Phản chứng trong các bài toán chứng minh sự không tồn tại .... Điều quan trọng của phương pháp này là tìm ra mệnh đề phủ định của điều cần chứng minh, từ đó dẫn đến sự vô lý với giả thiế
Trang 11
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 3
NỘI DUNG BÁO CÁO 4
I Tên đề tài 4
II Lý do chọn đề tài 4
III Nhiệm vụ của đề tài 4
IV Phương pháp nghiên cứu 4
V Cơ sở logic của chứng minh phản chứng 4
1 Cơ sở logic 4
2 Các bước suy luận phản chứng 5
3 Các phương pháp chứng minh phản chứng 6
VI Một số bài toán áp dụng phương pháp phản chứng 6
1 Chứng minh phản chứng của Euclide 6
2 Phản chứng trong các bài toán bất đẳng thức 10
3 Phản chứng trong các bài toán về hệ phương trình, phương trình 12
4 Phản chứng trong các bài toán về chia hết 14
5 Phương pháp chứng minh bằng phản ví dụ nhỏ nhất 17
Trang 22
6 Phản chứng trong các bài toán chứng minh sự không tồn tại 19
7 Chứng minh sử dụng mệnh đề phản chứng 22
8 Chứng minh mệnh đề bằng phản chứng 23
9 Các bài toán chứng minh phản chứng khác 24
10 Một số định lý và tính chất bằng phương pháp phản chứng 28
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 33
LỜI GIỚI THIỆU
Một bài toán đều có nhiều cách giải Để có một cách giải hay cho mỗi bài toán là cả một quá trình không hề đơn giản Mỗi phương pháp đều có cái hay riêng đối với những lớp bài toán nhất định, nhưng ta phải chọn một cách tiếp cận hợp lí nhất
Trong đề tài này chúng tôi trình bày về “Phép chứng minh phản chứng” Đây là một phương pháp thường được dùng trong lập luận toán học thể hiện sự chặt chẽ, lý luận lôgic của người giải bài toán Điều quan trọng của phương pháp này là tìm ra mệnh đề phủ định của điều cần chứng minh, từ đó dẫn đến sự vô lý với giả thiết của bài toán hay mâu thuẫn với các kiến thức toán học đã biết
Lý do chúng tôi lựa chọn đề tài này là vì “ Phép chứng minh phản chứng” là một phương pháp chứng minh toán học hay, áp dụng được cho nhiều bài toán chứng minh Tuy nhiên, phương pháp này vẫn chưa được chú trọng nhiều trong giảng dạy ở các bậc học cho học sinh Hi vọng bài tiểu luận sẽ giúp các bạn thấy được cái hay, tầm quan trọng của “Phép chứng minh phản chứng” trong chứng minh toán học Từ đó, có những áp dụng phù hợp cho quá trình học tập, giảng dạy của mình
Do thời gian cũng như kinh nghiệm chưa nhiều nên bài tiểu luận có thể gặp một số các thiếu sót nên hi vọng sẽ được sự góp ý nhiệt tình của thầy và các bạn
Trang 44
NỘI DUNG BÁO CÁO
I Tên đề tài: “ Những bài toán chứng minh bằng phương pháp phản chứng”
II Lý do chọn đề tài
Phương pháp phản chứng là một phương pháp hay, được vận dụng để giải nhiều bài toán Nhưng trong sách giáo khoa số lượng những bài tập giải bằng phương pháp này không nhiều
Muốn các bạn sinh viên sư phạm và học sinh thấy được cái hay và sự quan trọng của phương pháp này trong giải toán
III Nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu cơ sở logic của phương pháp chứng minh phản chứng
Phân loại các bài toán chứng minh bằng phương pháp chứng minh phản
chứng thành các dạng
IV Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Nhằm tìm hiểu cơ sở lô-gic của “Phép chứng minh phản chứng”
Cách tiến hành: Tìm hiểu từ các tài liệu, sách vở có liên quan
2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Mục đích: Nhằm tìm hiểu mức độ vận dụng của “Phép chứng minh phản chứng”
Cách tiến hành: Nghiên cứu những bài toán quan thuộc
V Cơ sở logic của chứng minh phản chứng
Trang 55
Phép liên kết lôgic hay còn gọi là phép toán lôgic, cho phép từ những mệnh đề
sơ cấp cho trước có thể xây dựng những mệnh đề mới ngày càng phức tạp hơn
Vì A B sai, mà A đúng nên B phải có giá trị sai Nghĩa là, B đúng
Từ B đúng thông qua một số phép biến đổi tương đương dẫn đến A đúng
Từ giả thiết và qua quá trình lập luận ta có A và A đồng thời cùng đúng
mâu thuẫn chứng tỏ giả thiết B đúng là sai Vậy B đúng Hay
A B đúng( điều phải chứng minh)
2 Các bước suy luận phản chứng:
Bước 1: Giả sử các điều chứng minh là sai ( phủ định lại mệnh đề cần
chứng minh)
Lưu ý: bước này rất quan trọng vì tạo mệnh đề phủ định chính xác thì điều chứng minh mới chính xác
những tính chất này mâu thuẫn với những điều đã cho hoặc trái với tính chất
ta đã biết
Trang 6có thể được xem là duy nhất
Chứng minh phản chứng có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học như: giải tích, hình học, đại số, số học, tổ hợp, …
VI Một số bài toán áp dụng phương pháp chứng minh phản chứng
1 Chứng minh phản chứng của Euclide
Định lý Tồn tại vô số số nguyên tố
Định lý cơ bản của số học khẳng định rằng : “ Một số tự nhiên bất kì (khác 0
và 1): hoặc là số nguyên tố, hoặc là hợp số ” Vì số tự nhiên là vô hạn, vậy câu hỏi đặt ra là : “ Có bao nhiêu số nguyên tố?” “Có thể liệt kê chúng ra hay lập thành một dãy vô hạn?”
Trang 77
Theo như Euclide khẳng định rằng : “ Tồn tại vô số số nguyên tố ” Để chứng minh điều này, Euclide đã đưa ra một lập luận rất đẹp, đó là ông giả sử ngược lại rằng tồn tại hữu hạn số nguyên tố p1, p2, pn
Ông chỉ ra rằng sẽ tìm được một số nguyên tố mới không nằm trong dãy số này Từ đó suy ra phải có vô số các số nguyên tố Để chứng minh tồn tại một số nguyên tố mới, ông vận dụng sự kiện là hai số tự nhiên liên tiếp không có ước số chung nào khác 1
Ông xét tích N=p1 p2 pn +1 N phải có ít nhất 1 ước số nguyên tố p Khi đó, do p1, p2, , pn là tất cả các số nguyên tố nên tồn tại 1 i sao cho p=pi
Nhưng khi đó N không chia hết cho p (vì n không chia hết cho pi)mâu thuẫn Như vậy, ước số nguyên tố p của N sẽ là một số nguyên tố mới không nằm trong dãy số nguyên tố này
Như vậy điều giả sử của ông là sai Vậy khẳng định “ Tồn tại vô số số nguyên tố ” là đúng
Cách chứng minh của ông thật hay Chúng ta sẽ vận dụng phương pháp chứng minh này để giải một vài bài toán tương tự:
Ví dụ 1: Chứng minh rằng tồn tại vô số số nguyên tố dạng 4k+3
Chúng ta biết rằng 2 là số nguyên tố chẵn duy nhất, còn tất cả các số nguyên tố còn lại là số nguyên tố lẻ Một số nguyên tố lẻ thì hoặc có dạng 4N+1 hoặc là có dạng 4N+3 Muốn chứng minh rằng có vô số các số nguyên tố có dạng 4N+3, chúng ta sẽ lý luận tương tự như trên
Giả sử rằng, có hữu hạn các số nguyên tố p1, p2, , pk có dạng 4N+3, chúng ta sẽ chứng minh có sự mâu thuẩn trong điều giả sử này Chúng ta sẽ chỉ
ra được một số nguyên tố mới không nằm trong dãy này và có dạng 4N+3
Trang 88
Đặt N= p1, p2, pk -1, số này có dạng 4N+3 Số N này sẽ có một ước số nguyên tố p có dạng 4N+3 Vì sao như vậy? Bởi vì N là số lẻ lớn hơn 1, cho nên nếu N không có ước số nguyên tố có dạng 4N+3 thì tất cả các ước số nguyên
tố của N sẽ có dạng 4N+1 Vậy N sẽ là tích của các số có dạng 4N+1 Dễ dàng nhận thấy rằng, tích của các số có dạng 4N+1 sẽ là 1 số có dạng 4N+1 Cho nên
N cũng có dạng 4N+1 vô lí
Như vậy N sẽ phải có ước số nguyên tố p có dạng 4N+3 Khi đó do p1, p2, , pk là tất cả các số nguyên tố có dạng 4N+3, do đó tồn tại i sao cho p=pi Nhưng khi đó N không chia hết cho p( vì N không hia hết cho pi) mâu thuẫn Như vậy, ước số nguyên tố p của N sẽ là 1 số nguyên tố mới không nằm trong dãy số nguyên tố này mâu thuẫn với điều giả sử
Ví dụ 2: Chứng minh rằng tồn tại vô số số nguyên tố dạng 4k+1
Làm theo phương pháp như trên chúng ta sẽ chọn N=4p1, p2 pk+1 và tìm cách chứng minh rằng N sẽ có ước số nguyên tố có dạng 4k+1 Tuy nhiên, nhìn
kỹ cách chứng minh này không ổn, vì tích của 2 số có dạng 4k+3 là số có dạng 4k+1 Do đó khả năng N là tích của 2 số nguyên tố có dạng 4k+3, vì vậy N sẽ không có ước số nguyên tố nào có dạng 4k+1 Trường hợp này ta không thể áp dụng cách giải này được nữa, cần phải tìm cách giải khác
Chúng ta có bổ đề: “ Với mọi số tự nhiên x thì 2
1
x không có ước nguyên
tố có dạng 4k 3” Để chứng minh bổ đề này, chúng ta sử dụng định lý Fermat Theo định lý nhỏ Fermat thì với mọi số nguyên tố p và với mọi số nguyên
a không chia hết cho p, 1
1
p
a (mod p) Chúng ta chứng minh bổ đề theo phương pháp phản chứng như sau:
Trang 99
Giả sử như 2
1
x có một ước số nguyên tố p 4k 3 Tức là: 2
x , nên theo bổ đề trên mà chúng ta vừa chứng minh, thì
n không có ước số nguyên tố có dạng 4k 3 Vì n là số lẻ nên toàn bộ các ước
số nguyên tố của n sẽ có dạng 4k 1 Mặt khác chúng ta thấy rằng không một
số p i nào trong dãy số trên là ước số của n Vậy chúng ta đã tìm được những số nguyên tố mới có dạng 4k+1
Tóm tại, cứ lấy bất kỳ một dãy số hữu hạn các số nguyên tố có dạng 4N+1 thì chúng ta lại tìm được một số nguyên tố mới cũng có dạng 4N+1, do đó sẽ có
vô hạn các số nguyên tố có dạng 4k 1
Bài tập áp dụng :
Bài 1: Chứng minh rằng tồn tại vô số các số nguyên tố có dạng 6N 1
Trang 1010
Bài 2: Chứng minh rằng tồn tại vô số các số nguyên tố có dạng 6N 5
Bài 3: Thử chọn vài giá trị khác cho a và b rồi chứng minh rằng tồn tại vô số các
số nguyên tố có dạng aNb
2 Phản chứng trong các bài toán bất đẳng thức
Trong chứng minh bất đẳng thức có trường hợp bất đẳng thức cần chứng minh thì đơn giản trong khi đó điều kiện lại phức tạp Vì vậy, phương pháp phản chứng dùng để đảo điều kiện và kết luận
Mà a b c 3 abc1 (Mâu thuẫn) Vậy điều giả sử là sai, ta có điều phải chứng minh
Trang 1111
Suy ra điều giả sử sai, vậy 3 3 3
3
a b c abc đúng với mọi a, b, c dương
Ví dụ 3: Cho ba số a b c, , 0;1 Chứng minh rằng có ít nhất một trong các bất đẳng thức sau là sai:
1 1
4
a b (1)
1 1
4
b c (2)
1 1
Vậy có ít nhất một trong các bất đẳng thức này sai
Trang 12Điều này vô lí, vì theo bất đảng thức Cauchy thì adcb2 ad cb.
Vậy BĐT ban đầu a c b d ab cd đúng
Chứng minh cả 3 số a, b, c đều âm
3 Phản chứng trong các bài toán về phương trình, hệ phương trình
Ví dụ 1: Cho a b c 0, chứng minh rằng có ít nhất một trong ba phương trình sau có nghiệm:
2
ax bx c (1) 2
bx cx a (2) 2
cx ax b (3)
Giải
Trang 1313
Giả sử cả ba phương trình trên đều vô nghiệm, thì:
' 2 1 ' 2 2 ' 2 3
0 0 0
Vậy có ít nhất một trong ba phương trình trên có nghiệm
Ví dụ 2: Nếu a a1 2 2b1b2 thì ít nhất một trong hai phương trình
Trang 1414
Vây có ít nhất 1 trong 2 số 1, 2 lớn hơn 0
Do đó, nếu a a1 2 2b1b2 thì ít nhất 1 trong 2 phương trình
x a x b x a x b có nghiệm
4 Phản chứng trong các bài toán về chia hết
2008 1 2007 1 1,mà 2007 3 nên 2008
2007 1 chia 3 dư 1.Suy ra 2008
Giả sử k không là số chình phương
Trong các phần tử của S ta chọn ra cặp A B, thỏa mãn AB nhỏ nhất
Trang 152 (2) 0
Mâu thuẫn với tính nhỏ nhất của tổng AB
Như vậy giả thiết phản chứng là sai, từ đó ta có k phải là một số chính phương
Ví dụ 3: Chứng minh rằng:
a) Tích của hai số nguyên liên tiếp chia hết cho 2
b) Tích của ba số nguyên liên tiếp chia hết cho 3
Giải:
a) Viết tích của hai số nguyên liên tiếp dưới dạng A(n) = n(n + 1)
Có hai trường hợp xảy ra : TH1: n chia hết cho 2 => n(n + 1) chia hết cho 2 TH2: n không chia hết cho 2 (n lẻ) => (n + 1) chia hết cho 22 => n(n +1) chia hết cho 2
b) Xét mọi trường hợp: n chia hết cho 3; n=3q+1; n = 3q+2
Trang 1616
Nếu n chia hết cho 3, hiển nhiên A(n) chia hết cho 3 + Nếu n = 3q+1 => n+2 = 3q+3 chia hết cho 3 + Nếu n= 3q+2 => n+1 = 3q+2+1 = 3q+3 chia hết cho 3 Trong mọi trường hợp A(n) luôn chứa một thừa số chia hết cho 3
Vậy A(n) chia hết cho 3 (đpcm)
Ví dụ 4: Chứng minh rằng không thể có hai số nguyên m , n để đẳng thức
sau được thỏa măn: 2 2
2m không chia hết cho 4 hay 2
m không chia hết cho 2⇒ 2
Trang 17Trong việc chứng minh một số tính chất bằng phương pháp phản chứng, ta
có thể có thêm một số thông tin bổ sung quan trọng nếu sử dụng phản ví dụ nhỏ nhất Ý tưởng là để chứng minh một tính chất A cho một cấu hình P, ta xét một
đặc trưng f(P) của P là một hàm có giá trị nguyên dương Bây giờ giả sử tồn tại một cấu hình P không có tính chất A, khi đó sẽ tồn tại một cấu hình P0 không có tính chất A với f(P0) nhỏ nhất Ta sẽ tìm cách suy ra điều mâu thuẫn Lúc này, ngoài việc chúng ta có cấu hình P0 không có tính chất A, ta còn có mọi cấu hình
c) Các đường chéo của ngũ giác lồi cắt nhau tạo ra một ngũ giác lồi nhỏ
A1B1C1D1E1 bên trong Chứng minh rằng tồn tại ít nhất 1 điểm nằm trong hoặc trên biên ngũ giác lồi A1B1C1D1E1
Giải
Trang 1818
a) Ta sẽ giải quyết bài toán theo nguyên lý Dirichlet Ngũ giác có 5 điểm nên
sẽ tồn tại ít nhất 2 điểm (ta đặt 2 điểm này là H, K)trong 5 điểm mà cặp tọa độ (x, y) của chúng có cùng tính chẵn lẻ, chỉ có 4 trường hợp : (chẵn, chẵn), (chẵn, lẻ), (lẻ, chẵn), (lẻ, lẻ) Như vậy, khi ta lấy trung điểm M của 2 điểm H, K ta sẽ có được điểm (khác A, B, C, D, E) có tọa độ nguyên Vậy ta có điều phải chứng minh
b) Giả sử tồn tại ngũ giác nguyên mà bên trong không chứa điểm có tọa độ nguyên nào Có rất nhiều ngũ giác như vậy Chọn ngũ giác ABCDE có diện tích nhỏ nhất Theo lý luận ở câu a, tồn tại 2 đỉnh H, K có cặp tọa dộ có cùng tính chẳn lẻ Trung điểm M của HK có tọa độ nguyên Vì bên trong ngũ giác ABCDE không có điểm nguyên nào nên HK phải là một cạnh nào đó Ví dụ ta lấy cạnh AB( không mất tính tổng quát), khi đó ngũ giác MBCDE cũng có tọa độ các đỉnh đều nguyên và có diện tích nhỏ hơn diện tích ngũ giác ABCDE Do tính nhỏ nhất của ABCDE nên bên trong ngũ giác MBCDE có một điểm nguyên N Điều này mâu thuẫn vì N cũng nằm trong ngũ giác ABCDE Vậy ta có điều phải chứng minh
Ví dụ 2: (Định lý Bezout) Chứng minh rằng nếu a b, 1 thì tồn tại u,v
Mỗi số trong b số đó chia b chỉ có thể dư 0; 2; 3; ; b(có b −1 số dư)
Do đó, theo nguyên lý Dirichlet, tồn tại 2 số nguyên dương i j, mà i j sao cho ia ja(mod b )
Trang 19 Bài tập áp dụng : Trên mặt phẳng đánh dấu một số điểm Biết rằng 4 điểm bất
kỳ trong chúng là đỉnh của một tứ giác lồi Chứng minh rằng tất cả các điểm được đánh dấu là đỉnh của một đa giác lồi
6 Phản chứng trong các bài toán chứng minh sự không tồn tại
Ví dụ 1: Hình tròn được chia bởi 5 đường kính thành 10 phần bằng nhau
Ban đầu mỗi phần có 1 biên bi, mỗi lần thực hiện ta chọn 2 viên bất kì, và di chuyển chúng sang ô bên cạnh, 1 viên theo chiều kim đồng hồ và 1 viên ngược chiều kim đồng hồ Hỏi sau hữu hạn lần thực hiện, ta có thể chuyển, ta có thể chuyển tất cả bi về 1 ô được hay không?
Giải
Giả sử ta có thể chuyển được:
Ta bôi màu trắng và đen xen kẽ nhau, từ đó ta thấy tổng các số trong ô trắng(S trắng) bằng tổng các số trong ô đen(S đen) và bằng 5 Giả sử sẽ tương đương với biến đổi S đen = 10 và S trắng = 0 (hoặc ngược lại)
Nếu ta dịch chuyển theo yêu cầu thì luôn luôn xảy ra trường hợp là tổng các
ô trắng và tổng các ô đen là số lẻ Từ đó quá lắm ta chỉ chuyển được về S đen =
9 và S trắng = 1, mâu thuẫn với giả thiết
Từ đó ta có điều cần chứng minh
Ví dụ 2: Chứng minh rằng không tồn tại các số a,b,c đồng thời thỏa
mãn (1),(2),(3): |a| < |b−c|(1)
|b| < |c−a|(2)