Lãi suất kép: Là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay.. Phân loại theo phương pháp trả lãi: Lãi suất chiết khấu: lãi suất
Trang 1Nội dung Trang
Lời mở đầu 1
Lời cám ơn 2
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT 1.1 Khái niệm lãi suất 3
1.2 Vai trò của lãi suất 3
1.3 Phương pháp tính lãi 3
1.4 Phân loại lãi suất 4
PHẦN 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT 2.1 Các nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến lãi suất 6
2.1.1 Cầu quỹ cho vay 6
2.1.2 Cung quỹ cho vay 6
2.2 Các nhân tố gián tiếp tiếp ảnh hưởng đến lãi suất 6
2.2.1 Lạm phát dự tính 6
2.2.2 Sự phát triển của kinh tế trong chu kỳ kinh doanh 6
2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 6
2.2.4 Chính sách tài khóa của Nhà nước 7
2.2.5 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương 8
2.3 Các yếu tố tác động của chuyển động lãi suất 8
2.3.1 Lãi suất và đầu tư 8
2.3.2 Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm 9
2.3.3 Lãi suất và xuất khẩu ròng 9
2.3.4 Lãi suất và lạm phát 10
2.4 Những thay đổi trạng thái cần bằng lãi suất 11
2.4.1 Sự thay đổi trong cầu trái phiếu 11
Trang 22.5 Vận dụng các yếu tố ảnh hưởng của lãi suất 12
2.5.1 Lãi suất ảnh hưởng đến Đầu tư 12
2.5.2 Lãi suất và Chi tiêu tiêu dùng 12
2.5.3 Lãi suất ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng 12
2.5.4 Lãi suất ảnh hưởng đối với lạm phát 13
PHẦN 3: LÝ THUYẾT CẤU TRÚC LÃI SUẤT 3.1 Cấu trúc rũi ro của lãi suất 14
3.1.1 Rủi ro vỡ nợ 14
3.1.2 Tính thanh khoản 17
3.1.3 Nghĩa vụ thuế thu nhập 18
3.1.4 Mối quan hệ giữa các nguyên nhân 19
3.2 Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất 20
3.2.1 Đường cong lãi suất 20
3.2.2 Những lý thuyết cấu trúc kỳ hạn của lãi suất 23
3.2.2.1 Lý thuyết kỳ vọng (Expectations Theory) 23
3.2.2.2 Thuyết thị trường phân lập (Segmented Markets Theory) 26
3.2.2.3 Lý thuyết phần bù thanh khoản (Liquidity Premium) 27
3.2.3 Ứng dụng của cấu trúc kỳ hạn 31
PHẦN 4: KẾT LUẬN Kết luận 33
Tài liệu tham khảo 34
Trang 3
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay vốn ngân hàng hoặc tín dụng thương mại để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trong đó, lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vốn tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếu lãi suất vay quá cao, doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp
Do vậy, cần có một cơ chế lãi suất linh hoạt nhạy bén để cung cấp cho người vay những thông tin tài chính kịp thời, chính xác từ đó có những quyết sách phù hợp với thực tế, thúc đẩy lưu thông tiền vốn và tăng tính cạnh tranh thị trường
Nhận thức được tầm quan trọng của cơ cấu lãi suất và ý nghĩa của nó Nhóm chúng em đã chủ động tìm hiểu vấn đề này Đây là một vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao và đặc biệt là có ý nghĩa gắn chặt với đời sống kinh tế ngày nay
Kết cấu của bài thuyết trình này bao gồm, 4 phần:
Phần 1: Tổng quan về lãi suất
Phần 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Phần 3: Lý thuyết cấu trúc lãi suất
Phần 4: Kết luận
Do thời gian có hạn, mặc dù rất cố gắng song khó tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế Vì vậy, nhóm chúng em rất mong nhận được những đóng góp quý báu của Thầy TS Diệp Gia Luật để nhóm chúng em có điều kiện bổ sung và nâng cao thêm kiến thức, trình độ hiểu biết của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 03 năm 2015
Thực hiện
Nhóm 3_Lớp Cao học 17 (Sáng CN)
Trang 4
Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập và phát triển, tiền tệ có vai trò ngày càng quan trọng Đối với mỗi cá nhân thị trường tài chính – tiền tệ tác động trực tiếp đến những hoạt động tiêu dùng và tiết kiệm hằng ngày của họ Đối với mỗi doanh nghiệp thị trường tài chính – tiền tệ tác động trực tiếp và gián tiếp đến những hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp, thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn đầu tư cho doanh nghiệp, song bên cạnh đó các tác động của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán và các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước cũng có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư doanh nghiệp Do đó mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp cần có những kiến thức nhất định về thị trường tài chính – tiền tệ để huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính sao cho có hiệu quả nhất
Qua thời gian học tập môn học tài chính – tiền tệ và làm những chủ đề thuyết trình nhóm, cùng với sự nhiệt tình hướng dẫn và góp ý tận tình của Thầy
TS Diệp Gia Luật đã giúp nhóm chúng em cụ thể hóa được giữa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao nhận thức của bản thân và bổ sung thêm rất nhiều kiến thức quý báu, bổ ích mà trong quá trình học Cử nhân trước đây và trong quá trình làm việc thực tế chúng em chưa có cơ hội để hiểu thấu đáo
Nhóm chúng em xin được gửi lời chân thành cảm ơn sâu sắc đến Thầy TS Diệp Gia Luật, người Thầy đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em có cơ hội được thể hiện những hiểu biết và những chính kiến của chúng
em trong suốt thời gian học tập và thuyết trình
Cùng với tất cả lòng chân thành biết ơn sâu sắc của mình, nhóm chúng em kính chúc Thầy luôn luôn có sức khỏe dồi dào và luôn luôn đạt kết quả cao trong công tác nghiên cứu và giảng dạy
Chân thành cám ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 03 năm 2015
Thực hiện
Nhóm 3_Lớp Cao học 17 (Sáng CN)
Trang 5PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT
1.1 Khái niệm lãi suất
Khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu Tỷ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
Hay nói một cách khác thì, lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay Cụ thể, lãi suất là phần trăm tiền gốc phải trả cho một lượng tiền nhất định của mỗi thời kỳ vay (thường được tính theo năm)
Công thức tính lãi suất:
% Lãi suất = Tiền lãi x 100
Tiền gốc
Trong đó:
Tiền lãi là số tiền mà người nhận tín dụng phải trả cho người cấp tín dụng
Tiền gốc là số tiền người nhận tín dụng được sử dụng theo hợp đồng tín dụng
1.2 Vai trò của lãi suất
Lãi suất là phương tiện khích thích lợi ích vật chất để thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
Lãi suất là công cụ kích thích đầu tư phát triển kinh tế
Lãi suất là đòn bẩy kích thích ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
Lãi suất là một trong những công cụ dự báo tình hình nền kinh tế
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.3 Phương pháp tính lãi
Lãi suất đơn:
Là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kỳ hạn vay
Trang 6Lãi suất kép:
Là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay Lãi của kỳ trước được nhập vào gốc để tính lãi cho kỳ sau Công thức: V = V0 x (1 + i)n
Trong đó:
V: số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ
V0: Số tiền gốc ban đầu
n: số thời kỳ gửi vốn
1.4 Phân loại lãi suất
Phân loại theo thời hạn:
Lãi suất không kỳ hạn: là lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng không quy định thời gian đáo hạn
Lãi suất ngắn hạn: là lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng từ một năm trở xuống
Lãi suất trung và dài hạn: là lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng trung và dài hạn
Phân loại theo lạm phát:
Lãi suất danh nghĩa (Nominal Interest Rate – NIR): Là mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng và cố định suốt toàn bộ thời gian hợp đồng
Lãi suất thực (Real Interest Rate – RIR): Là mức lãi suất danh nghĩa đã được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát
RIR = NIR – tỷ lệ lạm phát
Phân loại theo tính linh hoạt của lãi suất:
Lãi suất cố định: Là mức lãi suất được quy định chính xác trong suốt thời gian của hợp đồng tín dụng
Ví dụ: khung lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm cố định của ngân hàng Lãi suất thả nổi: Là mức lãi suất của hợp đồng tín dụng được neo vào một lãi suất không cố định trên thị trường
Ví dụ: quy định lãi suất hợp đồng tín dụng là lãi suất LIBOR 6 tháng cùng
kỳ cộng 0,05%
Phân loại theo phương pháp trả lãi:
Lãi suất chiết khấu: lãi suất ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
Lãi suất Coupon: là tỷ lệ lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu mà tổ chức phát hành phải thanh toán cho người đầu tư trong suốt thới hạn của trái phiếu
Lãi suất đáo hạn: là phần trăm hàng năm của trái phiếu nắm giữ cho đến ngày đáo hạn theo quy định Đây là một phương pháp thường được chấp nhận để
Trang 7so sánh lợi suất trên trái phiếu với phiếu lãi suất các chứng khoán khác nhau, bởi vì
nó giả định thu nhập tiền lãi sẽ được tái đầu tư với lợi suất hiện tại, và có xét đến bất kỳ điều chỉnh nào về phần bù hay chiết khấu trái phiếu Vì lý do này mà nó khác với lợi suất hiện tại, có thể cao hơn hoặc thấp hơn
Phân loại theo quan hệ tín dụng
Lãi suất tiền gửi: là lãi suất mà ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng
Lãi suất cho vay: là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng (là người cho vay), Lãi suất cho vay có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau, mức rủi ro khác nhau
Lãi suất chiết khấu thương mại: là lãi suất ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng Trung ương tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của ngân hàng Lãi suất này do NHTƯ ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ
Lãi suất tái cấp vốn: là lãi suất mà Ngân hàng Trung Ương áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho hệ thống các Ngân hàng thương mại Ngân hàng Trung Ương tái cấp vốn cho các Ngân hàng thương mại thông qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn
Lãi suất liên Ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng
Lãi suất cơ bản: là lãi suất thấp nhất được các Ngân hàng thương mại áp dụng đối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn, độ tín nhiệm cao Lãi suất này được quyết định bởi Ngân hàng Trung Ương Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn và chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh
Trang 8PHẦN 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT 2.1 Các nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến lãi suất
2.1.1 Cầu quỹ cho vay:
Cầu của Doanh nghiệp
Cầu của chính quyền
Cầu của người tiêu dùng
2.1.2 Cung quỹ cho vay
Cung – cầu tiền
Tiết kiệm của các cá nhân, hộ gia đình
Tiết kiện của các Doanh nghiệp
Nguồn thặng dư của Ngân sách Nhà nước
Dòng chảy tiết kiệm từ nước ngoài vào nội địa
2.2 Các nhân tố gián tiếp tiếp ảnh hưởng đến lãi suất
2.2.1 Lạm phát dự tính:
Lạm phát dự kiến hay còn gọi là lạm phát ì: Là loại lạm phát xảy ra do mọi người đã dự tính trước cả đường AS và AD đều dịch chuyển dần lên phía trên với cùng một tốc độ, P nhưng Y và việc làm không đổi
2.2.2 Sự phát triển của kinh tế trong chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh là một loại dao động được nhận thấy trong các hoạt động kinh tế tổng hợp của những quốc gia mà tổ chức công việc chủ yếu của họ diễn ra trong các đơn vị sản xuất kinh doanh: một chu kỳ gồm có các quá trình mở rộng sản xuất xuất hiện vào các khoảng thời gian giống nhau ở rất nhiều hoạt động kinh
tế, kế theo là các giai đoạn giảm sút, thu hẹp và các giai đoạn phục hồi tương tự mà những giai đoạn này hợp nhất vào giai đoạn mở rộng của chu kỳ tiếp theo; quá trình thay đổi liên tiếp này thường xuyên diễn ra nhưng không mang tính định kỳ;
độ dài của các chu kỳ kinh doanh thường từ hơn 1 năm tới 10 hoặc 20 năm; chúng không thể chia được thành các chu kỳ ngắn hơn mà những chu kỳ này có những đặc tính tương tự với biên độ dao động xấp xỉ của chính chúng
2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ giữa tổng mức lợi nhuận sau thuế đạt được trong kỳ với tổng doanh thu bán hàng trong kỳ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu =
Lợi nhận ròng (sau thuế và lãi vay)
x 100%
Doanh thu thuần
Trang 9Ý nghĩa: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy cứ một đồng doanh thu thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt, chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hợp lệ và ngược lại Nếu đem so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp với ngành mà cho thấy thấp hơn điều
đó chứng tỏ doanh nghiệp đang bán với giá thấp hơn, hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn (có chi phí sản xuất kinh doanh cao hơn) so với các doanh nghiệp khác cùng ngành
2.2.4 Chính sách tài khóa của Nhà nước
Giai đoạn từ năm 2009 đến nay, kinh tế toàn cầu suy thoái, kinh tế nước ta đối mặt với rất nhiều khó khăn Thị trường Việt Nam có độ mở cao (xuất, nhập khẩu trên 150% GDP); khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tuy chỉ chiếm trên 27% tổng đầu tư xã hội, nhưng luôn đạt từ 55 - 70% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu nên sau khi khủng hoảng nổ ra, thị trường xuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột, nền kinh tế Việt Nam lập tức rơi vào tình trạng sản xuất trì trệ Nền kinh tế suy yếu đi, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng suy kiệt, phải đóng cửa Trong năm 2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉ USD và năm
2009 nhập siêu khoảng 12 tỉ USD Năm 2012, nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn
và một số rủi ro tiềm ẩn khác như: nợ xấu của khu vực bất động sản vẫn chưa được giải quyết
Giai đoạn 2006-2011, cơ cấu thu ngân sách nhà nước có xu hướng chuyển dịch tích cực với tỷ trọng thu nội địa (gắn với sản xuất, kinh doanh trong nước) đã tăng nhanh, từ trên 50% đầu giai đoạn lên trên 60% tổng thu vào cuối giai đoạn Thu nội địa liên tục vượt dự toán hàng năm 10-15%, thậm chí vượt tới 26,9% dự toán năm 2008 Tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ dầu thô giảm mạnh từ khoảng hơn 25% xuống 13-14% tổng thu ngân sách nhà nước, trong khi tỷ trọng thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu ít thay đổi và dao động quanh mức 20% tổng thu
Cơ cấu chi hầu như không thay đổi, trong đó, chi đầu tư phát triển giai đoạn
2006 - 2011 chiếm khoảng 20-30% tổng chi ngân sách nhà nước và cũng luôn vượt
dự toán hàng năm từ 5% (2007) đến 19,8% (2008) và tới 59,54% (2009) với lý do tăng chi để kích thích tăng trưởng kinh tế, đối phó tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Chi thường xuyên giai đoạn 2006 - 2011 vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi ngân sách nhà nước với khoảng 50-60%, liên tục vượt dự toán chi thường xuyên ở mức từ 5,24% (2009) đến 9,3% (2007) và thậm chí tới 15,3% (2008)
Trang 102.2.5 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
Nghiệp vụ thị trường mở:
Là hoạt động NHTƯ mua, bán giấy tờ có giá ngắn hạn mà chủ yếu là tín phiếu Kho bạc trên thị trường tiền tệ mở để làm thay đổi lượng tiền mặt của các NHTM làm ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của
hệ thống ngân hàng dẫn đến thay đổi lượng tiền cung ứng
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
- Tại sao NHTƯ lại quy định tỷ lệ DTBB?
+ Đảm bảo khả năng thanh toán cho NHTM trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng
+ Là công cụ điều hành chính sách tiền tệ
- Cơ chế tác động: theo 3 cách:
+ Tỷ lệ DTBB tăng khả năng cho vay của các NHTM giảm
+ Tỷ lệ DTBB tăng khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống NH giảm + Tỷ lệ DTBB tăng giảm cung vốn của NHTM tăng lãi suất liên ngân hàng dẫn đến tăng lãi suất dài hạn, MS giảm
2.3 Các yếu tố tác động của chuyển động lãi suất
2.3.1 Lãi suất và đầu tư
Lượng cầu về hãng đầu tư phụ thuộc vào lãi suất, để một dự án đầu tư có lãi, lợi nhuận thu được phải cao hơn chi phí Vì lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ cho đầu tư, việc tăng lãi suất làm giảm số lượng dự án đầu tư có lãi, bởi vậy nhu cầu về hãng đầu tư giảm do đó đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất
Lãi suất thực tế phản ánh chi phí thực sự của tiền vay do vậy chúng ta nhận định đầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất là lãi suất danh nghĩa Mối quan hệ giữa lãi suất thực tế (r) và đầu tư có thể biểu thị bằng phương trình sau: I = I(r)
Phương trình này hàm ý đầu tư phụ thuộc vào lãi suất
Trang 11Đồ thị biểu thị hàm đầu tư, nó dốc xuống vì khi lãi suất tăng lượng cầu về đầu tư giảm
Mặt khác kinh tế học Macxit trong phân tích về tư bản cho vay và chỉ rõ rằng:
lãi suất < tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội
Nếu mối quan hệ này bị vi phạm lợi ích của người đi vay sản xuất không được giải quyết thoả đáng sẽ làm giảm ý muốn đầu tư sản xuất, không mở rộng được quy mô, tốc độ phát triển của nền kinh tế Đồng thời người ta thích gửi tiền hơn và hình thành một lớp người thực lợi, sống vào lãi suất tiết kiệm
2.3.2 Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của cá nhân bao giờ cũng được chia làm hai phần là tiêu dùng và tiết kiệm Hành vi tiết kiệm với kỳ vọng phòng ngừa rủi ro, mở rộng sản xuất, tích luỹ và tiêu dùng trong tương lai chính là cung về vốn vay trong nền kinh tế
Tiêu dùng là một hàm phụ thuộc vào thu nhập khả dụng Ở mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, sự thắt chặt hay nới lỏng của chính sách thuế mà ngân sách dành cho chi tiêu bị tác động Tiết kiệm bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như thu nhập, tập quán tiết kiệm và lãi suất Khi lãi suất tăng làm tăng ý muốn tiết kiệm và
sự sẵn sàng chi tiêu giảm xuống
Tiết kiệm là một hàm phụ thuộc thuận vào lãi suất : S =S (r)
2.3.3 Lãi suất và xuất khẩu ròng
Chính sách thương mại là chính sách của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng xuất nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia Một chính sách thương mại phổ biến là thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu Một hình thức khác là hạn ngạch nhập khẩu, một sự hạn chế của một mặt hàng sản xuất tại nước ngoài được bán trong nước Chính sách thương mại hiện rất phổ biến khắp toàn thế giới mặt dù đôi khi chúng được che đậy Ví dụ như chính phủ Mỹ thường gây sức ép lên các nhà
Trang 12sản xuất ôtô Nhật đã giảm lượng xe Nhật bán vào Mỹ Những hạn chế như vậy được gọi là “sự hạn chế xuất khẩu tự nguyện” Thực chất kiểu hạn chế này không mang tính tự nguyện mà là một dạng của hạn ngạch nhập khẩu
Các hiệu ứng của hạn ngạch nhập khẩu Khi chính phủ Mỹ đưa ra hạn ngạch nhập khẩu đối với ôtô Nhật, không có gì xảy ra trên thị trường vốn vay hay đầu tư nước ngoài ròng Hiệu ứng duy nhất là làm tăng xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) tại mỗi mức tỷ giá hối đoái Kết quả là, cầu về đô la trên thị trường ngoại tệ tăng lên từ D1 đến D2 như trong phần (c) Sự tăng lên về cầu đô la làm cho giá trị đô la tăng từ E1 lên E2 Sự tăng giá trong đô la có xu hướng làm giảm xuất khẩu ròng, triệt tiêu hiệu ứng trực tiếp của hạn ngạch nhập khẩu lên cán cân thương mại
2.3.4 Lãi suất và lạm phát
Lạm pháp là sự tăng lên liên tục của mức giá, là hiện tượng mất giá của đồng tiền Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữ lãi suất và lạm phát Fisher chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao Có nhiều nguyên nhân gây nên lạm phát và cũng có nhiều biện pháp để kiểm soát lạm phát, trong đó công cụ lãi suất là một giải pháp công hiệu khá nhanh
Trong thời kỳ lạm pháp, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút phần lớn số tiền có trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm; cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế
Trang 132.4 Những thay đổi trạng thái cần bằng lãi suất
2.4.1 Sự thay đổi trong cầu trái phiếu:
Như vậy, Sự gia tăng nhu cầu trái phiếu làm cho đường cầu chuyển dịch sang phải
Sự giàu có: khi thu nhập và sự giàu có của người dân tăng, đường cầu trái phiếu sẽ chuyển dịch về bên phải
Lợi nhuận kỳ vọng: lãi suất kỳ vọng trong tương lai cao hơn lợi nhuận kỳ vọng của một trái phiếu dài hạn, thì đường cầu của trái phiếu sẽ dịch chuyển về bên trái
Lạm phát kỳ vọng: sự gia tăng lạm phát kỳ vọng làm giảm lợi nhuận kỳ vọng của trái phiếu, làm cho đường cầu trái phiếu dịch chuyển về bên trái
Rủi ro: sự gia tăng rủi ro trái phiếu làm cho đường cầu trái phiếu dịch chuyển về bên trái
Thanh khoản: Tính thanh khoản trái phiếu tăng làm cho đường cầu trái phiếu dịch chuyển sang phải
2.4.2 Sự dịch chuyển của đường cung về trái phiếu:
Mức lợi nhuận kỳ vọng của dự án đầu tư: khi mức lợi nhuận tăng, đường cung sẽ chuyển dịch về bên phải
Lạm phát kỳ vọng: Một sự tăng lên của lạm phát kỳ vọng sẽ làm cho đường cung trái phiếu dịch chuyển sang phải
Ngân sách nhà nước: thâm hụt ngân sách tăng làm cho đường cung chuyển dịch sang phải
Trang 14Như vậy, một sự gia tăng cung trái phiếu làm cho đường cung chuyển dịch sang phải
2.5 Vận dụng các yếu tố ảnh hưởng của lãi suất
2.5.1 Lãi suất ảnh hưởng đến Đầu tư
Khi lãi suất tăng cao (xem xét trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi), chi phí vay đi tăng lên làm cho thu nhập từ việc đầu tư bằng vốn vay bị giảm xuống, dẫn đến đầu tư giảm
Ngược lại khi lãi suất giảm, chi phí vốn vay giảm làm cho thu nhập từ việc đầu tư bằng vốn vay tăng lên, dẫn đến đầu tư tăng
2.5.2 Lãi suất và Chi tiêu tiêu dùng
Khi lãi suất tăng cao (xem xét trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi), chi cơ hội của việc nắm giữ tiền tăng lên làm cho người giữ tiền gửi tiền vào Ngân hàng nhiều hơn hoặc mua các trái phiếu, dẫn đến khuynh hướng tiết kiệm nhiều hơn, từ đó làm cho chi tiêu tiêu dùng giảm
Ngược lại khi lãi suất giảm việc gửi tiền vào Ngân hàng hoặc mua trái phiếu
sẽ kém hấp dẫn từ đó khuyến khích người tiêu dùng tăng chi tiêu tiêu dùng
2.5.3 Lãi suất ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng
Khi lãi suất trong nước tăng (trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi), làm tăng lợi tức dự tính về tiền gửi của đồng nội tệ, làm cho các khoản tiền gửi trở nên hấp dẫn hơn, do đó giá trị tiền gửi bằng động nội tệ tăng lên so với đồng tiền ngoại tệ khác, dẫn đến tỷ giá hối đoái giảm, làm cho hàng hóa trong nước đắt hơn so với hàng ngoại, kết quả là làm giảm xuất khẩu ròng
Trang 152.5.4 Lãi suất ảnh hưởng đối với lạm phát
Khi cung tiền trong nền kinh tế tăng lạm phát tăng và tỷ lệ lạm phát dự kiến tăng lãi suất tăng
Hiệu ứng của lạm phát dự kiến trong sự gia tăng cung tiền là sự gia tăng của lãi suất
Do vậy, khi lạm phát xảy ra Ngân hàng trung ương thực hiện mục tiêu thắt chặt tiền tệ nhằm ổn định tiền tệ, ổn định giá cả hàng hóa bằng cách tăng lãi suất tái chiết khấu Hoặc thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ, kích cầu chống giảm phát, chống suy thoái kinh tế bằng cách giảm lãi suất tái chiết khấu
Trang 16PHẦN 3: LÝ THUYẾT CẤU TRÚC LÃI SUẤT
Trước hết có 1 câu hỏi đặt ra là: Tại sao các trái phiếu lại có mức lãi suất khác nhau? Nguyên nhân gây ra sự chênh lệch đó được gọi là cấu trúc của lãi suất
Ta xét đến 2 khía cạnh về mức độ rủi ro và thời gian đáo hạn của trái phiếu thì cấu trúc lãi suất được chia thành:
Cấu trúc rủi ro của lãi suất
Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
3.1 Cấu trúc rủi ro của lãi suất
Như đã đặt câu hỏi ở trên, cấu trúc rủi ro của lãi suất là để giải thích tại sao các trái phiếu có kỳ hạn giống nhau lại có mức lãi suất khác nhau
Cụ thể gồm có 3 nguyên nhân sau:
Nguyên nhân
Rủi ro vỡ nợ Gia tăng Những người tiết kiệm phải được bù đắp do phải gánh chịu thêm rủi ro Khả năng
thanh khoản Giảm
Những người tiết kiệm tốn ít chi phí cho việc chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt
Thuế thu nhập Gia tăng
Những người tiết kiệm quan tâm đến tiền lời sau thuế và phải bù đắp số tiền nộp thuế
Cụ thể hơn chúng ta sẽ đi sâu vào từng nguyên nhân:
3.1.1 Rủi ro vỡ nợ
Rủi ro vỡ nợ là rủi ro xảy ra do người đi vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ (hoàn trả lãi, vốn gốc và lãi) cho người cho vay khi đến hạn thanh toán, hay nói một cách khác rủi ro vỡ nợ là khả năng tổ chức phát hành trái phiếu
sẽ vỡ nợ tức là không thể thực hiện được việc thanh toán tiền lãi hoặc gốc khi trái phiếu đến hạn
Trang 17Rủi ro vỡ nợ là một đặc trưng của công cụ nợ trên thị trường tín dụng, có ảnh hưởng mạnh đến lãi suất Một công cụ nợ có rủi ro vỡ nợ, luôn luôn có mức bù rủi ro là dương và những công cụ nợ có mức độ rủi ro vỡ nợ là khác nhau thì mức
bù rủi ro cũng khác nhau
Rủi ro vỡ nợ đối với những công ty thường rất cao Còn đối với những trái phiếu của Chính phủ (Công trái) thường có rủi ro thấp hoặc bằng 0 bởi vì Chính phủ có thể tăng thuế hoặc thậm chí là in thêm tiền để thanh toán các khoản nợ nần
Mức bù rủi ro: là khoảng cách lãi suất giữa một trái phiếu có rủi ro và một trái phiếu không có rủi ro
Mức bù rủi ro cho người mua trái phiếu biết sẽ nhận thêm được phần lãi là bao nhiêu để sẵn lòng nắm giữ trái phiếu rủi ro
Đặc điểm:
+ Mức phí rủi ro luôn dương
+ Rủi ro càng cao thì mức phí rủi ro càng lớn
Để xem xét tác động rủi ro của vỡ nợ đối với lãi suất, ta đi phân tích sơ đồ cung cầu cho các thị trường trái phiếu dài hạn không có vỡ nợ và thị trường trái phiếu dài hạn có vỡ nợ như sau:
Để dễ hiểu trước tiên ta giả thiết trái phiếu các công ty cũng không có khả năng vỡ nợ giống như trái phiếu của Chính phủ Trong trường hợp này cả hai loại trái phiếu có những thuộc tính như nhau (rủi ro và kỳ hạn thanh toán như nhau), lãi suất cân bằng của chúng bằng nhau và mức bù rủi ro của trái phiếu công ty bằng 0
Nếu công ty kinh doanh không tốt, rủi ro vỡ nợ tăng lên, lợi tức dự tính của các trái phiếu công ty giảm sút Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lợi tức
Trang 18dự tính giảm và tính rủi ro vỡ nợ tương đối của các trái phiếu công ty tăng làm cho chúng bị kém hấp dẫn nên lượng cầu sẽ giảm Đường cầu trái phiếu công ty sẽ dịch chuyển sang trái từ sang
Trong khi đó, lợi tức dự tính của trái phiếu Chính phủ tăng lên tương đối so với lợi tức dự tính của trái phiếu công ty và mức rủi ro vỡ nợ lại giảm tương đối nên những chứng khoán này trở nên hấp dẫn hơn Cầu trái phiếu chính phủ tăng dịch chuyển sang phải từ sang
Lãi suất cân bằng cho những trái phiếu công ty tăng đến để thu hút người mua và lãi suất trái phiếu chính phủ giảm xuống đến Khoảng các giữa mức lãi suất trái phiếu công ty và lãi suất trái phiếu Chính phủ tức là mức bù rủi ro đã tăng
từ 0 đến ( - )
Chỉ số xếp hạng tín dụng:
Do rủi ro vỡ nợ rất quan trọng đối với độ lớn của mức bù rủi ro, và những người mua trái phiếu cần có thông tin về việc liệu một công ty có khả năng vỡ nợ đối với những trái phiếu của nó hay không nên ba hãng tư vấn lớn là Moody’s, Standard and Poor’s, and Fitch đã cung cấp thông tin về rủi ro vỡ nợ bằng cách phân hạng phẩm chất những trái phiếu công ty và những trái phiếu địa phương theo xác suất vỡ nợ của chúng