Tiêu chí lựa chọn đồng tiền đầu tư và đi vay 1.1.Lựa chọn đồng tiền đầu tư Giả sử nhà đầu tư VNI có một lượng tiền T nhàn rỗi thời hạn t năm và quyết định đầu tư trên thị trường tiền tệ.
Trang 1Mục lục
NỘI DUNG HỌC THUYẾT NGANG GIÁ LÃI SUẤT
1 Tiêu chí lựa chọn đồng tiền đầu tư và đi vay
1.1.Lựa chọn đồng tiền đầu tư
Giả sử nhà đầu tư (VNI) có một lượng tiền T nhàn rỗi thời hạn t (năm) và quyết định đầu tư trên thị trường tiền tệ Có 2 cách lựa chọn đầu tư, đó là: (i) đầu tư vào (mua) các chứng khoán ghi bằng đồng tiền T; hoặc (ii) đầu tư vào các chứng khoán ghi bằng đồng tiền C Vậy , VNI sẽ quyết định đầu tư vào T hay C? Tiêu chí quyết định đầu tư dựa trên cơ sở so sánh lãi suất thu được quy T từ hai cách đầu tư là như thế nào?
Khi quan sát bảng yết lãi suất của các NHTM , thấy rằng, cùng một thời hạn, nhưng các mức lãi suất của các đồng tiền khác nhau là rất khác nhau, đồng tiền này có mức lãi suất cao và đồng tiền kia có mức lãi suất thấp, một thực tế là, mức lãi suất của các ngoại
tệ quy nội tệ sẽ phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá trong tương lai Ví dụ, giả sử ngoại
tệ mà VNI đầu tư bị giảm giá trước khi chứng khoán đến hạn làm phát sinh một khoản lỗ
tỷ giá khi quy về T Nếu sử dụng hợp đồng kì hạn thì sẽ tránh được rủi ro tỷ giá, nhưng chênh lệch lãi suất đầu tư vào các đồng tiền khác nhau quy thành nội tệ trở nên rất nhỏ Giả sử, VNI (Vietnam Investor ) có số tiền nhàn rỗi là PT, thời hạn t (năm) và quyết định đầu tư vào kỳ phiếu ngân hàng Các thông số thị tường hiện hành như sau:
- Mức lãi suất/ năm kỳ hạn t của T là RT
Trang 2- Mức lãi suất/ năm kỳ hạn t của C là RC
- Mức tỷ giá kỳ hạn t là Ft(C/T)=Ft
- Kỳ hạn kỳ phiếu là t năm
- Đặt n = 1/t, tức n là số vòng quay của hợp đồng trong một năm
VNI cân nhắc chọ một trong hai phương án đầu tư để có hiệu quả nhất là: đầu tư vào T hay đầu tư vào C Hãy hình thành tiêu chí quyết định chọn đồng tiền đầu tư ; tính gốc và lãi thu được bằng T
Phương án 1: Đầu tư vào đồng tiền T
Cứ 1 T đầu tư vào kỳ phiếu ngân hàng ,kỳ hạn t , khi đến hạn ta thu được cả gốc và lãi bằng T là:
= (1 +
Phương án 2: Đầu tư vào đồng tiền C
Để đầu tư vào C , ta phải tiến hành các bước sau:
Bước 1: bán 1 T trên thị trường ngoại hối theo tỷ giá giao ngay S để nhận một lượng
đồng tiền C là:
=
Bước 2: Dùng số C thu được để mua kỳ phiếu ngân hàng kỳ hạn t năm Khi đến
hạn gốc và lãi thu được bằng C là:
=
Kết quả đầu tư gốc và lãi thu được bằng C là đảm bảo chắc chắn, nhưng sau khi chuyển đổi từ C sang T , thì lượng T cuối cùng thu được sẽ là một số không chắc chắn, bởi vì còn phụ thuộc vào mức tỷ giá giao ngay tại thời điểm kỳ phiếu đến hạn Nhưng nếu VNI sử dụng hợp đồng kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá thì lượng T cuối cùng thu được sẽ là một số chắc chắn và biết trước
Bước 3: Tại thời điểm đầu tư (hôm nay), VNI bán kỳ hạn toàn bộ gốc và lãi bằng
C để nhận T theo tỷ giá kỳ hạn Ft, thì sau thời gian t, cứ 1T đầu tư vào C hôm nay ,sẽ thu được cả gốc và lãi bằng T chắc chắn là:
=
Bước 4: Tính mức lãi suất quy đổi đầu tư từ C sang T
Trang 3Áp dụng công thức tổng quát tính mức lãi suất là :
Trong đó: P0 là khoản tiền gốc , Pt là khoản tiền gốc và lãi khi đến hạn , t là thời hạn tính theo năm , n = 1/t
Trong phương pháp đầu tư vào C quy T , ta có:
- Khoản tiền gốc P0 =1T
- Gốc và lãi quy thành T là : Pt =
Gọi mức lãi suất đầu tư vào C quy đổi sang T là T .Thay các thông số thích hợp vào công thức trên ta có:
RCT =n.[]
Bước 5: So sánh giữa RT và RC T để ra quyết định đầu tư như sau:
a/ Nếu RT > RC T => Quyết định đầu tư vào T
Gốc và lãi thu được bằng T là:
=PT.(1+
b/ Nếu RT < RC T => Quyết định đầu tư vào C
Gốc và lãi thu được quy T là:
= PT (1+
c/ Nếu RT = RC T => Đầu tư vào T hay C đều có kết quả như nhau
Qua phân tích cho thấy , việc chỉ so sánh đơn thuần mức lãi suất giữa các đồng tiền là chưa đủ căn cứ để chọn đồng tiền đầu tư Để quyết định đầu tư vào đồng tiền nào phải đề cập đến yếu tố tỷ giá kỳ hạn, trên cơ sở đó so sánh mới lựa chọn được đồng tiền đầu tư
1.2 Lựa chọn đồng tiền đi vay
Giả sử, VNB (Vietnam Borrower) có nhu cầu vốn là PT , thời hạn t ( năm) và quyết định đi vay trên thị trường tiền tệ Các thông số thị trường như sau:
- Mức lãi suất/năm kỳ hạn t của T là rT
- Mức lãi suất/năm kỳ hạn t của C là rC
Trang 4- Mức tỷ giá giao ngay S(C/T) = S
- Mức tỷ giá kỳ hạn t là Ft (C/T) = Ft
- Kỳ hạn kỳ phiếu là t năm
- Đặt n = 1/t tức n là số vòng quay của hợp đồng trong một năm
VNB cân nhắc chọn một trong hai phương án đi vay để có chi phí thấp nhất là: Đi vay bằng T hay Đi vay bằng C Hãy hình thành tiêu chí quyết định chọn đồng tiền đi vay; tính gốc và lãi phải trả bằng T
Phương án 1: Đi vay bằng đồng tiền T
Cứ 1 T đi vay, khi đến hạn, gốc và lãi phải trả bằng T là:
=
Phương án 2: Đi vay bằng đồng tiền C
Muốn đi vay bằng C, phải tiến hành các bước sau:
Bước 1: Để có 1 T ngày hôm nay, thì số C phải đi vay là:
=
Bước 2: Gốc và lãi phải trả bằng C là:
=
Gốc và lãi phải trả bằng C là một số biết trước và là cố định, nhưng chi phí bằng T
để mua C trả nợ lại và một số chưa chắc chắn, vì nó phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay tại thời điểm đến hạn Để cố định chi phí bằng T phải trả là bao nhiêu khi đến hạn, thì VNB phải sử dụng hợp đồng kỳ hạn để mua số tiền gốc và lãi bằng C phải trả
Bước 3: Tại thời điểm đi vay, VNB ký hợp đồng kỳ hạn mua C ( gốc và lãi phải trả),
chi phí phải trả ( gốc và lãi) bằng T cho mỗi T sưr dụng thông qua phương an vay C là:
=
Bước 4: Tính mức lãi suất quy đổi đi vay C quy T
Gọi mức lãi suất đi vay C quy đổi ra T là
= n
Bước 5: So sánh rT và để ra quyết định đi vay như sau:
a/ Nếu rT < => quyết định đi vay đồng tiền T
Gốc và lãi phải trả bằng T là:
Trang 5= PT
b/ Nếu rT > => quyết định đi vay đồng tiền C
Gốc và lãi phải trả quy T là:
= PT
c/ Nếu rT = => quyết định đi vay đồng tiền T hay C là như nhau
Qua phân tích trên cho thấy, việc chỉ so sánh đơn thuần mức lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau là là chưa đủ căn cứ trong quyết định đi vay Để quyết định nên đi vay đồng tiền nào thì cần đề cập đến yếu tố tỉ giá kỳ hạn, trên cơ sở đó mới có thể so sánh và lựa chọn đồng tiền đi vay
2 Khái niệm ngang giá lãi suất
Từ học thuyết PPP cho thấy, đồng tiền tiềm ẩn lạm phát cao sẽ giảm giá trong tương lai, còn đồng tiền có lạm phát thấp sẽ tăng giá trong tương lai Do đó, có thể thấy rằng một đồng tiền tiềm ẩn lạm phát cao phải có mức lãi suất cao hơn đồng tiền có lạm phát thấp, khi đó mức lãi suất thật của hai đồng tiền là như nhau, có như vậy thị trường mới trở nên cân bằng Như vậy xét theo tiêu chí lãi suất thì việc đầu tư hay đi vay bằng bất kỳ
đồng tiền nào cũng sẽ có kết quả là như nhau Hay nói cách khác hoạt động đầu tư hay đi
vay trên thị trường tiền tệ sẽ có mức lãi suất là như nhau khi quy về một đồng tiền chung cho dù đồng tiền đầu tư hay đi vay là đồng tiền nào.
Tại sao tồn tại quy luật ngang giá lãi suất?
Đứng đằng sau quy luật này là những nhân tố nào?
Trong thực tế thì quy luật này có tồn tại không?
Nếu tồn tại thì những nhân tố nào làm cho nó không được duy trì tốt trong thực tế?
Quy luật IRP sẽ trả lời các câu hỏi trên
Để hình thành IRP chúng ta đưa ra năm giả thiết:
1. Không tồn tại chi phí giao dịch
2. Không tồn tại hàng rào chu chuyển vốn (thuế, cota…)
3. Kinh doanh tiền tệ quốc tế không chịu rủi ro quốc gia
4. Các chứng khoáng có chất lượng như nhau
5. Thị trường tiền tệ cạnh tranh hoàn hảo
Năm giả thiết này không hoàn toàn thực tế nhưng thế giới đang tịnh tiến ngày càng gần đến các giả thiết này
Quy luật IRP được nghiên cứu thông qua hai cơ chế:
Trang 6- Cơ chế kinh doanh chênh lệch giá có bảo hiểm rủi ro tỷ giá Gọi là có bảo hiểm bởi vì
trong quá trình đầu tư hay đi vay chúng ta đã sử dụng tỷ giá kỳ hạn để quy đổi khoản tiền gốc và lãi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác nên đã loại trừ được rủi ro tỷ giá, tức là rủi ro tỷ giá được bảo hiểm
- Cơ chế kỳ vọng không có bảo hiểm rủi ro tỷ giá Gọi là không bảo hiểm bởi vì trong quá
trình đầu tư hay đi vay chúng ta không sử dụng tỷ giá kỳ hạn mà sử dụng tỷ giá giao ngay
dự tính để quy đổi khoản tiền gốc và lãi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác nên rủi ro
tỷ giá luôn tồn tại.
3.Quy luật ngang giá lãi suất – IRP.
3.1.Quy luật ngang giá lãi suất có bảo hiểm – CIP.
3.1.1.Cơ chế hình thành CIP.
- Quy luật CIP cũng được duy trì trên cơ sở kinh doanh chênh lệch giá (lãi suất) trên thị trường tiền tệ Các nhà kinh doanh chênh lệch lãi suất luôn tận dụng mọi cơ hội để kiếm lợi nhuận khi lãi suất giữa các đồng tiền được yết là không nhất quán với nhau
- Do hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất không chịu rủi ro tỷ giá (vì sử dụng hợp đồng kỳ hạn), không phải bỏ vốn kinh doanh và ngày nay các thị trường tài chính rất linh hoạt và liên kết với nhau, cho nên hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất rất cạnh tranh và phát triển tương đối hoàn hảo Đây chính là động lực khiến cho quy luật CIP được hình thành và duy trì
Để xem quy luật CIP hình thành và duy trì như thế nào ta xét 2 trường hợp:
A. Trường hợp 1: r T < r C T
r T < n.[
Do rT < rC nên:
1. Đầu tư vào C có bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ có lãi nhiều hơn so với đầu
tư vào T
2. Đi vay bằng T có bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ có chi phí thấp hơn so với
đi vay bằng C
3. Nếu đồng thời đi vay T và đầu tư vào C có bảo hiềm rủi ro tỷ giá (tức kinh doanh chênh lệch lãi suất) sẽ có lãi
Quá trình này diễn ra và tác động đến thị trường như sau:
Bước 1: Đi vay T, làm cho lãi suất rT tăng, tức làm cho vế trái bất đẳng thức tăng Bước 2: Dùng số T vay được để mua giao ngay C, làm cho tỷ giá giao ngay S tăng
và tác động làm cho vế phải của bất đẳng thức giảm
Trang 7Bước 3: Dùng số C mua được để đầu tư, làm cho lãi suất rC giảm và tác động làm cho vế phải bất đẳng thức giảm
Bước 4: Đi bán kỳ hạn toàn bộ gốc và lãi thu được bằng C để nhận lại T, làm cho tỷ giá kỳ hạn Ft giảm và tác động làm cho vế phải bất đẳng thức giảm xuống
Các bước từ 1-4 được thực hiện vào thời điểm hôm nay
Bước 5: Tại thời điểm đến hạn, thu lãi kinh doanh trên 1 T đi vay (đơn vị T) theo công thức:
Lãi= [(gốc + lãi) đầu tư quy T] – [(gốc + lãi) đi vay bằng T]
Hoặc: Lãi =
=
Từ sự phân tích trên ta đi đến kết luận : Nếu thị trường ở trang thái rT < rC , thì trạng thái này cũng chỉ tạm thời; các lực lượng thị trường luôn có xu hướng làm cho hai vế trở nên cân bằng trong dài hạn tức rT = rCT , đây chính là quy luật ngang giá lãi suất
B. Tình huống 2: Nếu r T > r C T
Lập luận tương tự để đi đến kết luận : Nếu thị trường ở trạng thái rT > rCT, thì trạng thái này cũng chỉ là tạm thời; các lực lượng thị trường luôn có xu hướng làm cho 2 vế trở nên cân bằng trong dài hạn, tức rT = rC, đây chính là quy luật ngang giá lãi suất CIP
Kết luận: Với các giả thuyết đã cho, thì các lực lượng thị trường luôn có xu hướng
làm cho lãi suất của các đồng tiền khác nhau là ngang nhau khi quy về một đồng tiền chung Như vậy, quy luật CIP là quy luật của thị trường làm cho lãi suất các đồng tiền trở nên ngang giá; do đó, CIP chính là quy luật một giá trên thị trường tiền tệ
3.1.2 Các dạng biểu hiện của CIP
1 Ngang giá lãi suất (CIP), kỳ hạn 1 năm:
a) Dạng số tuyệt đối:
Theo quy luật CIP cho kỳ hạn 1 năm (n=1), ta có:
r = (1+r*)-1
F1 = S (7.3)
Công thức (7.3) gọi là CIP số tuyệt đối cho kỳ hạn một năm Ngang giá lãi suất CIP kỳ hạn một năm nói lên rằng: “ nếu mức lãi suất/năm của đồng tiền là định giá r, của đồng tiền yết giá là r, tỷ giá giao ngay là S, thì theo quy luật CIP tỷ giá kỳ hạn sẽ được xác định theo công thức(7.3)”; hay nói cách khác, nếu tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức (7.3), thì hai đồng tiền sẽ là CIP
b) Dạng số tương đối:
Gọi p (p nhỏ) là tỷ lệ gia tăng của tỷ giá kỳ hạn một năm so với tỷ giá giao ngay Xác định p để hai đồng tiền ngang giá lãi suất với nhau
P = = -1
Trang 8Nếu p>0 (F>S) gọi là điểm kỳ hạn gia tăng (premium).
Nếu p<0 (F<S) gọi điểm kỳ hạn khấu trừ (discount)
Công thức (7.4) gọi là CIP, dạng tỷ lệ cho một năm
Vì r là mức lãi suất/năm, nếu mẫu số của công thức (7.4) là một số gần bằng một đơn vị; một số chia cho một số gần bằng 1, thì coi như bằng chính nó; do đó CIP dạng gần đúng, kỳ hạn 1 năm là:
2 Ngang giá lãi suất (CIP), kỳ hạn dưới 1 năm:
a) Dạng số tuyệt đối:
Nếu thời hạn hợp đồng là t năm (t<1) Đặt n = 1/t, thì công thức CIP số tuyệt đối, cho kỳ hạn t như sau :
r = n [ (1+) - 1 ]
b) Dạng số tương đối :
Gọi tỷ lệ chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và giao ngay là pt, ta có :
Pt=
Công thức (7.6) gọi là CIP dạng tỷ lệ % cho kỳ hạn (t=1/t)
Dạng gần đúng :
Pt = (7.6*)
3 Ngang giá lãi suất (CIP), kỳ hạn trên 1 năm :
a) Dạng số tuyệt đối :
Một cách tổng quát, nếu thời hạn là t năm (t>1) Công thức xác định tỷ giá kỳ hạn cuối kỳ t (Ft) theo CIP như sau :
b) Dạng số tương đối :
Goi pt là tỷ lệ thay đổi tỷ giá kỳ hạn so với tỷ giá giao ngay sau thời gian t :
Pt =
Nếu pt>0, thì ngoại tệ lên giá, nội tệ giảm giá kỳ hạn
Nếu pt<0, thì ngoại tệ giảm giá, nội tệ lên giá kỳ hạn
3.2 Qui luật ngang giá lãi suất không có bảo hiểm-uip
Trang 93.2.1 Tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay kỳ vọng
Trong thực tế, dưới áp lực của hành vi đầu cơ làm cho tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay kỳ vọng tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn có xu hướng bằng nhau Thật vậy: Gọi:
Thời hạn hộp đồng kỳ hạn là t (tính bằng năm)
Tỷ giá kỳ hạn Ft(C/T) Là Ft
Tỷ giá giao ngay kì vọng Ste ( C/T) Là S
Ta chứng minh rằng các lực lượng thị trường làm cho :
Ste = Ft
Có 2 khả năng xảy ra là:
Khả năng 1: nếu Ste > Ft : các nhà đầu cơ sẽ mua kỳ hạn C tại mức tỷ giá Ft để sau t năm , tức là tại thời điểm kỳ hạn đến hạn, bán lại C với tỷ giá giao ngay kỳ vọng là Ste Lãi phát sinh kỳ vọng trên 1 C giao dịch sẽ là:
Ste – Ft > 0
Thông qua hành vi mua kỳ hạn , các lực lượng thị trường làm cho tỷ giá Ft tăng lên sát với tỷ giá giao ngay trong kỳ vọng Ste Các hành vi kỳ vọng chỉ dừng lại chừng nào
Ste =Ft
Khả năng 2: nếu Ste < Ft : Các nhà đầu cơ sẽ bán kỳ hạn C tại mức tỷ giá Ft để sau t năm, mua lại C với tỷ gá giao ngay kỳ vọng là Ste Lãi phát sinh kỳ vọng trên 1 C giao dịch sẽ là:
Ft – Ste > 0
Thông qua hành vi đầu cơ bán kỳ hạn C , các lực lượng thị trường làm cho tỷ giá kỳ hạn Ft giảm sát xuống tỷ giá giao ngay kỳ vọng Ste Các hành vi đầu cơ chỉ dừng lại khi
Ste = Ft
Qua phân tích cho thấy , nếu thị trường ở trạng thái khả năng 1 hay khả năng 2 thì cũng chỉ là tạm thời, xu hướng của thị trường là làm cho tỷ giá kỳ hạn phản ánh tỷ giá giao ngay kỳ vọng tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn Do đó theo qui luật thị trường ta có thể viết:
Ft = Ste
Trang 103.2.2 Các dạng biểu hiện của UIP.
Gọi là độ lệch giá giữa tỷ giá giao ngay kỳ vọng với tỷ giá giao ngày hiện hành, ta có:
=
Thay = , suy ra = do đó, để hình thành UIP ta chỉ cần thay và vào các công thức dạng CIP tương ứng là được UIP là mẫu ngang giá lãi xuất không có bảo hiểm rủi
ro tỷ giá, hay còn gọi là ngang giá lãi suất dạng kỳ vọng
a.Kỳ hạn 1 năm:
Dạng số tuyệt đối: = S
Dạng số tương đối: =
Gần đúng: = r -
b.Kỳ hạn t năm (t<1):
Dạng số tuyệt đối: = S
Dạng tương đối: =
Dạng gần đúng: =
c.Kỳ hạn t năm (t>1).
Dạng tuyệt đối: = S
Dạng tương đối: =
3.2.3 Ý nghĩa của UIP
•UIP có thể biểu diển ở dạng có ý nghĩa hơn như sau:
•Phương trình nói lên rằng, nếu thị trường là hoàn hảo, thì chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền phải phản ánh tỷ lệ biến động của tỷ giá giao ngay kỳ vọng