuyết phục các bên thực hiện thỏa thuận3 Trong trường hợp một bên muốn kéo dài việc giải quyết tranh chấp thì xem như mục đích của hòa giải ở cơ sở không đạt được Ngược lại, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên hòa giải được đảm bảo thi hành bởi cơ quan thi hành án Nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành quyết định, bên có quyền có thể yêu cầu cơ quan thi hành

án cưỡng chế thi hành Không phải mọi quyết định của Tòa án đều được thi hành Tuy nhiên, nhìn chung việc thi hành quyết định của Tòa án có tính khả thi cao hơn

vì pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự trong luật thi hành án dân sự

* So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải tại Ủy ban nhân dân

- Khái quát chung về hòa giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND)

UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.4 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức năng của mình thì UBND cũng tiến hành hòa giải đối với một

số tranh chấp nhất định Việc thực hiện chức năng này của UBND chưa được thống nhất và quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Các quy định điều chỉnh chức năng hòa giải ở UBND nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật, mà chủ yếu là Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này

Theo đó, khi giải quyết các tranh chấp đất đai thì hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp là thủ tục bắt buộc (Điều 135 Luật đất đai 2003) Đây là thủ tục phải được tiến hành trước khi các bên yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc UBND có thẩm quyền giải quyết Thời hạn để UBND tiến hành hòa giải là 30 kể từ ngày nhận được đơn Việc hòa giải thành ở UBND góp phần giảm bớt gánh nặng cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai Kết quả hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, chủ sử dụng đất thì UBND cấp xã gởi biên bản hòa giải thành đến Phòng tài nguyên và môi trường hoặc Sở tài nguyên và môi trường để giải quyết theo quy định của pháp luật Tức là làm cho thỏa thuận giữa các bên khi tiến hành hòa giải có hiệu lực pháp luật Như vậy, kết quả hòa giải ở UBND cũng

có cơ chế để thi hành cho dù nó chưa được đầy đủ và cụ thể

Trang 17

- So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải ở UBND

Hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải ở UBND là các trường hợp cụ thể của hòa giải nói chung Do đó, hai hình thức này có mang những nét tương đồng nhất định Đầu tiên, cả hai hình thức giải quyết tranh chấp này đều mang những đặc trưng cơ bản của hòa giải Đồng thời, điểm tương đồng của hai hình thức hòa giải này là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau Đối với tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp muốn khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu UBND cấp có thẩm quyền giải quyết thì trước tiên các bên phải thông qua hòa giải ở UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp Nếu các bên không thông qua giai đoạn này thì Tòa án và UBND cấp có thẩm quyền sẽ không thụ lý giải quyết tranh chấp

Tuy nhiên, hai hình thức này cũng có những điểm khác biệt do đây là hai trường hợp khác nhau của hòa giải Cụ thể:

Trước hết, chủ thể đóng vai trò trung gian hòa giải trong hai hình thức này là khác nhau Tòa án đóng vai trò trung gian trong hoạt động hòa giải trong tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý Hòa giải ở UBND thì chủ thể đóng vai trò trung gian là UBND cấp xã khi giải quyết tranh chấp đất đai Do chủ thể tiến hành hòa giải là khác nhau nên trình tự, thủ tục trong quá trình hòa giải cũng khác nhau Theo đó, pháp luật quy định về trình tự, thủ tục khi tiến hành hòa giải trong tố tụng dân sự rõ ràng và cụ thể Trong khi đó, trình tự, thủ tục hòa giải tại UBND không được quy định chặt chẽ, chỉ được quy định tại Điều 135 Luật đất đai 2003 và Điều 159 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai

Đồng thời, hai hình thức hòa giải này còn khác nhau ở phạm vi hòa giải Hòa giải trong tố tụng dân sự áp dụng đối tất cả các loại tranh chấp đã được thụ lý tại Tòa án Trong khi đó, hòa giải ở UBND chỉ bắt buộc khi giải quyết tranh chấp đất đai Đối với các loại tranh chấp khác thì các bên cũng có thể yêu cầu UBND cấp xã hòa giải nhưng đó không phải là thủ tục bắt buộc

Cuối cùng, hiệu lực pháp luật của kết quả hòa giải thành của hai hình thức này cũng khác nhau Đối với hòa giải trong tố tụng dân sự, trình tự thủ tục thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận được quy định đầy đủ và cụ thể trong luật thi hành án dân sự Ngược lại, kết quả hòa giải thành ở UBND chưa được quy định rõ ràng về cách thức thi hành Luật đất đai chỉ quy định cách thức thi hành đối với kết quả hòa giải thành làm thay đổi ranh giới đất và chủ sử dụng đất, các vấn đề còn lại

Trang 18

chưa được quy định cụ thể Do đó, việc thi hành kết quả hòa giải thành phụ thuộc vào ý chí của các bên

1.2 Nguyên tắc và phạm vi hòa giải trong tố tụng dân sự

1.2.1 Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự

Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án (trừ trường hợp không được tiến hành hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được) Hòa giải thành ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các đương

sự Do đó, việc tiến thành hòa giải phải tiến hành theo những nguyên tắc nhất định

và đúng pháp luật Hòa giải không thể được tiến hành một cách tùy tiện Điều 180 BLTTDS 2004 quy định về các nguyên tắc hòa giải Các nguyên tắc đó bao gồm:

Trước tiên, hòa giải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình Nguyên tắc này dựa trên quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự trong pháp luật tố tụng dân

sự nói chung Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự có quyền thỏa thuậnvới nhau về phương án giải quyết tranh chấp Đồng thời, nguyên tắc tự do thỏa thuận cũng là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ pháp luật nội dung Trong quan hệ pháp luật dân sự, tự do thỏa thuận luôn được tôn trọng Thỏa thuận giữa các bên chỉ

có hiệu lực pháp luật khi nó dựa trên nguyên tắc tự nguyện Với vai trò trung gian hòa giải, Tòa án có thể giải thích về các quy định pháp luật có liên quan, về tình và

lý trong vụ án Tòa án cũng có thể đưa ra những biện pháp hợp lý, hợp tình và có lợi cho các bên để các bên lựa chọn Tuy nhiên, việc chấp nhận hay không chấp nhận

là quyền của các đương sự Trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án như thế nào là việc Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật Theo đó, bản án có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thi hành Ngược lại, trong quá trình hòa giải thì Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian Tòa án không được dùng mệnh lệnh hoặc các biện pháp khác buộc các bên phải chấp nhận phương án do Tòa án đề nghị

Tiếp theo, các đương sự có quyền tự do thỏa thuận nhưng nội dung các thỏa thuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong các quan hệ pháp luật dân sự Nội dung của tranh chấp là các quan hệ pháp luật dân sự Do đó, nguyên tắc này cũng cần phải được tôn trọng Các bên có thể thỏa thuận các biện pháp có lợi cho mình nhưng biện pháp đó không được trái với quy định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên, nếu các đương sự bắt buộc phải thỏa thuận đúng với quy định pháp luật thì ở đây quyền thỏa thuận của các đương sự không được đảm bảo Khi đó, kết quả thỏa thuận của các đương sự không được trái

Trang 19

với quy định pháp luật thì việc cho phép các bên thỏa thuận tại phiên hòa giải xem như không có ý nghĩa Do đó, Điều 180 quy định nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật là chưa phù hợp và dễ dẫn đến cách hiểu sai Như vậy, cụm từ “…không được trái pháp luật…” ở điểm b khoản 2 Điều 180 BLTTDS cần được thay thế bằng cụm từ “ không được vi phạm điều cấm của pháp luật…” Trong đó, điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép các chủ thể thực hiện những hành vi nhất định5 Bên cạnh đó, thỏa thuận của các đương sự cũng không được trái đạo đức xã hội Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng tôn trọng và thừa nhận6 Trong các quan hệ pháp luật dân sự, các bên phải tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Do đó, khi các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp thì nguyên tắc này cũng cần phải được tôn trọng Dù vậy, những chuẩn mực được gọi là đạo đức xã hội cũng thay đổi trong các giai đoạn lịch sử và không được quy định cụ thể như các quy phạm pháp luật Do đó, đạo đức

xã hội rất khó xác định và cũng gây khó khăn cho những người áp dụng pháp luật

Hai nguyên tắc trên là hai nguyên tắc cơ bản mà Tòa án, cũng như các đương

sự phải tôn trọng khi tiến hành hòa giải tại Tòa án Bên cạnh đó, Tòa án cũng như các đương sự phải chủ động, tích cực để hoạt động hòa giải trong tố tụng đạt hiệu quả cao, giải quyết vụ án nhanh chóng

1.2.2 Những trường hợp không được tiến hành hòa giải

Hòa giải là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ

án dân sự Tuy nhiên, cũng có trường hợp mà Tòa án không được tiến hành hòa giải Nếu hòa giải những vụ án này thì kết quả hòa giải có thể sẽ trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cụ thể, BLTTDS 2004 quy định các trường hợp không được tiến hành hòa giải ở Điều 181 Theo đó, có hai trường hợp mà Tòa án không tiến hành hòa giải khi thụ lý giải quyết vụ án

Trường hợp đầu tiên không được tiến hành hòa giải là yêu cầu đòi bồi thường đến tài sản của Nhà nước Tài sản của Nhà nước được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước.7Theo đó, tài sản của Nhà nước bao gồm đất đai, rừng

tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình

5 Điều 128 Bộ luật dân sự 2005

6 Điều 128 Bộ luật dân sự 2005

7

Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS.

Trang 20

thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản do pháp luật quy định Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với loại tài sản này

Thiệt hại đến tài sản của Nhà nước được hiểu là các trường hợp tài sản Nhà nước bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạmnghĩa vụ dân sự hay do các hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản nhà nước Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của Nhà nước là quan hệ pháp luật phát sinh giữa hai chủ thể là bên gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước và bên được nhà nước giao sử dụng tài sản và có yêu cầu bồi thường Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước đều không được tiến hành hòa giải Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai của BLTTDS (Nghị quyết 02/2006), khi thụ lý giải quyết các vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản nhà nước thì Tòa án cần phân biệt hai trường hợp:

Một là, trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền Trong trường hợp này thì các đơn vị được nhà nước giao tài sản không được quyền tự chủ, và định đoạt tài sản

Do đó, các đơn vị này không có được quyền chủ sở hữu đối với tài sản được giao Nếu Tòa án tiến hành hòa giải các vụ án này và các bên có quyền thỏa thuận với nhau thì có thể gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước Vì vậy, để tránh tiêu cực trong quá trình thỏa thuận giữa các bên, pháp luật tố tụng dân sự không cho phép các bên thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ án Tuy nhiên, việc không cho phép hòa giải không loại trừ các biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại hoặc sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bên gây ra thiệt hại Đây là các yếu tố mà Tòa án cân nhắc việc ra bản án của mình tại phiên tòa

Hai là, trường hợp tài sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Đây là trường hợp Tòa án vẫn tiến hành hòa giải trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Trong trường hợp này, khi giao tài sản cho các doanh nghiệp, Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp có quyền chủ sở hữu đối với tài sản đó Do đó, các doanh nghiệp này có quyền thỏa thuận với bên gây ra thiệt hại các phương án giải quyết tranh chấp

Trang 21

Trường hợp thụ lý giải quyết những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, Tòa án cũng không được tiến hành hòa giải đối với trường hợp này Đối với những vụ án loại này, Tòa án thường giải quyết theo hướng vô hiệu các giao dịch Khi đó, quyền và nghĩa vụ các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận Khi tiến hành hòa giải nếu các bên thỏa thuận theo hướng tiếp tục thực hiện giao dịch thì sẽ trái với nguyên tắc khi tiến hành hòa giải Tuy nhiên, khi các bên có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, Tòa án vẫn tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp

BLTTDS 2004 chỉ ghi nhận hai trường hợp Tòa án không được tiến hành hòa giải Trong khi đó, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 còn ghi nhận thêm hai trường hợp mà Tòa án không được tiến hành hòa giải Đó là trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật và các yêu cầu dân sự khác liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân Trong Pháp lệnh 1989 không phân biệt khái niệm vụ án dân

sự và việc dân sự Tuy nhiên, theo Điều 28 BLTTDS 2004 thì yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật là một yêu cầu về hôn nhân và gia đình Các yêu cầu dân sự thì Tòa án không tiến hành hòa giải bởi vì yêu cầu dân sự chỉ là việc yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, không có tranh chấp Do đó, BLTTDS không liệt kê hai trường hợp này vào các trường hợp không được tiến hành hòa giải

là hợp lý

1.2.3 Những trường hợp không tiến hành hòa giải được

Những trường hợp không tiến hành hòa giải được là các trường hợp theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau

về việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau mà việc hòa giải không thể diễn ra Đó là những trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 182 BLTTDS 2004 Theo đó, có 3 trường hợp không tiến hành hòa giải được, bao gồm:

Trường hợp đầu tiên là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt Bị đơn là người bị cho rằng đã xâm phạm hoặc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ với nguyên đơn Do đó, khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bị đơn vẫn cố tình vắng mặt thì bị đơn được xem như là không muốn thỏa thuận với nguyên đơn để giải quyết vụ án Quy định này hạn chế sự trốn tránh, kéo dài thời gian để gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của bị đơn Trong trường hợp này bị đơn tất nhiên phải được triệu tập đúng theo quy định của pháp luật.8Nếu

bị đơn vắng mặt lần thứ hai mà có lý do chính đáng thì không thuộc trường hợp

8 Như thế nào là triệu tập đúng quy định pháp luật sẽ được trình bày ở phần 2.1.1

Trang 22

không tiến hành hòa giải được Khi đó, Tòa án sẽ hoãn phiên hòa giải Tuy nhiên, bị đơn sẽ có nghĩa vụ chứng minh lý do chính đáng của mình

Đối với nguyên đơn, khi Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì nguyên đơn xem như từ bỏ quyền khởi kiện của mình Khi đó, Tòa án sẽ áp dụng điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện tại Tòa án mà cố tình trì hoãn sẽ gây những thiệt hại nhất định cho bị đơn Đặc biệt, trong quá trình giải quyết vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì bị đơn còn bị ảnh hưởng lớn hơn

Đồng thời, khi đương sự không thể tham gia phiên hòa giải vì có lý do chínhđáng cũng là trường hợp không tiến hành hòa giải được Khi rơi vào trường hợp này thì đương sự làm đơn gởi cho Tòa án và trình bày lý do Khi đó, Tòa án sẽ lập biên bản không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi tiến hành hòa giải trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định phương án giải quyết tranh chấp Do đó, khi mà họ không thể thực hiện quyền của mình thì việc tiếp tục hòa giải của Tòa án không có ý nghĩ Đồng thời, việc tiếp tục hòa giải còn

có thể gây khó khăn cho các đương sự và kéo dài thời gian giải quyết vụ án

Trường hợp cuối cùng Tòa án không tiến hành hòa giải được là trường hợp đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân

sự Trong vụ án ly hôn, Tòa án sẽ hòa giải theo hướng đoàn tụ Nếu hòa giải đoàn tụ không thành thì Tòa án hòa giải thuận tình ly hôn Việc đoàn tụ hay thuận tình ly hôn phải do các đương sự tự mình quyết định vì đây là quyền nhân thân không thể chuyển giao được Đối với các quyền tài sản, đương sự có thể thực hiện quyền của mình thông qua người đại diện hoặc người giám hộ Trong khi đó, người mất năng lực hành vi dân sự là người không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân

sự Người mất năng lực hành vi dân sự đồng thời cũng không có năng lực tố tụng dân sự Do đó, họ không thể tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án Như vậy, BLTTDS quy định đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được là hợp lý

1.3 Lược sử hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn 1945- 1960

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đánh dấu sự phát triển mới của nước ta Từ đây, nước ta trở thành một nước độc lập Để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh Trong đó, các văn bản điều chỉnh

Trang 23

vấn đề tố tụng được ban hành để giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội Các văn bản đó bao gồm Sắc lệnh 13 ngày 24/01/1946 Sắc lệnh tổ chức Tòa án

và các ngạch Thẩm phán của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Sắc lệnh 13), Sắc lệnh 51 ngày 17/4/1946 Sắc lệnh ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Sắc lệnh 51), Sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950 Sắc lệnh cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Sắc lệnh 85) và các văn bản khác có liên quan Trong các sắc lệnh này đều có điều chỉnh vấn đề hòa giải khi giải quyết tranh chấp của Tòa án

Hệ thống Tòa án nước ta tổ chức theo Sắc lệnh 13 và Sắc lệnh 51 bao gồm Ban tư pháp xã, Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm Theo đó, Ban

tư pháp xã có trách nhiệm tiến hành hòa giải tất cả các việc dân sự và thương sự Khi tiến hành hòa giải thành thì Ban tư pháp xã lập biên bản hòa giải thành Sắc lệnh 13 chưa quy định rõ trình tự thủ tục tiến hành hòa giải cũng như hiệu lực của biên bản hòa giải thành Tiếp đến, Sắc lệnh 51 bước đầu quy định về hiệu lực của biên bản hòa giải thành Biên bản hòa giải thành của Ban tư pháp xã chỉ có hiệu lực

tư chứng thư Tức là nó chỉ có hiệu lực đối với các bên Đồng thời, Sắc lệnh 51 cũng có quy định Tòa án sơ cấp phải thử hòa giải khi nhận được đơn khiếu kiện về dân sự và thương sự Tuy nhiên, biên bản hòa giải thành của Tòa án sơ thẩm có hiệu lực cao hơn biên bản hòa giải thành của Ban tư pháp xã Biên bản này có hiệu lực như công chứng thư Ngoài ra, Sắc lệnh 51 còn quy định trước khi tiến hành giải quyết tranh chấp ở Tòa đệ nhị cấp đều phải đưa về cho Tòa án sơ cấp hòa giải trước

Trong ba sắc lệnh ban hành trong giai đoạn 1945-1960 điều chỉnh lĩnh vực tố tụng, Sắc lệnh 85 quy định rõ ràng, chi tiết hơn hai sắc lệnh còn lại Theo đó, Tòa

án nhân dân cấp huyện (Tòa án sơ cấp theo các sắc lệnh trước đó) tiến hành hòa giải các vụ việc dân sự và thương sự (trừ trường hợp mà pháp luật không cho phép các bên điều đình) Tuy nhiên, Sắc lệnh cũng chưa quy định rõ ràng trường hợp nào là trường hợp không được tiến hành hòa giải Đó có thể là các trường hợp liên quan đến các giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội Biên bản hòa giải thành có hiệu lực là một công chính chứng thư và có thể được chấp hành ngay Hiệu lực của biên bản hòa giải thành giống như bản án sơ thẩm vì nó có thể

bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể

từ ngày phòng biện lý nhận được biên bản hòa giải thành Người bị thiệt hại do kết quả hòa giải thành cũng có 15 ngày để kháng cáo kể từ ngày biết được biên bản hòa giải thành hoặc sự chấp hành của biên bản

Trang 24

Tóm lại, trong giai đoạn 1945-1960, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tố tụng nói chung còn ít và chưa có sự phân biệt giữa tố tụng dân sự

và tố tụng hình sự Nguyên nhân là do giai đoạn này nước ta mới giành được độc lập, nhiệm vụ chính của giai đoạn này là giữ vững nền độc lập của miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Tuy nhiên, hòa giải trong tố tụng dân sự luôn được chú trọng và được quy định trong các sắc lệnh nêu trên Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau quy định rõ ràng và cụ thể hơn các văn bản ban hành trước đó Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ này còn ít, quy định chưa rõ ràng, cụ thể về các vấn đề cơ bản như thông báo hòa giải, nội dung hòa giải, tiến hành phiên hòa giải Nhưng nó cũng đủ khả năng để giải quyết tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này

1.3.2 Giai đoạn 1960-1989

Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự ra đời của Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960, sau đó là Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1980 Hệ thống Tòa án được tổ chức thống nhất và chặt chẽ hơn, bao gồm Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân địa phương Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án chưa được thống nhất trong văn bản cụ thể, mà nằm chủ yếu nằm trong các Thông tư do Tòa án nhân dân tối cao ban hành Các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề hòa giải trong tố tụng dân sự chủ yếu nằm trong hai Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao, bao gồm Thông tư 3-NCLP ngày 03/3/1966 của Tòa án nhân dân tối cao về trình tự giải quyết việc ly hôn, Thông tư số 25-TATC ngày 30/11/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn công tác hòa giải

Theo đó, hòa giải tại Tòa án là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự Pháp luật tố tụng thời kỳ cũng có quy định những trường hợp ngoại lệ

mà Tòa án không được tiến hành hòa giải Đây là những trường hợp mà theo quy định của pháp luật là các bên không được tiến hành điều đình Các trường hợp mà Tòa án không được tiến hành hòa giải bao gồm:

Trước hết, trong các vụ án hôn nhân và gia đình thì Tòa án không được tiến hành hòa giải trong một số trường hợp Các trường hợp này chủ yếu là các quan hệ nhân thân giữa các đương sự trong vụ kiện Trường hợp đầu tiên là các vụ kiện ly hôn mà một bên mất trí Trong quan hệ pháp luật này, các bên phải tự mình quyết định, không thể chuyển giao cho người khác Do đó, khi mà một bên trong quan hệ mất trí thì không thể tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau giải quyết vụ

án Bên cạnh đó, việc tiêu hôn và những tranh chấp về thân phận con người cũng là trường hợp mà Tòa án không được tiến hành hòa giải Việc tiêu hôn xuất phát từ

Trang 25

quan hệ hôn nhân trái pháp luật Thân phận con người không thể giải quyết bằng việc thỏa thuận giữa các bên, mà nó phải được chứng minh bằng cơ sở khoa học Khi đó, bản án, quyết định của Tòa án mới phản ánh được sự thật khách quan Trong các quan hệ hôn nhân, Tòa án cũng không tiến hành hòa giải đối với trường hợp thuận tình ly hôn

Tiếp theo, đối với các tranh chấp về kinh tế, tài sản mà nội dung của các giao dịch bắt nguồn từ giao dịch bất hợp pháp thì Tòa án cũng không được tiến hành hòa giải Đây là các giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch này sẽ không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Do đó, các bên không có quyền thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp Đồng thời, Tòa án cũng không được tiến hành hòa giải đối với các vụ kiện dân sự do Viện kiểm sát khởi tố

Trừ các trường hợp không được tiến hành hòa giải như trên, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải đối với các vụ kiện dân sự phát sinh tại Tòa án Quyết định công nhận

sự thỏa thuận giữa các đương sự sẽ có hiệu lực như một bản án sơ thẩm Do đó, quyết định này sẽ bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Quy định này làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài thêm, trong khi đó các bên đã thỏa thuận giải quyết vụ án Nếu một trong các bên lợi dụng quy định này để kéo dài việc giải quyết vụ án thì sẽ làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài thêm mà không mang lại hiệu quả

1.3.3 Giai đoạn 1989 - 2005

Ngày 07/11/1989 Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên thống nhất các các quy định về giải quyết vụ án dân sự Pháp lệnh này quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án từ giai đoạn khởi kiện đến khi ra bản án Trong đó, thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự có nhiều điểm khác biệt so với thời kỳ trước

Hòa giải trong tố tụng dân sự không phải là chế định mới trong pháp luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, trong giai đoạn này chế định hòa giải được quy định rõ ràng, chi tiết hơn Theo đó, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm đối với tất cả vụ án dân sự, trừ trường hợp không được tiến hành hòa giải quy định tại Điều 43 Pháp lệnh Pháp lệnh chưa có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự, chỉ gọi chung là vụ án dân sự Tuy nhiên, hòa giải cũng chỉ

có thể tiến hành đối với những vụ án có tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ pháp luật nội dung Đối với những trường hợp không có tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung, Pháp lệnh đã liệt kê vào các trường hợp không được tiến hành hòa

Trang 26

giải Như vậy, dù không rõ ràng, Pháp lệnh cũng quy định hòa giải chỉ tiến hành đối với vụ án dân sự, tức là có tranh chấp giữa các bên đương sự Sau 15 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu các đương sự không thay đổi ý kiến hoặc Viện Kiểm sát cùng cấp, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung không phản đối thỏa thuận đó thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay

và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu có phát hiện sai sót thì có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm9 Đồng thời hòa giải cũng được tiến hành trước khi mở phiên tòa phúc thẩm Trình tự thủ tục hòa giải, hiệu lực của quyết định công nhân sự thỏa thuận giữa các đương sự tương tự như hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự chỉ quy định Tòa án tiến hành hòa giải mà không quy định cụ thể ai trực tiếp tiến hành hòa giải Trong nhiều trường hợp, Tòa án phân công Thư ký tiến hành hòa giải do thiếu Thẩm phán Vì vậy, hệ quả là Thư ký vừa tiến hành hòa giải vừa ghi biên bản hòa giải nên công tác hòa giải đạt hiệu quả chưa cao Nội dung của hòa giải là những vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự Các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về phương thức giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, nó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép Đây là nguyên tắc xuyên suốt được áp dụng trong các quan hệ dân sự Vì vậy, các bên trong hòa giải cũng phải tuân theo nguyên tắc này Các bên thỏa thuận được tất

cả vấn đề cần giải quyết trong vụ án thì Tòa án ra lập biên bản hòa giải thành Bên cạnh đó, các bên cũng có quyền thỏa thuận với nhau về án phí Khi đó, Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận sự thỏa thuận này Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về án phí thì Tòa án sẽ quyết định về mức án phí và người phải chịu án phí10 Tòa án sẽ dựa vào quy định của pháp luật về án phí, lệ phí để quyết định phần

án phí mà các bên phải chịu

Pháp lệnh chỉ ghi nhận một trường hợp không tiến hành hòa giải được Đó là trường hợp bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập họp lệ đến lần thứ hai mà không

có lý do chính đáng Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự, nếu không có điều kiện để tiến hành hòa giải thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử Chẳng hạn, trường hợp có một bên đương sự ở nước ngoài, đang bị giam giữ hoặc do những trở ngại khách

Trang 27

quan như tai nạn, ốm đau,… nên không thể có mặt để tiến hành hòa giải Khi đó, Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không phải tiến hành hòa giải

Tóm lại, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 là một bước tiến trong hệ thống pháp luật dân sự nước ta Đây là lần đầu tiên các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tố tụng dân sự được thống nhất trong một văn bản Nhờ đó, việc áp dụng pháp luật được thống nhất và dễ dàng hơn trước Hòa giải là một chế định kế thừa từ thời kỳ trước đó Tuy nhiên, hòa giải trong pháp lệnh đã có quy định

rõ ràng hơn, dễ áp dụng hơn, công tác nghiên cứu cũng thuận lợi hơn thời kỳ trước

đó Dù vậy, Pháp lệnh này cũng còn có một số hạn chế nhất định Những hạn chếnày được nhìn nhận qua việc áp dụng chế định trong một thời gian dài Do đó, BLTTDS được thông qua năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 đã giải quyết được một số hạn chế của pháp lệnh

1.3.4 Giai đoạn 2005 đến nay

Ngày 01/01/2005 là thời điểm BLTTDS 2004 bắt đầu có hiệu lực Từ đây, trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự (theo nghĩa rộng) được thống nhất trong một văn bản nhất định Bộ luật này bao gồm 36 chương, 418 điều Theo đó, có rất nhiều điểm mới và tiến bộ được quy định trong BLTTDS 2004 để khắc phục những hạn chế của các văn bản điều chỉnh lĩnh vực tố tụng dân sự thời kỳ trước

Về thủ tục hòa giải, BLTTD quy định đây cũng là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án Cũng theo quy định này thì việc hòa giải chỉ được tiến hành trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Hội đồng xét xử chỉ hỏi xem các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, Tòa án không tiến hành hòa giải như giai đoạn trước phiên tòa sơ thẩm

Bên cạnh đó, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989, BLTTDS quy định về hòa giải tại tòa nhiều hơn về số điều luật và nội dung các quy phạm pháp luật liên quan cũng nhiều hơn và chi tiết hơn Cụ thể, BLTTDS có 8 điều quy định về hòa giải tại Tòa án Trong các điều luật này đã làm rõ những quy định về thông báo phiên hòa giải, thành phần tham gia, nội dung hòa giải, nội dung biên bản hòa giải,…Đặc biệt, BLTTDS cũng quy định về nguyên tắc và phạm vi tiến hành hòa giải Đây là những nội dung quan trọng giúp cho Tòa án tiến hành hòa giải nhanh chóng, đạt hiệu quả cao, tránh gây lãng phí cho Nhà nước và đương sự

Cuối cùng, thủ tục ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự cũng có những điểm mới so với thời kỳ trước đó Theo đó, khi các đương sự thỏa thuận được tất cả các nội dung của quan hệ pháp luật nội dung thì Tòa án ra quyết

Trang 28

định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, kể cả phần án phí Quyết định này có hiệu lực ngay và không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Khi có phát hiện sai sót thì quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Tóm lại, BLTTDS ra đời thật sự là bước tiến lớn của pháp luật tố tụng dân sự nước ta Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự (bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động) được thống nhất trong một văn bản Trong

đó, thủ tục hòa giải cũng có những điểm mới Các quy định này bước đầu đã khắc phục những hạn chế khi áp dụng các pháp lệnh trước đây Sau hơn 5 năm áp dụng, chế định hòa giải trong tố tụng dân sự cũng có những hạn chế nhất định Hiện tại, Quốc hội cũng đang trong quá trình dự thảo sửa đổi, bổ sung BLTTDS Trong các bản dự thảo này cũng khắc phục được một phần hạn chế khi áp dụng BLTTDS hiện tại Tuy nhiên, các dự thảo này vẫn chưa được thông qua

1.4 Chế định hòa giải trong pháp luật một số nước

1.4.1 Chế định hòa giải trong pháp luật của Pháp

Pháp là một quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển rất sớm, là đại diện tiêu biểu cho hệ thống pháp luật dân sự Pháp luật của Pháp phát triển cả ở luật nội dung và luật hình thức Có nhiều bộ luật của quốc gia này đã có từ rất sớm và có hiệu lực đến ngày nay Bộ luật tố tụng dân sự Pháp là một trong số đó Bộ luật có

1507 điều luật được ban hành lần đầu vào năm 1806 và liên tục được bổ sung, sửađổi nhiều lần cho đến ngày hôm nay, bao gồm 4 quyển Trong đó, những vấn đề chung về hòa giải được quy định ở quyển thứ nhất Bên cạnh đó, quyển thứ hai và thứ ba có quy định riêng về hòa giải trong một số trường hợp cụ thể

Pháp luật Pháp quy định hòa giải là trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án Như vậy, hòa giải cũng là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án Bên cạnh đó, các bên cũng có thể yêu cầu Thẩm phán tiến hành hòa giải tranh chấp cho mình Hòa giải được tiến hành để giải quyết tất cả tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung Tuy nhiên, khi các bên thỏa thuận giải quyết được một phần nội dung tranh chấp thì Tòa án vẫn lập biên bản ghi nhận sự thỏa thuận này và đưa vào hồ sơ vụ án Biên bản hòa giải có hiệu lực pháp luật Như vậy, khi các bên chỉ thỏa thuận được một phần nội dung tranh chấp thì phần đó vẫn được pháp luật tôn trọng, và có hiệu lực thi hành

Thời gian và địa điểm hòa giải sẽ do Thẩm phán ấn định sao cho thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp Địa điểm có thể là tại Tòa án hoặc nơi khác nếu thẩm phán thấy việc đó là cần thiết, thuận lợi để tiến hành hòa giải Tuy nhiên,

Trang 29

trong trường hợp pháp luật có quy định thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải thì Thẩm phán phải tuân theo quy định đó Hòa giải không chỉ được tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử, hòa giải còn được tiến hành trong suốt quá trình tố tụng theo sáng kiến của các bên hoặc của Thẩm phán Tức là hòa giải được tiến hành trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án.

Ngoài ra, BLTTDS Pháp còn quy định trình tự, thủ tục hòa giải trong một số trường hợp cụ thể Đây là các trường hợp có những nét đặc thù riêng Do đó, các quy định riêng này giúp cho hoạt động hòa giải tiến hành thuận lợi và có hiệu quả hơn Các trường hợp đó bao gồm trường hợp Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê mướn đất đai và cơ sở nông nghiệp và trường hợp ly hôn Về cơ bản, hòa giải trong các trường hợp này cũng giống như những quy định chung về hòa giải Ngoài

ra, còn có một số điểm riêng để hòa giải trong các trường hợp đặc thù này mang lại hiệu quả Chẳng hạn, trong trường hợp môt bên vợ chồng yêu cầu ly hôn thì một bên có quyền gửi giấy yêu cầu bên kia ra tòa vào một ngày đã ấn định để tiến hànhhòa giải nếu có sự đồng ý của Thẩm phán Đồng thời, trong quy định ở các trường hợp cụ thể này thì thủ tục tống đạt giấy tờ được quy định rõ ràng hơn Quy định các trường hợp lục sự phải gửi thư bảo đảm, thư thường và các giấy tờ kèm theo

Tóm lại, BLTTDS Pháp quy định hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án Hòa giải không chỉ được tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm mà được còn được tiến hành trong suốt quá trình tố tụng khi thấy cần thiết Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trình tự, thủ tục hòa giải trong các trường hợp cụ thể

1.4.2 Những ưu và nhược điểm của chế định hòa giải ở Việt Nam với Pháp

- Ưu điểm

Hòa giải là một hoạt động tố tụng được tiến hành bởi Tòa án Do đó, khi tiến hành hoạt động này thì Tòa án cũng phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự nói chung Tuy nhiên, hoạt động này cũng mang những nét đặc thù riêng nên nó cũng cần có những nguyên tắc điều chỉnh riêng để hoạt động này tạo điều kiện thuận lợi cho các bên thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp Pháp luật Việt Nam có quy định những nguyên tắc để tiến hành hòa giải Như vậy, hoạt động hòa giải không chỉ tuân theo những nguyên tắc chung của pháp luật

tố tụng dân sự mà còn phải tuân theo những nguyên tắc riêng này Đây là một ưu điểm so với BLTTDS Pháp Pháp luật tố tụng dân sự Pháp không quy định những nguyên tắc riêng trong hoạt động hòa giải Do đó, khi tiến hành hòa giải các Thẩm

Trang 30

phán phải lựa chọn áp dụng các nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng dân sự sao cho phù hợp với hoạt động hòa giải

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam có giới hạn các trường hợp không được tiến hành hòa giải Các trường hợp này nếu tiến hành hòa giải sẽ ảnh hưởng đến trật

tự chung, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Vì vậy, các trường hợp này Tòa án không được tiến hành hòa giải để giữ ổn định trật tự chung và bảo vệ quyền lợi của chủ thể khác Trong khi đó, BLTTDS Pháp không giới hạn các trường hợp không được tiến hành hòa giải Như vậy, trong một số trường hợp cụ thể nếu tiến hành hòa giải ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác

Cuối cùng, hoạt động hòa giải trong pháp luật Việt Nam chỉ tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm Trong khi đó, hoạt động hòa giải trong pháp luật Pháp được tiến hành suốt quá trình tố tụng khi thấy cần thiết Thêm vào đó, pháp luật Pháp còn cho phép các bên có quyền yêu cầu tòa án tiến hành hòa giải Như vậy, nếu một bên cố tình kéo dài tranh chấp bằng việc yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải thì việc giải quyết tranh chấp kéo dài mà không đem lại hiệu quả Do đó, việc quy định hòa giải chỉ tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm góp phần hạn chế việc

cố tình kéo dài giải quyết tranh chấp

- Nhược điểm

Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hòa giải thành khi các bên thỏa thuận được tất cả nội dung của tranh chấp, bao gồm cả phần án phí các bên cũng phải thỏathuận11 Khi các bên thỏa thuận được một phần nội dung tranh chấp thì sự thỏa thuận này cũng không được công nhận Ngược lại, pháp luật Pháp công nhận sự thỏa thuận một phần của các bên, phần này được ghi trong biên bản hòa giải và có hiệu lực thi hành Đây là hạn chế của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam so với Pháp Thỏa thuận một phần là ý chí của các bên để giải quyết quan hệ pháp luật nội dung, do đó thỏa thuận này cần được tôn trọng và được thi hành Đồng thời, việc thừa nhận các thỏa thuận này cũng góp phần giải quyết vụ án được diễn ra nhanh chóng do nội dung của tranh chấp đã được giải quyết một phần và thông qua thỏa thuận này thì Tòa án cũng có thể hiểu rõ hơn nội dung của vụ án

Đồng thời, trong quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì biên bản hòa giải không có hiệu lực thi hành Thỏa thuận của các bên chỉ có hiệu lực thi hành khi Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các bên Quy định này

11 Điều 187 quy định Tòa án chỉ công nhận sự thỏa thuận của đương sự khi các bên thỏa thuận giải quyết toàn bộ vụ án, không đề cập đến phần án phí Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn thi hành của Tòa án nhân dân tối cao quy định các bên phải thỏa thuận luôn cả phần án phí thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Trang 31

cho các bên xem xét lại thỏa thuận của mình tại phiên hòa giải Tuy nhiên, quy định này chỉ phát huy hiệu quả khi các bên thật sự mong muốn giải quyết tranh chấp Nếu các bên không có thiện chí thì sẽ gây khó khăn cho quá trình thi hành án về sau Để hạn chế khó khăn này, pháp luật tố tụng dân sự Pháp thừa nhận hiệu lực của biên bản thi hành Quy định này góp phần hạn chế việc một bên cố tình kéo dài việc hòa giải nhằm gây khó khăn cho giải quyết vụ án, cũng như thi hành án về sau Đồng thời, quy định này cũng góp phần làm giảm áp lực công việc cho Tòa án Từ khi tiến hành hòa giải đến khi thỏa thuận của các bên có hiệu lực, Tòa án phải ra ba văn bản bao gồm biên bản hòa giải, biên bản hòa giải thành và quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Trong khi đó, theo BLTTDS Pháp thì biên bản hòa giải cũng có hiệu lực thi hành, tức là Tòa án chỉ cần lập biên bản hòa giải.

Tóm lại, Pháp là quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển từ rất sớm và có

kỹ thuật lập pháp cao Chế định hòa giải trong tố tụng dân sự được quy định trong

Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành lần đầu vào năm 1806 Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có ảnh hưởng nhiều từ pháp luật Pháp do chúng ta bị Pháp đô hộ trong một thời gian dài Chế định hòa giải trong tố tụng dân sự trong pháp luật Việt Nam cũng có những nét tương đồng với pháp luật Pháp Bên cạnh đó, chế định này trong pháp luật Việt Nam cũng có những ưu điểm so với pháp luật Pháp Tuy nhiên, hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp cũng có những điểm nổi bật hơn so với pháp luật Việt Nam

1.5 Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự và sự cần thiết của việc nghiên cứu chế định hòa giải

1.5.1 Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự

Hòa giải là hoạt động tố tụng cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án dân

sự của Tòa án Nó có ý nghĩa to lớn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đối với công tác tuyên truyền pháp luật, cũng như đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hòa công nghiệp của đất nước ta hiện nay

Trước hết, hòa giải có ý nghĩa to lớn đối với quá trình giải quyết vụ án dân

sự Khi tiến hành hòa giải thành sẽ giải quyết được vụ án nhanh chóng và triệt để Khi đó, việc giải quyết vụ án sẽ kết thúc và làm giảm bớt một giai đoạn tố tụng dài phía sau Do đó, thời gian giải quyết vụ án giảm đi rất nhiều Bên cạnh đó, các bên

tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nên sự tự nguyện giữa các bên khi thi hành án cũng cao hơn khi thi hành bản án của Tòa án vì kết quả hòa giải phản ánh ý chí, mong muốn đích thực của các đương sự Thêm vào đó, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục

Trang 32

phúc thẩm Vì vậy, việc giải quyết vụ án triệt để hơn tránh tình trạng khiếu kiện kéo dài Trong trường hợp hòa giải không thành thì việc tiến hành hòa giải cũng có ý nghĩa nhất định Qua đó, Thẩm phán hiểu được vụ án rõ ràng hơn, cũng như những vướng mắc trong suy nghĩ của các đương sự Từ đó, bản án được tuyên sẽ không chỉ đúng pháp luật mà còn phản ánh đúng sự thật khách quan, phù hợp với tâm tư của nhân dân Nhờ đó, hiệu quả của việc xét xử cũng được nâng cao và đảm bảo tính hiệu lực của bản án

Bên cạnh đó, việc hòa giải cũng góp phần vào việc nâng cao ý thức pháp luậttrong cộng đồng dân cư Khi tiến hành hòa giải thì Thẩm phán cũng có giải thích pháp luật, nêu những quy định pháp luật để các đương sự biết và hiểu đúng Từ đó,

họ sẽ có được một số kiến thức pháp luật nhất định Họ cũng có thể trở thành những người tuyên truyền pháp luật khi trong cộng đồng xảy ra những tình huống tương

tự Như vậy, hòa giải cũng có ý nghĩa nhất định đối với việc áp dụng pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của việc tuyên truyền pháp luật trong cộng đồng dân cư

Đồng thời, giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cũng có ý nghĩa đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay Khi tiến hành hòa giải thành sẽ góp phần tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho Nhà nước và cho nhân dân Hòa giải thành thì Tòa án không cần phải đưa vụ án ra xét xử Nhờ đó, ngân sách Nhà nước giảm bớt một phần chi phí cho việc đưa vụ án ra xét xử Bên cạnh đó, người dân cũng tiết kiệm được khoản chi phí lớn cho việc đi lại, cũng như án phí Tiền án phí khi hòa giải thành chỉ bằng 50% án phí khi đưa vụ án ra xét xử Về thời gian, các bên cũng như Tòa án tiết kiệm được khoảng thời gian sau khi tiến hành hòa giải Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, việc tiết kiệm được thời gian và tiền bạc có ý nghĩa rất lớn Đặc biệt, nước ta đang phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 thì sự tiết kiệm được về thời gian và tiền bạc là có tác dụng tích cực đẩy mạnh nền kinh tế phát triển

1.5.2 Sự cần thiết của việc nghiên cứu hòa giải trong tố tụng dân sự

Hòa giải có vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp trong đời sống dân sự Đặc biệt, hòa giải trong tố tụng dân sự góp phần giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, chế định hòa giải trong tố tụng dân sự trong pháp luật thực định còn những điểm hạn chế nhất định và cần phải khắc phục để nâng cao hiệu quả công tác hòa giải

Trong giai đoạn hiện nay, hòa giải trong tố tụng dân sự là hình thức hòa giải đạt hiệu quả cao nhất, bao gồm cả việc thi hành các thỏa thuận đã đạt được Dù vậy, các quy định pháp luật hiện tại cũng chưa đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Nguyên

Trang 33

nhân là do sự phát triển của các quan hệ xã hội, các tình huống phát sinh trong thực

tế ngày càng đa dạng, cũng như trình độ lập pháp của nước ta có những hạn chế nhất định

Đồng thời, việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định này chưa được các cơ quan có trách nhiệm quan tâm đúng mức Hiện tại, việc các hạn chế của luật thực định và giải pháp đề xuất chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ mang phạm vi trong nhà trường, hoặc các bài báo, bài bình luận của những chuyên gia và những người đang tiến hành công tác thực tiễn

Vậy, việc nghiên cứu chế định hòa giải trong tố tụng dân sự là cần thiết Yêu cầu nghiên cứu xuất phát từ các yếu tố khách quan như sự phát triển của các quan

hệ xã hội là tất yếu Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng cũng phát hiện ra những ưu, nhược điểm của quá trình lập pháp hiện nay

Trang 34

Chương 2 PHÁP LUẬT HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Hòa giải có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án, cũng như đối với

sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải tại Tòa án là nội dung quan trọng góp phần nâng cao chất lượng hòa giải Từ đó, vụ án được giải quyết nhanh chóng và làm giảm chi phí cho Nhà nước và các đương sự Nhờ đó, nền kinh tế xã hội cũng phát triển theo chiều hướng tích cực Do vậy, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải cần được quy định rõ ràng, cụ thể và phù hợp với sự tiến bộ của xã hội để cho hoạt động hòa giải trong tố tụng dân

sự thật sự phát huy ý nghĩa của mình Tuy nhiên, những quy định của pháp luật thực định còn nhiều điểm chưa rõ ràng gây khó khăn cho người áp dụng thực tiễn và cũng chưa thật sự phù hợp với sự phát triển của xã hội Trong quá trình áp dụng thực tiễn, các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này xuất hiện những bất cập nhất định do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các Tòa án cần tự mình khắc phục

Dù vậy, vẫn cần có những giải pháp mang tính chất lâu dài và khắc phục từ nguồn gốc của các tồn tại khi áp dụng những quy định này mang lại

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các đương sự cũng có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Hội đồng xét xử không làm nhiệm vụ hòa giải như ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Cho nên, những quy định pháp luật điều chỉnh sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm cũng có những khác biệt nhất định so với quy định về hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

2.1 Thủ tục trước phiên hòa giải

2.1.1 Thông báo về phiên hòa giải

- Quy định pháp luật

Thông báo về phiên hoà giải là một bước rất quan trọng trong khi tiến hànhhoà giải Nhờ đó, các bên đương sự cũng như những người tham gia phiên hoà giảikhác có thể thực hiện quyền của mình cũng như chuẩn bị tốt cho phiên hoà giải Bước này nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần giúp cho phiên hoà giải đạt kết quảcao hơn Từ đó, việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn Nội dung thông báo cho các đương sự bao gồm thời gian, địa điểm, và nội dung tiếnhành hoà giải Nội dung hòa giải là nội dung cần phải giải quyết để chấm dứt tranh chấp, bao gồm yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn Quy định

Trang 35

này được ghi nhận tại Điều 183 BLTTDS 2004 là một điểm mới so với các văn bảnđiều chỉnh lĩnh vực tố tụng dân sự trước đây Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án dân không quy định vấn đề này Vì vậy, việc thông báo về phiên hoà giải không được áp dụng thống nhất Tuy nhiên, thông thường các Toà án chỉthông báo về thời gian, địa điểm tiến hành hoà giải để các đương sự biết và có mặt tại phiên hòa giải bằng giấy triệu tập đương sự

Thông báo về phiên hoà giải là một loại văn bản tố tụng do Toà án ban hànhtrong quá trình giải quyết vụ án dân sự Do đó, việc thông báo về phiên hoà giải sẽtuân theo những quy định của pháp luật về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụngđược quy định tại chương X BLTTDS Theo đó, Toà án là cơ quan có trách nhiệmtống đạt cho các đương sự thông báo về phiên hoà giải12 Cụ thể, những người trựctiếp thực hiện việc thông báo là Thư ký Toà án, Thẩm phán hoặc người khác theo quy định của Điều 148 BLTTDS Những người này sẽ tiến hành thông báo cho cácđương sự thông qua ba phương thức, bao gồm thông báo trực tiếp, qua bưu điện, người thứ ba được uỷ quyền; hoặc niêm yết công khai; hoặc thông báo trên cácphương tiện thông tin đại chúng

Trước tiên, người có nhiệm vụ tống đạt thông báo sẽ tiến hành tống đạt trựctiếp, qua bưu điện hoặc người thứ ba được uỷ quyền Khi người làm nhiệm vụ tống đạt không thể giao trực tiếp cho người được thông báo thì có thể giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự và cùng nơi cư trú với người được thông báo, tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã Đồng thời, những người này phải cam kết giao tận tại người được thông báo Tuy nhiên, việc xác định người thân thích cư trú cùng địa chỉ và xác định năng lực hành vi dân sự của người này là rất khó khăn Nếu nhìn biểu hiện bên ngoài để xác định năng lực hành vi của người này thì sẽ gây trở ngại cho Tòa án khi thực hiện công việc tống đạt thông báo

về phiên hòa giải Trường hợp đương sự từ chối nhận thông báo về phiên hòa giải, người thực hiện nhiệm vụ tống đạt lập biên bản nêu rõ lý do và có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã Như vậy, trong trường hợp nếu bản thân Thẩm phán hoặc Thư ký lập biên bản thì sẽ không có giá trị pháp

lý Mục đích của quy định này là tạo sự khách quan cho khi Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng Trong trường hợp này sẽ làm giảm uy tín vì khi không có chữ

ký của tổ trưởng tổ dân phố hoặc đại diện Ủy ban nhân dân, công an cấp xã thì biên bản sẽ không có giá trị pháp lý Đồng thời, không phải mọi trường hợp những người này đều có thể có mặt để xác nhận vào biên bản Do đó, việc tống đạt các văn bản tố tụng nói chung và thông báo về phiên hòa giải sẽ gặp nhiều khó khăn Sau khi tống

Trang 36

đạt thông báo cho các đương sự, người tiến hành tống đạt sẽ lập biên bản tống đạt.Biên bản tống đạt chính là căn cứ để tính số lần vắng mặt của đương sự khi tiến hành hòa giải.

Khi việc tống đạt trực tiếp không đem lại hiệu quả do có đương sự cố tìnhtrốn tránh hoặc do không rõ tung tích của người cần được thông báo thì việc tống đạt thông báo này sẽ được tiến hành theo thủ tục niêm yết công khai Toà án trựctiếp tiến hành hoặc uỷ quyền cho Uỷ ban nhân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trúcuối cùng của người được thông báo tiến hành thủ tục niêm yết công khai Khi đó, thông báo về phiên hoà giải sẽ được niêm yết bản chính tại trụ sở Toà án và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người cần được thông báo Đồng thời, bản sao thông báo này được niêm yết tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuốicùng của người này Thời gian tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng này là

15 ngày kể từ ngày niêm yết Cuối cùng, khi có căn cứ cho rằng việc thông báo trựctiếp hoặc niêm yết công khai không mang lại hiệu quả hoặc theo yêu cầu của cácđương sự hoặc theo quy định của pháp luật thì việc thông báo về phiên hoà giải sẽđược thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Phương tiện thông tin đạichúng ở đây là báo hàng ngày của Trung ương hoặc Đài phát thanh hoặc Đài truyềnhình của trung ương Việc thông báo này được tiến hành ít nhất trong ba ngày liên tiếp và ít nhất một lần mỗi ngày Có nhiều trường hợp việc thông báo về phiên hoàgiải không do cán bộ Toà án tiến hành Khi đó, người được giao thực hiện nhiệm vụthông báo cho các đương sự về phiên hoà giải có trách nhiệm thông báo ngay cho Toà án kết quả thông báo.13

Điều 183 BLTTDS quy định Toà án phải thông báo cho các đương sự vềphiên hoà giải Tuy nhiên, thời gian tối thiểu mà Toà án phải tiến hành thông báocho các đương sự trước ngày mở phiên hoà giải thì chưa được ghi nhận trong BLTTDS Điều này sẽ gây khó khăn cho các đương sự khi tham gia vào phiên hoàgiải Nếu Toà án thông báo quá gần ngày diễn ra phiên hoà giải thì các đương sựkhông có thời gian để chuẩn bị tốt cho phiên hoà giải Do đó, kết quả hoà giải sẽkhông cao cũng như gây kéo dài thêm không cần thiết cho việc giải quyết vụ án

- Thực tiễn thông báo về phiên hòa giải và thực tế tại Tòa án nhân dân huyện Thới Bình

Nhìn chung, khi BLTTDS ra đời thì việc áp dụng những quy định về thông báo được quy định rõ ràng và cụ thể hơn Do đó, việc áp dụng những quy định này

12

Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2004

13 Điều 156 Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Trang 37

cơ bản thống nhất ở các Tòa án từ Trung ương tới địa phương Mẫu thông báo về phiên hòa giải được Tòa án nhân dân tối cao ban hành và áp dụng thống nhất Tuy vậy, còn nhiều nơi do áp lực số vụ án phải giải quyết quá lớn và thiếu nguồn nhân lực nên Tòa án không làm thông báo về phiên hòa giải mà chỉ làm giấy triệu tập đương sự Mục đích triệu tập đương sự là để hòa giải Cách làm này giúp cho Tòa

án tiết kiệm thời gian vì giấy triệu tập đương sự làm nhanh chóng và đơn giản hơn

so với thông báo về phiên hòa giải Theo quy định hiện tại, giấy triệu tập dùng để triệu tập đương sự đến Tòa án lấy lời khai hoặc bổ sung chứng cứ Do đó, khi dùng giấy triệu tập để thông báo về phiên hòa giải thì chỉ bao gồm thời gian và đại điểm tiến hành hòa giải Như vậy, dù được quy định rõ ràng tại Điều 183 BLTTDS là thông báo về phiên hòa giải bao gồm cả nội dung hòa giải nhưng vì nhiều lý do mà

có Tòa án vẫn không tuân thủ đúng nội dung này

Bên cạnh đó, do BLTTDS không quy định cụ thể thời gian tối thiểu mà Tòa

án phải gởi cho đương sự trước khi phiên hòa giải diễn ra nên quy định chưa được

áp dụng thống nhất Nhiều Tòa án gửi ngay cho đương sự giấy triệu tập đương sự

để hòa giải khi thụ lý hồ sơ (cùng lúc với thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự khác) Việc làm này giúp cho Tòa án tiết kiệm thời gian, tiền bạc để thực hiện công tác tống đạt giấy triệu tập hoặc thông báo về phiên hòa giải Tuy nhiên, như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả hòa giải Vào thời điểm thụ lý hồ sơ vụ án thì Thẩm phán phụ trách cũng chưa nghiên cứu hồ sơ, cũng chưa nhận được văn bản trả lời của những người được thông báo thụ lý vụ án nên việc ấn định thời gian hòa giải vào giai đoạn này không hợp lý và khi đó Tòa án không thể làm thông báo về phiên hòa giải Chỉ khi nào Thẩm phán đã nghiên cứu đầy đủ hồ sơ vụ án thì lúc đó mới

có căn cứ quyết định hòa giải vào thời gian nào là hợp lý

Trường hợp nêu trên là trường hợp bên khởi kiện hợp tác với Tòa án trong việc tống đạt các văn bản tố tụng cho phía bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, cũng có trường hợp nguyên đơn không hợp tác với Tòa án Khi đó, việc tống đạt các văn bản như thông báo thụ lý, thông báo hòa giải hoặc giấy triệu tập do cán bộ Tòa án tiến hành Do đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau

mà việc thông báo về phiên hòa giải được tống đạt đến các đương sự gần ngày hòa giải Nguyên nhân có thể do địa bàn rộng mà cán bộ Tòa án hiện nay đang thiếu nên dẫn đến việc tống đạt trể Cũng có trường hợp dẫn đến việc tống đạt trể xuất phát từ phía những người làm nhiệm vụ tống đạt Dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì việc tống đạt thông báo về phiên hòa giải trể cũng ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các đương sự, cũng như làm giảm tỷ lệ hòa giải thành tại Tòa án

Trang 38

Tại Tòa án nhân dân huyện Thới Bình (sau đây gọi là Tòa án Thới Bình) cũng áp dụng những quy định thông báo về phiên hòa giải khá thống nhất Hiện tại, Tòa án Thới Bình có ba Thẩm phán và sáu Thư ký Từ đầu năm 2011(từ ngày 01/10/2010) đến nay, Tòa án Thới Bình đã thụ lý gần 120 vụ án dân sự (bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình) Từ đó cho thấy rằng số vụ án mà mỗi Thẩm phán và Thư ký phụ trách là rất lớn Do đó, việc thông báo về phiên hòa đúng quy định của pháp luật thật sự là áp lực lớn cho các Thư ký bởi số lượng vụ án mà các Thư ký phụ trách là khá lớn (ngoài các vụ án dân sự thì Thư ký cũng có phụ trách các vụ án hình sự) Đồng thời, địa bàn huyện Thới Bình cũng tương đối lớn và giao thông cũng còn nhiều hạn chế Do đó, tại Tòa án Thới Bình, Thư ký thường liên hệ nguyên đơn đến Tòa án nhận thông báo về phiên hòa giải (cũng như những văn bản

tố tụng khác) Các nguyên đơn thường hợp tác với Tòa án vì họ cũng mong muốn giải quyết vụ án nhanh chóng Đồng thời, nếu có thể thì nguyên đơn cũng giúp Tòa

án giao thông báo cho bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp mà nguyên đơn không hợp tác thì Thư ký cũng tiến hành tống đạt thông báo về phiên hòa giải đến địa chỉ của các đương sự Khi đó, việc thông báo thường trể hơn và gần với ngày hòa giải hơn do nguyên đơn chuyển thông báo cho các đương sự khác

Bên cạnh đó, đa số các trường hợp thì Tòa án Thới Bình làm thông báo về phiên hòa giải và giao cho Thư ký làm nhiệm vụ tống đạt Khi đó, các đương sự sẽ được thông báo về thời gian, địa điểm, và nội dung hòa giải Tuy nhiên, cũng có trường hợp Tòa án làm giấy triệu tập các đương sự để hòa giải Các trường hợp này chỉ khoảng 1/5 số vụ án mà Tòa án phụ trách giải quyết Thông thường bị đơn sẽ nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập đương sự (để hòa giải) là cùng thời điểm

Cuối cùng, Tòa án Thới Bình cũng kết hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tống đạt các loại văn bản tố tụng, bao gồm cả thông báo về phiên hòa giải Đặc biệt, đối với các xã xa trung tâm thị trấn, điều kiện đi lại còn nhiều khó khăn Khi Thư ký đến mà không trực tiếp tống đạt được thì họ sẽ kết hợp với chính quyền địa phương để việc tống đạt các văn bản được tiến hành thuận lợi và đúng pháp luật Nếu không kết hợp với Ủy ban nhân dân cấp hoặc tổ trưởng tổ dân phố thì Thư ký phải đi lại nhiều lần gây lãng phí cho Nhà nước và hiện tại các Tòa án Thới Bình cũng không đủ nhân lực để đi lại nhiều lần

Tóm lại, tình hình thực hiện thông báo về phiên hòa giải cũng được thực hiện tương đối đúng theo quy định pháp luật về phần này Tuy nhiên, do nhiều lý do

Ngày đăng: 26/11/2015, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nghị quyết 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất“Những quy định chung” của BLTTDS 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung
18. Nghị quyết 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm
1. Nguyễn Ngọc Điệp, Hồ Thị Nệ (2001), Những điều cần biết về Luật tố tụng dân sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Luật tố tụng dân sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp, Hồ Thị Nệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2001
2. Lê Thu Hà (2006), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2006
3. Lê Thu Hà (1997), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
4. Đặng Thanh Hoa (2005), Một số ý kiến về hoạt động hòa giải vụ án dân sự ở thủ tục sơ thẩm, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về hoạt động hòa giải vụ án dân sự ở thủ tục sơ thẩm
Tác giả: Đặng Thanh Hoa
Năm: 2005
5. Trương Thanh Hùng (2009), Giáo trình Luật tố tụng dân sự 2, Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự 2
Tác giả: Trương Thanh Hùng
Năm: 2009
6. Bùi Thị Huyền (2007), Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, Tạp chí Luật học số 8 năm 2007, trang 23-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Năm: 2007
7. Trần Huy Liệu (2004), 235 Câu hỏi và trả lời về Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 235 Câu hỏi và trả lời về Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Tác giả: Trần Huy Liệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2004
8. Tưởng Duy Lượng (2009), Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2009
9. Lê Nết (2006), Hòa giải trong tố tụng dân sự- Nhìn từ góc độ kinh tế, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải trong tố tụng dân sự- Nhìn từ góc độ kinh tế
Tác giả: Lê Nết
Năm: 2006
10. Trần Minh Tiến (2006), Tra cứu Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tra cứu Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2006
12. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2005
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
2. Bộ luật tố tụng dân sự 2004.3. Bộ luật dân sự 2005 Khác
6. Sắc lệnh 13 ngày 24/01/1946 Sắc lệnh tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa Khác
7. Sắc lệnh 51 ngày 17/4/1946 Sắc lệnh ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa Khác
8. Sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950 Sắc lệnh cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa Khác
9. Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 Khác
10. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w