Khái niệm THQCT nêu trên về cơ bản phù hợp quy định tại Điều 13 và 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 112 BLTTHS năm 2003; được quy định mới nhất tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSN
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ HỒNG PHƯƠNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Võ Hồng Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI 7
1.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố đối với tội giết người 7 1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội giết người 17
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG 28
2.1 Đánh giá chung tình hình tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 28
2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố đối với tội giết người tại Tiền Giang 30 2.3 Đánh giá kết quả, những hạn chế và nguyên nhân của hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội giết người 51
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI 55
3.1 Yêu cầu của thực hành quyền công tố đối với tội giết người từ thực tiễn tại Tiền Giang 55 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố đối với tội giết người
từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang 57
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình thụ lý và giải quyết án giết người
Bảng 2.2: Tình hình đội ngũ kiểm sát viên Viện KSND tỉnh Tiền Giang
Bảng 2.3: Tình hình đội ngũ kiểm sát viên phòng Thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án tham nhũng, kinh tế, chức vụ và trật tự
xã hội (Phòng 2) - Viện KSND tỉnh Tiền Giang
Bảng 2.4: Tình hình VKS phê chuẩn quyết định tố tụng về tội giết người Bảng 2.5: Tình hình VKS yêu cầu CQĐT khởi tố về tội giết người từ năm
2012 đến năm 2016
Bảng 2.6: Tình hình VKS yêu cầu CQĐT khởi tố bị can trong vụ án về tội gây
rối trật tự công cộng, che giấu tội phạm từ năm 2012 đến năm 2016
Bảng 2.7: VKS yêu cầu CQĐT thay đổi tội danh từ tội Cố ý gây thương tích
sang tội Giết người
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố (THQCT) trong tố tụng hình sự là hoạt động quan trọng, cơ bản của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), nhằm thực hiện một trong ba chức năng của tố tụng hình sự: Chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử
Ở Việt Nam, chức năng THQCT của VKSND đã được ghi nhận trong các nghị quyết của Đảng Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW, về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, theo đó: “VKS các cấp thực hiện tốt
chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” [3]
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt
động của VKS theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố " [4] Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020, đã xác định rõ: “Trước mắt, Viện kiếm sát nhân dân giữ nguyên
chức năng như hiện nay là THQCT ( ), tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điểu tra” [5]
Các đường lối của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2002, Luật tổ chức VKSND (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
về đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong tình hình mới
Trong những năm qua, Tiền Giang đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa Bên cạnh đó tình hình tội phạm cũng gia tăng, diễn
Trang 9biến phức tạp, với tính chất phạm tội ngày càng nghiêm trọng hơn đặc biệt là tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người Cùng với cả nước công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Tiền Giang cũng đạt được kết quả đáng ghi nhận
Bên cạnh những kết quả đạt được, từ thực tế giải quyết các vụ án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nói chung và tội giết người nói riêng, chúng tôi nhận thấy từng lúc, từng nơi các cơ quan tố tụng
có nhận thức pháp luật khác nhau, chưa có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ án, vì giữa lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn có sự khác nhau, đặc biệt là các quy định liên quan đến chức năng THQCT của VKS Ngoài ra một số KSV được phân công nhiệm vụ THQCT chưa nắm vững các quy định của pháp luật, năng lực trình độ tổng hợp, phân tích, đánh giá chứng cứ còn hạn chế, thiếu toàn diện dẫn đến hệ quả như: Việc định tội danh sai; Tòa án xét xử khác tội danh, khung hình phạt VKS truy tố; Vụ án bị Tòa án cấp trên tuyên hủy án điều tra lạicòn xảy ra… đã ảnh hưởng nhiều đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh thời gian qua Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ thực trạng, qua đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác THQCT đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới là một yêu cầu có tính cấp bách, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Thực hành quyền công
tố đối với tội giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” làm luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đề tài THQCT được nhiều nhà khoa học pháp lý cũng như những người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu như:
- Sách chuyên khảo: THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra do tác giả Lê Hữu Thể làm chủ biên [16] Quyển sách này chú trọng nhiều đến hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự và so sánh mô hình tố tụng với nhiều nước, chưa phân tích sâu về hoạt động THQCT
Trang 10- Sách chuyên khảo: Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Nguyễn Hải Phong [11] Cuốn sách chủ yếu đề cập đến giải pháp tăng cường trách nhiệm công tố găn với hoạt động điều ra vụ án hình sư
- Luận án tiến sĩ luật học: QCT ở Việt Nam của Lê Thị Tuyết Hoa [6] Đây là công trình nghiên cứu mang tính lý luận về QCT từ lịch sử phát triển đến thực trạng THQCT ở Việt Nam qua các thời kỳ Luận án tiến sĩ luật học: THQCT trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An của Tôn Thiện Phương [12] chủ yếu đề cập đến lý luận về thực hành quyền công tố và khái quát thực trang THQCT trong vụ án nói chung tại Nghệ An
- Luận văn thạc sĩ: THQCT trong giai đoạn điều tra VAHS từ thực tiễn tỉnh Kiên Giang của tác giả Huỳnh Minh Khởi [9]; THQCT trong giai đoạn điều tra VAHS từ tiễn tỉnh Tây Ninh của tác giả Lê Quốc Cường [2];THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang của tác giả Trần Thị Ngọc Thức Những công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến cơ
sở lý luận của QCT, THQCT hoặc chỉ nghiên cứu THQCT ở một giai đoạn tố tụng nhất định như giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử vụ án hình sự, chưa nghiên cứu THQCT suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự về một tội danh cụ thể
Đề tài “Thực hành quyền công tố đối với tội giết người theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” là đề tài nghiên cứu THQCT chuyên
sâu về một tội danh và suốt quá trình giải quyết vụ án Dạng đề tài này được một số tác giả nghiên cứu và các công trình khoa học đã được công bố như:
- Sách chuyên khảo: Cơ sở lý luận, thực trạng của điều tra và truy tố cáctội phạm về ma túy của Nguyễn Thị Mai Nga [10]
- Luận văn thạc sĩ: THQCT đối với tội Buôn lậu từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Đỗ Thị Quí [13] Luận văn thạc sĩ: Nguyên nhân, điều kiện của tội giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang của tác giả Trần Chí Tâm [18]
Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai, Đỗ Thị Quí mặc dù đã
đề cập đến THQCT về tội danh cụ thể nhưng lại nghiên cứu đối với vụ án buôn lậu,
Trang 11ma túy Trong khi đó luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Chí Tâm nghiên cứu về tội Giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhưng lại đánh giá tình hình, nguyên nhân
và giải pháp phòng ngừa đối với tội giết người, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, mà không đề cập đến chức năng, nhiệm vụ, cũng như chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận của VKS về THQCT đối với tội giết người trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong giai đoạn điều tra; truy tố và xét xử
Như vậy, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu thực hành quyền công tố các vụ án hình sự nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về thực trạng thực hành quyền công tố đối với tội Giết người từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang trong những năm vừa qua Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng, cũng như những tri thức về thực hành quyền công tố các vụ án hình sự nói chung cũng như các vụ án hình sự về một tội danh cụ thể, tác giả s vận dụng đi sâu nghiên cứu về thực hành quyền công tố đối với tội giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về THQCT tội giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng công tác THQCT đối với tội giết người từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang, từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng THQCT tội giết người trong thời gian tới phù hợp với thực tiễn tỉnh Tiền Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã nêu trên, luận văn phải nghiên cứu những vấn
Trang 12- Nghiên cứu và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong hoạt động THQCT đối với tội giết người người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; từ đó
đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định THQCT đối với tội giết người trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về THQCT, thực trạng áp dụng những quy định về THQCT theo BLTTHS năm 2003 vào thực tiễn giải quyết đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Khi phân tích có đối chiếu, so sánh quy định của BLTTHS năm 2003 với BLTTHS năm 2015 và chỉ ra những điểm mới, sửa đổi bổ sung đã được khắc phục những quy định pháp luật cũ không phù hợp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ cho phép, luận văn chỉ nghiên cứu về lý luận, pháp luật THQCT và thực tiễn công tác THQCT ở các giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm; giai đoạn khởi tố, điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với tội giết người theo quy định BLTTHS năm 2003 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong 05 năm (từ năm 2012 đến năm 2016)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật nói chung và tổ chức, hoạt động của VKS nhân dân nói riêng
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu
6.Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề lý luận cơ bản về THQCT;
Trang 13Trên cơ sở khảo sát thực tế, đánh giá, phân tích thực trạng công tác THQCT đối với tội giết người ở tỉnh Tiền Giang, luận văn tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng THQCT đối với các VAHS nói chung và đối với các vụ án giết người nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu liên quan đến hoạt động THQCT cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách pháp luật và đặc biệt là cán bộ VKSND tỉnh Tiền Giang trong công tác thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố đối với tội giết người từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang
Chương 3: Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI 1.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định Quyền công tố (QCT) và theo đó là THQCT có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn Điều này giúp chúng ta nhận thức đầy đủ chính xác vị trí, vai trò của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng, cũng như chức năng, nhiệm vụ của VKS đặc biệt là trong tố tụng hình sự Tuy nhiên vấn đề THQCT, đối tượng, phạm vi và nội dung của nó cũng như mối quan
hệ giữa chức năng THQCT và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự còn chưa rõ ràng
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố đối với tội giết người
*Khái niệm quyền công tố
Công tố, theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là:“điều tra, truy tố, buộc tội kẻ
phạm pháp trước Tòa án ”[21, tr.204].Từ điển Luật học định nghĩa quyền công tố:
“là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội”[1, tr.188]
Trong các tài liệu pháp lý của nước ta, hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau
về khái niệm QCT và nội dung QCT: Một số nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm QCT dưới góc độ rất rộng, có tác giả cho rằng, mọi hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật đều là THQCT, coi công tố không phải là chức năng độc lập của VKSND,
mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật [19, tr.85-87] Chúng tôi cho rằng quan điểm này là chưa chính xác vì đã đồng nhất QCT với chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật (nay là KSHĐTP) của VKS, không phân định hai chức năng cơ bản VKS mặc dù có mối quan hệ nhau nhưng hoàn toàn độc lập nhau đó là THQCT và KSHĐTP
Quan điểm khác cho rằng QCT là quyền của VKS khi xuất hiện các hành vi
vi phạm pháp luật và nhu cầu bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân QCT
Trang 15không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế và luật hình sự [24, tr 82-88] Theo quan điểm này việc tiếp cận QCT dưới góc độ như trên là quá rộng, xóa nhòa ranh giới
và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác, đồng nhất QCT với các quyền năng, nhiệm vụ khác của VKS
Một số tác giả lại có xu hướng thu hẹp khái niệm QCT Có quan điểm cho rằng, QCT chỉ là việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà [25, tr.11] Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện QCT trong tố tụng hình sự và chỉ được thực thi ở giai đoạn xét xử, là chưa phù hợp thực tế, bởi l trên thực tế QCT còn được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự, ngay từ khi Cơ quan điều tra (CQĐT) tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm
Như vậy QCT chính là sự buộc tội của nhà nước, phát sinh khi có tội phạm - tức hành vi nguy hiểm xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ xảy ra Đó là quan hệ giữa một bên là nhà nước (bên có quyền lực và đứng ra buộc tội) và người phạm tội (là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự) QCT chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, bởi nó gắn liền với chức năng buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, không có trong các hoạt động tố tụng khác như: Hành chính, dân sự…
Từ các phân tích nêu trên chúng tôi thống nhất cao với quan điểm cho rằng:
“Quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền (ở Việt
Nam là Viện kiểm sát) thực hiện, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra trước Toà án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà” [12, tr.28]
*Khái niệm thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Ở nước ta, từ Hiến pháp 1959 cho đến Hiến pháp 2013, VKS là thiết chế duy nhất trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng THQCT Để thực hiện chức năng này có hiệu quả, VKS có quyền áp dụng các biện pháp luật định với mục đích cao nhất là không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội QCT
Trang 16chỉ là một dạng quyền năng, được cụ thể hóa trong các quy phạm pháp luật và chỉ phát huy hiệu quả trong thực tiễn khi được triển khai thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để đảm bảo thực thi QCT trong thực tiễn, nhà nước ban hành
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phép áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó trước Tòa án Việc thực hiện quyền năng đó trong thực tiễn chính là THQCT
Tiến sỹ Lê Hữu Thể đã đưa ra khái niệm về THQCT: “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố
và xét xử” [17, tr.57]
Khái niệm THQCT nêu trên về cơ bản phù hợp quy định tại Điều 13 và 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 112 BLTTHS năm 2003; được quy định mới nhất tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014: “THQCT là hoạt động của VKS nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, kiến nghị khổi tố và trong suốt qua trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự” [15]
Tuy nhiên chúng tôi thấy rằng khái niệm THQCT của tác giả Lê Hữu Thể chưa nêu ra yếu tố chủ thể THQCT là VKS nhân dân Trong khi đó Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định THQCT được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố… là chưa đầy đủ Bởi l trên thực tế hoạt động THQCT của VKS phát sinh không chỉ từ khi giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố mà trong các trường hợp khác như: khi người phạm tội ra tự thú, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra (Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) trực tiếp phát hiện người phạm tội quả tang… và ra Quyết định tạm giữ người, khi đó VKS đã tham gia THQCT, cụ thể: xem xét tính có căn cứ của quyết định tạm giữ hoặc phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ trong trường hợp này Điều này phù hợp với quy định
Trang 17tại Điều 159 BLTTHS năm 2015: VKSTHQCT từ khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm (chứ không phải giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố) Vì vậy tác giả luận văn cho rằng THQCT được thực hiện từ khi Cơ quan có thẩm quyền điều tra (Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) giải quyết nguồn tin về tội phạm là mang tính chất toàn diện và đầy đủ nhất
Từ những phân tích trên, đồng thời qua nghiên cứu những khái niệm về THQCT và các quan điểm khác nhau cũng như quy định pháp luật hiện hành, tác
giả luận văn có thể đưa ra khái niệm THQCT như sau:“Thực hành quyền công tố là
hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi cơ quan có thẩm quyền điều tra (Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”
Con người với tư cách là thực thể của tự nhiên và xã hội, luôn là đối tượng được quan tâm và bảo vệ hàng đầu trong mọi nhà nước, đặc biệt là ở các nhà nước hiện đại thì vấn đề con người càng được quan tâm, xã hội càng phát triển thì việc bảo vệ con người và các lợi ích của con người càng được chú trọng [7]
Tính mạng của con người là giá trị cao nhất của con người Quyền được sống, được tôn trọng vào bảo vệ là quyền cơ bản, hàng đầu của con người, của công dân.Hiến pháp nước ta quy định mọi người có quyền sống Tính mạng của con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật (Điều
19 Hiến pháp năm 2013)
Tội giết người (Điều 93 BLHS năm 1999, Điều 123 BLHS năm 2015) được hiểu là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hình thức Tội phạm này xâm trực tiếp đến quyền được sống của con người Đối tượng tác động của tội phạm là con người đang sống đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội Mặt khách quan của tội phạm giết người được thể hiện ở hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác
Trang 18bằng mọi hình thức, bằng các công cụ, phương tiện khác nhau Hậu quả của tội giết người là gây ra cái chết (dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm), nếu hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được thực hiện nhưng vì những nguyên nhân khách quan khác nhau mà hậu quả chết người không xảy ra thì hành vi đó được coi
là giết người chưa đạt Chủ thể của tội phạm giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do pháp luật quy định.Tội phạm được thực hiện với lỗi
cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp với động cơ và mục đích khác nhau nhưng đây không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm [31, tr.60-61] Như vậy, có thể khái niệm tội phạm giết người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015)
do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ
Từ các phân tích nêu trên tác giả luận văn mạnh dạn đưa ra khái niệm THQCT đối với tội giết người như sau:
“Thực hành quyền công tố đối với tội giết người là hoạt động của VKS trong
tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 93 của BLHS 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015), xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác; được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án; nhằm đảm bảo không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”
1.1.2.Đặc điểm của thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Từ khái niệm trên chúng ta có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của THQCT đối với tội giết người như sau:
Thứ nhất, THQCT trong đối với tội giết người chỉ do VKS tiến hành Dưới góc độ
chức năng của chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì THQCT là chức năng mà nhà nước chỉ giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng duy nhất là VKS.Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác không có chức năng này
Trang 19Cơ sở lý luận là những nguyên lý của V.I Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của VKS, về vai trò và bổn phận của ủy viên công tố; cơ sở pháp lý được đưa ra là các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKS từ năm 1959 đến nay, thì chức năng THQCT được giao cho cơ quan VKS [8, tr 11]
Thứ hai, hoạt động THQCT đối với tội giết người chỉ tồn tại trong lĩnh vực
TTHS, là hoạt động thực hiện quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội, quyết định việc buộc tội và gỡ tội, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, không có trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp
Thứ ba, như đã phân tích QCT chỉ là một dạng quyền năng và được cụ thể hóa
trong các quy phạm pháp luật Để thực hiện có hiệu quả chức năng THQCT phải do Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và BLTTHS quy định, VKS được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT được quy định trong BLTTHS, Luật tổ chức VKSND, BLHS để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội giết người Vì vậy THQCT đối với tội giết người không chỉ áp dụng pháp luật đối với người phạm tội mà còn tuân thủ đúng về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Nắm được đặc điểm này đòi hỏi mỗi KSV khi THQCT hiểu rằng bản thân mình không chỉ áp dụng pháp luật buộc tội người khác mà còn phải tuân thủ pháp luật khi thi hành nhiệm vụ
Thứ tư, THQCT đối với tội giết người không chỉ thực hiện việc buộc tội của
Nhà nước đối với người phạm tội mà còn không làm oan người vô tội Như vậy THQCT hướng tới mục đích nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm
và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật
Cơ sở pháp lý đặc điểm nêu trên được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và BLTTHS Nghị quyết số 08-NQ/TW, về một số nhiệm vụ trọng tâm
Trang 20công tác tư pháp trong thời gian tới nêu:“VKS các cấp thực hiện tốt chức năng
THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp… nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” [3]
Nắm được đặc điểm này của THQCT đối với tội giết người có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực tiễn, giúp cho người tiến hành tố tụng, đặc biệt là KSV hiểu
rõ chức năng, bổn phận của mình, ngoài thu thập, đánh giá chứng cứ buộc tội còn phải chú trọng đến những chứng cứ gở tội; đảm bảo đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, khách quan khi THQCT trong vụ án giết người để không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; bảo vệ quyền con người Theo đó THQCT không chỉ là thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội
Thứ năm, trong số các vụ án hình sự mà VKS THQCT thì tội giết người là một
trong các tội có tính chất đặt biệt nghiêm trọng với mức án cao nhất là tử hình bởi l
nó xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác - một trong những quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người Giết người là tội phạm mà người phạm tội thường sử dụng để thực hiện các tội phạm khác (Giết người để cướp tài sản) hoặc giết người để che giấu tội phạm khác (Hiếp dâm xong giết người) Dưới góc độ định tội danh, hậu quả chết người do hành vi phạm tội gây
ra, ngoài định tội danh theo Điều 93 BLHS còn phải xem xét, đối chiếu so sánh với nhiều cấu thành tội phạm khác: Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người…Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp nêu trên Vì vậy THQCT đối với tội giết người là một trong những hoạt động đòi hỏi Kiểm sát viên phải có kỹ năng nghiệp vụ, trình độ và tiêu chuẩn nhất định mới đáp ứng nhiệm vụ đặt ra
1.1.3 Đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố đối với tội giết người
* Đối tượng của thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Đối tượng của THQCT không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ là hành vi xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng, được nhà nước bảo vệ và được quy định trong BLHS THQCT chỉ tác động vào những hành vi xâm phạm quan hệ
Trang 21pháp luật hình sự và người đã thực hiện hành vi đó Vì vậy, đối tượng của THQCT nói chunglà tội phạm và người phạm tội
Đối tượng của THQCT đối với tội giết người là yếu tố mà THQCT tác động tới nhằm thực hiện mục đích truy cứu TNHS và buộc tội những người có hành vi xâm hại tính mạng con người nhằm làm triệt tiêu quyền được sống của người khác Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về tội giết người, trách nhiệm chứng minh tội phạm và người phạm tội thuộc trách nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng
và người tiến thành tố tụng Những vấn đề cơ bản cần phải chứng minh như: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, lỗi vô ý hay cố ý, có năng lực TNHS hay không, mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng TNHS và những đặc điểm về nhân thân; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Trong đó, làm rõ hai vấn đề nhằm mục đích xác định có tội phạm hay không có tội phạm, ai là người thực hiện hành vi phạm tội là đối tượng THQCT [9, tr.16 ]
* Phạm vi thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Xác định đúng đắn phạm viTHQCT có ý nghĩa quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động này, nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Hiện nay đề cập đến phạm vi THQCT có nhiều ý kiến khác nhau Có quan điểm cho rằng, THQCT bắt đầu từ khi có quyết định truy tố và kết thúc ở phiên tòa
sơ thẩm, không có ở giai đoạn điều tra Quan điểm này đã thu hẹp phạm vi THQCT, bởi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là cả một quá trình, bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, mặt khác VKS còn phải thực hiện nhiệm vụ này trong các phiên tòa phúc thẩm Cũng có quan điểm khác cho rằng, THQCT bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án Xác định phạm vi THQCT như trên vừa quá rộng, vừa không đầy đủ, vì THQCT không chỉ xuất hiện từ khi khởi tố vụ án mà xuất hiện trước đó; tuy nhiên cũng không nên mở rộng quá phạm vi THQCT đến khi người phạm tội thi hành xong bản án bởi vì ở giai đoạn thi hành án không có việc điều tra, thu thập chứng cứ để buộc tội, không
Trang 22có việc áp dụng pháp luật để kết tội
Về nguyên tắc chung, khi có tội phạm giết người xảy ra và cơ quan chức năng tiếp nhận thông tin về tội phạm thì xuất hiện QCT Các hoạt động phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, huỷ bỏ quyết định tạm giữ, huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án và yêu cầu khởi tố vụ án là hoạt động THQCT của VKS và có thể thực hiện trước khi khởi tố vụ án hình sự Như vậy, thời điểm bắt đầu của hoạt động THQCT xuất hiện từ trước khi khởi tố vụ án Tiếp đó, THQCT tiếp tục được thực hiện trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố cho đến khi vụ án được xét xử và có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, phạm vi THQCT đều kéo dài đến giai đoạn xét
xử, có những căn cứ có thể làm chấm dứt việc THQCT như: không có sự việc phạm tội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực TNHS,
đã hết thời hiệu truy cứu TNHS, đình chỉ vụ án dẫn đến vấn đề triệt tiêu THQCT
ở giai đoạn tố tụng sớm hơn
Trên thực tế hoạt động THQCT của VKS phát sinh không chỉ trong trường hợp Cơ quan điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố mà trong các trường hợp khác, như: khi người phạm tội ra tự thú, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra trực tiếp phát hiện người phạm tội quả tang (đây không phải là tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố) và ra Quyết định tạm giữ người Việc VKS phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, huỷ bỏ quyết định tạm giữ trong trường hợp này cũng thuộc nội dung THQCT Vì vậy chúng tôi cho rằng thời điểm bắt đầu THQCT từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết nguồn tin về tội phạm là đầy đủ nhất (không phải chỉ trong trường hợp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố)
Trên cơ sở phân tích như trên, chúng tôi cho rằng, phạm vi THQCT đối với tội giết người bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết nguồn tin về tội phạm và chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc khi vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Trang 231.1.4 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án giết người
- Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm
2015, Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có hai chức năng là THQCT và kiểm sát HĐTP Như vậy, THQCT và Kiểm sát HĐTP trong quá trình giải quyết vụ
án giết người là hai chức năng độc lập của VKSND, có sự khác nhau nhất định, đáng chú ý như sau:
+ Về mục đích: hoạt động THQCT là nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội giết người đều phải được phát hiện và xử lý Trong khi đó, mục đích của kiểm sát HĐTP là kịp thời phát hiện mọi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án giết người, có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh
+ Về nội dung: Hoạt động THQCT đối với tội giết người là các hoạt động phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng hình sự; Yêu cầu hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động tố tụng; Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKS nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội Trong khi đó, nội dung của kiểm sát HĐTP quá trình giải quyết vụ
án giết người thể hiện dạng như là yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm loại trừ vi phạm pháp luật
- Tuy nhiên giữa hoạt động THQCT và KSHĐTP trong quá trình giải quyết vụ
án giết người có mối quan hệ chặt ch , biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau Xét góc độ chung nhất cả hoạt động THQCT và KSHĐTP có chung một mục đích bao quát là nhằm bảo đảm cho hành vi phạm tội giết người được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội
Trong thực tiễn, hoạt động THQCT dựa trên kết quả của hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Các quyết định như khởi tố vụ án, khởi tố
bị can; hủy quyết định khởi tố vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT
Trang 24được củng cố thêm về sự chính xác và bảo đảm tính khách quan khi dựa trên kết quả của hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật, tức là quá trình kiểm tra tính có căn
cứ và hợp pháp trong các tình tiết của vụ án để từ đó thực hiện các quyền năng thuộc phạm vi QCT Ngược lại, hoạt động THQCT chính là sự thể hiện quyền năng của VKS trong tố tụng hình sự, là một trong những biện pháp để bảo đảm tính khả thi trong hoạt động phát hiện và loại trừ vi phạm pháp luật như: khi phát hiện vi phạm, tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, của người tiến hành tố tụng cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án, bức cung, nhục hình…, VKS có thẩm quyền khởi tố, điều tra
và xử lý theo quy định pháp luật
1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội giết người
1.2.1 Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố tội giết người
BLTTHS năm 2003 chỉ quy định chung về chức của VKS trong kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tại Điều 101, 103 BLTTHS năm 2003 và hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC- BNN&PTNT-VKSNDTC của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VKS nhân dân tối cao mà chưa quy định rõ quyền năng cụ thể của VKS và cơ chế pháp lý để bảo đảm cho VKS thực hiện tốt quyền năng đó Chính vì vậy, Điều 12 Luật tổ chức VKS nhân dân năm
2014 và đặc biệt là tại các điều 145, 146, 147, 148, 150 BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi quan trọng theo hướng quy định cụ thể hơn, chính thức ghi nhận hoạt động THQCT trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố; quy định rõ nội dung của THQCT trong giai đoạn này, cụ thể:
- Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác:
Theo quy định tại Điều 81, Điều 87 BLTTHS năm 2003, VKS có quyền quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, bảo đảm người bị tình nghi
Trang 25không bỏ trốn, cản trở quá trình xác minh tin báo hoặc tiêu hủy chứng cứ
Ngoài ra cần lưu ý là tại Điều 110, Điều 118 BLTTHS năm 2015, biện pháp bắt khẩn cấp đã được thay thế bằng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Quy định này nhằm phù hợp với Điều 20 Hiến pháp 2013 "Không ai bị bắt nếu
không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang" [14] Theo quy định tại BLTTHS
năm 2015, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai và ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn
- Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:
Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2003, trong quá trình thực hiện chức năng THQCT, khi xét thấy quyết định tạm giữ không có căn cứ hoặc trái pháp luật, VKS có quyền hủy bỏ quyết định tạm giữ và quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Quyền năng này được giữ nguyên tại Điều 117 BLTTHS năm 2015; Điều
12, Điều 22 Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2014 Đây là quyền năng quan trọng của VKS nhằm bảo vệ quyền công dân, quyền con người theo Hiến pháp 2013 Ngoài ra BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm một số quyền năng thuộc chức năng THQCT của VKS trong giai đoạn này như: Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh
và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện; Hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp quyết định tạm đình chỉ giải quyết tin báo không có căn cứ; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS nhân dân đã yêu cầu nhưng
Trang 26không được khắc phục Thực hiện tốt những quy định này ngay từ đầu s góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu oan, sai và chống bỏ lọt tội phạm trong tố tụng hình sự
1.2.2.Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình
- Thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định tại Điều 156 BLTTHS năm 2003, khi xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc còn có hành vi phạm tội khác, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án Đây cũng
là một trong những quyền năng thuộc phạm vi QCT của VKS, nhằm bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và phù hợp với tình tiết khách quan trong vụ án
- Hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Quyền hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự của VKS được quy định tại Điều
109 BLTTHS năm 2003 và cơ bản được giữ nguyên tại điểm b, c khoản 1 Điều 161 BLTTHS năm 2015 Theo đó, khi THQCT trong việc khởi tố vụ án hình sự, VKS
có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố không có căn cứ và trái pháp luật Đây là hoạt động pháp lý thuộc chức năng THQCT của VKS nhằm hủy bỏ quyết định khởi tố
vụ án hình sự không có căn cứ và trái pháp luật
- Phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, yêu cầu thay đổi, bổ sung quyết
Trang 27định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra các quyết định trên:
THQCT của VKS đối với hoạt động khởi tố bị can được quy định tại Điều
126 BLTTHS năm 2003, Khi đã xác định chính xác quyết định khởi tố là có căn cứ thì VKS ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và chuyển cho CQĐT để tiến hành việc điều tra.Đặc biệt, theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn khởi tố bị can, VKS có quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can Trường hợp xác định quyết định khởi tố bị can không có căn cứ
và trái pháp luật thì theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLTTHS năm 2015, VKS
ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can
Cũng theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, trong quá trình điều tra
vụ án hình sự, khi phát hiện có người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu khởi tố bị can Nếu đã có yêu cầu mà CQĐT không thực hiện thì VKS căn cứ khoản 4 Điều 179 BLTTHS trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can, không phải chờ đến khi kết thúc điều tra mới tiến hành khởi tố và trả hồ sơ cho CQĐT như BLTTHS 2003
Về việc yêu cầu thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can: Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, khi có căn cứ xác định hành vi của bị can không đúng với tội danh đã khởi tố hoặc bị can còn có hành vi phạm tội khác thì VKS yêu cầu thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS s trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành điều tra khi cần thiết:
Khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003, khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 quy định, khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn:
“Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người
Trang 28phạm tội”
Việc đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện ngay từ khi kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi, ngay sau khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra Yêu cầu điều tra có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Bên cạnh việc đề ra yêu cầu điều tra, theo quy định tại Điều 131, 135, 137,
138 BLTTHS năm 2003; Điều 183, 186, 188, 189 BLTTHS năm 2015, khi cần thiết, VKS có thể tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cho đối chất để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Hoạt động này của KSV có thể được thực hiện trong giai đoạn điều tra hoặc giai đoạn truy tố
- Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:
+ Áp dụng biện pháp ngăn chặn:
Theo quy định tại các điều 80, 81, 87, 88, 93 BLTTHS năm 2003, biện pháp bắt khẩn cấp, các trường hợp gia hạn tạm giữ, bắt bị can để tạm giam, áp dụng biện pháp tạm giam, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo của CQĐT cùng cấp phải được VKS phê chuẩn Các điều 113, 118, 119, 121, 122 của BLTTHS năm 2015 có một số quy định mới về nội dung, căn cứ cũng như thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn này Tuy nhiên về nội hàm cũng như chức năng THQCT của VKS đối với các biện pháp ngăn chặn cơ bản được giữ nguyên Đây là những biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, việc áp dụng phải đặc biệt thận trọng, xem xét toàn diện về nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác có liên quan Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang thời
kỳ nuôi con dưới 36 tháng, là người già yếu, người bị mắc bệnh nặng có nơi cư trú
rõ ràng thì không tạm giam mà phải áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp: Bị can bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng lại tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra; bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì s gây nguy hại cho an ninh quốc gia
Trang 29+ Thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:
Điều 94 BLTTHS năm 2003 và Điều 125 BLTTHS 2015 đều quy định: Đối với những biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định Trong quá trình điều tra, nếu thấy có căn cứ để thay đổi biện pháp tạm giam như: bị can có nơi cư trú rõ ràng, tích cực hợp tác điều tra, thành khẩn khai báo, tính chất, mức độ nguy hiểm không nghiêm trọng thì VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn và chuyển cho CQĐT để thi hành Đối với các biện pháp ngăn chặn khác, VKS chỉ ra quyết định thay đổi khi đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện
Cũng theo quy định tại Điều 125 BLTTHS năm 2015, khi thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn không có căn cứ, khi thấy không cần thiết hoặc khi vụ án bị đình chỉ điều tra thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cần lưu ý là đối với những biện pháp ngăn chặn do VKS áp dụng hoặc phê chuẩn thì việc hủy bỏ phải do VKS quyết định
1.2.3 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Giai đoạn truy tố được bắt đầu từ khi kết thúc điều tra, VKS nhận được hồ sơ
vụ án do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyết định sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung; 3) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự Theo quy định pháp luật, hoạt động THQCT trong giai đoạn truy tố bao gồm những nội dung sau:
- Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, lời khai người bị hại, đối chất
Theo quy định tại các điều 131, 135, 137, 138 BLTTHS năm 2003; các điều
183, 186, 188, 189 BLTTHS năm 2015, khi cần thiết, Viện kiểm sát có thể tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án, cho đối chất nhằm kiểm tra, xác minh và củng cố tài liệu, chứng cứ của vụ án
Trang 30Trên cơ sở kết quả hỏi cung, lấy lời khai, đối chất, đối chiếu với kết quả điều tra, nội dung vụ án và quy định pháp luật, VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa án
để xét xử bằng bản cáo trạng, ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị can theo quy định pháp luật
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là biện pháp tố tụng do VKS thực hiện trong giai đoạn truy tố nhằm yêu cầu CQĐT tiếp tục việc điều tra, thu thập chứng cứ hoặc bổ sung thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật Theo quy định tại Điều 168 BLTTHS năm 2003, Điều 245 BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số: 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27 tháng 08 năm 2010 VKS nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa
án nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để
điều tra bổ sung", sau khi kết thúc điều tra và nhận hồ sơ vụ án, trong giai đoạn
truy tố, VKS trả hồ sơ điều tra bổ sung khi có một trong các căn cứ: Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà VKS không thể tự mình bổ sung được; Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng
- Quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can:
Theo quy định tại Điều 169 BLTTHS năm 2003, Điều 248 BLTTHS năm
2015, VKS quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ: 1) Không có sự việc phạm tội; 2) Hành vi không cấu thành tội phạm; 3) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4) Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; 5) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6) Tội phạm đã được đại xá; 7) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; 8) Tội phạm thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu
Trang 31cầu khởi tố; 9) Người thực hiện hành vi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự
- Ban hành bản cáo trạng truy tố bị can:
Theo quy định tại Điều 167 BLTTHS năm 2003, Điều 243 BLTTHS năm
2015, trong thời hạn luật định, khi có đủ căn cứ, VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng Bản cáo trạng là cơ sở pháp lý để Tòa án xét xử,
là căn cứ xác định giới hạn xét xử, các bị cáo thực hiện quyền bào chữa và KSV thực hiện quyền buộc tội tại phiên tòa Về nội dung, bản cáo trạng phải đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 243 BLTTHS năm 2015, theo đó, có bổ sung thêm một số nội dung để hoàn thiện hơn so với Điều 167 BLTTHS năm 2003
1.2.4 Quy định pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử
Theo quy định tại Điều 195 BLTTHS năm 2003, Điều 319 BLTTHS năm
2015, tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố thì KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Sau phiên toà KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo đơn vị
- Công bố cáo trạng về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa:
Điều 206 BLTTHS năm 2003, Điều 306 BLTTHS năm 2015 quy định, trước khi tiến hành xét hỏi, KSV đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung làm rõ thêm nội dung cáo trạng nếu có Bản cáo trạng là văn bản pháp lý, tóm tắt toàn bộ diễn biến, hành vi phạm tội và kết quả điều tra, truy tố bị cáo ra trước Tòa án Quá trình trình bày ý kiến bổ sung cần lưu ý là Điều 306 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung
Trang 32quy định: "Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo"
- Tham gia xét hỏi tại phiên tòa:
Theo quy định các điều 207, 209, 210, 211 BLTTHS năm 2003; Điều 307,
309, 310, 311 BLTTHS năm 2015, tại phiên tòa, KSV tham gia xét hỏi bị cáo, bị hại, nhân chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhằm kiểm tra tính chính xác, khách quan của các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và cung cấp tại phiên tòa
- Trình bày luận tội tại phiên tòa:
Luận tội là lời phát biểu của KSV tại phiên tòa, thể hiện sự buộc tội chính thức, cuối cùng của VKS đối với bị cáo, là căn cứ để bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tiến hành tranh tụng, là một trong những căn cứ
để Hội đồng xét xử ra bản án đúng luật định
Theo quy định tại Điều 217 BLTTHS năm 2003, sau khi kết thúc phần xét hỏi, KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo về toàn bộ hoặc một phần cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn
bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội Khoản
2 Điều 321 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định về những nội dung cơ bản của luận tội, do đó, trong quá trình chuẩn bị luận tội, KSV cần nghiên cứu kỹ quy định tại Điều 321 BLTTHS năm 2015 Tại phiên toà KSV phải ghi chép những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bổ sung vào bản
dự thảo luận tội
- Tranh luận, đối đáp với người bào chữa và người tham gia tố tụng khác:
Tranh luận, đối đáp của KSV tại phiên tòa được quy định cụ thể tại Điều 217,
218 BLTTHS năm 2003; Điều 322 BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định để làm rõ hơn trách nhiệm phải đối đáp với ý kiến của người tranh luận; bổ sung quy định chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu KSV đáp lại những ý kiến chưa được tranh luận; Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa
Trang 33Việc tranh luận tại phiên toà là yêu cầu bắt buộc đối với KSV.Để tham gia tranh luận có chất lượng cao, KSV phải chuẩn bị và dự kiến được những vấn đề cần tranh luận mà người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác s nêu
ra tại phiên tòa.Trong quá trình tranh luận, KSV phải ghi lại những ý kiến tranh luận của các bên liên quan và có nghĩa vụ đáp lại từng ý kiến Nếu vụ án có nhiều người bào chữa cho bị cáo, họ có cùng ý kiến về một nội dung bào chữa thì KSV tổng hợp để đối đáp chung một lần cho các ý kiến đó Kế hoạch tranh luận và những ý kiến tranh luận của KSV phải được ghi và lưu hồ sơ kiểm sát
- Kháng nghị bản án hoặc quyết định của Toà án:
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý được quy định Tại Điều
336 BLTTHS quy định: “VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng
nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm”.Tiếp đó, các Điều từ 337 đến Điều 342
Như vậy, thực hành quyền công tố đối với tội giết người trong tố tụng hình sự của VKSND là chức năng cơ bản của ngành, bao gồm rất nhiều hoạt động pháp lý khác nhau, để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Thực hiện tốt hoạt động THQCT trong tố tụng hình sự trong thực tiễn s góp phần làm sáng tỏ bản chất, nội dung vụ án, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Trang 34Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các quan điểm về THQCT, làm rõ khái niệm về tội giết người, luận văn đã xây dựng khái niệm THQCT đối với tội giết người Theo đó: THQCT đối với tội giết người là hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 93 của BLHS năm 1999 (Điều123 BLHS năm 2015), xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác; được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; nhằm đảm bảo không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
THQCT đối với tội giết người có đặc điểm khác với kiểm sát hoạt động tư pháp nhưng có mối quan hệ chặt ch , biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau trong suốt quá trình giải quyết vụ án giết người Vì vậy cần phải vận dụng một cách tổng hợp, linh hoạt 02 chức năng này của VKS để đạt hiệu quả trong thực tiễn công tác
Trong chương 1, tác giả còn phân tích nội dung THQCT đối với tội giết người được quy định trong BLTTHS năm 2003 có đối chiếu so sánh với những điểm mới được quy định trong BLTTHS năm 2015, làm cơ sở nghiên cứu thực trạng THQCT đối với tội giết người từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang thời gian qua
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
2.1 Đánh giá chung tình hình tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang là một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng trên địa bàn khu vực Miền Tây Nam Bộ Trung tâm của tỉnh là thành phố
Mỹ Tho; thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trải dài trên bờ Bắc Sông Tiền với chiều dài từ đông sang tây trên
120 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 72 km về hướng Tây Nam và cách thành phố Cần Thơ khoảng 100 km về hướng Tây Bắc Về ranh giới tiếp giáp: phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh và biển Đông; phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp; Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Bến Tre; Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An Tỉnh Tiền Giang có 08 huyện, 01 thành phố, 02 thị xã, 144 xã, 22 phường, 07 thị trấn Diện tích toàn tỉnh là 2.482 km2 Dân số tính đến năm 2016 là tương đương 1,7 triệu người (mật
độ dân số khoảng 685 người/km2) [ 18]
Cùng với sự phát triển cả nước trong các lĩnh vực an ninh quốc phòng, kinh
tế, trật tự xã hội, tỉnh Tiền Giang đã đạt được những kết quả quan trọng trong các lĩnh vực này tạo bước tiến mới trong công cuộc xây dựng tỉnh nhà Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội ở Tiền Giang ngày có chiều hướng phức tạp, xảy ra một số vụ án giết nhiều người, cướp tài sản gây hoang mang, phẩn nộ trong một bộ phận quần chúng nhân dân
Theo số liệu thống kê liên ngành Công an tỉnh Tiền Giang Viện KSND tỉnh Tiền Giang và Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang thì các vụ án giết người trong 05 năm (2012
- 2016) như sau: Cơ quan điều tra khởi tố: 109 vụ án hình sự với 123 bị can (năm 2012:
24 vụ/ 29 bị can; năm 2013: 26 vụ/26 bị can; năm 2014: 13 vụ/20 bị can; năm 2015: 23 vụ/ 25 bị can; năm 2016: 23 vụ/23 bị can) Kết quả giải quyết: Tạm đình chỉ điều tra:
05 vụ án hình sự (do hết thời hạn điều tra chưa phát hiện người thực hiện hành vi phạm
Trang 36tội) Đình chỉ: 05 vụ án với 12 bị can Truy tố đưa ra xét xử: 97 vụ với 111 bị cáo (Xem Bảng 2.1- phần phụ lục số)
Nghiên cứu hồ sơ các vụ án giết người xảy ra trên địa bàn tỉnh Tiền Giang cho thấy tội phạm này có xu hướng ngày càng gia tăng, tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội ngày càng cao Tội phạm chủ yếu xuất phát từ những mâu thuẫn cá nhân hoặc
do sử dụng các chất kích thích như: Bia, rượu, ma túy Đối tượng phạm tội ở nhiều độ tuổi khác nhau, một số đối tượng có tiền án, tiền sự, nhiều vụ do người mắc bệnh tâm thần gây án, một số lượng đáng kể là các đối tượng phạm tội là người chưa thành niên Phạm vi hoạt động phạm tội rộng, tội phạm xảy ra ở nhiều nơi cả nông thôn và thành thị Đáng chú ý là những công cụ, phương tiện, hung khí mà các đối tượng phạm tội giết người sử dụng để gây án rất nguy hiểm như: kiếm, dao, mã tấu, túp sắt, gậy… Các hành vi này đã xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang và tạo ra những dư luận xấu trong xã hội, đe doạ an ninh và trật tự xã hội
Truớc yêu cầu của Đảng và Nhà nước ta đối với toàn ngành Kiểm sát được nêu trong Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quốc hội, trong đó thể hiện quan điểm chỉ đạo Nâng cao chất lượng hoạt động của VKS theo chức năng quy định trong Hiến pháp 2013, cụ thể toàn ngành Kiểm sát tập trung làm tốt chức năng THQCT, KSHĐTP Ngày 06/12/2013 Viện trưởng VKS nhân dân tối cao ban hành
Chỉ thị số 06/CT-VKSTC về: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động
điều tra, gắn công tổ với hoạt động điều tra” làm điểm nhấn cho VKS các cấp nỗ
lực phấn đấu thực hiện tốt chức năng THQCT nói chung và đối với tội giết người nói riêng Trong những năm qua, công tác THQCT đã được lãnh đạo Viện KSND tỉnh Tiền Giang đặc biệt quan tâm, chỉ đạo kịp thời và đạt được kết quả đáng khích
lệ Các vụ án giết người đã được xử lý kịp thời, nghiêm minh, giữ vững ổn định an ninh - chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Để đáp ứng những yêu cầu trên, cơ cấu tổ chức VKSND ngày càng củng cố, được thể hiện dưới các bình diện và đội ngũ cán bộ, KSV ngành Kiểm sát tỉnh Tiền Giang nói chung (Xem Bảng số 2.2- phần phụ lục)
Trang 37và KSV Phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự về kinh tế, chức vụ, tham nhũng và trật tự xã hội (Phòng 2) nói riêng (Xem Bảng số 2.3 - phần phụ lục).Tuy nhiên, bên cạnh đó cần nhìn nhận thẳng thắn còn có một số vụ án giết người khởi tố sai tội danh; phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần; án bị hủy để điều tra lại vẫn còn xảy ra, điều đó có nguyên nhân từ chất lượng THQCT còn có phần hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu từ thực tiễn, tìm giải pháp khắc phục thời gian tới
2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố đối với tội giết người tại Tiền Giang
2.2.1 Thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố đối với tội giết người trên địa bàn Tiền Giang
- Theo quy định Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì VKS thực hiện chức năng THQCT bắt đầu từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thể hiện trước hết ở việc phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định
tố tụng liên quan đến việc hạn chế các quyền cơ bản của công dân như: phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tội giết người
Từng KSV khi được giao nhiệm vụ đều nhận thức rằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn liên quan đến quyền cơ bản của con người, quyền công dân được pháp luật quy định chặt ch cả về căn cứ, thẩm quyền và phạm vi áp dụng Vì vậy, việc xác định căn cứ cũng như quá trình thực hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn này phải luôn được thực hiện thận trọng, khách quan Thống kê cho thấy trong thời gian 05 năm (2012 đến năm 2016) thông qua THQCT đối với 81 trường hợp bị bắt, tạm giữ hình sự về hành vi giết người, VKSND tỉnh Tiền Giang phát hiện 01 trường hợp việc bắt người không có căn cứ và ra quyết định không phê chuẩn bắt khẩn cấp (Nguyễn Ngọc Trung bị bắt khẩn cấp ngày 13/5/2015), không phê chuẩn gia hạn tạm giữ đối với 02 trường hợp (Nguyễn Hữu Phúc Thịnh bị tạm giữ ngày 03/3/2014; Nguyễn Phước Hải bị tạm giữ ngày 05/4/2015) (Xem Bảng số 2.4- phần phụ lục) Lý do VKS không phê chuẩn do hành vi của người bị bắt, tạm giữ không
Trang 38phải là tội phạm và thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng Như vậy, về cơ bản VKS đã thực hiện tốt chức năng THQCT trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm đối với tội giết người, đa số các trường hợp phê chuẩn đều có căn cứ; đồng thời phát hiện kịp thời các trường hợp tạm giữ không có căn cứ, trái pháp luật, góp phần giảm thiểu oan sai và chống bỏ lọt tội phạm trong tố tụng hình sự, chấn chỉnh ngay từ đầu sai phạm của cơ quan có thẩm quyền, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp quy định
- Mặc dù hoạt động THQCT trong giai đoạn này tuy đã đạt nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn hạn chế nhất định: số lượng các trường hợp bắt khẩn cấp, tạm giữ, gia hạn tạm giữ, sau đó trả tự do vì không đủ căn cứ khởi tố, xử lý hình sự về tội giết người tại Tiền Giang vẫn còn xảy ra Theo chỉ tiêu của VKSND tối cao tỷ lệ bắt, xử lý hình sự phải đạt 98% trở lên Qua thống kê trong 05 năm (từ năm 2012 đến năm 2016) có 05 trường hợp tạm giữ hình sự liên quan hành vi giết người sau
đó trả tự do (Xem Bảng số 2.4 - phần phụ lục)
Điển hình: Ngày 10/4/2016, Quách Bảo Ngân, sinh năm 1983, đăng ký thường trú: ấp Thạnh yên, xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang bị tạm giữ hình sự vì có hành vi dùng dao đâm chết người Nguyên nhân do nhóm của Nguyễn Công Thuận (nạn nhân) đã dùng tay, trái bi da, cây cơ đánh Quách Hữu Lộc (em của Ngân) gây thương tích 11%; khi Ngân vào can ngăn cũng bị đánh nhiều cái vì vậy đã
sử dụng dao đâm Thuận chết Trong trường hợp này Quách Bảo Ngân đã phát sinh quyền phòng vệ theo Điều 15 Bộ luật hình sự, nên không phải chịu trách nhiệm hình
sự sau đó được trả tự do (Nguồn: Hồ sơ vụ án – VKSND TG)
Để xảy ra tình trạng tạm giữ hình sự sau đó trả tự do vì không đủ căn cứ xử lý hình sự, không chỉ ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân mà còn giảm sút uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có một phần trách nhiệm của VKS trong việc đánh giá chứng cứ, xem xét tính có căn cứ việc bắt, tạm giữ chưa chính xác, đòi hỏi phải được khắc phục và chấn chỉnh
2.2.2 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án về tội giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Trang 39* Hoạt động THQCT đối với quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ
án hình sự về giết người
- Nhận thức việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự có vai trò quan trọng vì tạo căn cứ pháp lý cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo cũng như hạn chế oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, vì vậy VKS Tiền Giang luôn triển khai kiểm sát chặt ch hoạt động tố tụng của các cơ quan chức năng về tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Để đảm bảo THQCT đối với quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự về tội giết người chính xác, VKS đã phối hợp THQCT và kiểm sát chặt hoạt động điều tra ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kết hợp với quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường, đặc biệt là kết quả khám nghiệm tử thi có ý nghĩa hết sức quan trọng để xác định vụ việc có tội phạm giết người hay không hay chỉ là vụ tai nạn, tự sát Nhận thức tầm quan trọng của công tác kiểm sát khám nghiệm và thu thập chứng cứ ban đầu, Lãnh đạo VKSND tỉnh Tiền Giang thống nhất chỉ đạo: trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi đối với các
vụ chết người chưa rõ nguyên nhân, khi tiếp nhận thông tin yêu cầu kiểm sát khám nghiệm từ Cơ quan điều tra thì phải nắm rõ thông tin ban đầu, nếu có nghi án (có tội phạm xảy ra) thì chỉ phân công KSV của Phòng 2 (Phòng THQCT, kiểm sát điều tra án trật tự xã hội) trực tiếp tham gia kiểm sát khám nghiệm (không phân công các KSV ở các Phòng khác) để tạo thuận lợi khi THQCT sau này đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án
Trong 5 năm (2012-2016), VKSND tỉnh Tiền Giang đã xem xét tính có căn
cứ 109 quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội giết người, 93 quyết định không khởi
tố vụ án hình sự đối với các vụ chết người chưa rõ nguyên nhân (do bệnh lý, tai nạn,
tự tử…) Kết quả THQCT nhận thấy đa số các quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự về tội giết người đều có căn cứ Không
có trường hợp phải hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự Thông qua công tác THQCT, VKS yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố vụ án 02 vụ và yêu cầu chuyển
vụ án về tỉnh điều tra theo thẩm quyền do Cơ quan tố tụng cấp huyện khởi tố vụ án
Trang 40chưa đúng tội danh: Khởi tố tội Cố ý gây thương tích - dẫn đến chết người (Xem Bảng số 2.7- phần phụ lục)
- Bên cạnh đó, hoạt động THQCT đối với quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ án hình sự về tội giết người của VKSND Tiền Giang bộc lộ một
số hạn chế, khó khăn, vướng mắc như sau:
+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 BLTTHS: Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Do chưa nhận
thức đúng về quy định “dấu hiệu tội phạm ” là căn để khởi tố vụ án hình sự và “có đủ
căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tổ bị can”, vì vậy trên thực tế nhiều vụ việc sau khi khám nghiệm hiện trường,
khám nghiệm tử thi và điều tra ban đầu đã đủ căn cứ xác định nạn nhân bị giết chết (có dấu hiệu tội phạm giết người) nhưng Cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngay mà chủ yếu tập trung điều tra xác định người thực hiện hành vi phạm tội Qua nghiên cứu 109 quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội giết người, có 73 trường hợp việc khởi tố vụ
án hình sự chưa kịp thời, thông thường chỉ ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can và quyết định phân công Điều tra viên cùng thời điểm sau khi hết 09 ngày tạm giữ đối với người thực hiện hành vi giết người và chuyển hồ sơ đề nghị VKS phê chuẩn khởi tố bị can, kiểm sát quyết định khởi tố vụ án cùng lúc Trong 73 trường hợp trên, VKS chỉ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 08 trường hợp (Xem Bảng số 2.5-phần phụ lục)
Việc chậm ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra khi đã có căn cứ khởi tố là vi phạm vào khoản 1 Điều 104 BLTTHS nhưng khi THQCT VKS không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự là thiếu sót, chưa thực hiện đúng chức năng được giao, cần khắc phục thời gian tới
+ Khoản 2 Điều 109 BLTTHS quy định: “Nếu quyết định không khởi tố vụ án
hình sự của các cơ quan có thẩm quyền không có căn cứ, thì VKS hủy bỏ quyết định
đó và ra quyết định khởi tố vụ án” Quá trình áp dụng điều luật trên khi THQCT đối
với quyết định không khởi tố vụ án giết người, VKS đã gặp khó khăn vướng mắc sau: Khi khám nghiệm tử thi ở nạn nhân chết chưa rõ nguyên nhân, qua khám nghiệm xác định bên ngoài không có dấu vết, thương tích do tác động của ngoại lực,